08. Các bước trên con đường đạo - Steps on the Way

18 Tháng Mười Hai 20199:47 SA(Xem: 1297)
08. Các bước trên con đường đạo - Steps on the Way
ThayBietBayGioODay_A

Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại
(To Be Seen) Here And Now, Ten Dhamma Talks
Sister Ayya Khema - Việt dịch: Diệu Liên Lý‎ Thu Linh

Nguồn: accesstoinsight.org, thuvienhoasen.org


__________________

08. Các Bước Trên Con Đường Đạo

   Có ba cách tiếp cận Pháp.  Một là bằng cách thâu thập kiến thức qua việc học hỏi các kinh tạng của đức Phậtcố gắng nhớ chúng càng kỹ càng tốt.  Điều đó rất hữu ích trong việc truyền bá giáo lý qua các bài pháp và sách.

 

   Cách khác là qua việc cúng dường hương hoavật dụngđọc tụng kinh kệ, và tạo các công đức.  Hành động bố thí, tạo công đức được đức Phật khuyến khích, nhưng Ngài không đặt giá trị nào cho việc có mặt bên cạnh tăng, ni.

 

  Thuở xưa có một vị tăng quá yêu mến Phật đến nỗi vị ấy bao giờ cũng muốn được nhìn thấy Phật.  Một ngày vị ấy ngã bệnh, nên không được gặp Phật, vị ấy rất đau buồn.  Các tỳ kheo khác thấy vậy hỏi tại sao vị ấy đau khổ quá vậy.  Vị ấy giải thích mình đau khổ vì không được nhìn thấy Phật.  Nghe thế, đức Phật bèn đến thăm vị tăng đang bệnh và nói với người đó: “Ông nhìn thấy gì ở hình tướng gớm ghê này?  Không có gì để thấy ở đó hết.  Ai thấy ta là thấy Pháp, ai thấy Pháp là thấy ta”.

 

   Phương cách tiếp cận Pháp thứ ba chính là sự tu tậpthực hành, là cách mà đức Phật thường khuyên chúng ta hành theo nhất.  Ngài dạy rằng người thực sự có lòng cung kínhcúng dường là người sống theo giáo lý.  Có một số bước ta cần phải tuân theo khi tiếp cận Pháp qua việc thực hành.  Căn bản là giới hạnh, các công đức đưa đến nghiệp lành.  Không có nền tảng này, chúng ta không đủ vững chãi trong tâm để có thể tự tạian bình nơi tự thân, là điều cần phải có khi tu thiền.

 

   Đôi khi điều này thường bị hiểu lầm là ta không nên hành thiền trừ khi ta đã hoàn toàn giữ được các giới và đã luôn có chánh niệm.  Nhưng không phải như thế, vì chính thiền tập giúp ta có được chánh niệm, cho ta tuệ giác về hiệu quả của việc giữ giới.

 

   Cách thực hành kế tiếp là canh giữ các căn.  Đức Phật thường lặp đi lặp lại điều này để chúng sinh được nhớ.  Không gìn giữ các căn, ta sẽ dễ bị lôi cuốn vào tham ái, khiến tâm bấn loạn, không yên. Vì các căn tiếp xúc với cảnh trần sẽ làm ngòi cho tham sân nổi lên.

 

   Các căn của ta lúc nào cũng hoạt động đến nỗi ta không để ý đến ảnh hưởng của chúng, coi mọi thứ là bình thường, là phải như thế.  Chúng ta cũng tin những gì ta thấy, nghe, ngửi, nếm và nghĩ là đúng như ta hiểu chúng.  Đó là sai lầm căn bản.  Mỗi người trải nghiệm sự xúc chạm của các giác quan theo tính cách của cá nhân mình.

 

   Thí dụ, đối với người Á châu thì thức ăn của người Tây phương quá lạt lẻo, bị coi như dành cho trẻ em; ngược lại thức ăn cay của người Á châu lại làm phỏng lưỡi người Tây phương.  Ngay cái cơ bản như thức ăn cũng là một kinh nghiệm hoàn toàn trái ngược đối với nhiều người.  Từ đó ta có thể nghiệm ra rằng tất cả chúng ta sống trong thế giới riêng của mình.  Người ta tranh cãi quyết liệt với nhau vì họ tin chỉ có thế giới của họ là đúng, đến độ giết nhau vì những khác biệt không thể dung hòa.

 

   Đức Phật thường được hỏi những câu như: “Thế giới vô hạn hay hữu hạn, thường hằng hay không?”  Đức Phật trả lời: “Thế giới là gì?  Thế giới chính là các căn của ta”.  Khi những câu hỏi như thế được đặt ra, đức Phật thường hướng dẫn người hỏi trở về với việc thực hành.  Khi ta biết rằng thế giới ta đang sống bao gồm các căn, ta sẽ có cơ sở để thực hành.  Trái lại việc biết thế giới có thường hằng hay không, thì ích lợi gì cho việc tu tậpthực hành của ta?

 

   Các căn bao gồm ý, là căn gần như luôn hoạt động.  Ngay giây phút này đây, ta đang sử dụng căn thân, mắt và ý.  Bốn trong sáu căn đang hoạt động.  Vì các căn luôn hoạt động xuyên suốt cuộc sống, ta nghĩ rằng đó là cách sống duy nhất, khiến ta càng muốn tiếp tục theo cách ấy.  Sự ham muốn này tiềm ẩn mối hiểm họa ít người biết đến một cách có ý thức.  Dầu trong tiềm thức tất cả chúng ta đều biết đến nó, vì đó là nơi xuất phát của những nỗi sợ hãi của chúng ta.  Nếu tự quán sát trong chốc lát, ta sẽ nhận ra nhiều nỗi sợ hãi ẩn chứa trong ta, dưới nhiều tên khác nhau.  Có người sợ rắn rết, người sợ bóng tối, người sợ máy bay, kẻ sợ người thương yêu chết đi, sợ mất tài sản.  Đủ thứ tên gọi cho cùng chung một nỗi sợ; sợ đánh mất tự ngã, sợ tiếp xúc với những đau đớn, khó chịu, rốt cùng là sợ chết đi.  Dẫu rằng việc mất sự hiện hữu này là kết quả chắc chắn của sinh.  Tất cả chỉ là vấn đề thời gian.

 

   Những nỗi sợ hãi này có là do ta bám víu vào các xúc chạm dễ chịu, coi chúng là ta, và tin rằng ngoài chúng không có một thực tại nào khác.  Do đó chúng ta muốn duy trì chúng.  Ngược lại, ta xua đuổi những trải nghiệm khó chịu, mong muốn chúng dừng lại để những thứ dễ chịu lại được diễn ra.  Nếu vấp phải nhiều cảnh trần không vừa ý, ta cho là mình rất khổ.  Hay ta nói, “Tôi đang có vấn đề”.  Đúng hơn tất cả chúng ta đang có cùng một vấn đề, đó là không giác ngộ.  Khi cuối cùng ta nhận thức được rằng các căn trần chỉ thoáng qua và hạnh phúc mà chúng mang đến chỉ tùy thuộc vào ý kiến cá nhân, thì ta sẽ thấy việc buông bỏ chúng khi hành thiền sẽ dễ dàng hơn.

 

   Việc hành thiền chỉ có thể xảy ra khi các căn, nhất là ý căn, dừng lại.  Thí dụ, nếu ta nghĩ sự xúc chạm của thân trong tư thế ngồi là khó chịu, thì tâm bắt đầu hoạt động theo hướng đó.  Hoặc khi nghĩ nhớ đến những gì ai đó nói hôm qua, tuần trước hay ngay cả mười năm trước, tâm cũng bắt đầu xoay chuyển ngay.  Tất cả là do sự bám chấp của ta vào các căn và coi chúng là ta.

 

   Từ sự xúc chạm của các giác quan, thọ phát khởi, không có cách gì thay đổi được điều đó, nhưng ta có thể dừng lại, không phản ứng theo chúng và không nghĩ chúng thuộc về ta.  Nếu ta muốn đạt được trạng thái định, ta phải dứt khoát không phản ứng lại với các cảm thọ phát khởi từ sự xúc chạm của các căn.  Chúng ta càng biết thực hành điều này trong cuộc sống hằng ngày, ta càng dễ định tâm trong thiền tập.  Chúng ta không phải tuân theo các phản ứng bản năng của mình.  Sự nhiếp tâm trong thiền định là siêu việt, do đó nó đòi hỏi ta phải có những đặc tính siêu việt.  Bất cứ khi nào nói về Niết bànđức Phật luôn bao gồm các trạng thái thiền định như là một phần của việc tu tập để đưa ta đến với sự nhận thức nội tâm về Pháp.

 

   Việc gìn giữ các căn không chỉ quan trọng trong thiền tập, mà nó cũng quan trọng không kém trong đời sống hằng ngày.  Trong khóa thiền, không có nhiều diễn biến như những lúc bình thường trong cuộc sống, ta dễ kiềm chế tâm khỏi ưa, ghét những gì ta thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và nghĩ suy.  Để làm được như thế, ta cần thực tập chỉ nghe âm thanh mà không lý giải ta đã nghe điều gì.  Khi tâm bắt đầu kể lể câu chuyện của nó về âm thanhít nhất ta biết ta phải làm gì.  Đó là đưa âm thanh trở về thực tại, xem nó đối với ta quan trọng như thế nào.

 

   Đối với căn mắt cũng thế.  Thí dụ, nếu ta nhìn một bụi cây, tâm ta bắt đầu nói: “À, bụi cây quế; không biết ai trồng nó?  Không biết mình sử dụng nó được không?”  Hay bất cứ ý nghĩ gì. Thay vì thế, ta có thể quan sát cái mà ta gọi là ‘bụi cây’ và ghi nhận là mắt ta đang chạm đến một hình thể, do đó có thể tránh cho tâm thêu dệt chuyện này, chuyện kia.  Nếu ta có thể thực hành điều này một hay hai lần trong đời sống hằng ngày, ta cũng có thể sử dụng phương cách đó để kiềm giữ các căn trong thiền tập.  Khi ta có thể kiềm chế bản thân cưỡng lại với những thêu dệt của tâm về các căn trần, ta ít có nguy cơ bị tham sân chế ngự.  Nhờ thế ta dễ đạt được nhiếp tâm trong thiền tập.

 

   Cuộc sống của chúng ta do các căn điều khiển, nhưng ta không cần phải tiếp tục sống như thế.  Không bắt buộc phải cứ như thế.        Vì dưới sự vận hành của sáu căn, ta khó thể tìm được hạnh phúc bền vữnglâu dài.  Nếu điều đó có thể thực hiện, ta đã sống một cách an lànhhạnh phúc, vì ta luôn tiếp nhận, nạp thọ các căn ngày này qua ngày khác, kiếp sống này qua kiếp sống khác.  Nhưng giải pháp không nằm ở chỗ hoàn thiện các căn trần, dầu nhiều người đã cố gắng làm thế, tốt hơn chính là hoàn thiện các phản ứng của ta, để dần dần việc xả bỏ trở thành là cách sống của ta.  Đó là lời hứa khả đức Phật đã dành cho chúng ta, rằng chúng ta có thể thoát khỏi mọi khổ não, mọi vấn đề, nhưng không phải bằng cách chỉ có những xúc chạm dễ chịu, khả ái, không một phút giây khó chịu nào.  Điều đó sẽ không bao giờ có thể, ngay cả khi đức Phật còn tại thế.  Nhưng ta có thể có những phút giây ta thực sự có thể làm được điều đó.  Giây phút đó cho ta sự trải nghiệm khởi đầu về trạng thái giải thoát, là loại giải thoát duy nhất có thể tìm được trong kiếp con người.  Không có điều gì khác.  Bất cứ ai đã hiểu được những lời dạy rất rõ ràng của đức Phật, nhất là các thiền sinh, đều có thể tu tập theo phương cách này.

 

   Bước thực hành kế tiếp là chánh niệm, đi đôi với sự hiểu biết rõ ràng (sampajañña).   Chánh niệm là trạng thái tâm chỉ biết, sampajañña là trạng thái tâm hiểu biết rõ ràng.  Chúng ta cần cả hai.  Ta cũng cần và phải thực tập điều này trong cuộc sống hằng ngày.  Chánh niệm về thân được đức Phật tán thán vì đưa đến ‘bất tử’, đồng nghĩa với Niết bàn.  Khi ta quán sát các thân hành và nhận thấy rằng chúng chỉ có thể nghe theo hướng dẫn của tâm, đó là bước đầu tiên đưa ta đến tuệ giác.  Ta thường không biết coi trọng thân tâm.  Nhiều người quan tâm đến thân, chăm sóc thân nhiều hơn tâm.  Rất ít người biết chăm lo cho tâm.

 

   Ý thức được các thân hành sẽ cho ta cơ hội để biết mà không suy nghĩ, chỉ biết.  Hiểu biết rõ ràng là cái chĩa có bốn nhánh phân biệt như đã nói ở trên.

 

   Ta có thể nghĩ là sự phân biệt như thế là chướng ngại, khiến ta không thể hoàn thành công việc của mình.  Thực ra nó có ảnh hưởng ngược lại, vì ta không làm gì vô ích.  Khi ta sử dụng chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng nhiều lần, chúng sẽ trở thành thói quen, giúp cho khả năng đạt được an tĩnh và tuệ giác dễ dàng hơn.  Khi ta trải nghiệm được rằng chính tâm điều khiển thân, điều đó khác với chỉ biết về điều đó.  Ta sẽ biết sâu sắc hơn về hai trạng thái của thân và tâm và có thể bắt đầu truy xét xem ‘cái tôi’ ở đâu trong đó.  Dần dần ta có thể thấy ‘cái tôi’ chỉ là ước muốn được vĩnh hằng, không bị biến hoại của ta.

 

   Đa số đều muốn được trải nghiệm cảm giác an bình, tĩnh lặng trong thiền tập.  Nhưng đối với những người mà tâm rất loạn động cần phải đạt được tuệ trước khi trở nên an tĩnh.  Ngược lại, những người với tâm ít loạn động, thường được trạng thái an tĩnh trước khi được tuệ.  Một chút tĩnh lặng đưa đến một chút tuệ và ngược lại.  Khi thực hành ta tu tập trên cả hai mặt để có được cơ hội phát triển cả hai cùng lúc một cách tốt nhất.  Khi ta quán sát hơi thở ra vào nơi mũi, ta cố gắng đạt được tâm tĩnh lặng, bình an.  Khi tâm lang thang nghĩ ngợitrước tiên ta ý thức rằng, “Tôi đang suy nghĩ”, rồi sau đó ta nhận ra trạng thái vô thường của từng ý nghĩ, và cách mà chúng thường bật ra không nhằm mục đích gì.  Đó là một tuệ giác giá trị, vì từ đó ta có thể suy ra là các nghĩ tưởng của ta thường không đáng tin cậy, không quan trọng, không có nền tảng và không tạo ra một chỗ dựa an toàn cho ta.

 

   Không trải nghiệm được như thế, chúng ta có thể tiếp tục tin vào mọi ý nghĩ của mình và cố gắng sử dụng chúng như những nền tảng vững chắc cho cuộc đời ta.  Nhưng khi ta thấy như trong thiền tập rằng ta không thể nhớ mình đã nghĩ điều gì một giây trước đó, thì niềm tin kia sẽ vỡ vụn, không bao giờ phát khởi trở lại.  Khi ta bắt đầu nghi ngờ những suy nghĩ của mình, không có nghĩa là ta bắt đầu nghi hoặc bản thân.  Nó chỉ có nghĩa là sự nghi ngờ về quan điểmý kiến của ta mà thôi, là một sự thực hành hữu ích.

 

   Trong kinh Quán Từ bi (Karaniya Metta Sutta), một vị A-la-hán được xem như hoàn toàn giải thoát khỏi mọi quan điểm.  Những gì đức Phật trao truyền cho ta dựa trên sự thực chứng của Ngài.  Các quan điểm luôn dựa trên sự ngộ nhận rằng có một ‘cái ta’, do đó chúng bị bóp méo bởi sai lầm cơ bản này.  Khi nhận thức được tâm là như thế, dần dần ta sẽ không còn có nhiều quan điểm, nhờ đó giải tỏa được một số khúc mắc của tâm.  Đa số tâm đầy ắp ý tưởnghy vọngkế hoạch, ký ức và quan điểm.  Chúng vây hãm tâm, khiến tâm không còn chỗ cho một cái nhìn hoàn toàn mới về bản thân và thế giới quanh ta.

 

   Một bước quan trọng trong quy trình này là sự chiến thắng bản thân mà đức Phật đã diễn tả như con đường đưa đến Niết bàn.  Khi nào ta còn phản ứng với những cảm thọ do các căn tạo nên, ta phải nhận rằng mình bị động hơn là chủ động, là nạn nhân hơn là chủ nhân.  Chúng ta thích nghĩ về mình cao đẹp hơn thế, tuy nhiên khi quán sát thực tạichúng ta chỉ thấy có vậy.  Ngay khi ta có thể chế ngự được thói quen phản ứng, là ta đã bước được một bước tiến tới việc chiến thắng bản thân.

 

   Chúng ta không áp đặt mình vào những hoàn cảnh khó chịu mà ta chưa biết cách chế ngự, vì tâm sẽ lại phản ứng một cách tiêu cực là việc không hề giúp ích gì cho chúng ta trên con đường đạo.  Chúng ta cũng không cần phải ngồi chịu đựng đau đớn trong thiền tập, nhưng ta cần quan sát tâm và những hoạt động của nó.  Điều này cũng giúp ta trong cuộc sống hằng ngày khi các cảm thọ khó chịu, khó ưa phát khởi do những lời ta nghe hay những cảnh ta thấy.  Khi ta học cách chấp nhận sự việc như chúng là, thì việc chiến thắng bản thân đang diễn ra, giải thoát ta khỏi các quan điểmý kiến.

 

   Khổ phát khởi từ việc chúng ta không thuận theo luật thiên nhiên mà chúng ta là đối tưọng.  Ta không thích người thân yêu của mình chết đi.  Ta không thích thân đau hoặc sự không được người biết ơn, ta không thích đánh mất những gì ta quý trọng.  Nếu ta biết chấp nhận sự việc như chúng là thì ta sẽ mau chóng có cái nhìn về thế giới một cách thực tế hơn, bớt đam mêchấp chặt, là con đường đưa đến giải thoát.  Chính là những tham áiđam mê trói buộc ta.

 

   Khi có cơ hội để ngồi yên lặng, quán sát bản thântuệ giác có thể phát khởi.  Chúng ta là nguyên mẫu của sự vô thường.  Nhưng khi tâm ta hướng về quá khứ, bắt đầu quay lại những cuốn phim cũ, ta cần dừng lại.  Ta không thể thay đổi quá khứ.  Con người từng sống trong quá khứ đó, không còn hiện hữu nữa, giờ chỉ còn là ảo ảnh.  Khi tâm chạy đến tương lai, tưởng tưọng ta sẽ như thế nào, ta có thể buông xả bằng cách nhớ rằng tương lai cũng không có thực.  Khi nó đến, nó đã trở thành hiện tại, và con người đang ngồi hoạch định cho tương lai cũng không phải là người sẽ trải nghiệm nó sau này.  Nếu ta trụ ở giây phút hiện tại này, ngay bây giờ và ở đây, khi đang hành thiền, ta có thể sử dụng kỹ năng đó trong đời sống hằng ngày.

 

   Khi ta sống trong từng khoảng khắc với chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng, mọi thứ đều vận hành hợp lý, không có gì hụt hẫng, tâm ta sẽ bình an và an lạc nội tâm sẽ phát khởi.  Giữ sự chú tâm trong từng bước trên con đường đạo dần dần sẽ đưa ta lên tột đỉnh con đường.

08. Step on the Way

There are three ways to approach the Dhamma. One is by acquiring knowledge through study of the Buddha's discourses, trying to remember them as faithfully as possible. That is very useful for the propagation of the teaching through lectures and books.

 

Another way is through devotion, offering flowers and incense, reciting devotional verses, giving gifts and making merit. Generosity and meritorious action were highly recommended by the Buddha, but he didn't put any value on just being in the presence of monks and nuns.

 

Once there was a monk who was so enraptured with the Buddha that he never wanted to be out of his sight. When this monk became sick one day and was unable to see the Buddha, he became despondent. The other monks asked him why he was so unhappy. He explained that he was depressed because he could not see the Buddha, who then came to visit the sick monk and said to him: "What do you see in this vile form? There is nothing to see in that. Whoever sees me, sees the Dhamma, whoever sees Dhamma, sees me. "

 

The third approach to Dhamma, namely practice, has always been the one most highly recommended by the Buddha. He said a person with real reverence and devotion is one who lives according to the teaching. There are a number of steps to be taken when we approach the Dhamma through practice. The foundation would be moral conduct, meritorious actions, making good kamma. Without such a foundation, we do not have enough security within to be peaceful and at ease with ourselves, which are prerequisites for meditation.

 

This has sometimes been misinterpreted to mean that we should not meditate unless we have already complete purity of precepts and gained perfect mindfulness. But that doesn't follow, because it's meditation that helps us to gain mindfulness, and gives us insight into the efficacy of the precepts.

 

The next practice aspect is to guard our senses. This is frequently mentioned by the Buddha, so that it bears repeating and remembering. Without guarding our senses, we are always open to being tempted into wanting and craving, resulting in turmoil in the mind. Our sense contacts are triggers for lust and hate.

 

Our senses are so permanently engaged that we have lost sight of their impact, are taking all that for granted and think that's just the way it is. We also believe that what we see, hear, taste, touch, smell and think is really exactly as we are interpreting it. That's a fundamental error. Everyone experiences their sense contacts in an individual manner.

 

Here is an example: The food Westerners eat is considered baby food in Asia: food spiced in the Asian way appears like hellfire to the Western palate. Even such a basic necessity as food shows up as a completely opposite experience. We can infer from that, that we all live in our own world. People argue vehemently because they believe their world must be the right one and even kill each other because of unresolved differences.

 

The Buddha was often asked such a question as: "Is the world finite or infinite, eternal or not?" His answer was: "What is the world? The world is our sense contacts." When asked questions such as these, the Buddha always brought the questioner back to practice. When we know that the world we live in consists of our sense contacts, we have something to practice with. When we know that the world is eternal or not, what is there to practice with?

 

Our senses include thinking, which is an almost constantly operating faculty. At this moment, we have touch, sound, sight and thought contact. Four of our six senses are engaged. Because our senses have been at work all our lives we believe that is the only way life can be experienced, which creates our deep craving to continue in this form. There is danger in this craving, something most people are not aware of consciously. Subconsciously we all know about it, because that's where our fears originate. If we examine ourselves for a moment we will realize that we harbor many fears, all carrying different names. Some people are afraid of spiders or snakes, some are afraid of the dark, some are afraid of airplanes, others that their loved ones may die, or that they might lose all their money. All sorts of different names for exactly the same fear; the fear of losing one's identifications, the fear of unpleasant, painful sense contacts, ultimately the fear of annihilation. Yet losing this existence is a guaranteed outcome of being alive. It's just a matter of time.

 

These fears are caused by our attachment to our pleasant sense contacts, identifying with them and believing that apart from our senses there is no other reality. Naturally we want that to continue then. We take our unpleasant experiences in stride, expecting them to cease and the pleasant ones to arise again. If our unpleasant sense contacts are in the majority, then we say we are having a lot of dukkha. Or we might say: "I'm having a problem." As a matter of fact we are all having the same problem, namely that of not being enlightened. When we come to the realization that our sense contacts are very momentary and their inherent satisfaction a matter of opinion, we will find it easier to let go of them during meditation.

 

Meditation will only happen when the sense contacts, particularly the thinking, are suspended. If, for instance, the touch contact in the sitting position is recognized and attended to as unpleasant, the mind starts working on that. Remembering what someone said yesterday, last week or even ten years ago, can start the mind churning. This is all due to our attachment to our senses and our identification with them.

 

From all sense contacts feelings arise, there is no way that can be altered, but we can stop ourselves from reacting to such feelings, and believing that they belong to us. To get our meditation to a concentrated state, we must refuse to react to feelings arisen from sense contacts. The more we practice this in daily life, the easier it will be to become concentrated in meditation. We don't have to go along with this natural reaction of human beings. Meditative absorptions are supermundane and therefore require supermundane qualities in us. Whenever the Buddha described the way to Nibbana he included the meditative absorptions as part of the practice, to lead us to the inner realization of the Dhamma.

 

Guarding our senses is not only important in meditation, but equally valid in daily life. In a meditation course, where there isn't as much input as in ordinary situation, it is a little easier to protect our minds from liking or disliking what we see, hear, taste, touch, smell and think. In order to facilitate this, we need to practice hearing only sounds, without explaining to ourselves what it is we heard. When the mind starts telling its story about the sound, at least we will know what we are doing, namely investing sound with a reality which gives it importance.

 

The same applies to eye contact. If, for instance, we are looking at a bush, our mind will say: "Oh, a cinnamon bush; who planted it? I wonder if we can use it?" Or any number of other ideas. Instead of all this, we can look at that which we call "bush" and be aware that our eyes are touching upon a form and thereby stopping the mind from making up stories. If we can manage to do this once or twice outside of meditation, we can use the same method of handling sense input in meditation. When we guard ourselves against the mind-made details of sense contacts, we are in less danger of falling into greed and hate. We will find this a great help in becoming concentrated in meditation.

 

Our lives are governed by our senses, but we do not have to continue with that. It is not compulsory. Within the operation of our six senses, it is not possible to find continued and unadulterated happiness. If it were possible, we would already be blissfully contented, since we have been having sense input day after day, life after life. The answer does not lie in improving our sense contacts, even though most people do try that, but rather in improving our reactions, so that eventually equanimity becomes our mode of living. This is the promise the Buddha made to us, namely that we can get out of all dukkha, all problems, but not by having only wonderful sense contacts and not a single moment of unpleasantness. Such a thing has never been possible, not even when the Buddha himself was alive. But we can have moments when we are actually able to do just that. That one moment gives us the initial experience what it is like to be free, which is the only kind of freedom to be found in human life. There is no other. Anyone who understands the Buddha's explicit instructions, especially those who meditate, can practice in this manner.

 

The next step to be taken is mindfulness, accompanied by clear comprehension (sampajañña). Mindfulness is the mental factor of just knowing, clear comprehension the one of understanding. We need both. That too can and should be practiced in daily life. Mindfulness of the body was praised by the Buddha as leading to the "deathless," a synonym for Nibbana. When we watch our body's actions and realize that it can only follow the mind's instructions, this is our first step into insight. Usually we take mind and body for granted. Most people are more interested in their body than in their mind and are looking after the body very well. Very few people are looking after their mind.

 

Being aware of our body's movements gives us a chance to be alert without thinking, just knowing. Clear comprehension is our four-pronged mode of discrimination described previously.

 

We might think that such discrimination would slow us down unduly, that we won't be able to get our work done. Actually it has the opposite effect, because we will not do anything that is unnecessary. When we use mindfulness and clear comprehension again and again, they will become a habit, which will enhance our abilities to attain calm and insight. When we experience our mind ordering our body around, this is different from just knowing about it. We become intimately acquainted with our dual aspect of mind and body and can begin to investigate where is "me" in that. We may eventually find that "me" is our wish to be eternal, not to be annihilated.

 

Most people would like to experience calm, bliss and tranquillity in meditation. But those, whose minds are very active need to gain insight first in order to become calm. Those, whose minds are more peaceful in any case, find it easier to become calm first and gain insight later. A little calm creates a little insight and vice versa. In practice we work on both these aspects to give ourselves the best chance to develop both simultaneously. When we watch the breath going in and out of the nostrils, we try to achieve a calm and peaceful mind. When the mind strays to thinking, we first realize "I'm thinking," and then see the impermanent nature of each thought, and how it so often rolls along without any purpose. This is a valuable insight, because we can infer that our thoughts are frequently not to be believed, are unimportant, have no solidity and do not provide a secure foothold for us.

 

Without such an experience, we might continue to believe all our thoughts and try using them as solid foundations for our life. but when we see in meditation, that we can't remember what we were thinking from one second to the next, that belief is shattered, never to arise again. When we start doubting our thoughts, that doesn't mean we start doubting ourselves. It refers to doubting our views and opinions, which is a most valuable practice.

 

In the discourse on living-kindness (Karaniya Metta Sutta) an arahant is described as being totally free from all views. What the Buddha expounded to us were his own experiences. Viewpoints are always based on our wrong assumption that there is a "me" and are therefore discolored by this underlying error. When we realize what our minds are up to, we will eventually stop having so many viewpoints and thereby let go of some of the mind's clutter. Most minds are full of ideas, hopes, plans, memories and opinions. Right and wrong are often based on culture or tradition and have no ultimate validity. They clutter up the mind and leave no space for a totally new outlook upon ourselves and the world.

 

An important step in this sequence is self-conquest, which the Buddha described as the way to Nibbana. As long as we react to our feelings created through sense contacts, we must admit that we are "reactors" rather than "actors," victims rather than masters. We like to think of ourselves as more exalted than that, yet when we observe reality, that is all we can find. As soon as we have overcome this habitual reacting, we have taken a step towards conquering ourselves.

 

We do not force ourselves into unpleasant situations, which we haven't learned to cope with yet, because the mind will again react negatively, which doesn't help us on the path. We need not sit in excruciating pain in meditation, but we need to observe our mind and its activity. This will assist us also in daily living when unpleasant feelings and dislike arise because of words we hear or sights we see. When we learn to accept things the way they are, self-conquest has taken place which releases us from views and opinions.

 

Dukkha arises from the fact that we don't like the law of nature, to which we are subject. We don't like our loved ones dying, we don't like physical pain or lack of appreciation, we don't like losing what we prize. If we could just accept the way it is it would go a long way towards looking at the world more realistically, with less passion, which is the way to freedom. Our passionate desires keep us in bounds.

 

When we have the opportunity to sit quietly and watch ourselves, new insights about ourselves may arise. We are the prototype of impermanence. But when our mind veers toward the past and starts rehashing old movies, it's time to turn it off. The past cannot be changed. The person who experienced the past, no longer exists, is only a fantasy now. When the mind strolls to the future, imagining how we would like it to be, we can let go by remembering the future has no reality either. When it happens, it can only be the present, and the person planning the future is not the same one, who will experience it. If we stay in this moment, here and now, during meditation, we can use that same skill in daily life.

 

When we handle each moment with mindfulness and clear comprehension, everything functions well, nothing goes amiss, our mind is content and inner peace can arise. Keeping our attention focused on each step on the way will eventually bring us to the summit.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5307)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1650)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1797)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1571)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1262)
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 25)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 105)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 115)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 151)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 160)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 182)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 193)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 211)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 209)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 279)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 229)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 258)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 268)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 257)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 255)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 553)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 290)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 349)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 380)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
05 Tháng Mười Một 20208:12 CH(Xem: 306)
Tất cả chúng ta đều nghĩ đến và chăm lo sức khỏe của mình, chỉ ít hay nhiều tùy theo mình còn trẻ hay già yếu và ốm đau. Thế nhưng sức khỏe không phải chỉ thuộc lãnh vực thân xác mà còn liên quan đến lãnh vực tâm thần. Như vậy thì tín ngưỡng nói chung và Phật giáo nói riêng có giữ một vị trí hay vai trò nào đối với mối quan tâm
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2183)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3874)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5488)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 279)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 349)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 380)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 182)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5307)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 442)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 451)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2958)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1976)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng