09. Các phẩm trợ đạo - Pathways to Power

18 Tháng Mười Hai 20199:47 SA(Xem: 1277)
09. Các phẩm trợ đạo - Pathways to Power
ThayBietBayGioODay_A

Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại
(To Be Seen) Here And Now, Ten Dhamma Talks
Sister Ayya Khema - Việt dịch: Diệu Liên Lý‎ Thu Linh

Nguồn: accesstoinsight.org, thuvienhoasen.org


__________________

09. Các Phẩm Trợ Đạo

  

   Theo đức Phật, bốn đạo chi (Tứ như ý túc)[1]đưa đến tối thượng là những yếu tố căn bản của việc chứng thực giải thoát.  Ngài thuyết: “Nếu một vị tỳ kheo hay tỳ kheo ni không nắm bắt được bốn đạo chi đưa đến tối thượng, họ đã lỡ đường đến giải thoát.  Nếu các vị này đã tu tập theo bốn đạo chi đưa đến tối thượng này, họ đã tu tập chánh đạo”.

 

    Bốn đạo chi này lúc đầu thuộc thế tục, có nghĩa chúng là một nỗ lực mà tất cả chúng ta đều có khả năng thực hành.  Chỉ khi chúng đã có sức mạnh, chúng trở nên siêu thếtối thượng và là bốn trong 37 yếu tố giác ngộ.

 

    Vì tính chất cơ bản của chúng mà ta phải thực hành, không thể bỏ qua, ta cần tìm hiểu chúng thấu đáo.  Ta phải hiểu chúng bằng cách phân tích, để có thể giám định sự tiến bộ của mình.  Đây là tiêu chuẩn để dần chuyển tri thức thành trí tuệ.  Ta có thể học các giáo lý của Đức Phật thuộc lòng, không khó lắm nhưng sau đó ta cần phải khám xét các giáo lý này trong ánh sáng của sự nỗ lực cá nhân.  Chúng ta có thể xét xem việc tu tập của mình có kết quả hay không.  Nếu có, ta sẽ tiếp tục phương cách thực hành đó; nếu không, ta cần thay đổi phương cách.  Xem xét bằng cách nào?  Bằng cách quan sát nội tâm xem ta có thực sự làm theo lời dạy của đức Phật, và việc thực hành đó có luôn hiện hữu trong nội tâm, được thế thì tuệ giác sẽ phát khởi trong tâm thức.  Khi nhìn thấy được thế, qua sự tu tập, ta có thể phát triển khả năng của tâm thức, ta sẽ không tự mãn, mà còn phát nguyện làm tăng trường chúng thêm.

 

    Bốn siêu thế đạo chi bắt đầu với chandha-samadhi (dục định).  Chandra là sự chủ tâm, có thể thiện, bất thiện hay trung tính.  Nó cũng có nghĩa là phương hướng hay ước muốn.  Để biến một đạo chi thành tối thượng, ta phải sử dụng nó với chủ tâm tiến tới trí tuệ toàn hảo.  Samadhi, một phần của thuật ngữ trên, có nghĩa là sự chú tâm phải hoàn toàn định tĩnh, không phát tán.  Đây là điểm khác biệt giữa cuộc sống thế tục và cuộc sống hoàn toàn hướng đến nỗ lực tâm linh.

 

    Trong cuộc sống thế tụcchúng ta bị buộc phải phân tán sự chủ tâm ra nhiều hướng khác nhau.  Đó là bản chất của cuộc sống thế tục.  Sự cần thiết phải gom góp và giữ gìn nhiều thứ khác nhau, dầu ta có thể giảm thiểu chúng, cũng làm tiêu hao thời gian của ta.  Lúc nào cũng có người hay việc gì đó đòi hỏi sự chú tâm của ta.  Ta không thể bỏ lơ họ hay điều gì đó.  Các tham vọng và ước muốn của bản thân đối với thế tục được coi như là cần thiết và hữu ích.  Để vun trồng ‘tâm định’ đưa đến hoàn toàn giải thoát, ta cần ở trong những hoàn cảnh không có chướng ngại nào phát sinh.

 

    Tất cả bốn chi đạo này cần có thêm ý chí.  Sự chú tâm cũng bao gồm nhất tâm.  Một chi đạo chỉ trở nên thực thụ khi sự chú tâm của ta được hướng đến uy lực cao nhất trên tất cả, đó là uy lực đến từ sự xả bỏ mọi tham ái.

 

    Chi đạo thứ hai là ‘niệm định’ (viriya-samadhi).  Mọi người đều có một số năng lượng vật lý, đôi khi khiến ta quá năng động, và nó trở thành chướng ngại cho sự nỗ lực tâm linh của ta.  Ngược lại nếu ta có quá ít năng lượng vật lý cũng gây ảnh hưởng xấu.  Nhưng năng lượng tâm linh có thể được nhân lên, bằng sự nhất tâmsử dụng năng lượng vào chỉ một đối tưọng, không ôm đồm nhiều thứ.  Chúng ta cần phải biết rõ điều gì là quan trọng bậc nhất cho ta trong cuộc đời này.  Điều này cần được xem xét khi âm thầm quán tưởng nội tâm.  “Tôi muốn điều gì nhất?”  “Tôi muốn dồn năng lượng vào đâu?”  “Chủ tâm của tôi là gì?”

 

    Câu trả lời không nhất thiết là để diệt khổ.  Nói thế cũng được.  Nhưng ta có thể được lợi ích bằng cách tập trung năng lượng và chủ tâm dầu ta có làm gì, vì cách đó sẽ giúp ta tránh được lãng phí thời gian với những hoạt động vô bổ.

 

   Ta có thể phát khởi ý chí như thế nào tùy thuộc rất nhiều vào trí tuệ của ta.  Nếu ta nhìn thấy được tính chất cấp bách của việc tăng trưởng tâm linh, ta sẽ dễ quyết chí thực hành.  Tất cả chúng ta đều có những hành động và phản ứng bản năng dựa trên dục và tham ái.  Ý chí giúp ta buông xả chúng và hướng năng lượng vào các chỗ khác.  Tính cấp bách (samvega) là một phần thiết yếu cho sự thành công trong việc tu tập của ta.  Khi với con mắt tuệ ta nhìn thấy cả thế giới đang ở trong biển lửa của ái dục và bản thân ta cũng đang ngụt cháy trong đó, thì sự cấp bách sẽ trở nên một phần tất yếu trong hành trang của ta và ý chí cũng đồng thời xảy ra.  Ý chí phát khởi tùy theo mức độ cấp bách mà trí ta nhận biết về thế giới quanh ta; cái thế giới không ở bên ngoài, mà ở ngay trong tâm và trí ta.

 

    Chi đạo kế tiếp là ‘tâm định’, (citta-samadhi) hay nhất tâm.  Khi sự chú tâm và năng lượng hợp lực với nhaucộng thêm với ý chí, thì thiền định có thể phát khởi.  Hai chi đạo đầu làm nhân cho chi thứ ba phát khởi, đưa đến các tầng thiền định.  Sự tĩnh lặng sâu xa trong thiền là yếu tố cơ bản cần có để đạt được tuệ giác thâm sâu, giúp chuyển đổi một phàm nhân thành thánh nhân, là mục đích tu tập của ta.

 

    Ngày nay, đa số không thực sự ý thức về điều này, nhưng họ muốn hành thiền là để giải tỏa căng thẳng.  Như thế cũng tốt.  Tại sao không chứ?  Giáo lý và mục đích của đức Phật là để giúp ta thoát khổ (dukkha) vĩnh viễn, để nó không bao giờ phát khởi lại.  Nếu ta dịch nghĩa chữ dukkha là stress (căng thẳng), thì ta có thể nói, “Đúng thế, đó là sự giải thoát khỏi căng thẳng (stress)”.  Nhưng sự giải thoát mà đức Phật nói đến dựa trên tuệ giác thâm sâu, nơi ta chứng thực được rằng thực sự không phải là dukkha (khổ) biến mất, mà chính là ‘cái ta’, người trải nghiệm đau khổ biến mất.

 

    Sự chú tâm và nỗ lực trụ vào một điểm đưa đến tâm thức nhất điểm.  Tâm sẽ ở trong một trạng thái tỉnh thức nơi không có chướng ngại nào từ tư duy phát sinh.  Tuệ không phát khởi từ tư duy.  Nó là cái biết nội tại, thuộc về trực giáchoàn toàn khác với tư duy lô-gíc, suy luận, là quả của tâm trong sáng, định tĩnh.  Trạng thái này sẽ đưa tâm tỉnh thức tiến vào sâu trong chân lý thường hằng, nhưng trước đây nó không hiển hiện trên bề mặt, nên tâm không thể nắm bắt được nó.

 

    Điều mà đức Phật trải nghiệm được dưới cây Bồ Đề, khi Ngài cuối cùng có thể hệ thống thuyết Tứ thánh đế và Bát chánh đạo, không phải là kết quả của sự suy luận, hay tư duy lô-gíc hoặc học trí.  Đó là kết quả của sự trải nghiệm nội tâm thâm sâu phát khởi từ tâm hoàn toàn tĩnh lặng, vô ngại.

 

    May mắn là tâm ta chỉ có thể làm một thứ ở mỗi thời điểm.  Khi ta bình an, định tĩnh, tất cả mọi chướng ngại tạm thời ngủ yên.  Đó là lợi ích của thiền.  Khi không có chướng ngại, tâm có khả năng nhận thức sự việc một cách sâu sắc, hoàn toàn khác với trong những trường hợp bình thường, khi ta luôn có nguy cơ phát khởi các tâm tham, sân, si.  Phải hiểu điều cơ bản này, nếu không ta dù có thể tin nơi đức Phật và giáo lý của ngài, nhưng bản thân không thể chứng thực được.  Vì thế tất cả tùy thuộc vào ta nếu ta muốn sống với Pháp trong tâm và trí mình.

 

    Đạo chi thứ tư là ‘thẩm định’.  Theo sau trải nghiệm chỉ tịnh vốn đi cùng với sự khai mở tâm thức là sự thẩm định về tuệ.  Trạng thái thiền định trở thành điều kiện để tuệ phát sinh qua việc thẩm định, khi ta ý thức được rằng ngay cả các trạng thái thiền định siêu việt cũng vô thường.  Tuy nhiên, các đạo chi này không chỉ sử dụng riêng trong thiền tập.  Dầu chúng giúp ta rất nhiều trong phạm vi thiền, chúng cũng ích lợi và hữu dụng trong tất cả mọi khoảnh khắc sống của ta.

 

    Chắc chắn là ta cần sự kiên định trong cuộc sống hằng ngày.  Ta không thể hôm nay muốn làm người tốt, hôm sau lại sống ích kỷ, rồi lại tử tế, mà mong muốn được an lạc.  Chúng ta cũng cần phải biết mục đích sống của mình trong cuộc sống thế tục.  Nếu ta muốn có trình độ đại học, ta phải chuyên chú về hướng đó.  Ta không thể đi học một ngày, ở nhà một ngày, mà mong đổ đạt.

 

    Tinh cần cũng là một điều kiện cơ bản trong cuộc sống hằng ngày.  Nếu ta biết gìn giữ năng lượng để sử dụng vào những việc đem lại lợi ích nhất, thì những nỗ lực trần tục của ta sẽ phát triển và dễ dàng thành tựu.  Nếu ta phát triển, vun trồng chủ tâm, năng lượngý chí và định tĩnh, các kỹ năng của ta có thể tăng gấp bội lần.

 

    Bất kể ta thành tựu được những kết quả gì, ta chẳng bao giờ nên mong đợi mình sẽ toàn hảo hay toàn hư.  Chúng ta cần xem mình là các hành giả, những người đang tu tập.  Trong thời đức Phật, họ được gọi là savaka, có nghĩa là ‘người nghe’.  Nếu ta tự nhìn nhận như thế, ta không cần phải tìm cầu sự hoàn hảo hay bất toàn, nhưng cố gắng tiến gần hơn tới việc buông bỏ mọi ý nghĩ về ‘cái ta’ và ‘của ta’.

 

    Thẩm định hiện tượng là một khía cạnh của chánh niệm trong từng giây phút, giúp ta thấy được tính chất vô thường, khổ và vô ngã (anicca, dukkha, anatta) ở bất cứ thứ gì mà ta để mắt tới.  Mọi pháp hữu vi đều hàm chứa ba đặc tính này, nên ta phải luôn có tâm Pháp.  Thường một trong ba tính chất này sẽ có ý nghĩa nổi trội hơn đối với ta và tâm ta sẽ nghiêng về hướng đó để quán tưởng về sự thật cơ bản nằm dưới thực tại mà ta sống trong đó.

 

    Lúc nào chúng ta cũng có đối tượng để quán xét.  Tư duy và cảm thọ của ta luôn có ba đặc tính trên.  Khi cảm thọ lạc khởi lên, ta có giữ nó được lâu không?  Ta có khổ khi nó qua đi không?  Ta có bắt đầu nhìn con người mà ta luôn quan tâm, chăm sóc như là không, như thoáng qua, không có cốt lõi vững chắc gì không?  Khi ta quán xét đi, quán xét lại bản thândần dần ta sẽ nhận ra rằng ta không thể tìm thấy một thể chất nào bên trong có tính chất trường tồn.

 

    Tuệ giác thâm sâu phát khởi qua quá trình hành thiền.  Tuy nhiênchúng ta cần giúp thêm cho sự tu tập của mình bằng cách thẩm địnhquan sát tư duy và phương hướng của ta trong cuộc sống hằng ngày.  Nếu tâm ta bận bịu với những vấn đề thế tục hay lạc dục trong ngày, thì làm sao mong muốn nó trở nên an tịnh và đầy trí tuệ vào buổi tối.  Đó là sự mong mỏi vô lý, không có tâm nào có thể thực hiện.  Ta cần chuẩn bị tâm, để nó quen suy nghĩ theo tâm Pháp, với chánh niệm đã được thiết lập thành thói quen hằng ngày.  Sau đó ta có thể tiến hành việc hành thiền mà không phải trước tiên dẹp bỏ các gánh nặng trong tâm.  Ta đã đi đúng hướng và có thể dễ dàng đạt được tĩnh lặng, bình yên, là nguồn nạp năng lượng cho tâm.

 

    Khi còn trẻ, chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng thân là nguồn năng lượng của ta.  Nhưng thân có thể trở bệnh bất cứ lúc nào, có thể bị tàn phế hay ngay cả chết.  Nguồn năng lượng thực sự của ta nằm trong việc là tâm có thể tự làm mới và trở nên mạnh mẽ qua sự phát khởi tĩnh lặng sâu xa.  Như thế không quan trọng là thân già, hay khiếm khuyết, hoặc trẻ, khỏe mạnh, vì tâm là chủ, thân chỉ là đầy tớ mà thôi.

 

    Chúng ta cần đến sự định tĩnh như là nguồn năng lượng của mình.  Nó còn quan trọng hơn thực phẩm.  Dầu sau đó thiền giả vẫn cần đến thực phẩm, họ vẫn có thể sống mà không cần đến nó trong một thời gian dài, dài hơn là ta thường tưởng, mà vẫn còn năng lượng để hành thiền.  Chúng ta có được nguồn lực thiên nhiên này bên trong, nhưng rất ít người biết tận dụng nó.  Để sử dụng nó, tâm cần được bảo vệ trong cuộc sống hằng ngày, để nó đã ở trong khuôn thước đúng khi ta bắt đầu hành thiền.  Tuệ giác về sự vô ích của hoài vọngước mơ giúp ta giảm thiểu các vọng tưởng.

 

    Bốn đạo chi hướng đến sự tối thượng thuộc tính thế tục khi ta đang thực hành và trở thành siêu thế khi ta đã thực hành chúng hoàn hảo, mỹ mãn.  Chúng đem đến sự giải thoát hoàn toàn khỏi khổ nếu sự chủ tâm tột đỉnh, năng lực ý chí, sự an tĩnh và tuệ giác đều được thành tựu, là những điều chúng đòi hỏi ở ta.

 


 

 [1] Tứ Như Ý Túc:  Bôn phương tiện giúp ta thành tựu các định (Samadhi): Dục, Tinh TấnNhất Tâm và Quán.

 09. Pathways to Power

 

 The four pathways to power are, according to the Buddha, essential aspects of realizing liberation. He said: "If a monk or nun has missed the four pathways to power, they have missed the way to liberation. If they have practiced the four pathways to power, they are practicing the right way."

 

 These four pathways are initially mundane, which means they are an endeavor, which all of us are capable of pursuing. Only when they have become powers, are they supermundane and constitute four of the 37 factors of enlightenment.

 

 Because they are so essential to practice and cannot be disregarded, we need to know about them in detail. We have to understand them in an analytical way, so that we can check up on our own results. This is the criterion that eventually turns knowledge into wisdom. We can learn any of the Buddha's teachings by heart, that's not so difficult, but consequently we need to look at these teachings in the light of personal endeavor. We can check whether our practice has borne fruit or not. If so, we will continue in the same way as before; if not we need to alter our approach. By investigating within whether we are actually doing what the Buddha taught and whether it has become part of our own inner being, we gain insight into our mind's capacity. When we see that, through practice, we have been able to enlarge the abilities of our mind, we will not become complacent, but resolve to increase them further.

 

 The four pathways to power start out with chandha-samadhi. Chandha is intention, and can be wholesome, unwholesome or neutral. It also means desire or direction. In order to make it a pathway to power we have to use it as the intention towards complete insight. Samadhi, as part of the term, means that the intention has to be fully concentrated and not dissipated. This would be the difference between living a worldly life or living a life wholly dedicated to spiritual endeavor.

 

 In a worldly life, we are forced to dissipate our intentions into different directions. It is the nature of life in the world. The necessity for obtaining and looking after many different objects, even though we can minimize that, will take up some time. There are always people and material aspects who have a claim on us. We have to honor those claims. Our own ambitions and desires are being fostered in the world as being useful and commendable. In order to cultivate "concentration of intention" leading to total liberation, we need to be in circumstances where no obstacles arise.

 

 All four of the pathways have willpower as an adjunct. Concentration of intention also includes one-pointedness. It only becomes a true pathway when our intention is directed towards the greatest power of all, namely the power arising from letting go of all craving.

 

 The second pathway is "concentration of energy," (viriya-samadhi). Everyone has a certain amount of physical energy which sometimes becomes detrimental to our mental endeavor when there is too much restlessness. If we have too little physical energy, that is also counterproductive. But mental energy can be increased, namely by being one-pointed, using our energy in one direction only, not having many irons in the fire. We need to be clear about what is of the utmost importance for us in this life. This needs checking up in the quiet introspection of our own contemplation. "What is it that I want most?" "Where do I want to expend my energy?" "What is my main intention?"

 

 The answer may not be to come to the end of dukkha. That is all right too. But we can benefit by concentrating our energy and intention no matter where we are heading, as it will protect us from wasting our time with useless actions.

 

 The willpower we can arouse depends very much on our insight. If we have seen the urgency of our own spiritual growth, we will find it easier to have the will for practice. All of us are subject to instinctual actions and reactions based on desire and craving. Willpower helps us to let go of these and direct our energy into different channels. Urgency (samvega) is an essential part of successful practice. When our insights give rise to seeing the whole world on fire from craving and ourselves burning with it, then urgency will become a natural part of our make-up and willpower a concomitant to it. Willpower arises in direct proportion to urgency, which is connected to our insight into the world around us; the world which does not stop at our front door, because it lives in our own heart and mind.

 

 The next pathway to power is "concentration of consciousness," (citta-samadhi) or one-pointedness of concentration. When intention and energy come together in a powerful way coupled with willpower, meditative concentration can result. The first two pathways are causes for the third one to arise, leading to meditative absorptions. Deep tranquillity in one's meditation is the underlying factor needed for profound insights, which can change an ordinary worldling to a noble one, which is the goal of our practice.

 

 Most people today are not really aware of that, but are interested in meditation to gain release from stress. That too is all right. Why not? The Buddha's purpose and teaching were relief and release from dukkha once and for all, so that it can never arise again. If we translate dukkha as stress, which we can well do, then we might say, "yes it is relief from stress. But the kind of release the Buddha had in mind is based on the depth of insight, where we realize and experience that is isn't really dukkha that disappears, but the "me" who is experiencing it vanishes.

 

 One-pointed intention and one-pointed effort lead to one-pointed consciousness. The mind finds itself in a state of awareness where there are no obstructions or obstacles resulting from thinking. Insight does not arise from thoughts, but is an inner, intuitive knowing quite different from discursive and logical thinking, rather an outcome of a clear and calm mind. This leads the awareness into the depths of truth, which has always been there, but which did not rise to the surface before, so that the mind could not grasp it previously.

 

 What the Buddha experienced under the Bodhi Tree, when he was able to formulate the four noble truths and the noble eightfold path, was not a result of discursive thinking nor of logical or learned understanding. It was a deep inner experience which arose from a totally calm mind without obstructions.

 

 It is our saving grace that a mind can do only one thing at a time. When we are calm and concentrated all our hindrances are momentarily laid to rest. This is the boon of meditation. When there are no obstacles in the mind, it has the ability to recognize an entirely different depth than it does under ordinary circumstances, when we are always in danger of having greed, hate or deluded mind states arise. When we arouse the pathways to power we create a different dimension in the mind. This is essential, as otherwise we may believe in the Buddha and his teaching, but may not be able to prove it ourselves. It is up to all of us to live the Dhamma in heart and mind.

 

 The fourth pathway is the "concentration of investigation." Subsequent to the experience of calm and tranquillity with their inherent expansion of consciousness, comes investigation for insight. The meditative calm becomes a condition for insight through concentrated investigation, when we realize the impermanence of even the best meditative states. None of the pathways, however, only apply to meditation. While they benefit us greatly in the context of meditation, they are useful and practicable in all other moments of our lives.

 

 We certainly need concentrated intention in daily living. We cannot one day intend to be kind, the next day selfish, then kind again and expect to be peaceful and happy. We also need to know what we are aiming for in mundane living. If we want a university education, we have to concentrate on that intention. We cannot go to university one day, stay home the next day and expect to pass examinations.

 

 Concentration of energy is also a basic requirement of daily living. If we conserve our energy to use it where it bears the best fruit, our mundane endeavors will flourish and be easily accomplished. If we develop and cultivate right intention, energy, willpower and concentration, we can increase our potential manifold.

 

 Notwithstanding any results we may see in ourselves, we should never expect to be either totally perfect or totally imperfect. We need to look upon ourselves as practitioners, those who are learning. In the Buddha's time they were called savaka, which means "hearer." If we consider ourselves in that way, we need not search for perfection or imperfection, but rather try to draw nearer to giving up all ideas of "me" and "mine."


 Concentrated investigation of phenomena is an aspect of our moment to moment mindfulness, which enables us to see anicca (impermanence), dukkha (unsatisfactoriness) or anatta (corelessness) wherever we look. Everything that exits proclaims these three characteristics, so that we need never be without Dhamma consciousness. Usually one of the three aspects becomes more pregnant with meaning for us and our mind veers in that direction to investigate the underlying truth behind the reality in which we live. 

 We are never without an object for investigation. Our thoughts and feelings are full of these three characteristics. When there is a pleasant feeling, can we keep it? Do we feel unhappy when it is gone? Are we beginning to see this whole person we are so concerned with, as nothing but flux and flow, with no solid core to be found anywhere? When we look at ourselves again and again, we will eventually realize that we cannot find an unchanging substance within.

 

 Depth of insight arises through the meditative process. However, we need to assist our practice by investigative thoughts and directions in daily living. If our mind is concerned with worldly affairs or sensual pleasures during the day, it is asking too much of it to become calm and insightful in the evening. It is an unrealistic expectation, which no mind can fulfill. We need to prepare our mind, so that it is used to thinking in terms of Dhamma consciousness, with mindfulness already established as a daily habit. Then we can proceed with meditation without first having to shed all mental burdens. We are already facing in the right direction and can easily achieve calm and peacefulness, which are our resource for mental energy.

 

 When we are young, we may be inclined to think that our body is our source of energy. But the body can fall sick at any time, can be maimed or even die. Our real energy source lies in the fact that the mind can renew itself and become powerful through the arising of deep tranquillity. Then it doesn't matter whether the body is old and decrepit or young and healthy, because mind is the master and body the servant.

 

 We need the meditative calm as our fuel supply. It is more important even than food. Although one does eventually have to have food again, one can go without it for quite a long time, much longer than usually thought possible, and still have much energy to meditate. We have this natural resource within, yet very few people take advantage of it. In order to make use of it, the mind needs protection during daily living, so that it is already in the right frame of consciousness when meditation begins. Insight into the futility of ambitions and desires helps to lessen discursive and distracting thinking.

 

 The four pathways to power are mundane when we are practicing and become supermundane when we have perfected them. They bring total liberation from dukkha if culmination of intention, energy willpower, calm and insight is achieved, which they demand of us.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5401)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1723)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1857)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1619)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1314)
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 52)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 115)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 145)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 171)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 214)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 212)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 208)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 193)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 217)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 224)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 273)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 250)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 293)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 263)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 338)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 281)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 285)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 311)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 278)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 288)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2230)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3934)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5572)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 338)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 433)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 438)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 273)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5401)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 504)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 494)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 3044)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2057)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng