09. Các phẩm trợ đạo - Pathways to Power

18 Tháng Mười Hai 20199:47 SA(Xem: 163)
09. Các phẩm trợ đạo - Pathways to Power
ThayBietBayGioODay_A

Thấy Biết: Bây Giờ Và Ở Đây, Mười Bài Pháp Thoại
(To Be Seen) Here And Now, Ten Dhamma Talks
Sister Ayya Khema - Việt dịch: Diệu Liên Lý‎ Thu Linh

Nguồn: accesstoinsight.org, thuvienhoasen.org


__________________

09. Các Phẩm Trợ Đạo

  

   Theo đức Phật, bốn đạo chi (Tứ như ý túc)[1]đưa đến tối thượng là những yếu tố căn bản của việc chứng thực giải thoát.  Ngài thuyết: “Nếu một vị tỳ kheo hay tỳ kheo ni không nắm bắt được bốn đạo chi đưa đến tối thượng, họ đã lỡ đường đến giải thoát.  Nếu các vị này đã tu tập theo bốn đạo chi đưa đến tối thượng này, họ đã tu tập chánh đạo”.

 

    Bốn đạo chi này lúc đầu thuộc thế tục, có nghĩa chúng là một nỗ lực mà tất cả chúng ta đều có khả năng thực hành.  Chỉ khi chúng đã có sức mạnh, chúng trở nên siêu thếtối thượng và là bốn trong 37 yếu tố giác ngộ.

 

    Vì tính chất cơ bản của chúng mà ta phải thực hành, không thể bỏ qua, ta cần tìm hiểu chúng thấu đáo.  Ta phải hiểu chúng bằng cách phân tích, để có thể giám định sự tiến bộ của mình.  Đây là tiêu chuẩn để dần chuyển tri thức thành trí tuệ.  Ta có thể học các giáo lý của Đức Phật thuộc lòng, không khó lắm nhưng sau đó ta cần phải khám xét các giáo lý này trong ánh sáng của sự nỗ lực cá nhân.  Chúng ta có thể xét xem việc tu tập của mình có kết quả hay không.  Nếu có, ta sẽ tiếp tục phương cách thực hành đó; nếu không, ta cần thay đổi phương cách.  Xem xét bằng cách nào?  Bằng cách quan sát nội tâm xem ta có thực sự làm theo lời dạy của đức Phật, và việc thực hành đó có luôn hiện hữu trong nội tâm, được thế thì tuệ giác sẽ phát khởi trong tâm thức.  Khi nhìn thấy được thế, qua sự tu tập, ta có thể phát triển khả năng của tâm thức, ta sẽ không tự mãn, mà còn phát nguyện làm tăng trường chúng thêm.

 

    Bốn siêu thế đạo chi bắt đầu với chandha-samadhi (dục định).  Chandra là sự chủ tâm, có thể thiện, bất thiện hay trung tính.  Nó cũng có nghĩa là phương hướng hay ước muốn.  Để biến một đạo chi thành tối thượng, ta phải sử dụng nó với chủ tâm tiến tới trí tuệ toàn hảo.  Samadhi, một phần của thuật ngữ trên, có nghĩa là sự chú tâm phải hoàn toàn định tĩnh, không phát tán.  Đây là điểm khác biệt giữa cuộc sống thế tục và cuộc sống hoàn toàn hướng đến nỗ lực tâm linh.

 

    Trong cuộc sống thế tụcchúng ta bị buộc phải phân tán sự chủ tâm ra nhiều hướng khác nhau.  Đó là bản chất của cuộc sống thế tục.  Sự cần thiết phải gom góp và giữ gìn nhiều thứ khác nhau, dầu ta có thể giảm thiểu chúng, cũng làm tiêu hao thời gian của ta.  Lúc nào cũng có người hay việc gì đó đòi hỏi sự chú tâm của ta.  Ta không thể bỏ lơ họ hay điều gì đó.  Các tham vọng và ước muốn của bản thân đối với thế tục được coi như là cần thiết và hữu ích.  Để vun trồng ‘tâm định’ đưa đến hoàn toàn giải thoát, ta cần ở trong những hoàn cảnh không có chướng ngại nào phát sinh.

 

    Tất cả bốn chi đạo này cần có thêm ý chí.  Sự chú tâm cũng bao gồm nhất tâm.  Một chi đạo chỉ trở nên thực thụ khi sự chú tâm của ta được hướng đến uy lực cao nhất trên tất cả, đó là uy lực đến từ sự xả bỏ mọi tham ái.

 

    Chi đạo thứ hai là ‘niệm định’ (viriya-samadhi).  Mọi người đều có một số năng lượng vật lý, đôi khi khiến ta quá năng động, và nó trở thành chướng ngại cho sự nỗ lực tâm linh của ta.  Ngược lại nếu ta có quá ít năng lượng vật lý cũng gây ảnh hưởng xấu.  Nhưng năng lượng tâm linh có thể được nhân lên, bằng sự nhất tâmsử dụng năng lượng vào chỉ một đối tưọng, không ôm đồm nhiều thứ.  Chúng ta cần phải biết rõ điều gì là quan trọng bậc nhất cho ta trong cuộc đời này.  Điều này cần được xem xét khi âm thầm quán tưởng nội tâm.  “Tôi muốn điều gì nhất?”  “Tôi muốn dồn năng lượng vào đâu?”  “Chủ tâm của tôi là gì?”

 

    Câu trả lời không nhất thiết là để diệt khổ.  Nói thế cũng được.  Nhưng ta có thể được lợi ích bằng cách tập trung năng lượng và chủ tâm dầu ta có làm gì, vì cách đó sẽ giúp ta tránh được lãng phí thời gian với những hoạt động vô bổ.

 

   Ta có thể phát khởi ý chí như thế nào tùy thuộc rất nhiều vào trí tuệ của ta.  Nếu ta nhìn thấy được tính chất cấp bách của việc tăng trưởng tâm linh, ta sẽ dễ quyết chí thực hành.  Tất cả chúng ta đều có những hành động và phản ứng bản năng dựa trên dục và tham ái.  Ý chí giúp ta buông xả chúng và hướng năng lượng vào các chỗ khác.  Tính cấp bách (samvega) là một phần thiết yếu cho sự thành công trong việc tu tập của ta.  Khi với con mắt tuệ ta nhìn thấy cả thế giới đang ở trong biển lửa của ái dục và bản thân ta cũng đang ngụt cháy trong đó, thì sự cấp bách sẽ trở nên một phần tất yếu trong hành trang của ta và ý chí cũng đồng thời xảy ra.  Ý chí phát khởi tùy theo mức độ cấp bách mà trí ta nhận biết về thế giới quanh ta; cái thế giới không ở bên ngoài, mà ở ngay trong tâm và trí ta.

 

    Chi đạo kế tiếp là ‘tâm định’, (citta-samadhi) hay nhất tâm.  Khi sự chú tâm và năng lượng hợp lực với nhaucộng thêm với ý chí, thì thiền định có thể phát khởi.  Hai chi đạo đầu làm nhân cho chi thứ ba phát khởi, đưa đến các tầng thiền định.  Sự tĩnh lặng sâu xa trong thiền là yếu tố cơ bản cần có để đạt được tuệ giác thâm sâu, giúp chuyển đổi một phàm nhân thành thánh nhân, là mục đích tu tập của ta.

 

    Ngày nay, đa số không thực sự ý thức về điều này, nhưng họ muốn hành thiền là để giải tỏa căng thẳng.  Như thế cũng tốt.  Tại sao không chứ?  Giáo lý và mục đích của đức Phật là để giúp ta thoát khổ (dukkha) vĩnh viễn, để nó không bao giờ phát khởi lại.  Nếu ta dịch nghĩa chữ dukkha là stress (căng thẳng), thì ta có thể nói, “Đúng thế, đó là sự giải thoát khỏi căng thẳng (stress)”.  Nhưng sự giải thoát mà đức Phật nói đến dựa trên tuệ giác thâm sâu, nơi ta chứng thực được rằng thực sự không phải là dukkha (khổ) biến mất, mà chính là ‘cái ta’, người trải nghiệm đau khổ biến mất.

 

    Sự chú tâm và nỗ lực trụ vào một điểm đưa đến tâm thức nhất điểm.  Tâm sẽ ở trong một trạng thái tỉnh thức nơi không có chướng ngại nào từ tư duy phát sinh.  Tuệ không phát khởi từ tư duy.  Nó là cái biết nội tại, thuộc về trực giáchoàn toàn khác với tư duy lô-gíc, suy luận, là quả của tâm trong sáng, định tĩnh.  Trạng thái này sẽ đưa tâm tỉnh thức tiến vào sâu trong chân lý thường hằng, nhưng trước đây nó không hiển hiện trên bề mặt, nên tâm không thể nắm bắt được nó.

 

    Điều mà đức Phật trải nghiệm được dưới cây Bồ Đề, khi Ngài cuối cùng có thể hệ thống thuyết Tứ thánh đế và Bát chánh đạo, không phải là kết quả của sự suy luận, hay tư duy lô-gíc hoặc học trí.  Đó là kết quả của sự trải nghiệm nội tâm thâm sâu phát khởi từ tâm hoàn toàn tĩnh lặng, vô ngại.

 

    May mắn là tâm ta chỉ có thể làm một thứ ở mỗi thời điểm.  Khi ta bình an, định tĩnh, tất cả mọi chướng ngại tạm thời ngủ yên.  Đó là lợi ích của thiền.  Khi không có chướng ngại, tâm có khả năng nhận thức sự việc một cách sâu sắc, hoàn toàn khác với trong những trường hợp bình thường, khi ta luôn có nguy cơ phát khởi các tâm tham, sân, si.  Phải hiểu điều cơ bản này, nếu không ta dù có thể tin nơi đức Phật và giáo lý của ngài, nhưng bản thân không thể chứng thực được.  Vì thế tất cả tùy thuộc vào ta nếu ta muốn sống với Pháp trong tâm và trí mình.

 

    Đạo chi thứ tư là ‘thẩm định’.  Theo sau trải nghiệm chỉ tịnh vốn đi cùng với sự khai mở tâm thức là sự thẩm định về tuệ.  Trạng thái thiền định trở thành điều kiện để tuệ phát sinh qua việc thẩm định, khi ta ý thức được rằng ngay cả các trạng thái thiền định siêu việt cũng vô thường.  Tuy nhiên, các đạo chi này không chỉ sử dụng riêng trong thiền tập.  Dầu chúng giúp ta rất nhiều trong phạm vi thiền, chúng cũng ích lợi và hữu dụng trong tất cả mọi khoảnh khắc sống của ta.

 

    Chắc chắn là ta cần sự kiên định trong cuộc sống hằng ngày.  Ta không thể hôm nay muốn làm người tốt, hôm sau lại sống ích kỷ, rồi lại tử tế, mà mong muốn được an lạc.  Chúng ta cũng cần phải biết mục đích sống của mình trong cuộc sống thế tục.  Nếu ta muốn có trình độ đại học, ta phải chuyên chú về hướng đó.  Ta không thể đi học một ngày, ở nhà một ngày, mà mong đổ đạt.

 

    Tinh cần cũng là một điều kiện cơ bản trong cuộc sống hằng ngày.  Nếu ta biết gìn giữ năng lượng để sử dụng vào những việc đem lại lợi ích nhất, thì những nỗ lực trần tục của ta sẽ phát triển và dễ dàng thành tựu.  Nếu ta phát triển, vun trồng chủ tâm, năng lượngý chí và định tĩnh, các kỹ năng của ta có thể tăng gấp bội lần.

 

    Bất kể ta thành tựu được những kết quả gì, ta chẳng bao giờ nên mong đợi mình sẽ toàn hảo hay toàn hư.  Chúng ta cần xem mình là các hành giả, những người đang tu tập.  Trong thời đức Phật, họ được gọi là savaka, có nghĩa là ‘người nghe’.  Nếu ta tự nhìn nhận như thế, ta không cần phải tìm cầu sự hoàn hảo hay bất toàn, nhưng cố gắng tiến gần hơn tới việc buông bỏ mọi ý nghĩ về ‘cái ta’ và ‘của ta’.

 

    Thẩm định hiện tượng là một khía cạnh của chánh niệm trong từng giây phút, giúp ta thấy được tính chất vô thường, khổ và vô ngã (anicca, dukkha, anatta) ở bất cứ thứ gì mà ta để mắt tới.  Mọi pháp hữu vi đều hàm chứa ba đặc tính này, nên ta phải luôn có tâm Pháp.  Thường một trong ba tính chất này sẽ có ý nghĩa nổi trội hơn đối với ta và tâm ta sẽ nghiêng về hướng đó để quán tưởng về sự thật cơ bản nằm dưới thực tại mà ta sống trong đó.

 

    Lúc nào chúng ta cũng có đối tượng để quán xét.  Tư duy và cảm thọ của ta luôn có ba đặc tính trên.  Khi cảm thọ lạc khởi lên, ta có giữ nó được lâu không?  Ta có khổ khi nó qua đi không?  Ta có bắt đầu nhìn con người mà ta luôn quan tâm, chăm sóc như là không, như thoáng qua, không có cốt lõi vững chắc gì không?  Khi ta quán xét đi, quán xét lại bản thândần dần ta sẽ nhận ra rằng ta không thể tìm thấy một thể chất nào bên trong có tính chất trường tồn.

 

    Tuệ giác thâm sâu phát khởi qua quá trình hành thiền.  Tuy nhiênchúng ta cần giúp thêm cho sự tu tập của mình bằng cách thẩm địnhquan sát tư duy và phương hướng của ta trong cuộc sống hằng ngày.  Nếu tâm ta bận bịu với những vấn đề thế tục hay lạc dục trong ngày, thì làm sao mong muốn nó trở nên an tịnh và đầy trí tuệ vào buổi tối.  Đó là sự mong mỏi vô lý, không có tâm nào có thể thực hiện.  Ta cần chuẩn bị tâm, để nó quen suy nghĩ theo tâm Pháp, với chánh niệm đã được thiết lập thành thói quen hằng ngày.  Sau đó ta có thể tiến hành việc hành thiền mà không phải trước tiên dẹp bỏ các gánh nặng trong tâm.  Ta đã đi đúng hướng và có thể dễ dàng đạt được tĩnh lặng, bình yên, là nguồn nạp năng lượng cho tâm.

 

    Khi còn trẻ, chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng thân là nguồn năng lượng của ta.  Nhưng thân có thể trở bệnh bất cứ lúc nào, có thể bị tàn phế hay ngay cả chết.  Nguồn năng lượng thực sự của ta nằm trong việc là tâm có thể tự làm mới và trở nên mạnh mẽ qua sự phát khởi tĩnh lặng sâu xa.  Như thế không quan trọng là thân già, hay khiếm khuyết, hoặc trẻ, khỏe mạnh, vì tâm là chủ, thân chỉ là đầy tớ mà thôi.

 

    Chúng ta cần đến sự định tĩnh như là nguồn năng lượng của mình.  Nó còn quan trọng hơn thực phẩm.  Dầu sau đó thiền giả vẫn cần đến thực phẩm, họ vẫn có thể sống mà không cần đến nó trong một thời gian dài, dài hơn là ta thường tưởng, mà vẫn còn năng lượng để hành thiền.  Chúng ta có được nguồn lực thiên nhiên này bên trong, nhưng rất ít người biết tận dụng nó.  Để sử dụng nó, tâm cần được bảo vệ trong cuộc sống hằng ngày, để nó đã ở trong khuôn thước đúng khi ta bắt đầu hành thiền.  Tuệ giác về sự vô ích của hoài vọngước mơ giúp ta giảm thiểu các vọng tưởng.

 

    Bốn đạo chi hướng đến sự tối thượng thuộc tính thế tục khi ta đang thực hành và trở thành siêu thế khi ta đã thực hành chúng hoàn hảo, mỹ mãn.  Chúng đem đến sự giải thoát hoàn toàn khỏi khổ nếu sự chủ tâm tột đỉnh, năng lực ý chí, sự an tĩnh và tuệ giác đều được thành tựu, là những điều chúng đòi hỏi ở ta.

 


 

 [1] Tứ Như Ý Túc:  Bôn phương tiện giúp ta thành tựu các định (Samadhi): Dục, Tinh TấnNhất Tâm và Quán.

 09. Pathways to Power

 

 The four pathways to power are, according to the Buddha, essential aspects of realizing liberation. He said: "If a monk or nun has missed the four pathways to power, they have missed the way to liberation. If they have practiced the four pathways to power, they are practicing the right way."

 

 These four pathways are initially mundane, which means they are an endeavor, which all of us are capable of pursuing. Only when they have become powers, are they supermundane and constitute four of the 37 factors of enlightenment.

 

 Because they are so essential to practice and cannot be disregarded, we need to know about them in detail. We have to understand them in an analytical way, so that we can check up on our own results. This is the criterion that eventually turns knowledge into wisdom. We can learn any of the Buddha's teachings by heart, that's not so difficult, but consequently we need to look at these teachings in the light of personal endeavor. We can check whether our practice has borne fruit or not. If so, we will continue in the same way as before; if not we need to alter our approach. By investigating within whether we are actually doing what the Buddha taught and whether it has become part of our own inner being, we gain insight into our mind's capacity. When we see that, through practice, we have been able to enlarge the abilities of our mind, we will not become complacent, but resolve to increase them further.

 

 The four pathways to power start out with chandha-samadhi. Chandha is intention, and can be wholesome, unwholesome or neutral. It also means desire or direction. In order to make it a pathway to power we have to use it as the intention towards complete insight. Samadhi, as part of the term, means that the intention has to be fully concentrated and not dissipated. This would be the difference between living a worldly life or living a life wholly dedicated to spiritual endeavor.

 

 In a worldly life, we are forced to dissipate our intentions into different directions. It is the nature of life in the world. The necessity for obtaining and looking after many different objects, even though we can minimize that, will take up some time. There are always people and material aspects who have a claim on us. We have to honor those claims. Our own ambitions and desires are being fostered in the world as being useful and commendable. In order to cultivate "concentration of intention" leading to total liberation, we need to be in circumstances where no obstacles arise.

 

 All four of the pathways have willpower as an adjunct. Concentration of intention also includes one-pointedness. It only becomes a true pathway when our intention is directed towards the greatest power of all, namely the power arising from letting go of all craving.

 

 The second pathway is "concentration of energy," (viriya-samadhi). Everyone has a certain amount of physical energy which sometimes becomes detrimental to our mental endeavor when there is too much restlessness. If we have too little physical energy, that is also counterproductive. But mental energy can be increased, namely by being one-pointed, using our energy in one direction only, not having many irons in the fire. We need to be clear about what is of the utmost importance for us in this life. This needs checking up in the quiet introspection of our own contemplation. "What is it that I want most?" "Where do I want to expend my energy?" "What is my main intention?"

 

 The answer may not be to come to the end of dukkha. That is all right too. But we can benefit by concentrating our energy and intention no matter where we are heading, as it will protect us from wasting our time with useless actions.

 

 The willpower we can arouse depends very much on our insight. If we have seen the urgency of our own spiritual growth, we will find it easier to have the will for practice. All of us are subject to instinctual actions and reactions based on desire and craving. Willpower helps us to let go of these and direct our energy into different channels. Urgency (samvega) is an essential part of successful practice. When our insights give rise to seeing the whole world on fire from craving and ourselves burning with it, then urgency will become a natural part of our make-up and willpower a concomitant to it. Willpower arises in direct proportion to urgency, which is connected to our insight into the world around us; the world which does not stop at our front door, because it lives in our own heart and mind.

 

 The next pathway to power is "concentration of consciousness," (citta-samadhi) or one-pointedness of concentration. When intention and energy come together in a powerful way coupled with willpower, meditative concentration can result. The first two pathways are causes for the third one to arise, leading to meditative absorptions. Deep tranquillity in one's meditation is the underlying factor needed for profound insights, which can change an ordinary worldling to a noble one, which is the goal of our practice.

 

 Most people today are not really aware of that, but are interested in meditation to gain release from stress. That too is all right. Why not? The Buddha's purpose and teaching were relief and release from dukkha once and for all, so that it can never arise again. If we translate dukkha as stress, which we can well do, then we might say, "yes it is relief from stress. But the kind of release the Buddha had in mind is based on the depth of insight, where we realize and experience that is isn't really dukkha that disappears, but the "me" who is experiencing it vanishes.

 

 One-pointed intention and one-pointed effort lead to one-pointed consciousness. The mind finds itself in a state of awareness where there are no obstructions or obstacles resulting from thinking. Insight does not arise from thoughts, but is an inner, intuitive knowing quite different from discursive and logical thinking, rather an outcome of a clear and calm mind. This leads the awareness into the depths of truth, which has always been there, but which did not rise to the surface before, so that the mind could not grasp it previously.

 

 What the Buddha experienced under the Bodhi Tree, when he was able to formulate the four noble truths and the noble eightfold path, was not a result of discursive thinking nor of logical or learned understanding. It was a deep inner experience which arose from a totally calm mind without obstructions.

 

 It is our saving grace that a mind can do only one thing at a time. When we are calm and concentrated all our hindrances are momentarily laid to rest. This is the boon of meditation. When there are no obstacles in the mind, it has the ability to recognize an entirely different depth than it does under ordinary circumstances, when we are always in danger of having greed, hate or deluded mind states arise. When we arouse the pathways to power we create a different dimension in the mind. This is essential, as otherwise we may believe in the Buddha and his teaching, but may not be able to prove it ourselves. It is up to all of us to live the Dhamma in heart and mind.

 

 The fourth pathway is the "concentration of investigation." Subsequent to the experience of calm and tranquillity with their inherent expansion of consciousness, comes investigation for insight. The meditative calm becomes a condition for insight through concentrated investigation, when we realize the impermanence of even the best meditative states. None of the pathways, however, only apply to meditation. While they benefit us greatly in the context of meditation, they are useful and practicable in all other moments of our lives.

 

 We certainly need concentrated intention in daily living. We cannot one day intend to be kind, the next day selfish, then kind again and expect to be peaceful and happy. We also need to know what we are aiming for in mundane living. If we want a university education, we have to concentrate on that intention. We cannot go to university one day, stay home the next day and expect to pass examinations.

 

 Concentration of energy is also a basic requirement of daily living. If we conserve our energy to use it where it bears the best fruit, our mundane endeavors will flourish and be easily accomplished. If we develop and cultivate right intention, energy, willpower and concentration, we can increase our potential manifold.

 

 Notwithstanding any results we may see in ourselves, we should never expect to be either totally perfect or totally imperfect. We need to look upon ourselves as practitioners, those who are learning. In the Buddha's time they were called savaka, which means "hearer." If we consider ourselves in that way, we need not search for perfection or imperfection, but rather try to draw nearer to giving up all ideas of "me" and "mine."


 Concentrated investigation of phenomena is an aspect of our moment to moment mindfulness, which enables us to see anicca (impermanence), dukkha (unsatisfactoriness) or anatta (corelessness) wherever we look. Everything that exits proclaims these three characteristics, so that we need never be without Dhamma consciousness. Usually one of the three aspects becomes more pregnant with meaning for us and our mind veers in that direction to investigate the underlying truth behind the reality in which we live. 

 We are never without an object for investigation. Our thoughts and feelings are full of these three characteristics. When there is a pleasant feeling, can we keep it? Do we feel unhappy when it is gone? Are we beginning to see this whole person we are so concerned with, as nothing but flux and flow, with no solid core to be found anywhere? When we look at ourselves again and again, we will eventually realize that we cannot find an unchanging substance within.

 

 Depth of insight arises through the meditative process. However, we need to assist our practice by investigative thoughts and directions in daily living. If our mind is concerned with worldly affairs or sensual pleasures during the day, it is asking too much of it to become calm and insightful in the evening. It is an unrealistic expectation, which no mind can fulfill. We need to prepare our mind, so that it is used to thinking in terms of Dhamma consciousness, with mindfulness already established as a daily habit. Then we can proceed with meditation without first having to shed all mental burdens. We are already facing in the right direction and can easily achieve calm and peacefulness, which are our resource for mental energy.

 

 When we are young, we may be inclined to think that our body is our source of energy. But the body can fall sick at any time, can be maimed or even die. Our real energy source lies in the fact that the mind can renew itself and become powerful through the arising of deep tranquillity. Then it doesn't matter whether the body is old and decrepit or young and healthy, because mind is the master and body the servant.

 

 We need the meditative calm as our fuel supply. It is more important even than food. Although one does eventually have to have food again, one can go without it for quite a long time, much longer than usually thought possible, and still have much energy to meditate. We have this natural resource within, yet very few people take advantage of it. In order to make use of it, the mind needs protection during daily living, so that it is already in the right frame of consciousness when meditation begins. Insight into the futility of ambitions and desires helps to lessen discursive and distracting thinking.

 

 The four pathways to power are mundane when we are practicing and become supermundane when we have perfected them. They bring total liberation from dukkha if culmination of intention, energy willpower, calm and insight is achieved, which they demand of us.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 143)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 314)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 333)
06 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 379)
05 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 482)
03 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 390)
02 Tháng Mười Một 2019(Xem: 522)
30 Tháng Mười 2019(Xem: 566)
23 Tháng Mười 2019(Xem: 656)
19 Tháng Mười 2019(Xem: 866)
22 Tháng Tám 2019(Xem: 679)
18 Tháng Giêng 202011:35 SA(Xem: 42)
Dòng đời cứ chảy trôi, đông qua xuân đến, đất trời cũng dần thay màu áo mới, mặt nước hồ xuân trong vắt xua tan đi cái rét buốt của mùa đông ưu sầu, ảm đạm. Người người nhà nhà lại háo hức du xuân, hòa mình trong cái không khí hân hoan của đất trời. Theo thường lệ, mỗi năm Ban Văn hóa chùa Hoằng PhápViệt Nam
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 42)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 130)
Khi hơi thở đều đặn ta sẽ lấy đó làm đề mục hành thiền. Lúc thở vào, đoạn đầu của hơi thở ở tại chót mũi, đoạn giữa tại lồng ngực, và đoạn cuối ở bụng. Đó là con đường của hơi thở. Khi thở ra, đoạn đầu của hơi thở ở bụng, đoạn giữa ở lồng ngực, và đoạn cuối cùng ở chót mũi.
16 Tháng Giêng 20207:23 SA(Xem: 143)
Triêu nhan vốn là một loài dây leo bình dị, gần gũi có thể mọc ở khắp mọi nơi. Màu sắc và hình dáng của hoa luôn ở bên cạnh bước chân và cái nhìn của ta. Thế nhưng đôi khi chúng ta quên lãng sự có mặt của nó, có lẽ vì nó quá bình thường. Nhưng sẽ có một lúc nào đó bất chợt, sự hiện diện của hoa bừng sáng trước mắt ta, trong lòng ta
15 Tháng Giêng 20206:38 CH(Xem: 11814)
Những cử chỉ mang tính biểu tượng của bàn tay Đức Phật, được gọi là Thủ Ấn, là những biểu tượng hình ảnhý nghĩa sâu xa: - The symbolic gestures of the hands of Buddha images, called mudras, are picture tools of identification of deeper meaning:
14 Tháng Giêng 20201:11 CH(Xem: 217)
Bankei, con người đã giác ngộ, chia sẻ với chúng ta kinh nghiệm của ngài với tư cách một con người bằng máu thịt và nói lên những lời chân thực từ kinh nghiệm riêng ngài. Lời khuyên của ngài đi thẳng vào tim người, đấy là những lời nhắm thẳng vào con người trước mặt
14 Tháng Giêng 20208:19 SA(Xem: 119)
Trước đây tôi là người không kiên nhẫn, rất dễ bị lay động bởi những gì người khác nói hay làm. Nhưng các em học viên đã mở rộng tầm nhìn của tôi. Tôi nhận thấy rằng người khác có thể có những suy nghĩ mà mình chẳng bao giờ nghĩ đến trước đây. Khi lắng nghe các em, tôi đã trưởng thành thêm nhiều. Tôi nghĩ đó là cách Đức Phật đã dạy bảo tôi,
13 Tháng Giêng 202012:54 CH(Xem: 153)
Khi đã hướng về tâm linh, ta thường nghĩ rằng mình đã bỏ những tính xấu của thế tục lại đằng sau. Nhưng cách suy nghĩ theo thói quen không biến mất; chúng vẫn đi theo ta, phủ trùm con đường tiến đến sự tu tập tâm linh của chúng ta. Vì tất cả chúng ta đều đã được huấn luyện thành những người tiêu dùngtrình độ
11 Tháng Giêng 20204:45 CH(Xem: 215)
Chúng ta đến với cuộc đời bằng một cái tâm, và khi từ bỏ cuộc đời cũng với một cái tâm. Trái tim không còn đập nữa, nhưng tâm vẫn chung thủy bên ta. Những bài pháp, lời giảng dạy yêu thương, câu nhắc nhở chân tình trong quyển sách nhỏ này là món quà, là đôi chút trang điểm cho nội tâm của bạn. Hãy đọc với tâm tình rộng mở,
11 Tháng Giêng 202010:20 SA(Xem: 200)
Người khép cửa giã từ trò chơi giỡn. Đứng bên lề ta len lén ngó qua. Hai mươi năm… tưởng chừng một sát na. Nhìn tóc bạc da nhăn… mà thấy lạ. Đã hết thuở giành ăn la chí choé. Mừng trăng thu cùng bách bộ ngoài đường. Đi bên nhau dàn hàng dưới mù sương. Nghe hạnh phúc mênh mang về tỏa khắp. Đã hết thuở quần chằm, áo vá…
09 Tháng Giêng 202011:25 SA(Xem: 293)
Mấy ông thầy Đại Đăng khi qua Boston phụ dọn dẹp chuẩn bị lễ khánh thành thiền viện Bồ Đề, mặt mũi lem luốc vì xi măng quét tường tô trần, đóng nẹp, nối ống..., quần ống thấp ống cao, áo vạt cao vạt thấp, đã tức cảnh sinh... thơ rằng: - Áo em vạt ngắn vạt dài. Nghiệp em quá nặng bị đày đến đây. - mà cười tươi rói.
09 Tháng Giêng 20209:54 SA(Xem: 178)
Ngoài việc phá rừng khai hoang chúng tôi còn đối mặt với đặc sản nơi đây: Muỗi sốt rét hoành hành! Chúng tôi luân phiên ngã bệnh, luôn phải uống ký ninh ngừa sốt rét, người nào cũng xanh dờn, không khỏe. Các bác sĩ bằng hữu thỉnh thoảng ra thăm, khám sức khỏe cho chúng tôi và nhắc nhở: “Quý vị tranh thủ nhín thời gian đi tắm biển đi!”.
07 Tháng Giêng 20203:57 CH(Xem: 258)
Cái tôi theo tháng ngày qua. Măng non thành cụm tre già dặn hơn. Trong nhà, cuối xóm, đầu thôn. Tôi là số một, tôi "ngon" hơn người. Tôi khóc, không muốn ai cười. Ai thành đạt thấy tôi thời chẳng vui, Tôi nói ngược, chớ nói xuôi. Một khi tôi muốn có trời mới can! Tôi thành cái rốn không gian.
06 Tháng Giêng 202012:02 CH(Xem: 204)
Xuất Gia Balamật - Trong một tiền kiếp khi Đức Phật là Ngài Temiya, Ngài thực hành hạnh Xuất Gia Balamật bằng cách giả làm người ngu độn, không làm được việc gì. Vua cha sai người đánh xe chôn sống Ngài. Temiya biểu hiện một lòng dũng cảm phi thường và sau đó, quyết định sống đời xuất gia.
05 Tháng Giêng 20205:29 CH(Xem: 314)
Tập sách gồm những bài pháp do Ngài Thiền Sư Khippapanno Kim Triệu ban giảng trong khóa thiền thứ 21 Mùa Đông 1986, được tổ chức tại Chùa Kỳ Viên, Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ. Những bài pháp này vừa có tính cách dẫn giải, khuyến tu cho các thiền sinh, vừa mang chứa những lợi lạc thiết thực đến thân tâm cho tất cả chúng ta.
04 Tháng Giêng 202011:29 SA(Xem: 273)
Từ cung trời Đâu-suất, Bồ-tát được Phạm thiênTứ Thiên vương thỉnh mời tái sinh xuống thế. Khi Hoàng hậu Maha Ma-da, mẹ của Đức Phật, thụ thai, bà nằm mộng thấy một voi trắng từ một ngọn núi vàng bạc mang một đóa hoa sen đến dâng cho bà. Đản Sanh: Vào đêm trăng tròn tháng tư, năm 625 trước Tây lịch,
03 Tháng Giêng 20209:19 CH(Xem: 230)
Bài phát biểu của Ajahn Brahm trình bày một luận điểm vững chắc về việc truyền đại giới Tỳ-kheo-ni trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, được hổ trợ bằng những tham khảo trích dẫn từ lời dạy của Đức Phật và những qui định trong Luật Tạng về việc điều hành sinh hoạt Giáo đoàn Phật giáo.
02 Tháng Giêng 20207:25 CH(Xem: 264)
Thế nên trong một số chùa ở trong nam vẫn thường có chuyện một số Phật tử lâu năm thành ra “công thần”, muốn tỏ quyền hành với mọi người, muốn tham gia “tổ chức”, “sắp xếp”, “điều hành”, “nhắc nhở”… thiếu nước muốn làm trụ trì chùa nữa thôi. Những người đó là những người lăng xăng nhất, phiền não nhất, càng lâu càng ngã mạn
31 Tháng Mười Hai 20197:43 CH(Xem: 299)
Ở phương Tây những năm gần đây, vô số giấy mực đã được dùng để viết về Đức Phật (Buddha) và Giáo Pháp (Dhamma) của Ngài, hai Ngôi Báu đầu tiên của đạo Phật, nhưng quá ít được viết về Ngôi Báu thứ ba, là Tăng già (Sangha). Ngay đến ý nghĩa của chữ Tăng già cũng từng là một đề tài tranh luận, khi mà đối với những ai
30 Tháng Mười Hai 20192:04 CH(Xem: 264)
Thiền sư Thái Ajahn Brahm chỉ ra con đường từ chánh niệm đến các trạng thái định sâu qua mười sáu bước quán niệm hơi thở. Ajahn Brahm là một thiền sư Thái, tu học dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Ajahn Chah và hiện nay là viện chủ tu viện Bodhiyana ở Serpentine, Úc. Đây là bài tóm tắt cuốn sách sắp phát hành của thầy:
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 311)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1903)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3236)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 42)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20207:43 CH(Xem: 827733)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
17 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 130)
Khi hơi thở đều đặn ta sẽ lấy đó làm đề mục hành thiền. Lúc thở vào, đoạn đầu của hơi thở ở tại chót mũi, đoạn giữa tại lồng ngực, và đoạn cuối ở bụng. Đó là con đường của hơi thở. Khi thở ra, đoạn đầu của hơi thở ở bụng, đoạn giữa ở lồng ngực, và đoạn cuối cùng ở chót mũi.
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 565)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
21 Tháng Chín 20198:40 SA(Xem: 1443)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 1096)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất giatại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 959)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 1972)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 1719)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,