[5] Tứ Diệu Đế

05 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 154)
[5] Tứ Diệu Đế


MuoiNgayThienTap1AMười Ngày Thiền Tập

Thiền sư Khippapanno Kim Triệu
Phật Lịch 2541, Dương Lịch 1997
Nguồn: budsas.org

 

____________________



[05] Ngày Thứ Năm

Tứ Diệu Đế

____________________

 

Hôm nay Sư sẽ giảng về Tứ Diệu Đế, một đề tài sâu xa nhất và khó hiểu nhất trong Phật giáo.

 

Tứ Diệu Đế hay Tứ Thánh Đế là gì? Đây là bốn sự thật. Gọi là thật vì nó không thay đổi. Bốn sự thật này chỉ có bậc thánh nhân mới thấy rõ được. Bậc thánh nhân là các vị: Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm, A-La-Hán, Phật Độc Giác và Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Chỉ những bậc thánh nhân mới thấy rõ Tứ Diệu Đế, hiểu rõ đó là thật, và nhận thức đó là thật.

 

Đức Phật tìm ra Tứ Diệu Đế, chứ Ngài không sáng tạo ra Tứ Diệu Đế. Lịch sử Phật Giáo có ghi rằng: "Tất cả các vị Phật trong quá khứ, hiện tại, và tương lai, như Đức Thích Ca Mâu Ni, đều tìm thấy Tứ Diệu Đế." Vì vậy, Tứ Diệu Đế hay Tứ Thánh Đế là những sự thật luôn luôn hiện hữu và không thay đổi.

 

Đức Phật thuyết giảng về Tứ Diệu Đế lần đầu tiên tại rừng Lộc Giả cho năm anh em Kiều-Trần-Như. Và trong 45 năm trên đường hoằng pháp của Đức Phật, Ngài luôn luôn nhắc nhở về Tứ Diệu Đế, vì Tứ Diệu Đế rất quan trọng. Ngài luôn luôn nhắc đến bốn sự thật đó vì muốn chúng sanh thấy được sự thật như Ngài. Chỉ có bấy nhiêu đó thôi. Đó là những sự thậtlợi ích mà Ngài đã tìm kiếm trong bao nhiêu kiếp. Công phu tu luyện, từ khi nguyện trong tâm cho đến khi nguyện ra lời, thành Phật của Ngài chỉ có một mục đích là để thấy rõ sự thật.

 

Ngày hôm nay, Đức Thế Tôn đã thấy rõ ràng, nên Ngài luôn luôn đề cao sự thật và hướng dẫn cho các đệ tử của Ngài để nếm được hương vị của sự thật như Ngài. Chỉ có bốn sự thật này là liên quan đến tất cả các pháp của Đức Thế Tôn thuyết giảng trong 45 năm. Bất cứ đề tài nào của giáo pháp cũng không ngoài Tứ Diệu Đế.

 

Đức Phật dạy rằng chỉ có bốn sự thật, gọi là Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế gồm có: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, và Đạo Đế. Đức Phật bảo Khổ là thật. Nếu ta nghĩ Khổ là giả là ta vẫn còn mê lầm. Nhân gây ra Khổ, gọi là Tập, cũng là thật nữa. Nhân này gây ra sự đau khổ cho chúng sanh cũng như cho chính Đức Bồ-Tát trong bao nhiêu kiếp. Sau khi biết được hai sự thật này rồi, Đức Phật còn tìm thấy sự Diệt Khổ. Do vậy, sự Diệt Khổ hay Niết-Bàn cũng là một sự thật. Và cái gì có thể dập tắt sự đau khổ? Đức Phật tìm ra phương pháp để diệt hẳn sự khổ. Phương pháp diệt khổ, gọi là Đạo, là sự thật thứ tư. Tóm lại, Tứ Diệu Đế là bốn sự thật mà chư Phật tìm rachỉ dẫn lại cho các hàng đệ tử của Ngài.

 

Một bậc thánh nhân phải thấy bốn sự thật này. Nếu chưa thấy thì chưa phải là thánh nhân. Vì vậy, giáo lý của Đức Phật luôn đề cập đến Tứ Diệu Đế. Khi nói đến Tứ Diệu Đế thì có Khổ là đầu; mà chúng sanh thì không muốn nghe như vậy, cho nên họ thấy dường như giáo lý đạo Phật có vẻ bi quan. Tuy nhiên, nếu chúng ta thông hiểu sâu xa thì không phải như vậy.

 

Thế nào gọi là Khổ? Đức Phật bảo sanh là khổ. Tại sao vậy? Vì đây là nhân của sự giaụ. Sau cái sanh là già, mà già thì khổ thật vì nhiều bệnh hoạn ốm đau. Cái Khổ này, không ai muốn có nhưng không thể tránh được. Suy xét lại, ta thấy nếu không có sanh thì làm sao có già và có khổ? Vì vậy, có phải sanh là nhân làm cho ta khổ không? Tại vì ta không có trí tuệ suy xét nên không biết đó thôi. Bây giờ ta thấy già có cái Khổ của già, lại thêm bệnh hoạn vì thân này đã cũ. Cái gì đã cũ, đã hư hoại thì đau khổ. Vậy già là khổ, bệnh hoạn là khổ. Kế đó là sự chết, một cái khổ nữa. Không ai muốn đi đến cái chết; mà dù muốn dù không, lúc nào ta cũng phải bước về chỗ đó. Vì vậy, cuộc đời là một chuỗi đau khổ từ đầu đến cuối.

 

Còn có những cái khổ khác trong đời sống. Một là cái ta thích mà lại xa lìa ta thì cũng làm ta đau khổ. Hai là cái ta ghét mà lại phải gặp thì ta cũng khổ. Ba là điều mà Đức Phật tóm tắt trong câu: "Sankhithena paccuppanna khandhadukkha." Nghĩa là gom tất cả các sự khổ ấy trong một chỗ gọi là "ngũ uẩn thủ". Khi chúng ta chấp vào ngũ uẩn này, đó là khổ. Điều này hơi khó hiểu. Ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong con người. Thuộc về ngoại thânngũ trầnsắc, thanh, hương, vị, xúc. Chữ "chấp" ở đây có nghĩa là khi thấy thân này, ta chấp vào một cái Ta hay một cái Ngã. Con người thường cho sắc là ta, thọ là ta, tưởng là ta, hành là ta, thức là ta; và chấp vào đó. Ví dụ: chấp ta đau. Khi có cái chấp này rồi, tự nhiên cũng có chấp vào ngoại cảnh: sắc, thanh, hương, vị, xúc là ta nữa. Chẳng hạn chấp vật đó là của ta. Càng chấp nhiều chừng nào thì ta càng khổ nhiều chừng ấy. Vì vậy, Đức Thế Tôn thường nói chấp ngũ uẩn thủ là khổ.

 

Đức Phật và các bậc A-La-Hán cũng có ngũ uẩn nhưng không còn khổ vì các Ngài không còn chấp ngũ uẩn này là của các Ngài nữa. Các Ngài đã thấy rõ con người là Danh và Sắc. Do đó, cái Ta của các Ngài mất hẳn. Đối với các Ngài, đây chỉ là Danh Sắc đang hoạt động đó thôi. Dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, các Ngài không có chấp cái sắc là ta, cái thọ là ta, v.v... Vì vậy các Ngài không đau khổ. Chúng sanh khổ vì chúng sanh chấp ngũ uẩn là của ta. Cho nên, Khổ là khổ ở cái chấp đó.

 

Khi thân tâm khổ, ta cho là khổ, thì dễ hiểu. Nhưng tại sao khi thân tâm vui, mình cũng cho là khổ? Đây là điều chúng sanh không nhìn nhận vì thấy khó hiểu. Muốn hiểu điểm này, phải hiểu thêm giáo lý của Đức Phật. Ở đây, Ngài thuyết giảng về các loại khổ cho ta hiểu. Nếu hiểu rõ, ta sẽ thấy đạo Phật không phải bi quan.

 

Đức Phật nói có ba cái Khổ cần phải hiểu rõ:

 

1. Một là dukkha dukkha (khổ khổ): Khổ vì khổ, hay nói rõ hơn khi thân đau, tâm cũng cảm thấy khó chịu.

 

2. Hai là viparinamadukkha (hoại khổ): Khổ vì thay đổi. Đức Phật bảo, nếu không có thay đổi thì chúng sanh không khổ. Nhưng mọi việc trên thế gian đều thay đổi, vì vậychúng sanh khổ nhiều nhưng không hay biết. Ví dụ, trèo cao thì té nặng. Chức vị càng cao thì khi bị giáng chức, lại càng đau buồn. Càng vui nhiều thì lúc hết vui cũng buồn nhiều. Vui bao nhiêu thì cái khổ cũng trả lại bấy nhiêu, không bao giờ ít hơn. Cũng như khi ta có một cái gì làm ta hết sức vui mừng, mà sau đó vật ấy lại bị hư hỏng thì ta khổ cũng nhiều như vậy hoặc còn hơn đó nữa. Tại sao vậy? Vì cái vui có thời hạn. Vui được một tháng, hai tháng, một năm, hai năm. Mà cái khổ khôngthời hạn. Một năm vẫn còn khổ, hai năm vẫn còn khổ, đôi khi khổ suốt đời. Do đó Đức Phật dạy: "Sự thay đổi gây ra cái khổ".

 

3. Ba là sankharadukkha (hành khổ): Khổ ở trong điều-kiện-pháp. Chỗ này hơi khó hiểu. "Điều kiện pháp" là gì? Tất cả các pháp thên thế gian này đều nằm trong 3 điều kiện pháp, cũng được gọi là tam tướng. Điều kiện thứ nhất là Vô Thường, thứ hai là Khổ, thứ ba là không có ai làm chủ được hết, cũng gọi là Vô Ngã. Vậy sankharadukkha bao gồm hai cái Khổ trên. Vì Khổ ở trong điều kiện pháp này nên hành giả mới lại tu tập. Mà làm sao thấy được những điều kiện pháp này được? Muốn thấy rõ, chỉ có thực hành Thiền Minh Sát hay Vipassana, và khi có Minh Sát Tuệ mới thấy những điều kiện pháp như vậy được. Vì vậy có câu kệ: "Sabbe sankhara aniccati yada pannaya passati atha nibbindati dukkhe esa maggo visuddhiya"; có nghĩa là "Khi hành giả suy xét các tập hợp phápVô Thường trong giờ nào thì ắt chán nản sự khổ trong giờ ấy. Đó là con đường thanh bạch trong sạch."

 

Tất cả các tập hợp pháp đều là Vô Thường. Ở đây, các tập hợp pháp có nghĩa là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hay là sắc, thanh, hương, vị, xúc, hay là danh sắc. Chỉ có người có trí tuệ mới thấy được Vô Thường. Khi hành giả thấy được Vô Thường như vậy thì phát sanh sự chán nản trong các tập hợp pháp hay là trong Danh Sắc. Đây là con đường thanh bạch hay là con đường Niết Bàn vậy.

 

Khi hành giả tu niệm trong 10 ngày, niệm Danh niệm Sắc, thì hành giả sẽ thấy sự thật hay chân đế. Danh Sắc hay Ngũ Uẩn gom lại gọi là tập hợp pháp hay pháp hành. Bằng Tuệ Minh Sát, hành giả luôn luôn thấy nó. Ngoài Tuệ Minh Sát, không bao giờ ta thấy được những pháp này. Nếu khôngTuệ Minh Sát, chúng sanh lầm lẫn, cho đời là vui, là thường rồi mừng. Càng vui mừng nhiều, khi nó thay đổi, thì càng khổ nhiều, vì không thấy được pháp sanh diệt.

 

Như Sư vừa nói, chỉ có Đức Phật và các vị A-La-Hán mới không còn khổ nữa. Chúng sanh còn Khổ vì chưa diệt trừ được phiền não trong tâm. Nhưng dù chưa hoàn toàn diệt được phiền não, khi đang hành Thiền Minh Sát, hành giả có thể tranh đấu với sự Vô Thường, Khổ Não một phần nào; hay là có trí tuệ để diệt sự Khổ một phần nào. Do nhờ Tuệ Minh Sát, hành giả thấy rõ Danh cũng như Sắc luôn luôn sanh diệt. Nếu thấy rõ sanh diệt (hay thay đổi) là quý vị sẽ thấy Khổ trong lúc đang tham thiền. Thiết tưởng hành giả nào cũng vậy, chán nản sự Khổ này, không muốn có nó. Để giải thoát đau khổ, chúng ta phải niệm cho thấy danh sắc rõ ràng và có như vậy, mới giải thoát được. Đây là phương pháp của Đức Phật dạy. Chính nhờ Tuệ Minh Sát này, Đức Phật mới diệt hẳn phiền não, diệt hẳn điều kiện pháp.

 

Như vậy, Đức Phật dạy: "Khổ là do sự thay đổi, Khổ do sự chấp, và Khổ do ngũ uẩn." Tất cả đều là Khổ hết. Đây gọi là Khổ đế. Đức Phật thuyết bài pháp này cho loài người trên thế gian nghe vì con người mới có đủ trí để suy xétnhận thức được giáo lý này. Chúng sanh ở cõi thấp hơn thì lại quá đau khổ, luôn bi quan, không nhận thức được. Còn chúng sanh ở cõi cao thì lại quá vui, quá lạc quan, cũng không nhận thức được. Đức Phật cũng dạy giáo lý này ở cõi trời cho những Chư Thiên nào đã tu tập và có chánh kiến, nhận thức giáo lý của Đức Phật; chứ không phải thuyết cho vật vô tri vô giác.

 

Bây giờ chúng ta đã thấy rõ Khổ và nhìn nhận có thật như vậy. Khổ này không thay đổi, gọi là Khổ Đế. Có Khổ rồi, vậy cái gì làm cho chúng sanh Khổ? Đức Phật dạy rằng nhân sanh ra Khổ là ái dụcÁi dục hay tham lam, tham ái là guồng máy của sự đau khổTâm tham ái là tâm không muốn mất. Nếu chúng sanh có tâm như vậy thì tự nhiên có hành động hay tạo nghiệp để gìn giữ những cái mình có mà không muốn mất. Có ba cấp ái dục: ái dụccõi ngườicõi trời Dục giới, ở cõi Sắc Giới, và ở cõi Vô Sắc Giới.

 

Bây giờ nói về ái dụccõi Dục Giới. Khi có tâm ham muốn thì tự nhiên tạo hành động cũng gọi là tạo nghiệp. Nghiệp thì có nghiệp thiện và nghiệp ác. Và khi có nghiệp thì có quả. Nếu có quả rồi, tự nhiên sẽ đưa tới những nghiệp và quả khác nữa. Vì vậy, khi nói về Khổ, ta thấy rõ sự Khổ trong hiện tại do nghiệp trước đưa lại; mà nghiệp là do ái dục. Vậy sự Khổ trong hiện tại là do ái dục đưa lại. Rồi ái dục còn bảo hộ, duy trì, gìn giữ, và tạo thêm nghiệp mới nữa.

 

Cũng vậy, nghiệp mới sẽ sanh ra những quả mới. Quả mới sẽ đưa đẩy chúng sanh đi trong kiếp khác nữa. Đây là guồng máy luân hồi tạo đau khổ không bao giờ chấm dứt; từ những đau khổ trong quá khứ đến những đau khổ khác trong kiếp này và từ những đau khổ trong kiếp này đến những đau khổ khác trong kiếp vị lai. Như thế, nếu còn ái dục thì sự đau khổ sẽ không bao giờ chấm dứt.

 

Khi ta thấy rõ lý Tứ Diệu Đế thì sẽ thấy đây là khía cạnh của luân hồiđau khổ. Không phải là ta không thoát ra được. Đức Phật còn thuyết thêm hai sự thật kế tiếp. Đó là Diệt ĐếĐạo Đế. Diệt Đế có khả năng dập tắt sự đau khổ, và làm cho sự đau khổ không còn trở lại nữa. Muốn có Diệt Đế, phải có phương pháp cho chúng ta thực hành, đó là Đạo Đế.

 

Chữ Diệt Đế có nghĩa là Niết-Bàn, vì Niết-Bàn diệt hẳn phiền não và làm phiền não không còn trở lại. Đây là có ý nói về Đức Phật và các bậc A-La-Hán. Còn các bậc Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm và A-Na-Hàm chỉ diệt được một phần nào và vẫn còn những phiền não vi tế. Diệt ở đây là do đạo tâm diệt. Các bậc A-La-Hán diệt phiền não rồi đi đến Niết-Bàn thì sự khổ không còn trở lại nữa.

 

Riêng hành giả khi thực hành, làm sao biết được là phương pháp đó đúng và kết quả của sự thực hành đó là gì? Như thế nào là diệt trừ phiền não? Sư xin nhắc lại: "Khi ái dục diệt thì phiền não cũng diệt, vì ái dục là nhân của phiền não." Diệt trừ phiền não hay diệt trừ ái dục cũng có cấp bậc. Đức Phật và các vị A-La-Hán có đạo tâm đi đến Niết-Bàn và diệt hẳn phiền não. Riêng hành giả, lúc tu niệm cũng diệt được phiền não một phần nào. Với chánh niệm, hành giả diệt được phiền não từng sát-na một. Vì vậy khi thực tập, hành giả phải luôn luôn có Chánh Niệmtâm Định. Định, Huệ ở trong Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định. Đây là những chi của sự giải thoát. Khi ta ở trong những chi phần này thì ta có khả năng diệt trừ phiền não trong lúc ấy.

 

Đức Phật dạy sankharadukkha, nghĩa là ngũ uẩn là khổ hay các pháp hành là khoạ. Nếu chúng ta chấp nó là chúng ta khổ. Nếu có ngũ uẩn này mà chúng ta không chấp nó thì chúng ta không khổ. Vì vậy, khi chúng ta niệm Danh Sắc chính là niệm ngũ uẩn này. Niệm Danh, niệm Sắc chính là niệm các tập hợp pháp này. Và khi niệm, chúng ta có huệ, thấy sự thay đổi hay sanh diệt trong Danh Sắc. Người đời thấy vui chạy theo vui mà khi hết vui trở thành buồn. Nhưng hành giả không phải vậy. Có đề mục, dù vui dù buồn, hành giả đem ra thực tập, niệm cho thấy sự Khổ Não, cho thấy các điều kiện pháp mà chúng sanh thường không thấy.

 

Như Đức Phật đã nói, muốn thấy Niết-Bàn phải thấy điều kiện pháp. Vì vậy, ta phải thấy điều kiện pháp ở trong Danh Sắc này. Nếu chúng ta thấy điều kiện pháp rồi, thì hiểu Danh Sắc ở trong điều kiện pháp là ở trong sự vô thường. Nếu ở trong vô thường như vậy, ta dạy tâm ta, là danh sắc sanh rồi diệt. Hay khi Tham sanh lên, với trí nhớ mạnh ta niệm, cái Tham sẽ diệt mất đi. Như vậy mình có khả năng diệt Tham được liền trong giây phút đó. Nhưng vì chúng ta còn ở trong sát-na Định, chưa đi đến đạo tâm, nên tâm Tham còn trở lại sau đó. Nếu ta đi tới đạo tâm thứ tư như vị A La Hánphiền não tiêu diệt hoàn toàn và không bao giờ trở lại.

 

Như chúng ta, khi niệm đến ngày thứ năm, thứ sáu, là đã thấy phiền não khó khởi sanh làm chi phối tâm ta. Huống chi là các Ngài A-La-Hán. Khi các Ngài đi đến đạo tâm thứ tư, phiền não hoàn toàn diệt hẳn, không còn khởi sanh trở lại trong tâm. Nghĩa là mất hẳn. Tham không còn sanh lại được, Sân cũng không còn sanh lại được, thì đâu có gì có thể chi phối tâm của một vị A-La-Hán. Vì không có phiền não, các Ngài không cần phải niệm. Trong khi chúng ta phải niệm vì phiền não còn khởi sanh trong tâm ta. Và vô thường, phiền não có thể khởi sanh bất cứ lúc nào. Ví dụ như đang vui, cái buồn khởi sanh lên, cắt đứt niềm vui đi. Nếu chỉ có vui thôi, còn buồn không sanh lên thì mình đâu có lo. Vì vậy chúng ta phải niệm, niệm cho thấy vui cũng vô thường mà khổ cũng vô thường. Đang vui, niệm vui là nó mất rồi. Đang buồn, niệm buồn là nó cũng mất. Đức Phật chỉ dạy đây là viparinama dukkha, là "khổ vì thay đổi" mà chúng sanh thường mê lầm, không biết vậy.

 

Chúng ta phải có kinh nghiệm hết tất cả các điều đó. Chúng ta phải nhìn nhận Khổ vì khổ, Khổ vì sự thay đổi, và Khổ vì chấp ngũ uẩn. Và cứ như vậy, ta niệm. Đây là phương pháp diệt trừ phiền não từng sát-na một. Chúng ta cứ diệt từng cái cho đến khi phiền não không còn trở lại trong tâm. Bây giờ phiền não của ta đang "ốm yếu" dần dần. Nghĩa là phiền não lắng xuống, không còn hoạt động mạnh, như vậy tâm hành giả có thể khắn khít với đề mục. Và khi tâm khắn khít trong đề mục thì phiền não lại càng yếu và càng không có sức mạnh nổi dậy. Đây là sát-na diệt trong khi hành giả đang hành thiền tích cực, nhưng chưa phải là cái diệt cuối cùng của phiền não. Cái diệt cuối cùng của phiền não chính là Diệt Đế, là sự thật thứ ba vậy.

 

Làm sao có sự thật thứ ba này? Để có Diệt Đế, phải có phương pháp cho chúng ta thực tập. Phương pháp diệt hẳn phiền não hay diệt trừ từng sát-na một là Đạo Đế. Đạo Đế, hay con đường đến Niết-Bàn có tám chi: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Nghiệp, Chánh Ngữ, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh NiệmChánh Định.

 

Nói tóm lại, tất cả là bốn sự thậtĐức Thế Tôn tìm thấy. Ngài không tìm thấy ở nơi nào khác, không phải cõi trời, hay ở cõi Phạm Thiên. Mà Ngài tìm thấy trong thân tâm này. Vì vậy, Đức Phật dạy con đường đến Niết-Bàn chính ở trong thân tâm ta, và Ngài chỉ phương pháp cho chúng ta áp dụng.

 

Chúng ta phải trở lại với chính bản thân ta và thực tập. Đức Phật bảo, phải thấy Danh Sắc là điều thứ nhất. Làm sao thấy Danh Sắc? Phải niệm: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Phải niệm cho đến khi thấy rõ Danh Sắc. Khi thấy rõ Danh Sắc rồi, niệm cho đến khi thấy trong Danh Sắc có Nhân có Quả. Danh Sắc ở đâu đưa lại đây? Trước khi ngồi đây, từ đâu đưa lại? Tại sao thân cử động được? Cái gì là chủ chốt đưa thân này ngồi xuống trong khi tứ đại không biết gì hết?

 

Phần chủ động sự cử động của thân chính là tâmTác ý muốn cử động như muốn đi, muốn đứng, muốn nằm, muốn ngồi, v.v... làm chủ động cho sự cử độngTác ý muốn cử động là nhân của sự cử động và sự cử động là quả của tác ý muốn cử động. Đây là nhân quả. Vì vậy, quý vị phải niệm tác ý muốn cử động. Đây là nhân quả. Vì vậy, quý vị phải niệm tác ý trước khi làm một điều gì, niệm cho đến khi bắt được nó.

 

Quý vị cần phải khuyến khích tâm, đừng dải đãi. Người ta ở đời còn dạy được. Con cháu ta không biết chi hết mà ta còn dạy cho biết đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, v.v... được. Huống chi chúng tatrí tuệ đầy đủ và ở đây ta chỉ làm lại những việc đã làm rồi trong bao nhiêu năm. Chỉ khác là bây giờ ta tìm sự thật đang ẩn trong ta. Vì vậy, Đức Phật nói, Niết-Bàn ở trong thân tâm. Bây giờ, chúng ta đang tìm kiếm từ từ, sự sáng suốt sẽ lần lần đến với chúng ta.

 

Nếu thấy rõ Danh Sắc, lần lần ta không còn chấp vào một cái Ngã. Như vậy là bớt một cái khổ rồi. Và nếu niệm, ta thấy nhân quả và sanh diệt nữa thì càng đáng vui cho thân tâm này.

 

Mỗi lần ta thấy rõ sự sanh diệt là mỗi lần ta thêm xa rời phiền não, vì ta bớt chấp thân tâm này. Đây là diệt phiền não. Ta xa nó bằng cách nhìn nó, hiểu nó cho rõ. Không phải ta xa nó bằng cách chạy trốn. Vì vậy Đức Phật bảo rằng Niết-Bàn ở trong thân tâm chứ không phải ở ngoài thân tâm.

 

Sự khổ không ngoài thân tâm. Ái dục không ngoài thân tâm. Niết-Bàn không ngoài thân tâm. Cũng như Bát Chánh Đạo không ngoài thân tâm. Vì vậy, cái khổ, cái vui ở trong thân tâm chứ không phải ở ngoài thân tâm. Và con đường đi đến Niết-Bàn cũng ở trong thân tâm.

 

Bây giờ, chúng ta đang trên con đường đến Niết-Bàn. Mong rằng quý vị phát triển trí tuệ hiểu biết Danh Sắc, hiểu biết nhân quả, và trí tuệ thấy sự sanh diệt từng sát na một của Danh cũng như Sắc. Mong rằng quý vị luôn gặt hái được quả báu cao thượng cho đến khi đắc đạo quả Niết-Bàn.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 193)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 327)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 350)
06 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 430)
05 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 578)
03 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 439)
02 Tháng Mười Một 2019(Xem: 546)
30 Tháng Mười 2019(Xem: 597)
23 Tháng Mười 2019(Xem: 686)
19 Tháng Mười 2019(Xem: 910)
22 Tháng Tám 2019(Xem: 695)
22 Tháng Giêng 20209:55 SA(Xem: 52)
Mỗi ngày, hình như ai trong chúng ta cũng có soi gương. Khi soi, chúng ta chỉ thấy mặt mình trong đó, chúng ta có học được bài học gì không? Đời sống của chúng ta luôn là sự tiếp xúc với người, với các sự việc, với vô số vấn đề của đời sống. Chúng ta có trốn chạy, có lựa chọn được không? Những con người, chúng ta từng gặp gỡ,
22 Tháng Giêng 20209:00 SA(Xem: 42)
Kinh Pháp Cú là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh trong Kinh tạng Pali. Đây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Pháp (Dhamma) có nghĩa là đạo lý, chân lý, lời dạy của Đức Phật; Cú (Pada) là lời nói, câu kệ. Ngoài ra, trong ngữ văn Pali, "Pada" còn có nghĩa là con đường.
21 Tháng Giêng 20206:30 SA(Xem: 102)
Tăng NiPhật tử là hai bộ phận không thể thiếu một trong Phật giáo, họ đều là đệ tử của Đức Như Lai, không thể lìa nhau mà phải nương tựa vào nhau để làm nền tảng cho sự trường tồn Phật pháp, vững mạnh Giáo hội. Hai bộ phận đệ tử này có vai trò, vị trí khác nhau trong Phật giáo nhưng họ lại có mối quan hệ liên đới lẫn nhau.
20 Tháng Giêng 202011:18 SA(Xem: 180)
Phần đông chúng ta đi qua cuộc sống bám víu rất chặt vào những gì người khác nghĩ về chúng ta. Ta cố gắng tỏ ra tốt đẹp và làm cho người khác nghĩ về ta một cách tích cực. Ta bỏ nhiều thì giờ cố gắng để là cái mà ta nghĩ người khác muốn mình phải là như thế, nhưng điều này khiến chúng ta trở nên hoang mang, vì mỗi người lại đòi hỏi
19 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 206)
Dòng đời cứ chảy trôi, đông qua xuân đến, đất trời cũng dần thay màu áo mới, mặt nước hồ xuân trong vắt xua tan đi cái rét buốt của mùa đông ưu sầu, ảm đạm. Người người nhà nhà lại háo hức du xuân, hòa mình trong cái không khí hân hoan của đất trời. Theo thường lệ, mỗi năm Ban Văn hóa chùa Hoằng PhápViệt Nam
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 190)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 189)
Khi hơi thở đều đặn ta sẽ lấy đó làm đề mục hành thiền. Lúc thở vào, đoạn đầu của hơi thở ở tại chót mũi, đoạn giữa tại lồng ngực, và đoạn cuối ở bụng. Đó là con đường của hơi thở. Khi thở ra, đoạn đầu của hơi thở ở bụng, đoạn giữa ở lồng ngực, và đoạn cuối cùng ở chót mũi.
16 Tháng Giêng 20207:23 SA(Xem: 193)
Triêu nhan vốn là một loài dây leo bình dị, gần gũi có thể mọc ở khắp mọi nơi. Màu sắc và hình dáng của hoa luôn ở bên cạnh bước chân và cái nhìn của ta. Thế nhưng đôi khi chúng ta quên lãng sự có mặt của nó, có lẽ vì nó quá bình thường. Nhưng sẽ có một lúc nào đó bất chợt, sự hiện diện của hoa bừng sáng trước mắt ta, trong lòng ta
15 Tháng Giêng 20206:38 CH(Xem: 11852)
Những cử chỉ mang tính biểu tượng của bàn tay Đức Phật, được gọi là Thủ Ấn, là những biểu tượng hình ảnhý nghĩa sâu xa: - The symbolic gestures of the hands of Buddha images, called mudras, are picture tools of identification of deeper meaning:
14 Tháng Giêng 20201:11 CH(Xem: 251)
Bankei, con người đã giác ngộ, chia sẻ với chúng ta kinh nghiệm của ngài với tư cách một con người bằng máu thịt và nói lên những lời chân thực từ kinh nghiệm riêng ngài. Lời khuyên của ngài đi thẳng vào tim người, đấy là những lời nhắm thẳng vào con người trước mặt
14 Tháng Giêng 20208:19 SA(Xem: 162)
Trước đây tôi là người không kiên nhẫn, rất dễ bị lay động bởi những gì người khác nói hay làm. Nhưng các em học viên đã mở rộng tầm nhìn của tôi. Tôi nhận thấy rằng người khác có thể có những suy nghĩ mà mình chẳng bao giờ nghĩ đến trước đây. Khi lắng nghe các em, tôi đã trưởng thành thêm nhiều. Tôi nghĩ đó là cách Đức Phật đã dạy bảo tôi,
13 Tháng Giêng 202012:54 CH(Xem: 201)
Khi đã hướng về tâm linh, ta thường nghĩ rằng mình đã bỏ những tính xấu của thế tục lại đằng sau. Nhưng cách suy nghĩ theo thói quen không biến mất; chúng vẫn đi theo ta, phủ trùm con đường tiến đến sự tu tập tâm linh của chúng ta. Vì tất cả chúng ta đều đã được huấn luyện thành những người tiêu dùngtrình độ
11 Tháng Giêng 20204:45 CH(Xem: 259)
Chúng ta đến với cuộc đời bằng một cái tâm, và khi từ bỏ cuộc đời cũng với một cái tâm. Trái tim không còn đập nữa, nhưng tâm vẫn chung thủy bên ta. Những bài pháp, lời giảng dạy yêu thương, câu nhắc nhở chân tình trong quyển sách nhỏ này là món quà, là đôi chút trang điểm cho nội tâm của bạn. Hãy đọc với tâm tình rộng mở,
11 Tháng Giêng 202010:20 SA(Xem: 229)
Người khép cửa giã từ trò chơi giỡn. Đứng bên lề ta len lén ngó qua. Hai mươi năm… tưởng chừng một sát na. Nhìn tóc bạc da nhăn… mà thấy lạ. Đã hết thuở giành ăn la chí choé. Mừng trăng thu cùng bách bộ ngoài đường. Đi bên nhau dàn hàng dưới mù sương. Nghe hạnh phúc mênh mang về tỏa khắp. Đã hết thuở quần chằm, áo vá…
09 Tháng Giêng 202011:25 SA(Xem: 331)
Mấy ông thầy Đại Đăng khi qua Boston phụ dọn dẹp chuẩn bị lễ khánh thành thiền viện Bồ Đề, mặt mũi lem luốc vì xi măng quét tường tô trần, đóng nẹp, nối ống..., quần ống thấp ống cao, áo vạt cao vạt thấp, đã tức cảnh sinh... thơ rằng: - Áo em vạt ngắn vạt dài. Nghiệp em quá nặng bị đày đến đây. - mà cười tươi rói.
09 Tháng Giêng 20209:54 SA(Xem: 201)
Ngoài việc phá rừng khai hoang chúng tôi còn đối mặt với đặc sản nơi đây: Muỗi sốt rét hoành hành! Chúng tôi luân phiên ngã bệnh, luôn phải uống ký ninh ngừa sốt rét, người nào cũng xanh dờn, không khỏe. Các bác sĩ bằng hữu thỉnh thoảng ra thăm, khám sức khỏe cho chúng tôi và nhắc nhở: “Quý vị tranh thủ nhín thời gian đi tắm biển đi!”.
07 Tháng Giêng 20203:57 CH(Xem: 283)
Cái tôi theo tháng ngày qua. Măng non thành cụm tre già dặn hơn. Trong nhà, cuối xóm, đầu thôn. Tôi là số một, tôi "ngon" hơn người. Tôi khóc, không muốn ai cười. Ai thành đạt thấy tôi thời chẳng vui, Tôi nói ngược, chớ nói xuôi. Một khi tôi muốn có trời mới can! Tôi thành cái rốn không gian.
06 Tháng Giêng 202012:02 CH(Xem: 227)
Xuất Gia Balamật - Trong một tiền kiếp khi Đức Phật là Ngài Temiya, Ngài thực hành hạnh Xuất Gia Balamật bằng cách giả làm người ngu độn, không làm được việc gì. Vua cha sai người đánh xe chôn sống Ngài. Temiya biểu hiện một lòng dũng cảm phi thường và sau đó, quyết định sống đời xuất gia.
05 Tháng Giêng 20205:29 CH(Xem: 327)
Tập sách gồm những bài pháp do Ngài Thiền Sư Khippapanno Kim Triệu ban giảng trong khóa thiền thứ 21 Mùa Đông 1986, được tổ chức tại Chùa Kỳ Viên, Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ. Những bài pháp này vừa có tính cách dẫn giải, khuyến tu cho các thiền sinh, vừa mang chứa những lợi lạc thiết thực đến thân tâm cho tất cả chúng ta.
04 Tháng Giêng 202011:29 SA(Xem: 288)
Từ cung trời Đâu-suất, Bồ-tát được Phạm thiênTứ Thiên vương thỉnh mời tái sinh xuống thế. Khi Hoàng hậu Maha Ma-da, mẹ của Đức Phật, thụ thai, bà nằm mộng thấy một voi trắng từ một ngọn núi vàng bạc mang một đóa hoa sen đến dâng cho bà. Đản Sanh: Vào đêm trăng tròn tháng tư, năm 625 trước Tây lịch,
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 333)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1942)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3272)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
22 Tháng Giêng 20209:00 SA(Xem: 42)
Kinh Pháp Cú là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh trong Kinh tạng Pali. Đây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Pháp (Dhamma) có nghĩa là đạo lý, chân lý, lời dạy của Đức Phật; Cú (Pada) là lời nói, câu kệ. Ngoài ra, trong ngữ văn Pali, "Pada" còn có nghĩa là con đường.
20 Tháng Giêng 202011:18 SA(Xem: 180)
Phần đông chúng ta đi qua cuộc sống bám víu rất chặt vào những gì người khác nghĩ về chúng ta. Ta cố gắng tỏ ra tốt đẹp và làm cho người khác nghĩ về ta một cách tích cực. Ta bỏ nhiều thì giờ cố gắng để là cái mà ta nghĩ người khác muốn mình phải là như thế, nhưng điều này khiến chúng ta trở nên hoang mang, vì mỗi người lại đòi hỏi
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 190)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 582)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
21 Tháng Chín 20198:40 SA(Xem: 1474)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 1138)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất giatại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 987)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 2017)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 1765)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,