06. Chiếc Lá Thu Và Thiền Quán - Pháp Thoại Tại Tu Viện Lộc Uyển Ngày 03-10-2004

14 Tháng Giêng 20208:47 CH(Xem: 122)
06. Chiếc Lá Thu Và Thiền Quán - Pháp Thoại Tại Tu Viện Lộc Uyển Ngày 03-10-2004


CanhTrieuNhan_ACành Triêu Nhan
HT. Thích Phước Tịnh
Nhà xuất bản Phương Đông
Nguồn: thuvienhoasen.org

 

____________________


06. CHIẾC LÁ THU VÀ THIỀN QUÁN  
Pháp thoại tại Tu viện Lộc Uyển ngày 03-10-2004

 

Hôm nay là ngày tụng giới đầu tiên của khóa An Cư kiết Thu. Ngoài kia đất trời đã chuyển mình theo từng cơn gió nhuộm đầy lá vàng báo hiệu cho mùa thu đến. Những ai ở đây lâu chắc đều biết, hằng năm miền Đông Bắc Hoa Kỳ cứ mỗi độ vào thu thì trời rất đẹp. Những chiếc lá vàng nâu pha sắc đỏ, rụng thật nhiều vào trung tuần tháng mười và rụng liên tục trong vòng một tuần lễ. Tôi đã có may mắn được nhìn lá chín đổi màu trải thảm trên những con đường nhân dịp tăng thân Lộc Uyển cử sang miền Đông Bắc tổ chức khóa tu bên ấy. Khi trở lại tu viện, tôi có mang về một món quà cho thiền sinh nhân ngày đầu thu đến tụng giới: Đây là hai chiếc lá phong.

Mùa thu thường gợi cho văn nhân, thi sĩ thật nhiều cảm hứng và hầu hết trong số họ thường ca tụng mùa thu. Trong cổ thi Trung Hoa có hai câu rất dễ thương: "Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu". Tôi tạm dịch: " Một chiếc lá ngô đồng rơi xuống là nhắc nhở cho mọi người biết mùa thu đã về". Làng Mai chúng ta cũng có một bài hát rất dễ thương, có thể trong dịp nào đó quý vị sẽ được nghe quý Thầy, quý Sư Cô ở tu viện hát với những câu như thế này:

 

Một lá ngô đồng rơi,

Có hay chăng người ơi,

Thu đẹp đã về rồi..."

 

Và tôi muốn giới thiệu bài hát đó để quý vị thưởng thức mùa thu của đất trời.

Mùa thu còn được gọi là mùa lá rụng, mùa mà cây cành trơ trụi chuyển mình để chuẩn bị chịu đựng mùa đông tới. Thời tiết theo nhịp điệu vận hành của đất trời, thiên nhiên mà thay đổi thành các mùa xuân, hạ, thu, đông. Trình tự này được biểu hiện và ẩn tàng liên tục, và đó là dịnh luật tất nhiên của vũ trụ. Sức sống có mặt trong cây cỏ thực vật cho đến các loài động vật cũng đều trải qua từng giai đoạn như thế. Mùa xuânmùa hạ thì tràn đầy nhựa sống; sang mùa thu sức sống lại thu hồi và tiềm phục về trong tự thân để rồi vùi mình qua giấc đông miên. Sang năm khi xuân đến, cây cối lại đâm chồi nẩy lộc, ra hoa. Con người chúng ta cũng có một nhịp điệu vận hành trong cơ thể giống như trời đất vậy. Có tuổi trẻ của mùa Xuân, tuổi chín vàng của mùa hạ, tuổi xế chiều rụng lá của mùa thu và tuổi trầm lắng, tiềm phục sức sống lại trong giấc ngủ đông.

Trong vạn vật, đất trời lúc thời tiết giao mùa, chúng ta có thể cảm nhận được rất rõ và dễ dàng, thế nhưng có khi trong tự thân, chúng ta lại không cảm nhận được mùa đông của đời mình. Thế nào là mùa đông của đời mình? Mùa đông của đời người được xem là giấc ngủ ngàn thu khi ta rời bỏ hình hài tứ đại này. Bây giờ sức sống được tiềm phục về lại cội nguồn của nó, sau đó nó sẽ có cơ hội tái hiện và đứng lên với một hình hài mới, một đời sống mới tinh nguyên như trước kia chúng ta đã từng có mặt.

Cho nên nhìn ra bên ngoài chúng ta thấy đất trời chuyển mùa, những chiếc lá cuối thu se sắt đổi màu; quay trở lại nhìn chính bản thân, với những ai có kinh nghiệm ít nhiều về đời sống chắc cũng đã nhận ra được mùa thu của cơ thể, mùa đông của đời mình đang tới: nghe xương cốt mỏi mệt đau nhức gặm nhắm... Và những cảm nhận rất sâu sắc, bén nhạy về điều này đã được các văn nhân, thi sĩ diễn đạt thật quyến rũ, qua thi cavăn chươngâm nhạc và hội họa... Những ai còn trẻ thì cảm nhận về mùa thu đời mình tất nhiên không rõ nét bằng. Tôi không biết quý vị có cảm nhận mùa thu của mình hay chưa. Riêng tôi trải qua gần sáu mươi mùa thu, cũng đã thắm vị mặn của thời gian từng ngày từng giây của đời sống. Và chúng ta chắc cũng từng có những giây phút ngậm ngùichạnh lòng khi chẳng biết nỗi buồn đến từ đâu:

 

Hôm nay trời nhẹ lên cao,

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.

(Xuân Diệu)

 

Đó chính là những gì nằm rất sâu bên trong chúng ta mỗi khi gió đổi mùa, khi sương thu rơi và khi cơ thể mình biến chuyểnTuy nhiên chúng ta thua xa những người nghệ sĩ kia, không thể sáng tác được những bài thơ, những bản nhạc, những bức tranh cảm nhận cái tuyệt vời của mùa thu. Tại sao như vậy? Bởi những giây phút đó, dù trong ta có thoáng thấy được lẽ vô thường của đời người, cái mong manh hiu quạnh của con người, nhưng trước mắt ta có trăm ngàn điều kiện để ta trốn chạy những nỗi mong manh hiu quạnh đó, nên khó có thể cảm nhận đời sống một cách sâu sắc. Chúng ta trốn chạy bằng nhiều con đường: trốn chạy trong những canh bạc, trong những tiệm rượu, qua hội hè. Ta tìm sự khỏa lấp trong vũ trường, bạn bè, ca hát... và cách trốn chạy tuyệt vời nhất để quên đi mùa thu của đời mình là để tâm vào một ngàn lẻ một chuyện tính toán, lo lắng, bận rộn, tưởng tượng, sầu khổ vẩn vơ.

Do vậy, tuy đất trời có những sự vận hành tất yếu nhắc nhở mỗi chúng ta phải trở về cội nguồn, tìm lại năg lực sống vĩnh cửu nơi tự thân, nhưng chúng ta vẫn cố tình bỏ quên, trốn chạy. Có khi mình mãi sống trong lãng quên, đến lúc giáp mặt với "mùa đông", tức bấy giờ đang nằm trên giường bệnh, chạm tay vào cái chết thì lòng rất hoảng sợ, thấy cuộc đời mình chỉ là chuỗi dây dài chạy đuổi, lo âuTâm thức chưa lúc nào dừng lại để thử tìm về tiếp xúc với sự sống, để nhận ra được rằng trong tự thân ta sức sống đang tiềm phục. Như cỏ cây từng tiềm phục năng lượng sống để ngủ qua mùa đông, chuẩn bị chờ xuân đến. Thế nên khi ta đang còn ngắm được mùa thu của đất trời, điều thông minh nhất của con người biết thực tập là quay về nhìn lại chính mình, để nhận biết sức sống đang tiềm phục trong hình hài mỏng manh này. Thế thì, dù cuộc đời vô thường này theo quy luật đưa ta vào giấc ngủ đông, ta vẫn không sợ hãi.

Ngày xưa, lúc giáo pháp của đức Thế Tôn chưa có mặt, chưa có vị giác ngộ nào xuất hiện trong cuộc đờivẫn có những con người đã thực sự nhận chân được mối tương quan của sự vận hành của vũ trụ và của con người. Những con người ấy chỉ đơn giản nhìn một chiếc lá thu phai là có thể cảm nhận được lẽ sinh diệt của thân tứ đại và chạm tay vào sự sống vĩnh cửu nơi tự thân họ. Kinh điển gọi những vị ấy là Độc Giác Phật hay Bích Chi PhậtChúng ta cũng với đôi mắt này, có khả năng giống như họ, cũng tiếp xúc với lá thu nhưng mình vẫn chưa ngộ được là tại sao?

Trong những lời dạy của đức Phậtchúng ta thấy có một câu chuyện rất ý vị, gọi là Bốn loại ngựa. Câu chuyện có thể trả lời cho chúng ta câu hỏi trên và đây cũng là những nội dung mà các vị Phật Độc Giác đem ra ứng dụng. Loại thứ nhất là loại ngựa chỉ cần nhìn thấy bóng roi đưa lên là liền cất vó. Loại thứ hai mà đức Phật xác nhận là loại ngựa chỉ cần đập vào thành xe hay khi roi chỉ vừa chạm đến lông là lên đường. Loại thứ ba là loại ngựa đợi người ta dùng roi đánh vào thân khá đau nó mới chạy. Và loại thứ tư là loại ngựa người ta phải dùng kim gắn vào đầu cây roi châm vào thân thật đau thì nó mới bắt đầu chạy.

- Loại ngựa thứ nhất đó là hình ảnh các vị Độc Giác Phật, nhìn lá rơi là giác ngộ được lẽ vô thường, quay lại tự thân nhận ra sức sống tiềm tàng trong hình hài và khi hình hài rã mục trả về cho tứ đại thì sức sống kia vẫn luân lưu không dứt. Đó là những người tự quay vào nhận ra tự tánh không sanh không diệt trong chính con người họ.

- Loại ngựa thứ hai chỉ cho những ai đã bị vô thường chạm tới người thân. Nhìn người thân của ta nằm thoi thóp trên giường bệnh, đứt nối từng hơi thở, dù muốn cũng không thể giúp được gì, rồi giác ngộ được rằng hình hài này đến rồi đi cũng chỉ một mình, không ai có thể tặng cho ai được một hơi thở nào. Thế rồi họ quay trở lại tự thân, quán chiếu sâu sắc trên mảnh hình hài này, tìm ra nguồn sống vĩnh hằng đang có mặt; như sức sống của thiên nhiên ngủ yên lặng qua mùa dông chờ mùa xuân sẽ vươn vai đứng dậy.

- Loại ngựa thứ ba là ẩn dụ cho những người đã cảm nhận được vô thường từ bản thân họ. Một buổi sáng thức dậy nhìn vào gương tình cờ thấy tóc mình có vài sợi bạc, một chiếc răng lung lay là báo hiệu tuổi giàcảm thấy vô thường đến gần hơn với họ rồi. Và sâu hơn nữa là nhận ra cái chết đang gặm nhắm từng giờ từng phút trong cơ thể. Nhận ra được điều này, họ quay về tự thân, dừng lại đam mê tìm kiếm những thú vui dục lạc; họ thấy tất cả chỉ là phù du, là tạm bợ và từ đó luôn sống với niềm vui chân thật trong tự thân mình.

- Loại ngựa thứ tư chỉ cho những ai gặp phải một bất hạnh tình cờ, chẳng hạn như một chứng bệnh nan y hay trải qua một cơn bạo bệnh tưởng chết đến nơi, nhưng may mắn hồi phục và vượt qua cái chết. Họ nhận chân sâu sắc lẽ vô thường đã đi qua đời mình, nên sợ hãi khước từ tất cả những con đường hướng ngoại tìm cầu; những con đường đem đến nguồi vui phù phiếm, giả tạm. Đối với họ lúc này chỉ có con đường duy nhất còn lại là tìm cho ra năng lực sống đang tiềm phục nơi tự thân. Năng lực này vốn không sinh không diệt, nó có mặt trước khi ta có mặt, và khi ta trả hình hài này cho vô thường nó vẫn không mất đi.

Chúng ta hãy tự hỏi xem mình thuộc loại nào trong bốn loại ngựa này. Tất cả chúng ta, đã hoặc cũng sẽ có những sợi tóc bạc, những chiếc răng lung lay và chắc đều biết cái chết đang chực chờ đổ xuống đời mình bất cứ lúc nào. Ấy thế mà chưa bao giờ mình nhìn lại, chưa bao giờ nhìn thấy "mùa thu" của đời mình.

Mặc dù đã nương vào Thánh giáo của đức Thế Tôn trao truyền qua những phương pháp thực tậphành trì để quay trở lại thể nhận tự tâm, thế nhưng chúng ta vẫn chưa tập trung năng lực dể hồi chiếu soi rọi lại chính mình một cách thấu đáo. Vì vậy khi tiếp xúc với mùa thu đất trời, ta thường bị âm thanh, cảnh sắc vui buồn... nhiễu loạn. Lòng ta xao xác buồn trước những chiếc lá khô vàng trong cái không gian đìu hiu cô quạnh.

 

Con nai vàng ngơ ngác,

Đạp trên lá vàng khô...

(Lưu Trọng Lư)

 

Rõ ràng vì đánh mất mình trong cảnh sắc, chìm đắm vào âm thanhnăng lực của ta trở nên yếu đi, không còn khả năng hồi phục và quy chiếu lại tự thân, do vậy mãi vẫn chưa giác ngộ để thành vị Độc Giác Phật được.

Chúng ta có muôn vàn điều kiện để ngộ đạo. Trời đất trao cho ta một gia tài tự nội như nhau, con mắt nhìn như nhau. Vừa mở mắt nhìn, vừa lắng tai nghe thì điều kiện hồi chiếu lại tự thân để ngộ đạo đã có mặt rồi. Thế nhưng mình đã khờ dại, không như những vị Độc Giác Phật. Họ đặc biệt hơn chúng ta là đã từng thực tập thiền quán nên khi mắt, tai tiếp xúc với cảnh sắc, với âm thanh là các vị hồi chiếu ngay lại chính mình, sống với tự thể không sinh không diệt của chính mình.

Đức Phật ngày xưa cũng trên nền tảng nhận thức vô thường sâu sắc này đã làm một cuộc khởi hành đầy dũng mãnh, mới có thể đi ngang qua sáu năm khổ hạnh trong rừng sâu mà không lùi bước. Ngài dõng dạc chỉ vào tòa cỏ mà nói rằng: "Chưa thành đạo quả thì ta không rời tòa cỏ này". Cho nên điều căn bản đầu tiên ngay khi tiếp xúc với ngoại cảnh là phải nhận diện cho được bản chất vô thường của đời người đang cùng lúc có mặt trong ta. Đời sống dù khổ đau hay hạnh phúc thì tất cả cũng chứa đựng sự bất toàn, trong khi cái chết thì rình rập chúng ta từng giây, từng phút. Khi đã ý thức rõ ràngvững chắc trong từng ý niệm như vậy thì đó là nền tảng cho ta có thể trở về cội nguồn sự sống.

Chỉ khi ta thực sự tiếp xúc với vô thường, có tuệ giác về vô thường, ta mới có thể thiết lập một nền tảng căn bản để tiến đạo, mới vững vàng trên con đường tu tập thiền định. Bằng không ta chưa thể phát triển đời sống tâm linh của ta đến một tầng cao cần thiết.

Tuệ giác căn bản của đạo Phật là hiểu biết sâu sắc về sự vô thường của thân thể. Và theo những hướng dẫn truyền thống. khi chứng nghiệm tuệ giác vô thường qua quán chiếu trên hình hài này, ta không những chỉ tiếp xúc với tính chất mong manhbiến hoại của hình hài, mà còn có thể nhận diện được lẽ vô thường trong từng hơi thở. Khi tuệ giác vô thường luôn có mặt giúp chúng ta nhận biết sống chết đi liền trong từng hơi thở, nó cũng đồng thời giúp chúng ta thiết lập nền tảng để thăm dò vào chốn thâm sâu nhất của đời sống mình, tức là thăm dò vào bản thể không sinh diệt của chúng ta.

Tâm thức chúng ta như ngựa hoang quen dong ruổi, đi đông về tây, lúc nào cũng muốn lấp đầy trống vắng, cô đơn bằng những tiếc nhớ quá khứ, khắc khoải lo âu hiện tại hay những dự phóng cho viễn ảnh tương lai... Nhưng ta hãy hình dung một người tử tù khi biết đích xác ngày mai mình sẽ bị hành quyết thì chắc chắn những ôm ấp kỷ niệm, vui buồn, những dong ruổi ước mơ kia liền sụp đổ tức khắc. Mọi thứ không còn ý nghĩa gì khi biết chắc một điều sự sống của mình chỉ còn kéo dài trong một ngày; tự nhiên anh ta thấy chưa lúc nào tâm thức cảm nhận sự chết, cảm nhận sự mong manh của kiếp sống sâu sắc đến như vậy. Nếu là người may mắn thì lúc bấy giờ tuệ giác vô thường sẽ phát sinh, và con đường trở về đã mở ra cho người đó. Đó là lúc anh ta đang chạm tay vào chính "đời sống thực" có mặt nơi mình.

Cũng như thế, khi đã chạm tay tới vô thường rồi, ta có thể kinh nghiệm một điều rằng, khi tuệ giác vô thường phát sinh và chúng ta tiếp nhận được ở mức độ cao với nhất, đó chính là nhận diện vô thường sinh diệt trong từng hơi thở. Có chứng nghiệm được lẽ sống chết qua từng hơi thở, từng sát na thì ta mới có thể thiết lập được nền tảng vững chắc để bước vào nguồn sống vô biên vĩnh hằng của tự thân. Đức Thế Tôn, các vị Bích Chi Phật, các vi A la hán ngày xưa cũng đã đi còn đường này.

Để thiết lập một nền tảng căn bản cho sự thực tậpchúng ta cần hiểu biết các phương pháp tu tập về thiền quán. Có ba phương pháp cốt lõi để tu tập: Thứ nhất là chỉ, thứ hai là quán và thứ ba là thiền - bao gồm cả chỉ và quán. Trong kinh Viên GiácThế Tôn đã mở cánh cửa phương tiện chỉ dạy ba phương pháp, đó là chỉ (Samatha), quán (Vipassana), và thiền (Bhavana).

Chỉ là ngưng lại, tập trung sự chú ý vào một đối tượng. Nhưng thông thường tâm thức ta không bao giờ chịu dừng lại hay chú ý chuyên nhất vào một đối tượng nào. Tâm ta có thói quen nhảy từ chỗ này sang chỗ khác, ví như khi ta muốn mắt ta chú ý nhìn bất động vào một điểm, thì ta có thể nhận thấy nó rất khó thực hiện đúng như vậy. Chỉ trong chốc lát là nó dời từ bên này sang bên kia, rồi đảo qua, liếc lại. Ở mặt cạn bên ngoài còn như vậy, huống nữa là bên trong sâu thẳm của tâm thứcTuy nhiên, có trường hợp ta có thể chú tâm vào một đối tượng mà không chán, đó là khi sự đam mê có mặt. Khi đã đam mê vào một vấn đề gì thì ta có thể quên ăn, bỏ ngủ, vùi đắm vào đó không biết mỏi mệt. Và có khi phải tạm bỏ công việc qua một bên, nhưng tâm thức ta cũng không bao giờ rời niềm đam mê đó.

 

Điều kỳ lạ là tâm thức ta chỉ thường chú ý, đam mê vào những gì dẫn dắt ta đi vào đường sanh tử, mà hiếm khi hướng đến những gì có công năng giúp ta rời bỏ phiền não, khổ đau. Thật vậy, nếu chúng ta muốn tập trung vào thiền tập, buộc thân ngồi yên năm, mười phút thì dễ, nhưng bắt tâm ý dừng lắng hoàn toàn năm, mười phút trong thiền quán thì khó vô cùng. Trong đoạn đường dài một cây số thiền hành, ta thử kiểm điểm xem có bao nhiêu bước chân ta đi trong chánh niệm. Chắc không nhiều lắm! Dĩ nhiên tâm thức mình đã quen được nuôi dưỡng bằng tập khí rong chơi đó đây. Mình buông thả cho thần trí dạo chơi năm non, bảy núi rất dễ, nhưng bắt tâm gắn liền vào bước chân thiền hành thì quả thật khó khăn. Nó không bao giờ chịu dừng ở một nơi nào. Vì thế, dừng lại chú tâm vào một đối tượng là bước đầu tiên chúng ta phải thực tập.

Ngày xưa, có một ông vua muốn thử tập dừng lại ngồi yênbình an vô sự. Ông cho truyền khắp trong thiên hạ rằng ai có khả năng tới để ông nuôi cơm, bầu nước cho ăn sang, mặc đẹp với điều kiện là chỉ sống, sinh hoạt giới hạn trong một căn phòng tù túng, nhỏ hẹp. Và nếu sống được như thế trong ba năm, ông sẽ ban tặng một nửa vương quốc mà ông đang trị vì. Có một anh chàng kia đến dự tuyển và dược chọn. Người đàn ông này đầy đủ sức khỏe, đang sống một cuộc đời bình thường với gia đình, thế nhưng khi sống trong điều kiện như vậy, chỉ sau năm thứ nhất, anh ta đến lạy vua xin được trở về với vợ con. Anh không thể sống như thế này được vì sống thêm nữa anh có thể điên mất.

Rõ ràng việc chú tâm vào một đối tượng là sự thực tập rất khó khăn. Nhưng đó mới chỉ là cái khó cạn nhất đối với nhưng người đang trên con đường thực tập thiền quán. Bước căn bản nhất là chú tâm vào một đối tượng có thể ta chưa được thuần thục là tại vì ta chưa có thói quen dừng lại, nên khả năng thăm dò vào chiều sâu của tự tâm trở nên xa vời.

Cây phong kia tuy rụng lá nhưng nó biết nhựa sống vẫn còn đang tiềm phục trong thân mình. Nó không cần đi tìm đâu xa, nó chỉ nhìn lại mình là thấy rõ sự sống vẫn có mặt nơi tự thân. Ta cũng cùng một điều kiện như thiên nhiên, chỉ cần nhìn lại mình và phục hồi năng lượng chánh niệm thì có thể chạm tay vào vào dòng sống vĩnh hằng, không sinh không diệt. Ấy thế mà ta vẫn không thể dừng lại chỉ vì tâm thức ta có thói quen hướng ra ngoài. Chỉ cần dừng lại được, buông lỏng được thì ta cũng có khả năng như cây phong vậy. Dừng lại là chạm tay vào chính sự sống đang tuôn chảy dạt dào trong tự thân. Do vậy, chặng đường ban đầu của sự thực tập về chỉ tuy khó, nhưng không có nghĩa là không làm được, không có nghĩa là xa vời với con đường thiền tập.

Quán là gì? Quán là một từ có thể dễ cảm nhận hơn. Nhìn vào một đối tượng, chúng ta nhận diện được nó, suy tư về nó, chiêm nghiệm về nó, đó là hình thức quán chiếu cạn nhất.

Tất cả những quán chiếu được vận dụng để soi sáng, để tư duy thông qua những điều Phật dạy về vô thườngvô ngã của con người, của thiên nhiên hoặc của tâm hành, được xem là quán chiếu ở mức độ cạn. Được xem là mức độ cạn bởi vì ta còn vận dụng trí lự để suy nghĩnói thầm và phân tích về đối tượng. Ví dụ khi nhìn một bông hoa, ta nhớ đến lời dạy của một vị thầy rằng, bông hoa này có mặt là do sự kết hợp bởi nhiều nhân, nhiều duyên, do ánh sáng mặt trời, sương, nước, đất, công sức, người trồng... và trăm ngàn điều kiện khác để hoa có thể khoe hương khoe sắc cho ta nhìn ngắm, ngợi khen. Hay khi quán chiếu về con người ta khởi tư duy, phân tích; ta thấy con người là một hợp thể ngũ uẩn, không có thật tính, họ được biết qua cái tên do cha mẹ đặt vào hình hài gọi là con ngườihình hài con người là do dự kết hợp của tứ đạingũ uẩn mà thành, họ vào đời là do sự phối hợp của cha mẹ. Qua quá trình nuôi dưỡng trong gia đình, học đường và xã hội mà họ trưởng thành. Hay do tiếp thu đời sống văn hóa tâm linh nên họ đã trở thành người tu... Tất cả những điều kể trên sở dĩ gọi là quán chiếu ở mức độ cạn là do mình còn khởi tư duythì thầm để phân tích về đối tượng.

Bước vào mức độ quán chiếu sâu hơn, chúng ta cũng phải đi từ mức độ cạn mà phát triển lên. Nghĩa là khi khả năng quán chiếu về sự vật, về con người đã thuần thụcthâm nhập vào tự tâm mình, bây giờ ta có thể quan sát mọi đối tượng nhưng không còn dính mắc, không còn sinh ra ý nghĩ phân biệt đẹp xấu, vui, buồn, khen, chê... Nhìn mà không khởi lên tiếng nói thì thầm hay ý nghĩ phân tích. Khả năng bén nhạy của sự nhận biết trực tiếp tự động đi sâu vào từng đối tượng lúc nhìn, ta gọi đó là quán chiếu ở mức độ sâu. Ta chưa có thể thâm nhập vào tầng sâu khi quán chiếu, bởi khi nhìn là có ngay sự phân biệt, vừa nhìn là tức khắc thấy có xấu đẹp, có thương ghét, có hạnh phúc khổ đau... và thông thường tâm thức chúng ta khi chưa tu tập thì thường dính mắc, đắm chìm và bị dẫn dắt bởi đối tượng mình tiếp xúc.. Chẳng hạn như khi tôi nhìn chiếc lá phong có màu sắc rực rỡ, tôi không dừng lại ở màu lá phong để cảm nghiệm sự có mặt trọn vẹn của nó mà nhớ đến những câu thơ mà tôi từng học: "Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu". Rồi từ câu thơ đó tôi nhớ đến ông thầy đã từng dạy tôi học thơ lúc còn bé, nhớ đến cô con gái của ông thầy dễ thương thật, nhưng tôi lại suy tưởng mông lung rằng trong đời tôi đã từng gặp nhiều người còn dễ thương hơn cô gái kia vân vân và vân vân. Chỉ từ việc nhìn ngắm một chiếc lá phong đơn thuần, đã nẩy sinh bao nhiều điều lôi kéo mình chìm trong chuỗi dài những ý nghĩ; đó gọi là mất mình trong dòng chảy của suy tưởng.

Việc khởi quán khi nhìn đặc biệt như thế nào với cái nhìn sinh khởi ý thức thì thầm và để bị dẫn dắt bởi đối cảnh? Ta nên biết rằng cũng là nhìn nhưng khi ta khởi ý thức có chủ động và nương vào Thánh giáo để quán chiếunhận diện các đối tượng tiếp xúcđồng thời có năng lực của chánh niệm đi kèm thì vướng mắcchấp thủ cho đến phiền nãolo âu... không thể nào phát sinh được. Ngược lại, khi nhìn mà ta để mất mình trong đối tượng thì ta có thể bị dẫn dắt chìm nổi trong dòng sông vui buồnhệ lụysầu khổbất an. Chỉ một chút khác biệt về hình thức nhưng kết quả cách xa muôn trùng.

Chúng ta đi vào phương pháp thứ ba của sự thực tập đó là Thiền. Thiền là gì?

Thiền là cách phát âm của chữ Trung Hoa "Ch'an". Trung Hoa cũng chưa có một từ tương xứng để định nghĩa về Thiền. Họ phải lấy nguyên ngữ Ấn Độ phiên âm thành từ thiền na. Nguyên chữ Pali là Jhāna; Sanskrit là Dhyāna và tiếng Nhật cũng không có từ tương ứng để dịch đúng về Thiền. Họ chỉ dịch chữ Thiền của Trung Hoa thành từ Zen của tiếng Nhật.

Đầu tiên ta cần biết là Thiền bao gồm cả Chỉ và Quán. Tức là trạng thái tâm vừa tĩnh lặng vừa chiếu sáng, gọi đó là Thiền. Một điều nữa, có lẽ chúng ta đã biết đó là nguyên ngữ của chữ Thiền vẫn chưa có trong những từ tương đương của Tây phương, bởi vì Thiền vốn là sản phẩm có nguồn gốc từ Đông phương. Và Thiền là một loại hàng mới nhập vào thế giới Tây phương nên chưa được giới thiệu rộng rãi, chưa có từ ngữ chính xác để dịch nó. Có thể nói chưa có từ ngữ nào có thể diễn dịch được, bởi vì Thiền tự bản thân nó là một trực nghiệm, mà con người phải thâm nhập bằng cả thân và tâm. Những từ ngữ như chiêm nghiệm, trầm tư, tập trung... là những từ Tây phương có thể tạm dùng để chuyển dịch chữ Thiền; bởi vì khi ta nói chiêm nghiệm tức là có một đối tượng đển mình chiêm nghiệm, hoặc nói tập trung là phải có chủ thể và khách thể, có một điều gì đó để cho ý thức mình hướng về, trong khi bản chất của Thiền là vượt lên trên các phạm trù đối lập, vắng bặt chủ thể, khách thể. Cho nên có thể nói Thiền là trạng thái lặng lẽ, tỉnh sáng đơn thuần giống như hạt nước trên tàu lá sen rơi trở về biến mất trong lòng đại dương. Nó là trạng thái trượt trở lại tâm thức ban đầu của chính chúng ta.

Đông phương có một tác phẩm tuyệt vời là Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Trong câu mở đầu của Đạo Đức KinhLão Tử viết: "Đạo khả Đạo, phi thường Đạo" có nghĩa là "Đạo mà nói được thì không phải là Đạo". Dẫn dụng điều này nhằm đối chiếu với chữ Thiền được nêu ra trong giai đoạn thực tập đầu tiên.

Như chúng ta đã biết về bản chất, Thiền rất khó hiểu và nó không thể nắm bắt qua ngôn ngữ. Cũng như thế, để chứng nghiệm được Đạo thì tâm thức ta phải dứt bặt những suy nghĩ, không còn một gơn sóng ý thức thì thầm mới có thể thâm nhập vào trạng thái gọi là Đạo. Đạo vốn vô ngôn, không lời. Cho nên dùng một loại ngôn ngữ để diễn đạt một phạm trù phi ngôn ngữ là điều không thể, là tối kỵ. Có những trạng thái chứng nghiệm của tâm không thể dùng lời nói để giải thích hay mô tả được. Vì ngôn ngữchữ nghĩa luôn có những hạn chế và thường hay bị hiểu lầm. Hơn nữa, ngôn ngữ loài người vốn được đăt ra để gọi tên các sự vật, hiện tượng, hoặc những gì hiện hữutồn tại.

Chúng ta có thể là một triết gia, một học giả truyền đạt được những kinh nghiệm về trí thức; khai triển những ý tưởng uyên áo đến với người, hay có thể là những nghệ sĩ tài ba để lại cho người, cho đời những tác phẩm điêu khắcthi ca, hội họa, âm nhạc... bất hủ, vượt không gian và thời gian. Nhưng trên con đường thiền tập, với những con người đã sống trong Thiền, trong Đạo thì đây không phải là một triết học mà là một trực nghiệm, tự thực chứng bằng khả năng "nhận biết". Và vì là một trạng thái tự chứng nghiệm nên không thể truyền đạt lại một cách chân xác, cho một ai khác được.

Tuy vậy, chúng ta không nên có cảm tưởng Thiền là một điều gì xa vời, khó thực tập. Ngược lại, có thể nói việc hành Thiền khá giản dị. Khi nhìn hay quan sát bất kỳ một đối tượng nào, ta hãy nhìn bằng con mắt tĩnh lặng, sáng rỡ trong giây phút hiện tạinhận biết đối tượng rõ ràng mà không khởi sinh ý niệm thì thầm về nó, không để tâm ý đi lang thang thì đó chính là lúc mình đang ở trong trạng thái thiền tập. Nhìn ra bên ngoài hay nhìn vào bên trong, ta cũng nhìn và nhận diện đơn thuầnsáng tỏ từng đối tượng mình đang tiếp xúc, đó là thiền tập.

Tuy nhiên một điều trở ngại là, khi có nỗi buồn, ta lập tức hóa mình vào nỗi buồn đó. Ta thấy mình chính là nỗi buồn và trầm mình trong dòng sông buồn đang miên man chảy. Phép thực tập của ta là khi nỗi buồn hay một tâm hành nào khác có mặt, ta chỉ nhìn chúng bằng con mắt bình lặng, tỉnh sáng, và như vậy, chắc chắn ta luôn an trú được trong trạng thái thiền định. Chỉ cần làm được điều này thôi đã là kỳ diệu rồi. Và đây là pháp "chiếu kiến" của đức Bồ tát Quán Thế Âm trao cho ta.

Chỉ đơn thuần nhận diện từng tâm hành đang có mặt là ta đang thực tập giáo pháp tuyệt vời mà đức Phật đã truyền đạt. Chỉ cần nhân diện tất cả những đối tượng ta tiếp xúc, từ bên ngoài cho đến bên trong mà không khởi sinh ý thức xao động thì thầm là ta đang thật sự thực tập thiền quán. Điều đó cho thấy ta đang an trú trong tâm thể bất sinh bất diệt của chính mình, cũng có nghĩa là ta chạm tay được vào đời sống miên viễn hằng tươi nhuận trong tự thân ta.

Và chỉ cần làm một điều này thôi thì dù "mùa đông" của đời người xảy đến, ta giống như loài cây kia thảnh thơi vươn cành đón tiếp, bình thản trả hình hài tứ đại này về cùng cát bụi. Dòng sự sống đâu chỉ có mặt ở trong thân, nó vốn là năng lượng nên tồn tại miên viễn và thênh thang đến vô cùng. Sinh mạng này có thể chấm dứt bằng nhiều cách, nhưng sự sống (sinh lực) thì không thể cắt đứt được. Như mùa thu làm rụng những chiếc lá phong, nhưng mùa thu không làm chết cây phong được. Cây phong vẫn sừng sữnghiên ngang đứng chờ mùa xuân tới, vì nhựa sống của nó vẫn còn cuồn cuộn trong thân.

Mười phương ba đời chư Phật chỉ truyền một pháp Niết Bàntức chỉ trao cho chúng ta khối vàng ròng chứ không hề trao một thỏi bạc hay thỏi đồng. Chư Tổ chỉ cho chúng ta con đường để hồi phục trở lạinhận ra sự sống không sinh không diệt vốn sẵn có trong tự thân, chứ không dạy cho chúng ta cách để có được chút an ổn phù du trong cuộc sống ngắn ngủi này.

Ngày xưathiền sư Càn Phong khi lên pháp tòa chỉ nói một câu: "Mười phương ba đời chư Phật chỉ có một con đường Niết Bàn mà thôi, thế thì đầu đường ở chỗ nào?" Thiền sư đưa cây gậy vẽ một vòng tròn rồi bước xuống tòa, đi vào hậu liêu. Thế là thuyết xong một thời pháp thoại. Đây là một công án trong hàng ngàn công án của Thiền Đông ĐộChúng ta hãy cùng chia sẻ một chút về công án này để có thể thực tập một điều rất gần với chính mình.

Điều cốt lõi mà bậc giác ngộ trao cho chúng ta là phải tự mình chạm vào đương thể Niết Bàn của chính mình. Ngài muốn chính chúng ta đặt tay vào vùng đất vĩnh hằng, đó là sự sống luôn có mặt trong tự thân ta. Và nếu ta có con mắt sáng thấy được "đầu đường" để bước vào thì ta sẽ đến được con đường Niết Bàn mà thiền sư Càn Phong đã chỉ. Chỗ nào là đầu đường? Ngài dưa cây gậy vạch một vòng tròn và bảo đầu đường là chỗ đấy. Chỗ nào vậy? Tổ Lâm tế từng nói: "Sáu đạo thần quang chưa từng vắng mặt", tức là sáu con đường mở ra để anh đi vào Niết Bàn phút giây nào cũng hiện diện trong anh; hiện diện nơi mắt, nơi tai, nơi mũi, nơi lưỡi... anh. Nếu ở mắt thì có khả nằng nhận diện tinh tường từng đối tượng; biết rõ đây là bông hoa, đây là cây đèn, đây là con người... không hề lầm lẫnNăng lực của cái nhìn và sự nhận diện trực tiếp ấy không phải do hình hài mà có. Nếu nói nó có được do hình hài này thì khi trút hơi thởhình hài vẫn còn đó, mắt vẫn còn đó tại sao ta không thể nhìn được. Cái nhận biết trực tiếp không phải do khả năng suy tư, học tập, giáo dục từ bên ngoài. Nhà trường dạy cho chúng ta muôn vạn kiến thức, nhưng năng lực nhìn là nhận biết tức khắc thì ai có thể dạy cho ta? Khả năng nhận biết đó vốn sẵn có, là bản thể không sinh không diệt trong ta chiếu rọi ra bên ngoài đấy thôi.

Cho nên khi tiếp xúc với mọi đối tượng, cảnh vật của thiên nhiên, đất trời, con người, ta nhận biết một cách tinh tường mà không sinh khởi tiếng nói thì thầm bên trong; tâm vẫn an trú ngay nơi đây và giờ phút này thì tức khắc ta đặt chân vào con đường Niết Bàn. Tai ta nghe tiếng sáo đồng vọng, tiếng trẻ khóc, tiếng chim râm ran gọi bầy, tiếng gió thì thào qua kẽ lá... nhưng không để cho âm thanh dẫn dắt, đó chính là ta đang an trụ trong tự thể Niết Bàn của chính ta.

Lúc ấy tâm ta trở nên mênh mông và bát ngát, không bị hạn cuộc trong không gian lẫn thời gian. Và những gì không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, thì nó có thể đi ngang qua ba cõi, không bị kềm tỏa trong vòng sinh diệt, mất còn.

Khi tiếp xúc với hiện tại mà tâm ta rỗng rang, vắng lặng là ta đang mở ra cánh cổng để đi vào cõi Niết Bàn lồng lộng. Nói đi vào là gượng nói thế thôi, chứ kỳ thực thì ta không rời Niết Bàn nửa bước, vì đương thể Niết Bàn có mặt ngay trong sát na hồi phục của tự tâm. Lúc bấy giờ ta là giọt nước trên lá sen, chỉ nhẹ nhàng buông mình là trở về với biển khơi bao la.



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 190)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 324)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 347)
06 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 426)
05 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 577)
03 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 436)
02 Tháng Mười Một 2019(Xem: 546)
30 Tháng Mười 2019(Xem: 596)
23 Tháng Mười 2019(Xem: 684)
19 Tháng Mười 2019(Xem: 904)
22 Tháng Tám 2019(Xem: 693)
21 Tháng Giêng 20206:30 SA(Xem: 62)
Tăng NiPhật tử là hai bộ phận không thể thiếu một trong Phật giáo, họ đều là đệ tử của Đức Như Lai, không thể lìa nhau mà phải nương tựa vào nhau để làm nền tảng cho sự trường tồn Phật pháp, vững mạnh Giáo hội. Hai bộ phận đệ tử này có vai trò, vị trí khác nhau trong Phật giáo nhưng họ lại có mối quan hệ liên đới lẫn nhau.
20 Tháng Giêng 202011:18 SA(Xem: 156)
Phần đông chúng ta đi qua cuộc sống bám víu rất chặt vào những gì người khác nghĩ về chúng ta. Ta cố gắng tỏ ra tốt đẹp và làm cho người khác nghĩ về ta một cách tích cực. Ta bỏ nhiều thì giờ cố gắng để là cái mà ta nghĩ người khác muốn mình phải là như thế, nhưng điều này khiến chúng ta trở nên hoang mang, vì mỗi người lại đòi hỏi
19 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 201)
Dòng đời cứ chảy trôi, đông qua xuân đến, đất trời cũng dần thay màu áo mới, mặt nước hồ xuân trong vắt xua tan đi cái rét buốt của mùa đông ưu sầu, ảm đạm. Người người nhà nhà lại háo hức du xuân, hòa mình trong cái không khí hân hoan của đất trời. Theo thường lệ, mỗi năm Ban Văn hóa chùa Hoằng PhápViệt Nam
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 187)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 184)
Khi hơi thở đều đặn ta sẽ lấy đó làm đề mục hành thiền. Lúc thở vào, đoạn đầu của hơi thở ở tại chót mũi, đoạn giữa tại lồng ngực, và đoạn cuối ở bụng. Đó là con đường của hơi thở. Khi thở ra, đoạn đầu của hơi thở ở bụng, đoạn giữa ở lồng ngực, và đoạn cuối cùng ở chót mũi.
16 Tháng Giêng 20207:23 SA(Xem: 190)
Triêu nhan vốn là một loài dây leo bình dị, gần gũi có thể mọc ở khắp mọi nơi. Màu sắc và hình dáng của hoa luôn ở bên cạnh bước chân và cái nhìn của ta. Thế nhưng đôi khi chúng ta quên lãng sự có mặt của nó, có lẽ vì nó quá bình thường. Nhưng sẽ có một lúc nào đó bất chợt, sự hiện diện của hoa bừng sáng trước mắt ta, trong lòng ta
15 Tháng Giêng 20206:38 CH(Xem: 11849)
Những cử chỉ mang tính biểu tượng của bàn tay Đức Phật, được gọi là Thủ Ấn, là những biểu tượng hình ảnhý nghĩa sâu xa: - The symbolic gestures of the hands of Buddha images, called mudras, are picture tools of identification of deeper meaning:
14 Tháng Giêng 20201:11 CH(Xem: 249)
Bankei, con người đã giác ngộ, chia sẻ với chúng ta kinh nghiệm của ngài với tư cách một con người bằng máu thịt và nói lên những lời chân thực từ kinh nghiệm riêng ngài. Lời khuyên của ngài đi thẳng vào tim người, đấy là những lời nhắm thẳng vào con người trước mặt
14 Tháng Giêng 20208:19 SA(Xem: 156)
Trước đây tôi là người không kiên nhẫn, rất dễ bị lay động bởi những gì người khác nói hay làm. Nhưng các em học viên đã mở rộng tầm nhìn của tôi. Tôi nhận thấy rằng người khác có thể có những suy nghĩ mà mình chẳng bao giờ nghĩ đến trước đây. Khi lắng nghe các em, tôi đã trưởng thành thêm nhiều. Tôi nghĩ đó là cách Đức Phật đã dạy bảo tôi,
13 Tháng Giêng 202012:54 CH(Xem: 191)
Khi đã hướng về tâm linh, ta thường nghĩ rằng mình đã bỏ những tính xấu của thế tục lại đằng sau. Nhưng cách suy nghĩ theo thói quen không biến mất; chúng vẫn đi theo ta, phủ trùm con đường tiến đến sự tu tập tâm linh của chúng ta. Vì tất cả chúng ta đều đã được huấn luyện thành những người tiêu dùngtrình độ
11 Tháng Giêng 20204:45 CH(Xem: 245)
Chúng ta đến với cuộc đời bằng một cái tâm, và khi từ bỏ cuộc đời cũng với một cái tâm. Trái tim không còn đập nữa, nhưng tâm vẫn chung thủy bên ta. Những bài pháp, lời giảng dạy yêu thương, câu nhắc nhở chân tình trong quyển sách nhỏ này là món quà, là đôi chút trang điểm cho nội tâm của bạn. Hãy đọc với tâm tình rộng mở,
11 Tháng Giêng 202010:20 SA(Xem: 225)
Người khép cửa giã từ trò chơi giỡn. Đứng bên lề ta len lén ngó qua. Hai mươi năm… tưởng chừng một sát na. Nhìn tóc bạc da nhăn… mà thấy lạ. Đã hết thuở giành ăn la chí choé. Mừng trăng thu cùng bách bộ ngoài đường. Đi bên nhau dàn hàng dưới mù sương. Nghe hạnh phúc mênh mang về tỏa khắp. Đã hết thuở quần chằm, áo vá…
09 Tháng Giêng 202011:25 SA(Xem: 324)
Mấy ông thầy Đại Đăng khi qua Boston phụ dọn dẹp chuẩn bị lễ khánh thành thiền viện Bồ Đề, mặt mũi lem luốc vì xi măng quét tường tô trần, đóng nẹp, nối ống..., quần ống thấp ống cao, áo vạt cao vạt thấp, đã tức cảnh sinh... thơ rằng: - Áo em vạt ngắn vạt dài. Nghiệp em quá nặng bị đày đến đây. - mà cười tươi rói.
09 Tháng Giêng 20209:54 SA(Xem: 197)
Ngoài việc phá rừng khai hoang chúng tôi còn đối mặt với đặc sản nơi đây: Muỗi sốt rét hoành hành! Chúng tôi luân phiên ngã bệnh, luôn phải uống ký ninh ngừa sốt rét, người nào cũng xanh dờn, không khỏe. Các bác sĩ bằng hữu thỉnh thoảng ra thăm, khám sức khỏe cho chúng tôi và nhắc nhở: “Quý vị tranh thủ nhín thời gian đi tắm biển đi!”.
07 Tháng Giêng 20203:57 CH(Xem: 278)
Cái tôi theo tháng ngày qua. Măng non thành cụm tre già dặn hơn. Trong nhà, cuối xóm, đầu thôn. Tôi là số một, tôi "ngon" hơn người. Tôi khóc, không muốn ai cười. Ai thành đạt thấy tôi thời chẳng vui, Tôi nói ngược, chớ nói xuôi. Một khi tôi muốn có trời mới can! Tôi thành cái rốn không gian.
06 Tháng Giêng 202012:02 CH(Xem: 222)
Xuất Gia Balamật - Trong một tiền kiếp khi Đức Phật là Ngài Temiya, Ngài thực hành hạnh Xuất Gia Balamật bằng cách giả làm người ngu độn, không làm được việc gì. Vua cha sai người đánh xe chôn sống Ngài. Temiya biểu hiện một lòng dũng cảm phi thường và sau đó, quyết định sống đời xuất gia.
05 Tháng Giêng 20205:29 CH(Xem: 324)
Tập sách gồm những bài pháp do Ngài Thiền Sư Khippapanno Kim Triệu ban giảng trong khóa thiền thứ 21 Mùa Đông 1986, được tổ chức tại Chùa Kỳ Viên, Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ. Những bài pháp này vừa có tính cách dẫn giải, khuyến tu cho các thiền sinh, vừa mang chứa những lợi lạc thiết thực đến thân tâm cho tất cả chúng ta.
04 Tháng Giêng 202011:29 SA(Xem: 286)
Từ cung trời Đâu-suất, Bồ-tát được Phạm thiênTứ Thiên vương thỉnh mời tái sinh xuống thế. Khi Hoàng hậu Maha Ma-da, mẹ của Đức Phật, thụ thai, bà nằm mộng thấy một voi trắng từ một ngọn núi vàng bạc mang một đóa hoa sen đến dâng cho bà. Đản Sanh: Vào đêm trăng tròn tháng tư, năm 625 trước Tây lịch,
03 Tháng Giêng 20209:19 CH(Xem: 249)
Bài phát biểu của Ajahn Brahm trình bày một luận điểm vững chắc về việc truyền đại giới Tỳ-kheo-ni trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, được hổ trợ bằng những tham khảo trích dẫn từ lời dạy của Đức Phật và những qui định trong Luật Tạng về việc điều hành sinh hoạt Giáo đoàn Phật giáo.
02 Tháng Giêng 20207:25 CH(Xem: 283)
Thế nên trong một số chùa ở trong nam vẫn thường có chuyện một số Phật tử lâu năm thành ra “công thần”, muốn tỏ quyền hành với mọi người, muốn tham gia “tổ chức”, “sắp xếp”, “điều hành”, “nhắc nhở”… thiếu nước muốn làm trụ trì chùa nữa thôi. Những người đó là những người lăng xăng nhất, phiền não nhất, càng lâu càng ngã mạn
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 330)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1925)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3272)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
20 Tháng Giêng 202011:18 SA(Xem: 156)
Phần đông chúng ta đi qua cuộc sống bám víu rất chặt vào những gì người khác nghĩ về chúng ta. Ta cố gắng tỏ ra tốt đẹp và làm cho người khác nghĩ về ta một cách tích cực. Ta bỏ nhiều thì giờ cố gắng để là cái mà ta nghĩ người khác muốn mình phải là như thế, nhưng điều này khiến chúng ta trở nên hoang mang, vì mỗi người lại đòi hỏi
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 187)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20207:43 CH(Xem: 828651)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 578)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
21 Tháng Chín 20198:40 SA(Xem: 1473)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 1133)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất giatại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 986)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 2006)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 1755)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,