09. Trăng Giữa Trời Không - Pháp Thoại Tại Chùa Phật Tổ Ngày 29-03-2008

14 Tháng Giêng 20208:47 CH(Xem: 122)
09. Trăng Giữa Trời Không - Pháp Thoại Tại Chùa Phật Tổ Ngày 29-03-2008


CanhTrieuNhan_ACành Triêu Nhan
HT. Thích Phước Tịnh
Nhà xuất bản Phương Đông
Nguồn: thuvienhoasen.org

 

____________________


09. TRĂNG GIỮA TRỜI KHÔNG  
Pháp thoại tại chùa Phật Tổ Ngày 29-03-2008

 

Bồ tát Quán Thế Âm được xem là biểu tượng từ ái của người mẹ hiền. Hình ảnh đó của ngài đã có mặt rất lâu đời trong truyền thống đạo Phật. Nếu ở Trung Hoa, ngài có mặt trong tâm khảm mọi người ngay từ lúc Phật giáo mới du nhập, thì vào kỷ nguyên đầu tiên, khi Phật giáo có mặt ở Việt NamQuán Thế Âm cũng là biểu tượng cho sự linh thành, cảm ứng và cứu độ.

Đặc biệtPhật giáo dân gian ở phương Đông ngay từ đầu đã là tôn giáo của cầu nguyệnDần dần niềm tin của quần chúngPhật tử vào năng lực cứu độ của Bồ tát Quán Thế Âm ngày càng sâu chắc, đến mức trở thành một tín ngưỡng. Ngày nay tất cả mọi ngừi Phật tử hầu như không thể quên ba ngày khá quan trọng trong năm cho lễ vía của ngài: Ngày đản sanh 19 tháng 2, ngày thành đạo 19 tháng 6 và ngày xuất gia 19 tháng 9 (âm lịch).

Chắc chúng ta thầm nghĩ tại sao không có ngày ngài nhập Niết bàn? Bởi ngài là Bồ tát tha phương thị hiện độ sinh trong cõi đời, có mặt khắp mọi nơi theo bản nguyệnhành trạng của ngài đến đi siêu thế cho nên không có ngày nhập Niết bàn.

Chúng ta nên nhớ, Bồ tát Quán Thế Âm vốn là người nam, chứ không phải người nữ. Nhưng từ thế kỷ thứ II về sau, đến cuối đời Tống đầu đời Minh, hình ảnh Quán Thế Âm chuyển dần theo những câu chuyện về sự thị hiện của ngài bằng thân người nữ trong nhân gian và lúc bấy giờ người ta đã tạo tôn tượng của ngài qua hình ảnh người nữ, kéo dài đến hiện tại. Ở Việt Nam, vào thế kỷ thứ II, kinh Vô Lượng Thọ đã xuất hiệnkinh Pháp Hoa Tam Muội cũng dược dịch vào năm 255 tại Giao Châu và nhiều kinh khác, trong đó nói rất rõ về hạnh nguyện và năng lực lợi tha của Bồ tát Quán Thế Âmđồng thời cũng đề cập đến phước đức và sự linh nghiệm của việc tôn kínhxưng tụng danh hiệu của ngài. Từ đó niềm tin Quán Thế Âm có mặt trong lòng người Phật tử Việt Nam và lớn dần cho đến hiện nay.

Các quốc gia như Nhật BảnĐại HànTrung Quốc đều sùng mộ, tín ngưỡng Quán Thế Âm, cũng như cung kính thờ phượng hình ảnh ngài. Và trong khi tạo dựng tôn tượng ngài, người ta thường thể hiện ngài qua ba mươi hai hóa thân. Ngài phát nguyện mang niềm vui đến cho chúng sanh với đức vô úy và năng lực cứu khổ. Ai có lòng tin nơi ngài là có thể đạt được tuệ giácchứng nghiệm được Thánh quả hiện tiền bằng pháp tu nhĩ căn viên thông. Ngoài đức vô úy ngài thường ban cho mọi người, một điều gần gũi nữa đó là những ai có niềm tin nơi ngài thì đều qua được mọi khổ đau, tai ương, họa hoạn... Nhiều người trong chúng ta đã tu tập theo pháp môn niệm danh hiệu Quán Thế Âm, thế nhưng có khi nào cảm nghiệm được sự linh ứng từ ngài chưa?

Nếu về Việt Nam, có dịp đi Huế chúng ta có thể thăm đồi Tứ Tượng, cách thành phố Huế khoảng ba mươi cây số. Ngày xưa ngọn đồi chưa có tượng Quán Thế Âm, nhưng nay tôn tượng của ngài đã được dựng lên giữa đỉnh đồi rất uy nghi vì một sự linh hiển xảy ra.

Chuyện kể rằng vào một đêm nọ, ngài đã hiện thân một người nữ áo dài trắng thướt tha, đến vỗ vào vai người đại đội trưởng chỉ huy đoàn quân đang đóng ở ngọn đồi lúc đang ngủ, bảo hãy mau rời khỏi nơi đây. Người chỉ huy ấy giật mình thức dậy, ra lệnh cho nhổ trại, Chẳng bao lâu sau đó, ngọn đồi bị pháp kích tan hoang. Sau khi thoát chết, người lính trở về thưa với Ôn Từ Đàm (thầy Thiện Siêu) và Ôn Linh Quang (lúc ấy vẫn còn) xin thiết lập nơi ngọn đồi một tượng Bồ tát Quán Thế Âm. Hai Ôn chần chờ chưa quyết định, nhưng sau đó quý Ôn chiêm bao thấy Bồ tát Quán Thế Âm hiện về bảo hãy dựng một tượng Quán Thế Âm nơi ngọn đồi ấy để dân chúng thành phố Huế bớt khổ.

Huế đã vốn nghèo lại càng thêm xơ xác, tang thương bởi cuộc chiến kéo dài; hết nỗi kinh hoàng trong Tết Mậu Thân - 1968, lại đến nỗi đau trong mùa hè đỏ lửa năm 1972. Và từ ngày ngọn đồi Tứ Tượng được tôn trí thánh tượng Quán Thế Âmtrải qua bao nhiêu đợt binh lửa tàn phá, nhưng pho tượng vẫn không bị suy suyển một chút nào. Những năm gần đây, nơi ấy đã trở thành một trung tâm lớn để Phật giáo tỉnh Thừa Thiên tổ chức những lễ hội rất quy mô.

Những sự kiện kể trên nói lên niềm tin của người Phật tử Việt Nam nói riêng và của người Phật tử phương Đông nói chung đối với Bồ tát Quán Thế Âm.

Tuy nhiên, điều sâu xa chúng ta cần chia sẻ ở đây là trong cả ngàn người xưng tánthọ trì danh hiệu Quán Thế Âm, có người được ngài hiện thân cứu độgia hộ, có người thì chưa cảm nhận được năng lực từ bi của ngài. Tại sao? Có thể đức tin thì ai cũng có, nhưng mức độ của đức tin về ngài thì chúng ta có thể không giống nhau. Cũng là niềm tin nhưng tùy theo mức độ tâm thức, cách thức biểu lộ ứng dụng niềm tin khác nhau nên chúng ta chưa cảm được năng lượng từ bi nơi ngài. Thông thường chúng ta chỉ niệm danh hiệu ngài lúc cần đến: lúc khổ đau, gặp chuyện bất trắc ta mới cầu ngài, qua sông gặp sóng dữ thì mới niệm tên ngài, qua được rồi lại quên hết, vì thế nên chưa cảm được năng lượng từ bi của đức Bồ tát gia hộ. Khi niềm tin Bồ tát Quán Thế Âm được hình thành vững chắc trong ta, tâm ta khẩn thiết trì niệm danh hiệu ngài thì chắc chắn cảm ngay được năng lượng lành của ngài đến với mình.

Người Phật tử thuần thành là người có niềm tin bất hoại, là người biết trân quí từng giây phút tu tập để không lãng phí cuộc đời của mình. Thời gian của đời sống đi qua rất nhanh, hãy nhớ rằng một ngày nếu ta không gieo xuống một chút phước điền, thì chắc chắn những phiền nãolo âunghiệp chướng sẽ tràn ngập tâm thức. Hãy thường xuyên gieo vào tâm thức mình những thiện lành, những niềm tin chính đáng để trở nên xứng danh là người Phật tử thuần thànhChúng ta không một ai có thể lường được những bất hạnhrủi ro sẽ đến với đời mình. Có gì bảo đảm cho ta ngày mai, có gì bảo đảm cho đời sống ta luôn an bình. Cho nên vấn đề quan trọng nhất là hãy tạo những nghiệp lành từ những ý niệm trong sángthánh thiện, đó sẽ là nơi che chở cho chúng ta.

Có một bài kệ tán thán Bồ tát Quán Thế Âm rất hay được truyền tụng trong văn học Phật giáo, có thể giúp chúng ta trên con đường thực tập chuyển hóa, thanh lọc thân tâm:

 

Bồ tát thanh lương nguyệt

Du ư tất cánh không

Chúng sanh tâm cấu tịnh

Bồ đề ảnh hiện trung.

 

Sư ông Làng Mai đã dịch như sau:

 

Bụt là vầng trăng sáng

Đi ngang trời thái không

Hồ tâm chúng sanh lặng

Trăng hiện bóng trong ngần.

 

Đây là bài thi kệ thường được xưng tán trong các buổi lễ sám để tỏ lòng thành kính đức Bồ tát Quán Thế ÂmHình ảnh gợi tả của bài kệ khiến chúng ta nhớ đến câu: "Thiên giang hữu thủy, thiên giang nguyệt" - Ngàn con sông có nước thì ngàn mặt trăng hiển hiện. Có nghĩa là một khi tâm chúng ta có niềm tin trong sángvững chắc thì Quán Thế Âm liền có mặt.

Khi tu tập theo hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âmchúng ta phải bước qua bốn giai đoạn: Thứ nhất là phát khởi niềm tin đối với ngài; thứ hai là thực hành thanh lọc tâm; thứ ba là phát khởi lòng từ bi; và thứ tư là làm cho tâm biểu hiện phẩm chất của Bồ tátTrở thành một Phật tử thuần tín, có niềm tin sâu vào Tam Bảo là ta đã thực hiện bước đầu tiên. Tiếp đến, chúng ta cần phải thực tập chuyển hóa, thanh lọc tâm thức và làm phát khởi trong ta năng lượng tình thương rộng lớn của Bồ tát Quán Thế Âm. Và cuối cùng là làm cho thân tâm lắng sạch phiền não, làm cho con người mình trở thành một hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm.

Có thể nói không một ai thiếu niềm tin mà tồn tạiChúng ta có thể là một người cang cường không tin vào thế giới vô hình, không biết e sợ điều gì, nhưng ít nhiều chúng ta cũng gắn niềm tin vào một cơ chế xã hội, một năng lực chánh trịNếu không gắn cuộc đời ta cho niềm tin về một cơ chế vận hành xã hội hay quyền lực chánh trị thì cũng gắn niềm tin vào thế lực của đồng tiền. Nhưng thông thường, khi đã lớn tuổi, nếm trải đủ ngọt bùi, cay đắng của cuộc đời, đối mặt với những bất ngờ đổ xuống đời mình thì người ta lại có niềm tin thiên hướng về bên trong, tin vào thế giới vô hình.

Con người là một sinh thể được cấu tạo bằng hai phần vật chất và tinh thầnVật chất có thể biến hoại, nhưng tinh thần thì vẫn còn lại. Tinh thần làm chủ hình hài vật chất này, cho nên khi tâm thức được nâng cao ở một tầm mức nào đó thì niềm tin của ta hoàn toàn đặt vào thế giới tâm linh. Và nhu yếu tâm linh là nhu yếu phát sinh một cách tự nhiên, dù cơ chế xã hội đương thời có muốn hay không muốn thúc đẩy chúng ta hướng vào con đường đó. Tôn giáo phát sinh từ nhu cầu tâm linh, từ trái tim con người, từ sự thao thức, khát khao hướng đến một điều gì cao sâu hơn đáp ứng cho nội tâm và hoàn cảnh bên ngoài. Khi quan sát thực tế có thể nói rằng, nếu thiếu may mắn chúng ta sẽ lạc bước vào những tôn giáo cuồng tín và ngược lại, may mắn hơn thì chúng ta sẽ tiếp nhận một tôn giáo mà đạo đứctrí tuệ của tôn giáo đó có thể thúc đẩy chúng ta biết vươn đến một đời sống thanh cao đúng nghĩa. Chung quy, chúng ta thấy niềm tin là nền tảng ban đầu để một con người có thể tồn tại và thăng tiến tùy theo năng lực trí tuệ và phước duyên của họ.

Với nền tảng đức tin ban đầu đó, khi ta là người thực sự ưa thích tu tập, muốn cảm nghiệm được nhân quả trong đạo Phật một cách rõ ràng, ngoài niềm tin đặt vào các vị Bồ tátThánh hiền..., chúng ta cần phải làm một việc rất quan trọng nữa, đó là thanh lọc tâm hay chuyển hóa tâm thức của mình. Mặc dù có niềm tin lớn đối với các vị Phật, Bồ tát; miệng có niệm danh hiệu quý ngài bao nhiêu triệu lần nhưng lòng ta vẫn chứa đầy năng lực tiêu cực, thì ta vẫn không có khả năng tiếp xúc được với năng lực cảm ứng của chư Phật, Bồ tát. Chắc ta vẫn thường nghe câu: "Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu". Trong ta một khi đã tràn đầy năng lượng thiện lành, khi nhìn người tức khắc ánh mắt tỏa ra sự dịu mát, mọi lời nói ra đều hòa nhã, nghe êm ái. Nếu người tiếp xúc cảm được độ rung của ta thì họ là người có cùng cung bậc tâm thức như ta. Nếu tâm ta chứa đầy thị phi, ghen tị, nhỏ nhen... thì loay hoay ta cũng tìm đến một người cùng tâm thức như ta mà thôi. Trái tim nhân ái có thể thương người, tử tế với người, giúp đỡ người nhưng chắc chắn không thể hòa hợp và gắn bó thân tình với những người như vậy.

 

Thế nên, thực tập chuyển hóa tâm là phương pháp tất yếu nếu ta muốn chiêu cảm được năng lượng gia hộ của Bồ tát. Và khi lòng mình ở một tầng mức nào đó sẽ cảm ứng với dòng năng lượng, cùng hòa nhịp độ rung của tầng sóng bên ngoài giống như mình. Chúng ta nâng chiều cao tâm thức lên thì cảm được năng lượng ở chiều cao tương ứng. Cũng tương tự như cách chúng ta sử dụng máy radio, máy vô tuyến truyền hình... tu tất cả các tần số và mỗi tần số đều có độ rung của nó. Nếu bắt đúng vùng phủ sóng thì chúng ta sẽ nhận được đúng hình ảnhâm thanh hiện ra.

Thực tập thanh lọc tâm là làm sao cho các chất liệu tiêu cực trong lòng ta ngày càng rơi rụng, tiêu tán đi, dành chỗ cho năng lượng tích cực lớn dậy, nở hoa. Nếu chúng ta làm được điều này thì năng lượng của Bồ tát Quán Thế Âm dễ dàng được cảm ứng, vì ngài là biểu tượng cho từ bi và trí tuệ. Để cho quá trình thanh lọc thân tâm được hiệu quảchúng ta cần có không gian, cần hóa giải những điều kiện tạo nên năng lượng tiêu cực trong đời sống của mình. Chẳng hạn như việc niệm Phật là một trong những cách làm cho phiền nãosầu khổ rơi rụng bớt, và như vậy là ta cũng đang thanh lọc thân tâm.

Khi niệm Phật chúng ta có thể niệm lớn tiếng ra bên ngoài hay niệm thầm với những câu danh hiệu hiện lên liên tục trong tâm thức. Đây là bước căn bản để cho chúng ta làm quen với việc thực tập. Nếu chúng ta đọc thành tiếng liên tục các danh hiệu được ghi trong các quyển kinh (hay nghi thức tụng niệm), thì gọi đó là tụng danh hiệu Phật (cũng như tụng kinh vậy). Chúng ta cần lưu ý rằng việc niệm Phật có ý nghĩa rất quan trọng và sâu sắc. Khi chiết tự chữ niệm, ta có ở trên chữ kim có nghĩa là ngay hiện tại, bây giờ và ở đây; bên dưới là chữ tâm tức là đem sự nhận biết của ta dừng trụ ngay ở đây và bây giờ. Đó là ý nghĩa của chữ niệm. Chữ Phật nghĩa là giác ngộtỉnh thức; ở đây hàm ý trí tuệ luôn bừng sáng không vắng mặt phút giây nào, luôn mời gọi sự nhận biết an trú ngay nơi hiện tại, không để cho tâm thức đuổi chạy về quá khứ, rong ruổi ở tương lai, cũng không ở trong trạng thái mơ màng như chìm vào giấc ngủ. Trạng thái tỉnh sáng, nhận biết hiện tại gọi là trạng thái giác ngộ của tâm. Đó là ý nghĩa của việc niệm Phật.

Niệm Phật là một pháp môn rất thù thắng. Một lời kinh, một tiếng niệm Phật một khi đã gieo vào tâm thức sẽ đưa đến năng lực kỳ diệu có thể chuyển hóa mọi tập nghiệp của nhiều kiếp sống trong tàng thức của chúng ta. Do vậy, niệm Phật là một phương pháp gột rửa thân tâm dễ thực tập nhất. Tuy nhiên chúng ta cần phải biết niệm Phật theo đúng ý nghĩa chân chánh của nó, nghĩa là không phải chỉ đơn thuần đọc hay tụng lên một danh hiệu Phật hoặc Bồ tátChúng ta thường hay mắc phải thiếu sót này.

Ở mức độ sâu sắc, niệm Phật là an trú tâm trong trạng thái bất động, tỉnh sáng. Chúng ta đừng nghĩ những vị thiền sư không bao giờ niệm Phậttrái lại có khi các ngài còn niệm Phật giỏi hơn chúng ta nhiều. Bạch Ẩn Huệ Hạc là một thiền sư nổi tiếng của Nhật, ngài niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát hàng ngày. Một trong những thư pháp nổi tiếng của ngài viết để dạy đồ đệ có câu: "Thường niệm Quán Thế Âm Bồ tát".

Niệm danh hiệu Phật hay danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm... với công năng thanh lọc gần nhất là làm cho những hạt mầm tiêu cực như ghét thương, giận hờn, sầu lo... dần dần tiêu lặn theo từng âm thanh xướng niệm đang gieo vào trong ta. Thâm sâu hơn, một khi chúng ta an trú ngay nơi sát na hiệm tại, mời tâm Phật luôn có mặt thì không những chúng ta có thể thanh lọc những hạt mầm sầu khổbất an mà đồng thời những hạt mầm sinh tử nối dài qua nhiều kiếp cũng cùng lúc tiêu sạch. Bấy giờ lòng ta thênh thang, rỗng lặng và tâm từ bi bắt đầu khởi phát.

Niệm Phậttụng kinhtrì chúlễ báitọa thiền... không có pháp nào đối nghịch với pháp nào. Chúng ta vì tu chưa giỏi nên sanh tâm phân biệt pháp môn này hay hơn pháp môn kia. Chúng ta hãy có cái nhìn dung thông nhất quán, và phải nhìn xa hơn để thấy nội dung cốt tủy của kinh điển Đại thừaNguyên thủyMật TôngNgữ lục... đều là xiển dương chánh pháp của đức Thế Tôn.

Nếu đọc vào văn học Phật giáo Nguyên thủy cũng như văn học A Hàmchúng ta sẽ gặp một câu thật hay mà khi đọc lên ta thấy lòng mát dịu và thật khó quên: "Đức Thế Tôn thường vào mỗi buổi sáng lúc mặt trời vừa mọc, ngài nhập từ bi quán, rải tâm từ thấm nhuần địa địa". Năng lượng từ bi nơi tâm đức Phật có thể làm dịu mát hành tinh như sương mai thấm đẫm, bao trùm đại địa, muôn loài từ con người đến cỏ cây, muông thú. Chúng ta hãy thực tập như đức Thế Tôn: bằng trái tim đầy tình thương của mình, ta nhìn con ta, người thân của ta, những người đối nghịch không thích ta... Ta hãy tập biểu hiện từ bi qua đôi mắt khiến cho năng lượng yêu thương tự nhiên lan tỏa, như sương mai phủ lên làm thấm mát họ. Chúng ta hãy thực tập để thấy công năng kỳ diệu của lòng từ bi, và chắc chắn từ bên ngoài lẫn bên trong, sự chuyển hóa sẽ được biểu hiện rõ ràng trong từng bước thực tập. Khi lòng ta chứa đầy chất liệu tình thương, dù kẻ thù có đứng trước mặt giận dữ, hùng hổ la hét, ta vẫn có thể bình thản, từ hòa và tự nhiên họ cũng chùn bước vì cảm được năng lượng mát lành của ta.

Nói như thế không có nghĩa là chất liệu từ bi có mặt thì ta sẽ trở thành người yếu đuối. Nên nhớ từ bi theo tinh thần Phật dạy luôn song hành cùng với trí tuệ và hùng lực. Ai đó có thể nghĩ rằng khi sân hận nổi lên cũng là một biểu hiện của sức mạnh (hùng lực); nhưng sức mạnh của sân hận là sức mạnh phát tiết từ vô minh và sức mạnh đó có thể quay lại hủy phá chính thân tâm mình. Khi thân tâm ta thanh lọc được nhiều nghiệp thức phiền não thì năng lực từ bi sẽ dễ dàng phát sinh và Bồ tát Quán Thế Âm sẽ thường hiển hiện trong trái tim mình.

Có một nhà thơ Nhật Bản rất nổi tiếng, một hôm lang thang từ miền Nam ngược lên miền Bắc, ông đi qua một xóm nhỏ giữa lúc đêm trăng. Dưới ánh trăng, những người nông dân trong làng đang tụ tập vui đùa, ca hát, làm thơ... Thấy ông lạc bước qua đây, họ mời ông ghé lại và bảo: "Chúng tôi đang uống trà, làm thơ. Ông có hứng thú ghé lại và sáng tác một bài thơ cho tiệc vui hôm nay không?" Ông trả lời: "Được, được chứ". Thế là ông cất tiếng đọc: "Vầng trăng non dại...", và chỉ mới nghe tới đó thì những người nông dân đã vội òa lên: "Không được đâu! Trăng hôm nay tròn, trăng rằm mà... không đúng!" Ông không nói gì, tiếp tục đọc:

 

Vầng trăng non dại

Theo ta từ dạo ấy

Ai có ngờ đêm nay...

(Basho)

 

Bài thơ ngắn với kết thúc giữa chừng lững lơ... làm mọi người ngỡ ngàng, nhưng một thoáng sau họ cười vang, vỗ tay khen ngợi. Những câu thơ ngắn với những dấu chấm lửng lơ mời gọi, những âm tiết gieo vào lòng người nghe một nỗi bất ngờ không thể tả được. Ai có ngờ đêm nay... đêm nay trăng đã tròn. Vầng trăng theo ta từ độ ấy, từ lúc còn là mảnh trăng hình lưỡi liềm mỏng như lá liễu, theo chân ta trăng lớn dần cùng ngày tháng lang thang phiêu bạt, bất chợt đêm nay ánh sáng toa chiếu mênh mông, và nhìn lên, ta giật mình thấy nay trăng đã tròn.

Vầng trăng lúc nào cũng bắt đầu bằng một vành mỏng cong cong như lưỡi liềm treo nghiêng, rồi dần tròn đầy theo ngày tháng. Tâm chúng ta cũng như thế. Nếu mỗi ngày thực tập thanh lọc bằng cách gieo vào tâm từng chút thiện nghiệp, đến một ngày nó sẽ tròn đầy, viên mãnChúng ta thanh lọc là lấy đi những giận hờn, âu sầuphiền não, ghét thương... để đến một lúc nào đó tâm ta cũng bất chợt bừng sáng, rạng ngời tuệ giác. Cho nên câu kệ tán: "Hồ tâm chúng sanh lặng. Trăng hiện bóng trong ngần" chỉ là nói lên cái kết quả tất yếu, hiển nhiên của việc thành tựu công phu thiền quán và tu tập.

Đọc vào kinh Phổ Môn, ta thấy năng lực của Bồ tát Quán Thế Âm có thể cắt đứt xiềng xích, tháo bỏ gông cùm, làm cho gươm kiếm gãy nát, địa ngục trở thành ao báu đầy hoa sen thơm ngát... Khi nghe những điều này xin đừng nghĩ rằng ngài có nhiều phép mầu huyền bí, hay ngài dụng thần thông biến hóaChúng ta nên biết rằng, tất cả đều do năng lượng từ bi rộng lớn, bao la của Quán Thế Âm Bồ tát mà mọi khổ đau, trói buộc đều được phá tan, bởi vì tâm đại bi của ngài có công năng diệu kỳ thể hiện khắp cùng vũ trụ. Thế nên khi chúng ta niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát một cách thâm thiết, thì đó cũng là thể hiện sự mong mỏi chuyển hóa, thăng tiến trên con đường cải đổi tâm tánh của chính mình và cũng là noi theo công hạnh của ngài đem yêu thương, đem niềm vui và lòng bao dung đến cho mọi người trong cuộc đời khổ lụy này. Nếu mỗi ngày chúng ta đều có thể tu tập chuyển hóa chính mình và thường khởi tâm từ bi gởi đến cho mọi loài là chúng ta đang niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát. Niệm danh hiệu Phật, Bồ tát trong ý nghĩa thâm sâu và diệu dụng nhất là thực hành thanh lọc, chuyển hóa và phát đại bi tâm.

Thực hành thanh lọc, chuyển hóa và phát tâm dại bi là con đường dài của những bước chân không ngừng nghỉ, chứ không phải một sớm mai thức dậy thì từ bicứu khổ đã có mặt như trong câu hát" yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ" (Trịnh Công Sơn). Ta phải làm cho tâm lắng trong, rộng mở, đầy tình thương, để hình ảnh của Bồ tát Quán Thế Âm có thể hóa hiện trong đó. Và một khi "hồ tâm chúng sanh lặng" thì "trăng hiện bóng trong ngần", đó là điều hiển nhiên tất yếu. Nhớ tưởng, trì niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm có nghĩa là huân tập trong ta những phẩm chất quý giá để ta có thể trở thành như Bồ tát Quán Thế Âm, chứ không có nghĩa chỉ trì niệm bên ngoài bằng miệng hay hướng đến một vị Quan Âm nào khác.

Từng ngày một nếu chúng ta không để cho sự thực tập bị gián đoạn, thì việc mời năng lượng từ bi của Bồ tát Quán Thế Âm có mặt trong ta là không có gì khó khăn, và lúc nào chúng ta cần, ngài liền có mặt vì ngài là hiện thân của tình thương đã có mặt trong ta và trong khắp mọi người. Khi ấy ta là năng lượng tỉnh thức và chuyển hóa, là vầng trăng Phật soi sáng vĩnh hằng trong hồ tâm của chúng ta, là năng lượng từ biyêu thương của Bồ tát Quán Thế Âm luôn tràn đầy thân tâm này. Bồ tát Quán Thế Âm đã hiện và tâm ta đồng với tâm chư Phật.



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 191)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 324)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 347)
06 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 426)
05 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 577)
03 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 436)
02 Tháng Mười Một 2019(Xem: 546)
30 Tháng Mười 2019(Xem: 596)
23 Tháng Mười 2019(Xem: 684)
19 Tháng Mười 2019(Xem: 904)
22 Tháng Tám 2019(Xem: 693)
21 Tháng Giêng 20206:30 SA(Xem: 62)
Tăng NiPhật tử là hai bộ phận không thể thiếu một trong Phật giáo, họ đều là đệ tử của Đức Như Lai, không thể lìa nhau mà phải nương tựa vào nhau để làm nền tảng cho sự trường tồn Phật pháp, vững mạnh Giáo hội. Hai bộ phận đệ tử này có vai trò, vị trí khác nhau trong Phật giáo nhưng họ lại có mối quan hệ liên đới lẫn nhau.
20 Tháng Giêng 202011:18 SA(Xem: 156)
Phần đông chúng ta đi qua cuộc sống bám víu rất chặt vào những gì người khác nghĩ về chúng ta. Ta cố gắng tỏ ra tốt đẹp và làm cho người khác nghĩ về ta một cách tích cực. Ta bỏ nhiều thì giờ cố gắng để là cái mà ta nghĩ người khác muốn mình phải là như thế, nhưng điều này khiến chúng ta trở nên hoang mang, vì mỗi người lại đòi hỏi
19 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 201)
Dòng đời cứ chảy trôi, đông qua xuân đến, đất trời cũng dần thay màu áo mới, mặt nước hồ xuân trong vắt xua tan đi cái rét buốt của mùa đông ưu sầu, ảm đạm. Người người nhà nhà lại háo hức du xuân, hòa mình trong cái không khí hân hoan của đất trời. Theo thường lệ, mỗi năm Ban Văn hóa chùa Hoằng PhápViệt Nam
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 187)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 184)
Khi hơi thở đều đặn ta sẽ lấy đó làm đề mục hành thiền. Lúc thở vào, đoạn đầu của hơi thở ở tại chót mũi, đoạn giữa tại lồng ngực, và đoạn cuối ở bụng. Đó là con đường của hơi thở. Khi thở ra, đoạn đầu của hơi thở ở bụng, đoạn giữa ở lồng ngực, và đoạn cuối cùng ở chót mũi.
16 Tháng Giêng 20207:23 SA(Xem: 191)
Triêu nhan vốn là một loài dây leo bình dị, gần gũi có thể mọc ở khắp mọi nơi. Màu sắc và hình dáng của hoa luôn ở bên cạnh bước chân và cái nhìn của ta. Thế nhưng đôi khi chúng ta quên lãng sự có mặt của nó, có lẽ vì nó quá bình thường. Nhưng sẽ có một lúc nào đó bất chợt, sự hiện diện của hoa bừng sáng trước mắt ta, trong lòng ta
15 Tháng Giêng 20206:38 CH(Xem: 11849)
Những cử chỉ mang tính biểu tượng của bàn tay Đức Phật, được gọi là Thủ Ấn, là những biểu tượng hình ảnhý nghĩa sâu xa: - The symbolic gestures of the hands of Buddha images, called mudras, are picture tools of identification of deeper meaning:
14 Tháng Giêng 20201:11 CH(Xem: 249)
Bankei, con người đã giác ngộ, chia sẻ với chúng ta kinh nghiệm của ngài với tư cách một con người bằng máu thịt và nói lên những lời chân thực từ kinh nghiệm riêng ngài. Lời khuyên của ngài đi thẳng vào tim người, đấy là những lời nhắm thẳng vào con người trước mặt
14 Tháng Giêng 20208:19 SA(Xem: 156)
Trước đây tôi là người không kiên nhẫn, rất dễ bị lay động bởi những gì người khác nói hay làm. Nhưng các em học viên đã mở rộng tầm nhìn của tôi. Tôi nhận thấy rằng người khác có thể có những suy nghĩ mà mình chẳng bao giờ nghĩ đến trước đây. Khi lắng nghe các em, tôi đã trưởng thành thêm nhiều. Tôi nghĩ đó là cách Đức Phật đã dạy bảo tôi,
13 Tháng Giêng 202012:54 CH(Xem: 191)
Khi đã hướng về tâm linh, ta thường nghĩ rằng mình đã bỏ những tính xấu của thế tục lại đằng sau. Nhưng cách suy nghĩ theo thói quen không biến mất; chúng vẫn đi theo ta, phủ trùm con đường tiến đến sự tu tập tâm linh của chúng ta. Vì tất cả chúng ta đều đã được huấn luyện thành những người tiêu dùngtrình độ
11 Tháng Giêng 20204:45 CH(Xem: 245)
Chúng ta đến với cuộc đời bằng một cái tâm, và khi từ bỏ cuộc đời cũng với một cái tâm. Trái tim không còn đập nữa, nhưng tâm vẫn chung thủy bên ta. Những bài pháp, lời giảng dạy yêu thương, câu nhắc nhở chân tình trong quyển sách nhỏ này là món quà, là đôi chút trang điểm cho nội tâm của bạn. Hãy đọc với tâm tình rộng mở,
11 Tháng Giêng 202010:20 SA(Xem: 225)
Người khép cửa giã từ trò chơi giỡn. Đứng bên lề ta len lén ngó qua. Hai mươi năm… tưởng chừng một sát na. Nhìn tóc bạc da nhăn… mà thấy lạ. Đã hết thuở giành ăn la chí choé. Mừng trăng thu cùng bách bộ ngoài đường. Đi bên nhau dàn hàng dưới mù sương. Nghe hạnh phúc mênh mang về tỏa khắp. Đã hết thuở quần chằm, áo vá…
09 Tháng Giêng 202011:25 SA(Xem: 324)
Mấy ông thầy Đại Đăng khi qua Boston phụ dọn dẹp chuẩn bị lễ khánh thành thiền viện Bồ Đề, mặt mũi lem luốc vì xi măng quét tường tô trần, đóng nẹp, nối ống..., quần ống thấp ống cao, áo vạt cao vạt thấp, đã tức cảnh sinh... thơ rằng: - Áo em vạt ngắn vạt dài. Nghiệp em quá nặng bị đày đến đây. - mà cười tươi rói.
09 Tháng Giêng 20209:54 SA(Xem: 197)
Ngoài việc phá rừng khai hoang chúng tôi còn đối mặt với đặc sản nơi đây: Muỗi sốt rét hoành hành! Chúng tôi luân phiên ngã bệnh, luôn phải uống ký ninh ngừa sốt rét, người nào cũng xanh dờn, không khỏe. Các bác sĩ bằng hữu thỉnh thoảng ra thăm, khám sức khỏe cho chúng tôi và nhắc nhở: “Quý vị tranh thủ nhín thời gian đi tắm biển đi!”.
07 Tháng Giêng 20203:57 CH(Xem: 278)
Cái tôi theo tháng ngày qua. Măng non thành cụm tre già dặn hơn. Trong nhà, cuối xóm, đầu thôn. Tôi là số một, tôi "ngon" hơn người. Tôi khóc, không muốn ai cười. Ai thành đạt thấy tôi thời chẳng vui, Tôi nói ngược, chớ nói xuôi. Một khi tôi muốn có trời mới can! Tôi thành cái rốn không gian.
06 Tháng Giêng 202012:02 CH(Xem: 222)
Xuất Gia Balamật - Trong một tiền kiếp khi Đức Phật là Ngài Temiya, Ngài thực hành hạnh Xuất Gia Balamật bằng cách giả làm người ngu độn, không làm được việc gì. Vua cha sai người đánh xe chôn sống Ngài. Temiya biểu hiện một lòng dũng cảm phi thường và sau đó, quyết định sống đời xuất gia.
05 Tháng Giêng 20205:29 CH(Xem: 324)
Tập sách gồm những bài pháp do Ngài Thiền Sư Khippapanno Kim Triệu ban giảng trong khóa thiền thứ 21 Mùa Đông 1986, được tổ chức tại Chùa Kỳ Viên, Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ. Những bài pháp này vừa có tính cách dẫn giải, khuyến tu cho các thiền sinh, vừa mang chứa những lợi lạc thiết thực đến thân tâm cho tất cả chúng ta.
04 Tháng Giêng 202011:29 SA(Xem: 286)
Từ cung trời Đâu-suất, Bồ-tát được Phạm thiênTứ Thiên vương thỉnh mời tái sinh xuống thế. Khi Hoàng hậu Maha Ma-da, mẹ của Đức Phật, thụ thai, bà nằm mộng thấy một voi trắng từ một ngọn núi vàng bạc mang một đóa hoa sen đến dâng cho bà. Đản Sanh: Vào đêm trăng tròn tháng tư, năm 625 trước Tây lịch,
03 Tháng Giêng 20209:19 CH(Xem: 249)
Bài phát biểu của Ajahn Brahm trình bày một luận điểm vững chắc về việc truyền đại giới Tỳ-kheo-ni trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, được hổ trợ bằng những tham khảo trích dẫn từ lời dạy của Đức Phật và những qui định trong Luật Tạng về việc điều hành sinh hoạt Giáo đoàn Phật giáo.
02 Tháng Giêng 20207:25 CH(Xem: 283)
Thế nên trong một số chùa ở trong nam vẫn thường có chuyện một số Phật tử lâu năm thành ra “công thần”, muốn tỏ quyền hành với mọi người, muốn tham gia “tổ chức”, “sắp xếp”, “điều hành”, “nhắc nhở”… thiếu nước muốn làm trụ trì chùa nữa thôi. Những người đó là những người lăng xăng nhất, phiền não nhất, càng lâu càng ngã mạn
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 330)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1925)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3272)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
20 Tháng Giêng 202011:18 SA(Xem: 156)
Phần đông chúng ta đi qua cuộc sống bám víu rất chặt vào những gì người khác nghĩ về chúng ta. Ta cố gắng tỏ ra tốt đẹp và làm cho người khác nghĩ về ta một cách tích cực. Ta bỏ nhiều thì giờ cố gắng để là cái mà ta nghĩ người khác muốn mình phải là như thế, nhưng điều này khiến chúng ta trở nên hoang mang, vì mỗi người lại đòi hỏi
18 Tháng Giêng 202010:10 SA(Xem: 187)
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng?
17 Tháng Giêng 20207:43 CH(Xem: 828651)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 578)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
21 Tháng Chín 20198:40 SA(Xem: 1473)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 1133)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất giatại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 986)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 2006)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 1755)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,