Pháp Duyên Khởi - A Discourse on Paticcasamuppada (or The Doctrine of Dependent Origination)

07 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 6081)
Pháp Duyên Khởi - A Discourse on Paticcasamuppada (or The Doctrine of Dependent Origination)

 

Pháp Duyên Khởi
A Discourse on Paticcasamuppada
(or The Doctrine of Dependent Origination)
Venerable Mahasi Sayadaw
Translated by U Aye Maung
Dịch: Tỳ kheo Minh Huệ (1999)
Nguồn: budsas.org

 

____________________

PhapDuyenKhoi_A


 MỤC LỤC - CONTENTS

[01]

 

Tầm quan trọng của giáo pháp

Phương pháp tỉnh giác của Bồ tát

Tùy thuận quán

Vượt ngoài lý luậnsuy đoán

Pháp dành cho những người có trí

Khó lãnh hội

Thế nào là vô minh?

Vô minh về nguồn gốc của khổ

Vô minh về diệt đếđạo đế

Chánh kiến

[01]

1. Importance Of The Doctrine
2. Reflection Of The Bodhisatta
3. Anuloma Reasoning
4. Beyond Reasoning And Speculation
5. Dhamma Is Only For The Wise
6. Difficulty Of Understanding
7. What Is Avijja (Ignorance)?
8. Ignorance Of The Origin Of Dukkha
9. Ignorance Of The Third And Fourth Noble Truths
10. Right View, Etc.


[02]

 

Vô minh duyên Hành

Bất thiện nghiệp

Sự chối bỏ thiện nghiệp đồng nghĩa ác nghiệp

Vô minhảo tưởng

Hành duyên Thức

Hành dẫn đến thức mới như thế nào

Thường kiếnđoạn kiến

Những cảnh tượng lúc lâm chung

Tích chuyện về thiện nam Mahàdhammika

[02]

11. Avijja Leads To Sankhara
12. Unwholesome Kammas
13. Rejection Of Good Kamma Means Bad Kamma
14. Ignorance And Illusion
15. Sankhara Causes Vinnana
16. How Sankhara Leads To New Vinnana
17. Sassata And Uccheda
18. Death-Bed Visions
19. The Story Of Mahadhammika Upasaka


[03]

 

Thức và Danh sắc

Hóa sanh

Thấp sanh

Các tâm lộ

Lộ tâm ý môn

Lộ tâm nối tiếp

Thức duyên danh sắc

Trưởng lão Cakkhupàla

Lời phán quyết của một vị trưởng lão

Tâm thanh tịnh và sự an lạc

[03]

20. Vinnana and Nama-Rupa
21. Upapata Rebirth
22. Sansedaja Beings
23. Vithi-Cittas
24. Manodvara Vithi
25.
Follow-Up Vithi
26. From Vinnana Arises Nama-Rupa
21. The Story Of Cakkhupala Thera
28. The Thera's Verdict
29. Pure Thought And Happiness


[04]

 

Danh sắc duyên Lục nhập

Sắc và xứ

Kết luận

[04]

30. Nama-Rupa And Salayatana
31. Rupa And Ayatana
32. Summary


[05]

 

Đức Phật đề cao pháp hành

Tính chất thâm sâu của giáo pháp

[05]

33. The Buddha's Emphasis On Practice
34. The Abstruseness Of The Doctrine


[06]

 

Mối liên hệ giữa ý môn và thức

Tóm tắt

Thọ dẫn đến ái

Sáu loại ái

Ái dụcluân hồi

Sự chấm dứt ái dục

Tích trưởng lão Mahàtissa

Chuyện chim két

Quán và đoạn trừ

Đoạn diệt ở gốc rễ

Phiền não và sự thất niệm

Tư tưởng và sự cảm xúc

Ba loại ái

[06]

35. Relation Between Manodvara And Vinnana, Etc.
36. Recapitulation
37. Vedana Leads To Tanha
38. Six Kinds Of Tanha
39. Tanha And Samsara
40. Extinction Of Craving
41. The Story Of Mahatissa Thera
42. Story Of A Parrot
43. Contemplation And Extinction
44. Cutting Off At The Foundation
45. Kilesa And Unmindfulness
46. Thoughts And Tactile Impressions
47. Three Kinds Of Craving (Tanha)


[07]

 

Ái dẫn đến thủ

Những cơ sở của dục lạc

Kiến thủ

Những quan điểm đúng

Nhìn thấy thế giới bên kia

Ba-la-mật và nghiệp

Giới cấm thủ

Chuyện Korakhattiya

Những lối thực hành khác thuộc giới cấm thủ

[07]

48. Tanha Causes Upadana
49. Bases Of Sensual Pleasure
50. Ditthupadana (Bigotry)
51. Right Views
52. Seeing The World Beyond
53. Parami And Kamma
54. Silabbatupadana (Clinging To False Practices)
55. The Story Of Korakhatiya
56. Other Silabbata Practices
57. Attavadupadana (Clinging To Belief In Soul)


[08]

 

Thủ dẫn đến hữu

Câu chuyện Mandaka

Thủ và nghiệp hữu

Bổn sanh Puppharatta

Thiện nghiệp và phi thiện nghiệp

Nghiệp và tái sinh

Bốn loại nghiệp

Chuyện vua A-xà-thế

Thường nghiệpcận tử nghiệp

Sự sanh và khổ

Sầu khổta thán

Chuyện Subrahmadeva

Dục thủ có nghĩa tất cả những loại ái dục mãnh liệt

Kiến thủnguyên nhân của sự tái sinh

Mê tín và ác sinh

Cuồng tín

Giới cấm thủ

Ngã ngữ thủ

Chuyện ông Ugga

[08]

58. Clinging Leads To Becoming
59. Kammabhava
60. Upapattibhava
61. Story Of Mendaka
62. Upadana And Kammabhava
63. Puppharatta Jataka
64. Right And Wrong Good Kamma
65. Kamma And Rebirth
66. Four Kinds Of Kamma
67. Story Of Ajatasattu
68. Habitual And Death-Bed Kammas
69. Birth And Suffering
70. Grief And Lamentation
71. Story Of Subrahma Deva
72. Kamupadana Means All Kinds Of Excessive Craving
73. Attachment To Belief As The Cause Of Rebirth
74. Superstition And Evil Rebirth
75. Fanaticism Or Religious Upadana
76. Silabbatupadana - Attachment To Wrong Practices
77. Attavadupadana - Attachment to Ego-Belief
78. Story of Ugga


[09]

 

Thiền Minh sát và thủ

Luân hồi và ba thời

Năm nhân quá khứ

Sự khác biệt giữa hành và nghiệp hữu

Quả hiện tại do nhân quá khứ

Kiến thứcpháp hành Minh sát

Đoạn trừ các nhân hiện tại

Cách nhìn của vị A-la-hán về đời sống

Không phải sự đoạn diệt mà là sự chấm dứt đau khổ

Chuyện Tỳ khưu Yamaka

Câu khẳng định của Tỳ-khưu-ni Vajirà về bản chất của năm uẩn

[09]

79. Vipassana Practice and Upadana
80. Life-Cycle and Three Time Dimensions
81. Five Causes in the Past
82. Distinction between Sankhara and Kammabhava
83. Present Effect Due to Past Cause
84. Knowledge for Vipassana Practice
85. Removing the Present Causes
86. Arahat's Outlook On Life
87. Not Annihilation But Extinction Of Suffering
88. Story Of Yamaka
89. Bhikkhuni Vajira On The Nature Of Khandhas


[10]

 

Bốn nhóm, ba móc nối và hai mươi yếu tố

Ba luân hồi

Bốn phương diện của giáo lý duyên khởi

Quan niệm sai lầm của Sàti

Đặc tính riêng của mỗi pháp

Không có sự cố gắng

Sự liên quan giữa nhân và quả

Đoạn diệt phiền não luân hồi

A-la-hán và những đức tính cao quí của đức Phật

Câu chuyện về Phạm thiên Paka

Chánh biến tri

Danh tiếng của đức Phật

Tứ diệu đế tóm lượt

Chánh biến triđạo quả Phật

Tổng kết

[10]

90. Four Layers, Three Links And Twenty Factors
91. Three Cycles
92. Four Aspects Of Paticcasamuppada
93. The False View Of Sati
94. Distinctive Character Of Each Phenomenon
95. Absence Of Effort (Avyapara)
96. Relevancy Of Cause To Effect
97. Conclusion
98. Cutting Off The Cycle Of Defilements
99. Arahan And The Attributes Of The Buddha
100. Story Of Baka Brahma
101. Sammasambuddha
102. The Fame Of The Buddha
103. The Four Noble Truths In Brief
104. Sammasambuddha And Buddhahood
105. Summary


____________________


A Discourse on Paticcasamuppada 
(or The Doctrine of Dependent Origination)
1_PDFA Discourse on Paticcasamuppada.pdf (Whole Book)


____________________


Lời giới thiệu

 

Đại đức Minh Huệ có gửi tặng tôi bản thảo quyển kinh "Pháp Duyên Khởi" do Đại đức phiên dịch từ bản tiếng Anh của Aye Maung, được biên soạndiễn giải từ ngài Mahàsi Sayadaw, một bậc Đại Trưởng lão Tăng già xứ Miến Điện, với lời đề nghị tôi hoan hỉ viết lời giới thiệu về quyển kinh qua sự phiên dịch của Đại đức, để chư tôn Đức Tăng Ni và chư quý Phật tử xa gần xem đọc và tham cứu.

 

Nhận lấy quyển kinh, tôi thật ngần ngại trước lời đề nghị của Đại đức và cũng khó từ chối vì thiển nghĩ: điều gì mình chưa làm được cho Đạo Pháppháp hữu làm được và cậy nhờ mình hỗ trợ, thì tại sao lại không sách tấn khích lệ pháp hữu nhiệt tâm phụng sự cho sự nghiệp hoằng dương Phật pháp... Nơi đây, điều mà tôi rất ngần ngại đấy là tựa đề và nội dung của quyển kinh "Pháp Duyên Khởi". Mặc dù, trước đây tôi từng được học, được xem và nghiên cứu qua kinh điển, qua bao dịch phẩm của các soạn giả, nhưng căn cơ đi đôi cùng với sự hiểu biết về pháp môn này vẫn còn hạn hữu, mà lời giới thiệu cần cẩn trọng trong sự hiểu biết.

 

"Pháp Duyên khởi" còn được gọi là "Lý duyên khởi" hay "Pháp tùy thuộc phát sinh" hoặc "Pháp nhân quả liên quan" và người ta thường gọi chung là "Thập nhị nhân duyên". Đây là Pháp do chính chư Phật Chánh đẳng chánh giác chứng ngộ chứng đạt và khai thị tuyên thuyết minh hiển... đến nhân thiên hữu duyên với đạo mầu giải thoát. Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử truyền bá đạo Phật, các bậc cao Tăng thạc đức thánh phàm đã y giáo phụng hành chánh pháp và tùy vào trình độ uyên thâm pháp môn cao quý này, các ngài đã và đang tiếp nối nhau làm nhiệm vụ "tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự" quảng bá giáo lý duyên khởi đến người hữu duyên tầm đạo và học đạo bằng những phương tiện có được như thuyết giảng, biên soạn, dịch thuật...và ngài Mahàsi Sayadaw là một trong những bậc cao Tăng thạc đức ấy. Bên cạnh đó, với nhịp độ tiến hóa của nhân loại mỗi lúc mỗi cao rộng trên bình diện tư tưởngnhận thức về nhân sinh quan và vũ trụ quan trong cuộc sống, tất cả đã minh chứng và khẳng định được giáo lý đạo Phậtthực thểthực dụng cho nếp sống con người trên cả hai mặt vật chất lẫn tinh thần, nhất là góp phần đem lại sự bình yên cho đời sống tâm linh con người đối trước quy luật biến thiên của giòng đời, mà pháp môn Duyên khởi là điển hình.

 

Trung thành với thánh điển Nguyên thủy đã được chư Phật giảng giải về pháp môn Duyên khởi, các bậc thuyết giảng, biên soạn và dịch thuật... đã tùy theo trình độ căn cơ của người học Phật hoặc tham cứu, mà trình bày có thấp có cao, có đơn giảnchi tiết hoặc dẫn chứng tình tiết cụ thể nhằm giúp người xem học liễu ngộ giáo lý thâm diệu này. Mong rằng mỗi chúng ta được nhân duyên xem đọc quyển kinh Pháp duyên khởi, sẽ lãnh hội được ít nhiều đạo mầu giải thoát của chư Phật và đấy cũng là điều mong ước hoan hỉ nơi dịch giả.

 

Trong niềm hoan hỉ, tôi xin trân trọng giới thiệu dịch phẩm này đến quý vị

 

Pháp quang Tự, ngày 5.12.1999
Tỳ kheo Minh Giác

 

____________________

 


Dẫn Nhập

 

Namo Buddhàya.
Namo Dhammàya.
Namo Sanghàya.

 

Xin thành kính tán dương Đức Phật toàn tri.
Xin thành kính tán dương Giáo Pháp vi diệu.
Xin thành kính tán dương Chúng Tăng trọn lành.

 

Thưa quí vị,

 

Một bản chú giải mà khiến người đọc càng lúng túng thì đó không phải là chú giải. Ở đây, tập sách giảng giải về pháp Duyên Khởi của Ngài Mahàsi Sayadaw quả thật dễõ hiểu, rõ ràng, với nhiều ví dụ cụ thể. Tôi hy vọng rằng độc giả có thể dễ dàng lãnh hội.

 

Đây là bài pháp rất cao siêu, có khả năng đánh tan mọi tà kiến, giúp người tu Phật đặt niềm tin vững chắc vào cứu cánh -- Niết bàn giải thoát.

 

Suốt hai chục năm xuất gia cầu đạo, tôi hiểu rất mơ hồ về pháp này. Nhưng nhờ lối giảng giải bình dândễ hiểu của Thiền sư uyên bác Mahàsi sayadaw, tôi đã lĩnh hội được rất nhiều. Vì vậy tôi đã mạo muội dịch quyển sách này. Do đó, tôi dám nói rằng quí vị nào đọc và hiểu bài pháp này thì xem như đã học pháp được hai chục năm, nếu đọc một ngàn lần thì trí tuệ cũng tăng lên ngàn lần.

 

Chúc quí vị mau chóng lãnh hội được pháp duyên khởi này. Có một đoạn kinh trong bộ Diệu Pháp Liên Hoa của Bắc Tạng nói rằng: Có một đứa con được cha mẹ để lại viên ngọc quí trong lai áo mà cứ mãi đi lang thang từ nhà này sang nhà nọ để xin ăn. Cuối cùng, một người có trí đã chỉ cho thấy viên ngọc ấy. Viên ngọc là pháp duyên khởi, bậc trí tuệTrưởng lão Mahàsi sayadaw, và dĩ nhiên, Đức Phật là chủ nhân đầu tiên của viên ngọc.

 

Xin thành kính tri ân Trưởng lão Mahàsi Sayadaw, một bậc thầy có tâm từ bi rộng lớn trong thế hệ của chúng ta. Xin tri ân Đại đức Tăng Định đã tạo điều kiện giúp đỡ cho dịch phẩm được hoàn thành một cách tốt đẹp.

 

Dịch giả xin chân thành ghi nhận công đức:

 

Gia đình ông Vương văn Phát (Canada)
Gia đình bà Diệu Đài
Gia đình cô Bằng
Gia đình ông Huỳnh văn Sang (Germany)
Gia đình cô Mỹ lệ
Gia đình cô Nga (Từ Quang)
Cùng chư Phật tử xa gần đã hùn phước cho dịch phẩm này được xuất bản.

 

Nguyện cầu phước báu phát sinh trong công tác phiên dịch này thấu đến tất cả chư thiênnhân loại. Cầu mong cho tất cả chúng sanh sớm chấm dứt sinh tử luân hồi.

 

Mong thay!
Tỳ khưu Minh Huệ



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 11295)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 5270)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 6136)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 5005)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 4524)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 5080)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 5261)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 4445)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 4598)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 4763)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 4432)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 4995)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 4477)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 4905)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 4895)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 4677)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 5376)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 4775)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 4526)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 4210)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 4479)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 4344)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 4220)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 4559)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 4307)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 4854)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 6766)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 8522)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 5323)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 5492)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 4455)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 5612)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 11295)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 4267)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 4155)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 6864)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 6634)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng