[01]

06 Tháng Hai 20204:59 CH(Xem: 676)
[01]


Pháp Duyên Khởi

A Discourse on Paticcasamuppada 
(or The Doctrine of Dependent Origination)
Venerable Mahasi Sayadaw
Translated by U Aye Maung
Dịch: Tỳ kheo Minh Huệ (1999)
Nguồn: budsas.org

 

____________________

PhapDuyenKhoi_A

__________________

MỤC LỤC - CONTENTS 

[01]

 

Tầm quan trọng của giáo pháp

Phương pháp tỉnh giác của Bồ tát

Tùy thuận quán

Vượt ngoài lý luận và suy đoán

Pháp dành cho những người có trí

Khó lãnh hội

Thế nào là vô minh?

Vô minh về nguồn gốc của khổ

Vô minh về diệt đế và đạo đế

Chánh kiến

[01]


1. Importance Of The Doctrine

2. Reflection Of The Bodhisatta
3. Anuloma Reasoning
4. Beyond Reasoning And Speculation
5. Dhamma Is Only For The Wise
6. Difficulty Of Understanding
7. What Is Avijja (Ignorance)?
8. Ignorance Of The Origin Of Dukkha
9. Ignorance Of The Third And Fourth Noble Truths
10. Right View, Etc.


Tầm Quan Trọng Của Giáo Pháp

 

Duyên khởi là pháp rất quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Bồ tát của chúng ta đã thiền quán rất sâu đậm về pháp duyên khởi này khi Ngài suy xét về bản chất của kiếp sống và đã chứng ngộ giải thoát. Cũng như các vị Bồ tát khác, đầu tiên Bồ tát của chúng ta đã quán niệm về Lão và Tử khi Ngài sắp thành Phật ở kiếp chót. Chỉ sau khi thấy người già, người bịnh và người chết, Bồ tát của chúng ta mới thấy một vị Sa môn và do nhân đó mà từ bỏ thế gian để tầm cầu pháp không già và không chết. Ngài trông thấy những điều tệ hại của đời sống đang hiện hữu trong sự già, bịnh và chết.

 

Mọi chúng sanh điều muốn tránh những sự khổ này, nhưng chúng cứ mãi bám theo họ từ kiếp này sang kiếp khác, liên tục, không cùng tận. Trong chuỗi đời tử sanh vô tận, tất cả chúng sanh tựa như đang sống trong ngục tù trói trăn và phải nếm đủ mọi điều đắng cay, khổ lụy. Đời sống quả thật là chuỗi dài tử sanh vô định. Bây giờ hãy nhìn xem số phận bi thảm của gà vịt, một số bị người ta ăn thịt ngay khi còn nằm trong trứng, nếu thoát ra khỏi trứng thì chúng cũng chỉ sống thêm một thời gian ngắn, để rồi bị giết thịt. Chúng hiện hữu để bị giết chết, để làm vật thực cho loài người. Nếu số phận của một chúng sanh là phải bị giết hoài như vậy thì quả thậtđen tốiđáng sợ. Nhưng xem ra loài gà vịt rất vừa lòng với kiếp sống của chúng. Rõ ràng chúng rất yêu đời, kêu gáy rổn rảng, ăn và nô giỡn tung tăng, có khi chọi đá lẫn nhau. Có thể chúng cho rằng chúng có nhiều thời gian để sống, dẫu trên thực tế thời gian để chúng vui sướng chẳng được là bao. Quãng đời của chúng chỉ được tính bằng ngày hoặc tháng, sanh ra rồi chết sau một thời gian ngắn.

 

Thọ mạng của con người cũng vậy thôi, chẳng kể là bao. Đối với người đã sống năm mươi hoặc sáu mươi năm tưởng lại như mới hôm qua. Sáu mươi năm hoặc bảy mươi năm so với đời sống của một vị Chư thiên chỉ là một ngày, nhưng dưới mắt các vị Phạm thiên thì thời gian như vậy thật rất ngắn ngủi, vì họ sống lâu hằng đại kiếp của quả đất. Nhưng so với chuỗi luân hồi bất tận, đời sống của các vị Phạm-thiên chỉ được ví như một nháy mắt mà thôi. Chư thiên và Phạm thiên cuối cùng rồi cũng già và chết, dầu họ không hề bị bịnh hay có dấu hiệu lẩm cẩm, sự già lão vẫn âm thầm nuốt dần thời gian của họ. Tóm lại, mọi chúng sanh đều phải đối diện với cái già và cái chết, không ai có thể thoát khỏi những điều đau khổ của kiếp sống.

Importance Of The Doctrine

 

The doctrine of Paticcasamuppada or Dependent Origination is very important in Buddhism. The bodhisatta began with dependent origination when he reflected deeply on the nature of existence and attained Enlightenment. He first pondered old age and death as did every other bodhisatta when he was about to become the Buddha in his last existence. For it was only after seeing the old, the sick and the dead that the bodhisatta saw the ascetic (//samana//) and renounced the world in search of the ageless and the deathless Dhamma. He had seen the evils of life in old age, sickness and death.

 

Every living being wants to avoid these evils of life but there is no end to these evils which follow him in one existence after another. In view of this endless process of life, all living beings appear to be in bondage and subject to suffering. Life is in fact an infinite process of births and deaths. The fate of fowls and ducks is terrible indeed. Some are eaten up while still in the eggs. If they emerge from the eggs they do not live long but are killed when they grow up a little. They are born only to be killed for human consumption. If the fate of a living being is thus to be repeatedly killed it is gloomy and frightful indeed.

 

But the fowls and ducks appear to be well content with their lot in life. They apparently enjoy life, quacking, crowing, eating and fighting with one another. They may think that they have a lot of time to live although in fact they have little time to be happy, their life being a matter of days or months, with each of them coming into existence and then dying after a short time.

 

The span of human life, too, is not very long for the man in his fifties or sixties the past seems in retrospect as recent as yesterday. Sixty or seventy years on earth is a day in the life of a deva which is, however, very short in the eyes of a Brahma who may live as long as the duration of the worlds (//kappa//). But even the Brahma who outlives hundreds of worlds is insignificant and his life is short in the context of samsaric eternity. Devas and Brahmas, too, have to age and die eventually. Although they are not subject to sickness and marked dotage, age tells on them invisibly in due course of time. So every living being has to face old age and death and nobody can escape from these evils of life.


Phương Pháp Tỉnh Giác Của Bồ Tát

 

Khi tỉnh sát về nguồn gốc của lão tử, Bồ tát quán ngược chuỗi nhân duyên từ cuối đến bắt đầu. Lão tử có nguồn gốc là Tái sanh, mà Tái sanh do Nghiệp hữu làm duyên sanh, Nghiệp hữu phát sanh từ Thủ, Thủ thì do Ái làm duyên sanh, Ái phát sanh từ Thọ, Thọ phát sanh từ Thập nhị xứ (àyatana) như mắt, cảnh sắc, vân vân; Thập nhị xứ là sản phẩm của Danh sắc (nàmarùpa), Danh sắc là kết quả của Thức (vinnàna), Thức lại do Danh sắc làm duyên.

 

Những bài kinh Pàli mô tả đầy đủ về Pháp duyên khởi thì cho rằng: Thức do Hành và Hành do Vô minh, nhưng trong sự quán trạch của Bồ tát chỉ giới hạn trong sự tương duyên giữa Thức và Danh sắc, không xét đến mối liên hệ của phần trên với kiếp sống quá khứ. Do đó, chúng ta có thể cho rằng: đối với các hành giả chỉ cần quán xét đời sống hiện tại cũng đủ để đảm bảo sự thành công trong việc thực hành minh sát.

 

Reflection Of The Bodhisatta

 

Reflecting on the origin of old age, the bodhisatta traced back the chain of dependent origination from the end to the beginning. Old age and death have their origin in rebirth which in turn is due to //kammabhava// (condition or kamma for renewed existence). Kammabhava stems from grasping or attachment (upadana) which is caused by craving (tanha). Craving arises from feeling (vedana) which is produced by sense-bases (ayatana) such as eye, visual form, etc. Sense-bases are the product of nama-rupa (consciousness and corporeality) which results from //vinnana// (consciousness) which is again caused by //nama-rupa//.

 

The full Pali texts about Paticcasamuppada attribute vinnana to sankhara (kamma-formations) and sankhara to avijja (ignorance). But the bodhisatta's reflection is confined to the interdependence of //nama-rupa// and vinnana in the present life. In other words, he reflected on the correlation between vinnana and nama-rupa, leaving out of account the former's relation to past existence. We may assume, therefore, that for the yogis, reflection on the present life will suffice to ensure the successful practice of vipassana.


Tùy Thuận Quán (quán xuôi)

 

Bồ tát quán xét về mối tương duyên giữa Thức và Danh sắc như vầy: "Thức này chẳng có nguyên nhân nào khác ngoài Danh sắc. Do Danh sắc làm nhân, kết quả là Thức. Do duyên Thức, Danh sắc phát sanh. Từ mối tương duyên giữa Thức và Danh sắc mới có Sanh và Lão tử, có thể có những sự sanh nối tiếp nhau hay tử nối tiếp nhau".

 

Hơn nữa, Thức tạo ra Danh sắc, Danh sắc tạo ra các Xứ, các Xứ làm sanh khởi Xúc, Xúc dẫn đến Thọ, Thọ làm duyên cho Ái phát sanh, Ái sanh Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu cho kết quả là Tái-sanh dẫn đến Lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não và những loại khổ khác của thân tâm.

 

Rồi Bồ tát quán sự diệt của chuỗi nhân duyên: "Nếu không có Thức thì không thể có Danh sắc, nếu khôngDanh sắc thì không có các Xứ và cứ như thế". Sự diệt của mắt xích đầu tiên trong chuỗi nhân duyên dẫn đến sự chấm dứt khổ vốn theo sát chúng ta không ngừng trong vô số kiếp sống luân hồi. Sau khi quán sự sanh và diệt của chuỗi nhân duyên, Bồ tát quán về tánh chất của các thủ uẩn. Rồi Ngài chứng đắc lần lượt các Đạo quả từ Thánh đạocuối cùng trở thành Đức Phật Chánh biến tri. Chư vị Bồ tát đều chứng đắc Tối thượng giác sau khi thực hành pháp như vậy, các Ngài tự biết cách quán thế nào và quán cái gì, chẳng phải do ai khác chỉ dạy, do chính các pháp Ba-la-mật mà các Ngài đã tu tập viên thành trải qua vô số kiếp.

 

Anuloma Reasoning

 

The bodhisatta reasoned about the correlation between vinnana and nama-rupa thus: This vinnana has no cause other than nama-rupa. From nama-rupa there results vinnana; from vinnana there arises nama-rupa. Hence, from the correlation between vinnana and nama-rupa there arises birth, old age and death; there may be successive births or successive deaths.

 

Moreover vinnana causes nama-rupa; nama-rupa causes sense-bases (ayatana). From sense-bases there arises contact; contact leads to feeling; feeling gives rise to craving; craving to grasping; and grasping results in rebirth which in turn leads to old age, death, anxiety, grief and other kinds of mental and physical sufferings.

 

Then the bodhisatta reflected on dependent origination negatively. If there were no vinnana there could be no nama-rupa; if no nama-rupa, then no ayatana and so on. The negation of the first link in the chain of causation leads to the extinction of suffering that has beset us ceaselessly in the infinite series of samsaric existences. After this reflection on dependent origination in its positive and negative aspects, the bodhisatta contemplated the nature of the aggregates of grasping. Then he attained the successive insights and fruitions (magga-phala) on the Ariyan holy path and finally became the all-Enlightened Buddha. Every bodhisatta attained supreme Enlightenment after such contemplation. They did not learn what and how to contemplate from others but owing to cumulative potential (parami) that they had acquired through innumerable lifetimes, they contemplated as mentioned before and attained Enlightenment.


Vượt Ngoài Lý LuậnSuy Đoán

 

Khi đến lúc để Đức Phật lăn bánh xe Diệu pháp, Ngài suy xét như vầy: "Pháp mà ta đã chứng ngộ quả thật rất cao siêu, Pháp ấy khó liễu tri, cao siêu và dẫn đến an tịnh nội tâm. Không thể dùng trí phán đoán hay suy luận để thấy được pháp ấy. Pháp có tánh vi diệu và chỉ những bậc trí tuệ mới có thể giác ngộ được".

 

Các triết gia trên thế giới đã vận dụng mọi khả năng hiểu biết, để tìm con đường thoát ly già, bịnh và chết. Nhưng sự giải thoát khỏi những điều khổ này có nghĩa là Niết-bàn, mà Niết-bàn không thể dùng suy luận và sự hiểu biết thường tình để đạt đến được. Người ta chỉ có thể chứng ngộ Niết-bàn bằng pháp Trung đạo và Minh sát (vipassanà). Hầu hết các triết gia đều dựa vào lý trí và óc suy luận, căn cứ vào đó họ đã xây dựng nhiều học thuyết khác nhau với mục đích đem lại hạnh phúc cho chúng sanh. Nhưng vì những học thuyết này chỉ dựa vào suy luận nên không giúp người ta chứng ngộ tuệ quán. Chớ nói chi đến Niết-bàn là mục tiêu rốt ráo, ngay cả giai đoạn thấp nhất của tuệ quán, là tuệ Phân biệt danh sắc, cũng không thể đạt được bằng con đường suy luận.

 

Tuệ quán chỉ phát sanh trong tâm hành giả bằng sự tu tập về Chỉ và Quán. Qua đó, hành giả quan sát quá trình diễn tiến của danh-sắc theo đúng với pháp Tứ niệm xứphân biệt giữa thức và sắc, như tâm muốn co tay và tay co lại, hoặc tai với âm thanh là một mối và nhĩ thức là mối khác v.v... Trí tuệ như vậy không mơ hồ, không duy lý, nó sống động và thực nghiệm.

 

Kinh điển cho rằng danh sắc là một dòng trôi chảy liên tục, khuyên chúng ta nên quan sát sự sanh và diệt của chúng. Nhưng với người sơ cơ thì nói dễ hơn làm. Hành giả bước đầu phải cố gắng nhiều để vượt qua năm triền cái. Thoát khỏi năm triền cái chỉ giúp hành giả phân biệt danh và sắc mà thôi, nhưng không đảm bảo sẽ đạt được trí phân biệt sự sanh và diệt của chúng. Trí này chỉ đạt được sau khi đã tu tập Định và Tưởng đến mức kiên cố qua pháp Niệm. Thường xuyên niệm về sự sanh và diệt sẽ dẫn đến tuệ quán thấy vô thường, khổ và vô ngã của tất cả các pháp. Nhưng vì chỉ là sự khởi đầu của pháp Minh sát bậc thấp, nên tuệ này còn cách xa Đạo và Quả. Như vậy Pháp là cái gì đó vượt ngoài suy lý.

 

Beyond Reasoning And Speculation

 

Then when it was time to preach, the Buddha thought thus: This dhamma which I know is very profound. It is hard to understand; it is so sublime and so conducive to inner peace. It is not accessible to intellect and logic (atakkavacaro). It is subtle and it is to be realized only by the wise.

 

All over the world, philosophers have racked their brains about freedom from old age, sickness and death. But freedom from these evils means Nibbana and Nibbana is beyond the reach of reason and intellect. It is to be realized only through the practice of the middle way and vipassana. Most philosophers rely on intellect and logic, and there are various doctrines which they have conceived for the welfare of all living beings. But these doctrines are based on speculations that do not help anyone to attain vipassana insight, let alone the supreme goal of Nibbana. Even the lowest stage of vipassana insight, viz., insight into the distinction between nama and rupa does not admit any intellectual approach. The insight dawns on the yogi only when, with the development of concentration, and in accordance with Satipatthana method he watches the nama-rupa process and distinguishes between consciousness and corporeality, e.g. the desire to bend the hand and bent hand, the ear and the sound on the one hand and the consciousness of hearing on the other and so forth. Such knowledge is not vague and speculative; it is vivid and empirical.

 

It is said on the authority of scriptures that nama-rupas are in a constant flux and that we should watch their arising and passing away. But for the beginner this is easier said than done. The beginner has to exert strenuous effort to overcome hindrances (nivarana). Even freedom from nivarana helps him only to distinguish between nama and rupa. It does not ensure insight into their arising and passing away. This insight is attained only after concentration has been developed and perception has become keen with the practice of mindfulness. Constant mindfulness of arising and vanishing leads to insight into anicca, dukkha and anatta of all phenomena. But as merely the beginning of lower vipassana, this insight is a far cry from the path and its fruition. Hence the description of the dhamma as something beyond logic and speculation.


Pháp Dành Cho Những Người Có Trí

 

Pháp rất vi diệu (nipuna), chỉ những người có trí mới giác ngộ được (panditavedaniyo). Ở đây, bậc có trí là người có trí tuệ liên quan đến Vipassanà (minh sát) và Đạo quả. Pháp không thể có được trong trí suy luận của các triết gia, giáo chủ, văn sĩ hay các khoa học gia đại tài có thể chia chẻ nguyên tử. Nhưng pháp ấy có thể hiện ra trong tâm của bất cứ ai, bất luận nam nữ, tuổi tác hay học vấn, nếu người ấy có thực hành pháp quán về danh sắc khi chúng đang sanh khởi. Pháp ?y càng rõ ràng hơn tromg tâm của những người đang trải qua các giai đoạn của tuệ quánchứng đắc Thánh đạo cùng Thánh quả.

 

Khi dò xét căn tánh của tất cả chúng sanh, Đức Phật thấy rằng hầu hết chúng sanh đều bị thâm nhiễm dục lạc. Dĩ nhiên cũng có một vài ngoại lệ, như năm người bạn đồng tu với Thái tử Sĩ Đạt Ta trong khu rừng khổ hạnh hay hai vị Bà la môn mà về sau trở thành hai đại đệ tử của Đức Phật. Còn đa số nhân loại đều xem dục lạc là nguồn hạnh phúc lớn nhất trong đời. Họ giống như những đứa trẻ suốt ngày vui thích với nhũng món đồ chơi của trẻ con mà không có ý nghĩa gì đối với những người lớn tuổi, nhưng những người lớn tuổi cũng tìm khoái lạc trong những trò chơi nhục dục của thế gian. Dục lạc như vậy không còn hấp dẫn chư Phật và chư vị A-la-hán. Những kẻ phàm phuchư Thiên đều quí trọng nó,vì họ không thấy được những giá trị cao hơn như các tầng thiền, minh sát và Niết-bàn.

 

Người vui thích với dục lạc như vậy được ví như người nông dân sống ở miền nông thôn hẻo lánh. Dưới mắt những người thành thị thì những vùng như vậy được xem là những nơi lạc hậu, nghèo nàn, tối tăm và bịnh hoạn, nhưng dân chúng ở miền quê thì thấy hạnh phúc thoải mái và không hề có ý xa rời quê hương của mình. Chư thiênnhân loại vui thích trong dục lạc cũng giống như những người dân quê ấy, dù Giáo pháp của Đức Phật như thế nào chăng nữa, họ cũng chỉ thích lạc thú của thế giansuốt đời đắm chìm trong đó. Thiếu vật dục thì họ cảm thấy không thoải mái, họ rất say mê và bận bịu với gia đình, tài sản, người ăn kẻ ở, đến nỗi họ không thể nghĩ gì cao siêu hơn mớ dục lạc đang nhan nhãn trước mắt họ.

 

Chính vì sự say mê dục lạc nên họ khó có thể hiểu được pháp Duyên khởi và Niết-bàn vi diệu thậm thâm.

Dhamma Is Only For The Wise

 

The dhamma is subtle (nipuno); it is to be realized only by the wise (panditavedaniyo). Here the wise means only those who have wisdom (panna) relating to vipassana and the path and its goal. The dhamma has nothing to do with the secular knowledge //per se// possessed by world philosophers, religious founders, writers or great scientists who can split atoms. But it can be realized by any one irrespective of sex, age or education; anyone who contemplates nama-rupa at the moment of their arising, passes through vipassana insights progressively and attains the Ariyan path and its goal.

 

Taking stock of the nature of all living beings, the Buddha found that most of them were mired in sensual pleasure. There were of course a few exceptions like the five companions of Siddhattha in the forest retreat or the two brahmins who were later to become the two chief disciples of the Buddha. But the majority of mankind regard the enjoyment of pleasure as the summum bonum of life. They are like children who delight in playing with their toys the whole day. The child's toys and games make no sense to adults but grown-up people too derive pleasure from the toys of the sensual world, that is, from the company of their children and grand-children. Such sensual pleasure has no appeal for Buddhas and Arahats. It is highly esteemed by ordinary men and devas because they have no sense of higher values such as jhana, vipassana and Nibbana.

 

A person who is thus fond of sensual pleasure may be likened to a peasant living in out-of-the-way rural areas. To the urbanites those places are wholly devoid of the amenities of life, what with poor food, poor clothes, dirty dwellings, muddy footpaths and so forth. But the villagers are happy and they never think of leaving their native place. Likewise, common people and devas delight in their sensual objects. Whatever the teaching of the Buddha and the Arahats, they love pleasure and spend all their time indulging in it. They feel ill at ease in the absence of sensual objects. They are so much pleased with their families, attendants and possessions that they cannot think of anything higher than sensual pleasure. Because of their deep rooted love of pleasure, it is hard for them to understand or appreciate the subtle, profound Paticcasamuppada and Nibbana.


Khó Lãnh Hội

 

Giáo pháp của Đức Phật sở dĩ ít hấp dẫn đại đa số vì pháp ấy đi ngược với lòng ham nuốn dục lạc của họ. Dầu một bài pháp đơn giản họ cũng không thích chớ nói chi đến bài pháp về Niết-bàn, vì pháp ấy không có hương vị của dục lạc. Xem ra họ không thích thú trong bài pháp của chúng tôi, bởi vì không hoa văn ướt át, không có những câu chuyện tình tứ lâm ly, những chuyện tiếu lâm giải trí và những điều hấp dẫn khác. Những ai đã thực hành minh sát hay muốn học hỏi giáo pháp để đoạn diệt ô nhiễm, chỉ những người ấy mới chấp nhận giáo pháp của Đức Phật. Nhưng nếu xem thường những bài pháp có chứa những câu chuyện ngụ ngôn khôi hài là điều sai lầm, vì đó là những bài học đạo đức thâm thúy.

 

Về cơ bản, những bài kinh khác với những bài pháp phổ thông, nội dung của những bài kinh ấy có ý nghĩa rất thâm sâu như: kinh Vô ngã tướng, kinh Đại niệm xứ... Giáo lý Duyên khởi cũng thuộc về Tạng kinh. Giáo lý ấy phải được xem là Thắng pháp (abhidhamma) vì pháp ấy được thuyết theo cách của Tạng luận (abhidhammapitaka).

 

Vì bài pháp của chúng tôi là bài pháp không kém phần cao siêu, nên một số người lầm lẫn cho đó là Thắng pháp và không thể lãnh hội được, càng khó hơn là Đạo và Niết-bàn mà pháp ấy nhấn mạnh đến. Giáo lý duyên khởi sở dĩ khó hiểu vì bàn về mối tương quan giữa nhân và quả, trước khi Đức Phật tuyên thuyết chánh pháp thì sự thật này khó được công nhận.

 

Các bộ chú giải cũng nêu ra tính chất cao siêu của giáo pháp. Theo các bộ chú giải này, có bốn pháp khó hiểu đó là: Tứ diệu đế, bản chất của chúng sanh, bản chất của sự tái sanh và pháp Tùy thuộc duyên khởi. Khó hiểu được khổ đế, tập đế, diệt đếkhổ diệt đạo đế, khó đi sâu vào bốn chân lý này, giảng giải bốn chân lý ấy đến mọi người lại càng khó khăn hơn.

 

Thứ hai khó hiểu được rằng: chúng sanh là một tiến trình danh sắc đang diễn ra mà không có cái ta riêng biệt nào, tổng hợp của danh sắc phải đi theo định luật nghiệp báo, là định luật quyết định số phận sau này của mỗi chúng sanh tùy theo ác nghiệp hay thiện nghiệpchúng sanh ấy đã gieo tạo.

 

Thứ ba, khó thấy được rằng sự tái sanh xảy ra do kết quả của phiền não và nghiệp mà không có sự chuyển di của danh sắc từ kiếp sống trước.

 

Cuối cùng, hiểu được pháp duyên khởi cũng khó như thế. Pháp này bao gồm cả ba pháp trên. Phương tiện tiêu cực của nó liên quan đến hai Thánh đế đầu tiên cũng như bản chất của chúng sanh và sự tái sanh, trong khi đó phương tiện tích cực của pháp duyên khởi thì bao gồm hai Thánh-đế sau. Do vậy, pháp duyên-khởi khó thủ đắc nhất, lại càng khó diễn giải, có lẽ dễ dàng hơn, nếu đem pháp này giảng dạy cho người đã đạt đến Đạo quả và Niết-bàn, hay người đã học Tam tạng, nhưng với người chưa chứng đắc gì hoặc chưa có kiến thức về Kinh tạng thì sự truyền đạt chẳng được bao nhiêu.

 

Người biên soạn chú giải về giáo pháp là người có đủ trình độ giải thích giáo pháp, vì người ấy có thể đã chứng đắc các Đạo bậc thấp hoặc đã thông suốt Tam tạng.

 

Sở dĩ nhà chú giải nêu ra tính chất khó hiểu của giáo pháp là để lớp hậu thế học hỏi, nghiên cứu giáo pháp một cách nghiêm túc. Vị ấy ví tánh chất khó hiểu như thế giống như cảnh ngộ bi đát của người nhảy xuống biển mà không thể lặn xuống đáy. Nhà chú giải cũng tự thú nhận rằng: Vị ấy biên soạn chú giải dựa vào Tam tạng và những bộ chú giải cổ xưa đã được truyền lại bằng miệng theo đúng truyền thống. Pháp trình bày của chúng tôi cũng như thế ấy, vì pháp này khó giải thích nên hành giả cần phải tịnh tâm chú ý hết sức để tiếp thu. Nếu hành giả theo dõi pháp một cách hời hợt thì sẽ không hiểu được gì cả và không có kiến thức sâu đậm về giáo pháp, phải tiếp tục lang thang trong rừng hoang dã của kiếp sống luân hồi.

 

Phần chính của pháp duyên khởi như sau:

 

Do vô minh, hành sanh.
Do duyên hành, thức tái sanh của kiếp sống mới sanh khởi.
Do duyên thức, danh sắc sanh.
Do duyên danh sắc, lục xứ sanh.
Do duyên xứ, xúc sanh.
Do duyên xúc, thọ sanh.
Do duyên thọ, ái sanh.
Do duyên ái, thủ sanh.
Do duyên thủ, nghiệp hữu sanh.
Do duyên hữu, tái sanh sanh sanh.
tái sanh dẫn đến lão tử, sầu, bi và ta thán.
Toàn bộ khối đau khổ phát sanh lên như thế.

Difficulty Of Understanding

 

The Buddha-dhamma makes little appeal to the masses since it is diametrically opposed to their sensual desire. People do not like even an ordinary sermon, let alone a discourse on Nibbana, if it has no sensual touch. They do not seem interested in our teaching and no wonder, since it is devoid of melodious recitation, sentimental stories, hilarious jokes and other attractions. It is acceptable only to those who have practised //vipassana// or who seek the dhamma on which they can rely for methods of meditation and extinction of defilements.

 

But it is a mistake to deprecate, as some do, the sermons containing stories, jokes, etc., as sutta sermons. Suttas differ basically from popular sermons in that they are profound, as witness Anattalakkhana sutta, Satipatthana sutta and so forth. The doctrine of Dependent Origination too belongs to Sutta Pitaka. It is to be labelled Abhidhamma only because it is preached in the fashion of Abhidhamma Pitaka.

 

Since our teaching is unadulterated dhamma, some people confuse it with Abhidhamma and cannot follow it, much less grasp the Path and Nibbana which it emphasizes. Paticcasamuppada is hard to understand because it concerns the correlations between causes and effects. There is no ego entity that exists independently of the law of causation. It was hard to accept this fact before the Buddha proclaimed the dhamma.

 

The commentaries also point out the abstruse character of the doctrine. According to them there are four dhammas which defy understanding, viz., the four noble truths, the nature of a living being, the nature of rebirth and dependent origination.

 

It is hard to understand and accept the truth of suffering, the truth about its cause, the truth about its cessation and the truth about the way to its extinction. It is hard to appreciate these truths, still harder to teach them to other people.

 

Secondly, it is hard to understand that a living being is a nama-rupa process without any separate self, that the nama-rupa complex is subject to the law of kamma that determines a man's future life according to his good or bad deeds.

 

In the third place, it is hard to see how rebirth takes place as a result of defilement and kamma without the transfer of nama-rupa from a previous life.

 

Lastly, it is equally hard to understand Paticcasamuppada. It involves the above three abstruse dhammas. Its negative aspect concerns the first two noble truths as well as the nature of a living being and rebirth while its positive aspect involves the other two truths. Hence, it is most difficult to grasp or teach the doctrine. It may be easy to explain it to one who has attained the path and Nibbana or one who has studied the Pitaka but it will mean little to one who has neither the illumination nor scriptural knowledge.

 

The writer of the commentary on the doctrine was qualified to explain it because he might have attained the lower stages of the path or he might have a thorough knowledge of the Pitaka. He refers to its difficulty probably in order that its exposition might be seriously studied by posterity. He likens the difficulty to the plight of a man who has jumped into the sea and cannot get to the bottom. He admits that he has written the exegesis on the basis of the Pitaka and the old commentaries handed down by oral tradition. The same may be said of our teaching. Since it is hard to explain the doctrine, the yogi should pay special attention to it. If he follows the teaching superficially, he will understand nothing and without a fair knowledge of the doctrine, he is bound to suffer in the wilderness of samsaric existence.

 

The substance of the Paticcasamuppada teaching is as follows.

 

From ignorance there arises sankhara (effort or kamma-formation). From kamma-formation there arises consciousness of the new existence. Consciousness gives rise to psycho-physical phenomena or nama-rupa. Nama-rupa leads to ayatana (six bases). From ayatana arises the phassa (impression). Phassa causes feeling; feeling leads to craving. From craving there results clinging (upadana). Because of clinging there is the process of becoming (kamma-bhava), from the process of becoming there arises rebirth (jati) and rebirth leads to old age, death, sorrow, grief and lamentation. Thus arises the whole mass of suffering.


Thế Nào Là Vô Minh?

 

Theo kinh Phật dạy, vô minh là không biết bốn Thánh đế, tức là không biết khổ đế, không biết tập đế, không biết diệt đế, và không biết đạo đế. Xét về ý nghĩa tích cực, vô minh có nghĩa là quan niệm sai lầm hay ảo tưởng. Nó khiến chúng ta lầm tưởng cái sai và không thật là đúng và có thật, nó dẫn chúng ta đi sai đường, do đó nó được gọi là tà hành vô minh (micchàpatipatti-avijjà).

 

Vô minh khác với sự ngu dốt bình thường, không biết tên của một người hay một ngôi làng nào đó thì chưa gọi là hiểu sai, trong khi vô minh trong pháp duyên khởiý nghĩa rộng hơn sự ngu dốt, nó có trạng thái lầm lạc như người hoàn toàn mất khả năng định hướng, lầm lẫn hướng Đông là hướng Tây, hướng Nam là hướng Bắc, người không biết chân lý về khổ thường lạc quan về đời sốngbản chất thực sự của nó đầy đau khổ.

 

Tìm chân lý về khổ trong kinh sách quả là điều sai lầm, điều ấy chỉ được tìm thấy trong bản thân của chính mình mà thôi. Sự thấy, sự nghe hay nói chung, tất cả danh sắc đang sanh lên từ sáu căn đều là khổ, sự hiện hữu của các pháp đều mang tính chất vô thường, bất lạc và không đáng ưa thích, nó có thể diệt mất bất cứ lúc nào, nên tất cả đều là khổ, nhưng với người xem sự hiện hữu của họ là phúc lạc thì khó giác ngộ cái lý về sự khổ. Như vậy, họ tầm cầu các cảnh lạc, sắc khả ái, tiếng khả ái, vật thực tốt v.v... Mọi cố gắng đạt cho được những thứ mà họ cho là tốt đẹp trong cuộc sống đều xuất phát từ ảo tưởng về đời sống của họ.

 

Vô minh ở đây giống như cái kính màu xanh che mắt, khiến con ngựa ăn nhằm cỏ khô lại tưởng là cỏ non. Chúng sanh chìm đắm trong dục lạc, vì họ nhìn mọi thứ qua cặp kính màu hồng, họ mang nặng ảo tưởng về dục trầndanh sắc (bản thânthế giới chung quanh).

 

Cũng như người mù dễ bị người ta lừa gạt, một người nào đó bán cho ông ta một món hàng, y bảo đó là vật đắc giá kèm theo những lời tô son vẽ phấn khác, người mù tin thật và suốt ngày yêu thích, gìn giữ vật ấy. Chỉ khi nào mắt sáng trở lại, anh ta sẽ nhận ra tính chất giả tạm của món đồ và sẽ quăng bỏ ngay vật ấy. Cũng vậy, người bị vô minh che mờ, đam mê đời sống mà không biết tánh chất vô thường, khổ và vô ngã của nó, chỉ khi nào thực hành pháp quán về danh sắc, nhờ đó người kia mới thấy được tánh chất bất thiện và đầy đau khổ của kiếp sống, khi ấy anh ta mới tỉnh ngộ.

 

Pháp quán danh sắc hay thiền Minh sát không nằm trong kiến thức của sách vở, đó là cái nhìn thông suốtquan sát không gián đoạn quá trình đang diễn ra của danh sắc, tức là các cảnh trần và những tâm thức tương ứng. Pháp hành này giúp hành giả nhận biết đầy đủ về bản chất của chúng. Khi sự định tâm được phát triển mạnh, hành giả sẽ thấy rõ tánh chất đang sanh và đang diệt rất nhanh của chúng, nhờ đó đắc được tuệ quán về tánh chất vô thường, khổ và vô ngã của chúng.

 

Vô minh làm chúng ta mê mờ, không thấy được bản chất hiện thực, vì chúng ta không chánh niệm. Thất niệm làm sanh khởi ảo tưởng, cho rằng có đàn ông, đàn bà, tay, chân... Xét theo ý nghĩa thường dùng của các tên gọi. Chúng ta không biết rằng sự thấy (đây là ví dụ) chỉ là quá trình của danh và sắc hay quá trình của tâm lývật lý rằng, các pháp có sanh và có diệt, tức là có tánh chất vô thường, bất toại nguyệnvô ngã.

 

Người không hề thực hành thiền quán cuối cùng nhắm mắt mà chẳng biết gì về danh sắc. Người có chánh niệm sẽ nhận thấy bản chất của quá trình danh sắc, nhưng ở giai đoạn đầu, tuệ quán chưa phát sanh được vì định chưa phát triển mạnh. Vô minh hay con đường diễn tiến tự nhiên của tâm thức thường đi trước pháp quán, nên hành giả tu tập bước đầu không đạt được tuệ quán về bản chất của danh-sắc. Chỉ khi nào pháp hành được kiên cố, khi ấy Định và Tưởng mới mạnh và dẫn đến tuệ quán.

 

Ví dụ: Trong khi đang thực hành pháp Niệm, nếu hành giả cảm thấy ngứa, vị ấy chỉ biết trạng thái đang ngứa đó thôi, không nghĩ là tay ngứa, chân ngứa hay chỗ nào bị ngứa, cũng không nghĩ rằng: "Ta ngứa", chỉ có cảm thọ ngứa đang sanh khởi liên tục mà thôi. Cảm thọ ấy không kéo dài mãi, mà diệt mất khi hành giả chú tâm niệm vào đó. Tâm quan sát ghi nhận đúng lúc mỗi hiện tượng của danh và sắc, không để cho ảo tưởng về tay, chân, v.v... Sanh khởi lên.

 

Vô minh ngự trị con người không có chánh niệm và làm cho người ấy không thấy được bản chất bất toại nguyện của tất cả cảnh trần, nó thay khổ bằng lạc. Thật ra, Vô minh có hai ý nghĩa: không biết cái chân thựcquan niệm sai lầm làm méo mó bản chất của hiện thực.

 

Vì không biết sự thật của khổ (khổ đế) nên người ta mới tầm cầu dục lạc. Như vậy, Vô minh dẫn đến cố gắng tạo nghiệp, tức là Hành (Sankhàra). Theo các bài kinh thì do Vô minh, Hành sanh. Nhưng có hai mắt xích là Ái và Thủ ở giữa Vô minh và Hành. Vô minh làm duyên cho Ái sanh khởi, rồi Ái phát triển thành Thủ, Ái và Thủ nảy sanh từ lòng tham muốn khoái lạc và rõ ràng được nêu ra ở phần giữa của giáo lý duyên khởi. Khi quá khứ được mô tả đầy đủ, thì Vô minh, Ái, Thủ, Nghiệp hữu và Hành được nói đến.

What is Avijja (Ignorance)?

 

According to the Buddha, avijja is ignorance of the four Noble Truths, viz., the truths about suffering, its cause, its cessation and the way to its cessation. In a positive sense avijja implies misconception or illusion. It makes us mistake what is false and illusory for truth and reality. It leads us astray and so it is labelled //miccha-patipatti-avijja//.

 

Avijja, therefore, differs from ordinary ignorance. Ignorance of the name of a man or a village does not necessarily mean misinformation whereas the avijja of Paticcasamuppada means something more than ignorance. It is misleading like the ignorance of a man who has lost all sense of direction and who, therefore, thinks that the east is west or that the north is south. The man who does not know the truth of suffering has an optimistic view of life that is full of dukkha (pain and evil).

 

It is a mistake to seek the truth of dukkha in the book for it is to be found in one's own body. Seeing, hearing, in short, all nama-rupa arising from the six senses are dukkha. For this phenomenal existence is impermanent, undesirable and unpleasant. It may end at any time and so all is pain and suffering. But this dukkha is not realized by living beings who look upon their existence as blissful and good.

 

So they seek pleasant sense-objects, good sights, good sounds, good food, etc. Their effort to secure what they believe to be the good things of life is due to their illusion (avijja) about their existence. Avijja is here like the green eye-glass that makes a horse eat the dry grass which it mistakes for green grass. Living beings are mired in sensual pleasure because they see every thing through rose-coloured glasses. They harbour illusions about the nature of sense-objects and nama-rupa.

 

A blind man may be easily deceived by another man who offers him a worthless longyi, saying that it is an expensive, high quality longyi. The blind man will believe him and he will like the longyi very much. He will be disillusioned only when he recovers his sight and then he will throw it away at once. Likewise, as a victim of avijja, a man enjoys life, being blind to its anicca, dukkha and anatta. He becomes disenchanted when introspection of nama-rupa makes him aware of the unwholesome nature of his existence.

 

Introspection of nama-rupa or vipassana contemplation has nothing to do with bookish knowledge. It means thorough watching and ceaseless contemplation of all psycho-physical phenomena that comprise both the sense-objects and the corresponding consciousness. The practice leads to full awareness of their nature. As concentration develops, the yogi realizes their arising and instant vanishing, thereby gaining an insight into their anicca, dukkha and anatta.

 

Avijja makes us blind to reality because we are unmindful. Unmindfulness give rise to the illusion of man, woman, hand, leg, etc., in the conventional sense of the terms. We do not know that seeing, for instance, is merely the nama-rupa or psycho-physical process, that the phenomenon arises and vanishes, that it is impermanent, unsatisfactory and unsubstantial.

 

Some people who never contemplate die without knowing anything about nama-rupa. The real nature of nama-rupa process is realized by the mindful person. But the insight does not occur in the beginning when concentration is not yet developed. Illusion or the natural way of consciousness precedes contemplation and so the beginner does not gain a clear insight into the nature of nama-rupa. It is only through steadfast practice that concentration and perception develop and lead to insight-knowledge.

 

If, for example, while practising mindfulness, the yogi feels itchy, he is barely aware of being itchy. He does not think of the hand, the leg, or any other part of the body that is itchy nor does the idea of self as the subject of itchiness, "I feel itchy" occur to him. There arises only the continuous sensation of itchiness. The sensation does not remain permanent but passes away as he notes it. The watching consciousness promptly notes every psycho-physical phenomenon, leaving no room for the illusion of hand, leg and so on.

 

Illusion dominates the unmindful person and makes him blind to the unsatisfactory nature (dukkha) of all sense-objects. It replaces dukkha with sukha. Indeed avijja means both ignorance of what is real and mis-conception that distorts reality.

 

Because he does not know the truth of dukkha, man seeks pleasant sense-objects. Thus ignorance leads to effort and activity (sankhara). According to the scriptures, because of avijja there arises sankhara but, there are two links, viz., tanha and upadana between them. Ignorance gives rise to craving (tanha) which later on develops into attachment (upadana). Craving and attachment stem from the desire for pleasure and are explicitly mentioned in the middle part of the doctrine of Paticcasamuppada. When the past is fully described, reference is made to avijja, tanha, upadana, kamma and sankhara.


Vô Minh Về Nguồn Gốc Của Khổ

 

Chúng sanh không biết rằng ái dục là nguồn gốc của khổ, ngược lại, họ cho rằng chỉ có đam mê mới làm cho họ hạnh phúc, không có đam mê thì đời sống thật là buồn chán. Vì thế, họ không ngừng tầm cầu dục lạc, vật thực, y phục, thân hữu, v.v... Nếu không có những thứ nầy thì họ cảm thấy không thoải máiđời sống đối với họ trở nên đơn điệu.

 

Phần đông đều cho rằng đời sống mà không có sự lạc quan yêu đời thì quả thật hoàn toàn mất hết khoái lạc. Chính ái dục che mờ tánh chất bất lạc của đời sống và tạo ra hương vị khoái lại cho cuộc đời, nhưng đối với vị A-la-hán đã đoạn trừ ái dục thì sự vui thích với cuộc sống không hề xảy ra, vị ấy hằng hướng đến Niết-bàn, là sự chấm dứt hoàn toàn tất cả khổ.

 

Ái dục không thể gây ảnh hưởng nhiều đối với những hành giả đã thực hành thuần thục pháp thiền Minh sát. Vì thế, một số hành giả không còn ham thích đời sống nhiều như trước kia. Sau khi hành thiền ở thiền đường hay chỗ tịnh cư nào đó trở về nhà, họ cảm thấy chán cảnh gia đình và sự chung đụng. Trước mắt mọi người, vị hành giả trông như lạnh nhạt với môi trường chung quanh, nhưng trên thực tế, hành vicử chỉ của người ấy là dấu hiệu đánh mất sự vui thích trong thế giới hiện tại. Nhưng nếu hành giả ấy vẫn chưa vượt qua được dục lạc, thì trạng thái yểm ly ấy chỉ có tánh chất tạm thời và đến một lúc nào đó anh ta sẽ tự thích ứng với đời sống gia đình. Người nhà của anh ta không cần phải lo lắng về thái độ khác thường ấy, vì có mấy ai trên đời mà không ưa thích đời sống thế tục. Như vậy, hành giả nên tự xét mình đã thật sự yểm ly thế gian được bao nhiêu? Nếu tâm vẫn còn vương vấn dục lạc, hành giả nên tự thấy mình vẫn còn ở trong gọng kềm của ái dục.

 

Sống mà không có ái dục, chúng ta sẽ cảm thấy vô vị. Với sự tham dự của Vô minh, ái dục khiến chúng ta không thấy được khổ và cho chúng ta cặp kính màu hồng để nhìn thấy thế gian là lạc. Cho nên chúng ta tầm cầu các nguồn dục lạc một cách điên cuồng. Chúng ta hãy xét sự ưa thích phim ảnh, ca kịch của mọi người. Những trò giải trí này làm hao phí khá nhiều thì giờ và tiền bạc, nhưng ái dục đã làm cho họ không thể cưỡng lại được. Đối với người không thích chúng thì những trò giải trí ấy là những nguồn đau khổ.

 

Một ví dụ rõ ràng hơn là sự hút thuốc. Người hút thuốt thích hít mùi thơm của thuốc lá, nhưng người không hút thuốc thì xem đó là cái khổ tự mình chuốc lấy, không hút thuốc thì không bị những phiền toái của người hút thuốc. Ái dục là nguồn gốc của đau khổ, cũng có thể thấy được nơi người nhai trầu. Có nhiều người thích nhai trầu, nhưng trên thực tế, đó là thói quen đầy phiền toái.

 

Cũng như người nghiền thuốc lá và nhai trầu, mọi người đều tìm cách làm thoả mãn ái dục, sự cố gắng khơi dậy ái dục nầy là động lực chính của sự tái sanh, dẫn đến già, bệnh và chết.

 

Khổ và nguyên nhân của khổ, tức là ái dục, hiển nhiên trong đời sống hằng ngày. Nhưng khó thấy được hai sự thật nầy vì chúng rất thâm sâu và người ta không thể biết được chúng qua suy quán, chỉ có thể biết được qua pháp hành Minh sát.

Ignorance Of The Origin Of Dukkha

 

People do not know that craving is the origin (samudaya) of suffering. On the contrary they believe that it is attachment that makes them happy, that without attachment life would be dreary. So they ceaselessly seek pleasant sense-objects, food, clothing, companions and so forth. In the absence of these objects of attachment they usually feel ill at ease and find life monotonous.

 

For common people life without attachment would be indeed wholly devoid of pleasure. It is tanha that hides the unpleasantness of life and makes it pleasant. But for the Arahat who has done away with tanha, it is impossible to enjoy life. He is always bent on Nibbana, the cessation of conditioned suffering.

 

Tanha cannot exert much pressure even on the yogis (meditators) when they become absorbed in the practice of vipassana. So some yogis do not enjoy life as much as they did before. On their return from meditation retreat they get bored at home and feel ill at ease in the company of their families. To other people the yogi may appear to be conceited but in fact his behaviour is a sign of loss of interest in the workaday world. But if he cannot as yet overcome the sensual desire, his boredom is temporary and he usually gets re-adjusted to his home life in due course. His family need not worry over his mood or behaviour for it is not easy for a man to become thoroughly sick of his home life. So the yogi should examine himself and see how much he is really disenchanted with life. If his desire for pleasure lingers, he must consider himself still in the grip of tanha.

 

Without tanha we would feel discomfited. In conjunction with avijja, tanha makes us blind to dukkha and creates the illusion of sukha. So we frantically seek sources of pleasure. Consider, for example, men's fondness for movies and dramatic performances. These entertainments cost time and money but tanha makes them irresistible although to the person who has no craving for them they are sources of suffering.

 

A more obvious example is smoking. The smoker delights in inhaling the tobacco smoke but to the non-smoker it is a kind of self-inflicted suffering. The non-smoker is free from all the troubles that beset the smoker. He leads a relatively care-free and happy life because he has no craving for tobacco. Tanha as the source of dukkha is also evident in the habit of betel-chewing. Many people enjoy it although in fact it is a troublesome habit.

 

Like the smoker and the betel-chewer, people seek to gratify their craving and this tanha-inspired effort is the mainspring of rebirth that leads to old age, sickness and death.

 

Suffering and desire as its cause are evident in everyday life but it is hard to see these truths for they are profound and one can realize them not through reflection but only through the practice of vipassana.


Vô Minh Về Diệt ĐếĐạo Đế

 

Vô minh cũng có nghĩa là không biết về sự chấm dứt khổ và đạo diệt khổ. Hai chân lý này cũng thâm diệu và khó hiểu, vì sự chấm dứt khổ liên quan đến Niết-bàn, mà chỉ qua Thánh đạo mới giác ngộ được, và Đạo đế chỉ có thể biết được đối với hành giả đã chứng đạo mà thôi. Cho nên phần đông bị Vô minh về hai chân lý này cũng không lấy gì làm ngạc nhiên.

 

Ở đâu cũng có vô minh về sự chấm dứt khổ, vì thế nhiều tôn-giáo đã mô tả mục tiêu tối thượng "chấm dứt khổ" qua nhiều cách khác nhau. Một số cho rằng đến đúng thời kỳ khổ tự nhiên chấm dứt, số khác cho rằng dục lạctốt đẹp nhất và bác bỏ quan niệm kiếp sống vị lai. Sở dĩ có nhiều niềm tin khác nhau như vậy là do Vô minh, không thấy Niết-bàn thật sự, ngay cả những người tu Phật, một số cũng chấp rằng Niết-bàn là một cõi cực lạc hay một loại thiên đàng nào đó và đã có nhiều cuộc tranh luận về Niết-bàn.

 

Trên thực tế, Niết-bàn là sự chấm dứt hoàn toàn quá trình sanh diệt của danh sắc đã xảy ra không ngừng dựa trên cơ sở mối quan hệ nhân quả. Như vậy, theo lý duyên khởi thì Vô minh, Hành... tạo tiền đề cho danh sắc... sanh khởi. Quá trình nhân quả này có liên quan đến Lão tử và những điều khổ khác trong đời sống. Nếu Vô minh diệt tắtThánh đạo thì những kết quả từ đó cũng diệt theo và kéo theo sự diệt tắt mọi đau khổ. Sự chấm dứt hoàn toàn đau khổ như vậy là Niết-bàn.

 

Ví dụ: Cây đèn được châm thêm dầu sẽ tiếp tục cháy, nhưng nếu nguồn nhiên liệu bị cắt đứt thì ngọn đèn sẽ tắt hoàn toàn. Cũng vậy, đối với vị hành giả đã chứng đắc Niết-bàn, tất cả mọi nguyên nhân như Vô minh... đều bị diệt tận và tất cả những kết quả nối theo như Tái sanh cũng bị diệt tận, đó là sự chấm dứt khổ hoàn toàn, tức là Niết-bàn.

 

Quan niệm về Niết-bàn như thế sẽ không hấp dẫn những người quá tham luyến đời sống. Đối với họ, sự chấm dứt quá trình sinh diễn của danh sắc đồng nghĩa sự chết vĩnh viễn. Tuy nhiên, sự tin tưởng đầy sáng suốt về Niết-bàn là điều cần thiết với hành giả, nhờ đó có sự tinh tấn kiên trì để chứng đạt mục tiêu tối thượng .

 

Sự hiểu biết về đế thứ tư, tức là chân lý về Đạo diệt khổ, cũng có tầm quan trọng thiết yếu. Chỉ có Đức Phật mới có thể công bố chánh đạo, không một ai có thể làm điều ấy được, dầu là chư thiên, Phạm thiên hay người. Cũng có nhiều luận đề, giáo lý bàn về đạo. Một số ủng hộ đạo đức thường tình như bác ái, chủ nghĩa vị tha, nhẫn nại, bố thí. Một số khác thì nhấn mạnh đến các tầng thiền. Tất cả các pháp hành ấy đều đáng tán dương. Nhưng theo giáo lý của Đức Phật thì những pháp hành ấy chỉ dẫn đến lợi ích tương đối ở các cõi Phạm thiên, nhưng không đảm bảo sự giải thoát cái khổ luân hồi như Lão, tử. Do đó chúng không thành chánh đạo dẫn đến Niết-bàn, dầu chúng là phương tiện hữu ích cho sự phấn đấu để đạt đến Niết-bàn.

 

Có một số người chọn pháp khổ hạnh như nhịn đói, sống hòa với thiên nhiên. Một số khác thì thờ cúng quỉ thần và những con linh thú. Lại có người sống như loài vật. Theo Phật giáo, những hình thức này là giới cấm thủ, nghĩa là sự thực hành không liên quan đến Bát chánh đạo.

 

Bát chánh đạo bao gồm: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệmchánh định. Đạo có ba loại: đạo cơ bản, đạo chuẩn bị và Thánh đạo, trong ấy Thánh đạochính yếu, nhưng không là mục tiêu tiên khởi của hành giảhành giả không phải mất nhiều thời gian và sự tinh tấn cho Thánh đạo. Khi pháp hành Minh sát phát triển đến giai đoạn đạo chuẩn bị thì tuệ quán ở mức độ bậc Thánh sẽ khởi lên trong tích tắc (sát na). Ví dụ như việc tạo ra ngọn lửa chỉ mất nhiều thời gian và sự tinh tấn ở giai đoạn cọ xát hai hòn đá, còn sự bốc cháy là vấn đề chốc lát, tương tự như thế, tuệ quán của Thánh đạo xảy ra tức khắc, nhưng nó bao hàm sự thực hành Minh sát ở giai đoạn đạo chuẩn bị.

 

 

Ignorance Of The Third And Fourth Noble Truths

 

Avijja also means ignorance of the cessation of dukkha and the way to it. These two truths are also profound and hard to understand for the truth about cessation of dukkha concerns Nibbana which is to be realized only on the Ariyan holy path, and the truth about the way is certainly known only to the yogi who has attained the path. No wonder that many people are ignorant of these truths.

 

Ignorance of the end of suffering is widespread and so world religions describe the supreme goal in many ways. Some say that suffering will come to an end automatically in due course of time. Some regard sensual pleasure as the highest good and reject the idea of a future life. This variety of beliefs is due to ignorance of the real Nibbana. Even among Buddhists some hold that Nibbana is an abode or a sort of paradise and there are many arguments about it. All these show how hard it is to understand Nibbana.

 

In reality Nibbana is the total extinction of the nama-rupa process that occurs ceaselessly on the basis of causal relationship. Thus according to the doctrine of Paticcasamuppada, avijja, sankhara etc., give rise to nama-rupa, etc., and this causal process involves old age, death and the other evils of life. If avijja, etc., becomes extinct on the Ariyan path, so do their effects and all kinds of dukkha and this complete end to dukkha is Nibbana.

 

For example, a lamp that is refuelled will keep on burning, but if it is not refuelled there will be a complete extinction of flame. Likewise for the yogi on the Ariyan path who has attained Nibbana, all the causes such as avijja, etc., have become extinct and so do all the effects such as rebirth, etc. This means total extinction of suffering, that is, Nibbana which the yogi must understand and appreciate before he actually realizes it.

 

This concept of Nibbana does not appeal to those who have a strong craving for life. To them the cessation of nama-rupa process would mean nothing more than eternal death. Nevertheless, intellectual acceptance of Nibbana is necessary because on it depends the yogi's whole-hearted and persistent effort to attain the supreme goal.

 

Knowledge of the fourth truth, viz., truth about the way to the end of dukkha is also of vital importance. Only the Buddhas can proclaim the right path; it is impossible for anyone else, be he a deva, a Brahma or a human being, to do so. But there are various speculations and teachings about the path. Some advocate ordinary morality such as love, altruism, patience, alms-giving, etc., while others stress the practice of mundane jhana. All these practices are commendable. According to the Buddhist teaching, they lead to relative welfare in the deva-Brahma worlds but do not ensure freedom from samsaric dukkha such as old age, etc. So they do not form the right path to Nibbana although they are helpful in the effort to attain it.

 

Some resort to self-mortification such as fasting, living in a state of nature and so forth. Some worship devas or animals. Some live like animals. From the Buddhist point of view all these represent what is termed //silabbataparamasa// which means any practice that has nothing to do with the Eightfold Path.

 

The Noble Eightfold Path comprises right view, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness and right contemplation. The path is of three kinds, viz., the basic path, the preliminary path and the Ariyan path. Of these the most vital is the Ariyan path but this path should not be the primary objective of the yogi nor does it require him to spend much time and energy on it. For, as the vipassana practice on the preliminary path develops, the insight on the Ariyan level occurs for a thought-moment. For example, it requires much time and effort to produce fire by friction but ignition is a matter of a moment's duration. Similarly, the insight on the Ariyan path is instantaneous but it pre-supposes much practice of vipassana on the preliminary path.


Chánh Kiến

 

Tuệ minh sát là loại trí xảy ra ngay mỗi lúc quán niệm. Hành giả quán sát từng hiện tượng danh sắc đang xảy ra, sẽ giác tri được bản chất thật của nó, như khi hành giả tập trung sự chú ý của mình vào hành động co duỗi cánh tay hay chân, nhờ đó thấy được trạng thái cứng mềm và chuyển động. Đó là chánh kiến vì thấy được yếu tố cơ bản của gió hay phong đại (vàyodhàtu), nếu khôngchánh niệm sẽ bị vô minh hay ảo tưởng cho rằng "đó là cánh tay", "đó là con người"... Khi hành giảchánh niệm mới thấy được các pháp như thật.

 

Chánh kiến về cảm thọ trong thân cũng như thế, tức là nhận biết trạng thái nóng lạnh, khổ lạc, hoặc các hoạt động của tâm như tưởng tượng, tư duy... Khi tâm hành giả được tập trung và yên tịnh, vị ấy sẽ thấy được hiện tượng đang sanh diệt của danh sắc, nhờ đó đạt tuệ quán về vô thường, khổ và vô ngã.

 

Tin chân chánh ám chỉ chánh tư duy và những pháp kết hợp khác của bát chi đạo, tuệ quán của đạo xảy ra khi quán niệm. Nhờ đạt được tuệ biến tri về vô thường, khổ hay vô ngã, hành giả liễu tri Niết-bàn. Như vậy, nếu Niết-bàn được giác ngộ ngay trong hiện tại thì pháp hành minh sát quả thật thiết yếu. Hành giả chưa thể thực hành pháp minh sát thì nên tập trung vào đạo cơ bản, đó là nền tảng của pháp hành minh sát. Đạo cơ bản nghĩa là sự thực hành những việc thiện do có niềm tin về nghiệp báo. Nói cách khác, đó là sự thực hành pháp bố thí, trì giới... với ước nguyện chứng đạt Niết-bàn. Đạo cơ bản, đạo chuẩn bị và Thánh đạo hình thành đường lối dẫn đến Niết-bàn, đặc biệt hành giả phải thừa nhận Niết-bàn là pháp đáng ưa thích, đáng tôn dương, đáng quí mến. Sự nhận thức như vậy rất cần thiết cho sự nỗ lực phấn đấu trong pháp hành minh sát. Hành giả cũng phải công nhận con đường minh sát là pháp của bậc Thánh và biết cách thực hành pháp ấy.

 

Một số người không biết bát chánh đạocon đường dẫn đến Niết-bàn, lại còn xem thường những việc thiện gieo duyên Niết-bàn của người khác, một số khác lại phản đối lời khuyến giáo và pháp hành của người khác, dầu họ chưa hề thực hành một tí gì về thiền minh sát. Sở dĩ như vậy là vì họ chấp theo tà vạy, những người này đầy dẫy vô minh, không biết bát chánh đạo hay có quan niệm sai lầm về chánh đạo. Do vô minh khiến người ta không biết rằng bố thí, trì giới, tu thiền dẫn đến Niết-bàn, cũng do vô minh khiến người ấy xem bố thí là có hại đến quyền lợi của họ, nhưng do vô minh mà không biết hay có cái nhìn sai lạc về phương pháp chân chánh của pháp thiền minh sát lại càng tệ hại hơn. Không biết chánh đạohình thức tệ hại nhất của vô minh, vì nó làm cho mê mờ, không biết việc thiện, lại còn tạo ra ảo tưởngtà kiến, vì thế ngăn chận con đường dẫn đến hạnh phúc cõi người, cõi trời, chớ nói gì đến Thánh đạo và Niết-bàn.

 

Tiếc thay, hầu hết mọi người vẫn chìm sâu trong vô minh, không quan tâm đến điều nên làm như bố thí, trì giới, tu thiền .

Right View, Etc.

 

Vipassana insight is the insight that occurs at every moment of contemplation. The yogi who notes every psycho-physical phenomenon becomes aware of its real nature. Thus he focuses his attention on the bending of his arms or legs and he realizes the elements of rigidity and motion. This means right view in connection with //vayodhatu//. Without mindfulness there will arise illusion of "It is the hand", "It is a man", and so forth. Only the mindful yogi sees things as they really are.

 

The same may be said of right view in regard to sensation in the body, e.g. imagination, intention. When the mind becomes fixed and calm, the yogi finds the nama-rupa phenomena arising and vanishing and so he gains insight into their anicca, dukkha and anatta.

 

Right belief implies right intention and other associative dhamma on the path. Insight on the path occurs at every moment of contemplation. With the attainment of perfect insight into the three characteristics of existence, the yogi sees Nibbana. Hence, if Nibbana is to be realized here and now, the practice of vipassana is essential. The yogi who cannot as yet practise vipassana should focus on the path that is the basis of vipassana practice. This basic path means doing good deeds motivated by the belief in Kamma. In other words, it is the practice of dana, sila etc., in the hope of attaining Nibbana.

 

All the paths (magga) - the basic, the preliminary and the Ariyan, form the three-fold path leading to Nibbana. In particular, the yogi must recognize the Ariyan path as the dhamma that is to be desired, cherished and adored. Such a recognition is essential to strenuous effort in the practice of vipassana. The yogi must also accept the vipassana magga as a noble dhamma and know how to practise it.

 

Some people are ignorant of the way to Nibbana. On top of that they belittle the Nibbana-oriented good deeds of other people. Some deprecate the teaching and practice of other people although they have never practised vipassana effectively. Some criticize the right method because they are attached to their wrong method. All these people have avijja which means ignorance of and misconception about the right path. It is avijja not to know that dana, sila and bhavana lead to Nibbana and it is avijja too to regard dana, etc. as harmful to one's interest. The more destructive avijja is ignorance of and illusion about the right method of contemplation.

 

Ignorance of the right path is the most terrible form of avijja. For it makes its victims blind to good deeds and creates illusions, thereby preventing them from attaining human happiness or divine bliss, let alone the Ariyan path and Nibbana. Yet most people remain steeped in ignorance, unmindful of the need to devote themselves to dana, sila and bhavana.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 1048)
08 Tháng Bảy 20209:02 CH(Xem: 111)
"Tôi nghĩ rằng chúng ta nên nhấn mạnh đến sự đồng nhất, sự giống nhau ... nhấn mạnh đến điều đó", nhà sư đoạt giải Nobel Hòa bình nói. Đôi khi, ông nói, chúng ta đặt nặng quá nhiều vào "sự khác biệt nhỏ" và "điều đó tạo ra vấn đề". ("I think we should emphasize oneness, sameness...emphasize that," says the Nobel Peace Prize winning monk.
07 Tháng Bảy 202010:00 CH(Xem: 168)
Trong thế giới chúng ta sống hôm nay, các quốc gia không còn cô lập và tự cung cấp như xưa kia. Tất cả chúng ta trở nên phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì thế, càng phải nhận thức nhiều hơn về tính nhân loại đồng nhất. Việc quan tâm đến người khác là quan tâm chính mình. Khí hậu thay đổi và đại dịch hiện nay, tất cả chúng ta bị đe doạ,
05 Tháng Bảy 20208:28 CH(Xem: 188)
Tâm biết có hai phương diện: Tánh biết và tướng biết. Tánh biết vốn không sinh diệt, còn tướng biết tuỳ đối tượng mà có sinh diệt. Khi khởi tâm muốn biết tức đã rơi vào tướng biết sinh diệt. Khi tâm rỗng lặng hồn nhiên, tướng biết không dao động thì tánh biết tự soi sáng. Lúc đó tánh biết và tướng biết tương thông,
04 Tháng Bảy 20202:37 CH(Xem: 185)
Từ yoniso nghĩa là sáng suốt, đúng đắn. Manasikāra nghĩa là sự chú ý. Khi nào chú ý đúng đắn hợp với chánh đạo, đó là như lý tác ý; khi nào chú ý không đúng đắn, hợp với tà đạo, đó là phi như lý tác ý. Khi chú ý đến các pháp khiến cho năm triền cái phát sanh là phi như lý tác ý, trái lại khi chú ý đến các pháp mà làm hiện khởi
03 Tháng Bảy 20207:32 CH(Xem: 190)
Trước hết cần xác định “tác ý” được dịch từ manasikāra hay từ cetanā, vì đôi lúc cả hai thuật ngữ Pāli này đều được dịch là tác ý như nhau. Khi nói “như lý tác ý” hoặc “phi như tác ý” thì biết đó là manasikāra, còn khi nói “tác ý thiện” hoặc “tác ý bất thiện” thì đó là cetanā. Nếu nghi ngờ một thuật ngữ Phật học Hán Việt thì nên tra lại
02 Tháng Bảy 20206:13 CH(Xem: 231)
Bạn nói là bạn quá bận rộn để thực tập thiền. Bạn có thời gian để thở không? Thiền chính là hơi thở. Tại sao bạn có thì giờ để thở mà lại không có thì giờ để thiền? Hơi thở là thiết yếu cho đời sống. Nếu bạn thấy rằng tu tập Phật pháp là thiết yếu trong cuộc đời, bạn sẽ thấy hơi thởtu tập Phật pháp là quan trọng như nhau.
01 Tháng Bảy 20205:53 CH(Xem: 252)
Khi con biết chiêm nghiệm những trải nghiệm cuộc sống, con sẽ thấy ra ý nghĩa đích thực của khổ đau và ràng buộc thì con sẽ có thể dễ dàng tự do tự tại trong đó. Thực ra khổ đau và ràng buộc chỉ xuất phát từ thái độ của tâm con hơn là từ điều kiện bên ngoài. Nếu con tìm thấy nguyên nhân sinh khổ đau ràng buộc ở trong thái độ tâm
30 Tháng Sáu 20209:07 CH(Xem: 234)
Cốt lõi của đạo Phật khác với các tôn giáo khác ở chỗ, hầu hết các tôn giáo khác đều đưa ra mục đích rồi rèn luyện hay tu luyện để trở thành, để đạt được lý tưởng nào đó. Còn đạo Phật không tu luyện để đạt được cái gì cả. Mục đích của đạo Phậtgiác ngộ, thấy ra sự thật hiện tiền tức cái đang là. Tất cả sự thật đều bình đẳng,
29 Tháng Sáu 20208:36 CH(Xem: 234)
Theo nguyên lý thì tụng gì không thành vấn đề, miễn khi tụng tập trung được tâm ý thì đều có năng lực. Sự tập trung này phần lớn có được nhờ đức tin vào tha lực. Luyện bùa, trì Chú, thôi miên, niệm Phật, niệm Chúa, thiền định, thần thông v.v… cũng đều cần có sức mạnh tập trung mới thành tựu. Tưởng đó là nhờ tha lực nhưng sức mạnh
28 Tháng Sáu 20209:36 CH(Xem: 235)
Giác ngộvô minh thì thấy vô minh, minh thì thấy minh… mỗi mỗi đều là những cái biểu hiện để giúp tâm thấy ra tất cả vốn đã hoàn hảo ngay trong chính nó. Cho nên chỉ cần sống bình thường và thấy ra nguyên lý của Pháp thôi. Sự vận hành của Pháp vốn rất hoàn hảo trong những cặp đối đãi – tương sinh tương khắc – của nó.
27 Tháng Sáu 20206:31 CH(Xem: 241)
Thầy có ví dụ: Trong vườn, cây quýt nhìn qua thấy cây cam nói nói tại sao trái cam to hơn mình. Và nó ước gì nó thành cây cam rồi nó quên hút nước và chết. Mình thường hay muốn thành cái khác, đó là cái sai. Thứ hai là mình muốn đốt thời gian. Như cây ổi, mình cứ lo tưới nước đi. Mọi chuyện hãy để Pháp làm. Mình thận trọng,
26 Tháng Sáu 20209:57 CH(Xem: 227)
Từ đó tôi mới hiểu ý-nghĩa này. Hóa ra trong kinh có nói những cái nghĩa đen, những cái nghĩa bóng. Có nghĩa là khi một người được sinh ra trên thế-gian này, dù người đó là Phật, là phàm-phu, là thánh-nhân đi nữa, ít nhất đầu tiên chúng ta cũng bị tắm bởi hai dòng nước, lạnh và nóng, tức là Nghịch và Thuận; nếu qua được
25 Tháng Sáu 202010:14 CH(Xem: 275)
trí nhớ là tốt nhưng đôi khi nhớ quá nhiều chữ nghĩa cũng không hay ho gì, nên quên bớt ngôn từ đi, chỉ cần nắm được (thấy ra, thực chứng) cốt lõi lý và sự thôi lại càng tốt. Thấy ra cốt lõi tinh tuý của sự thật mới có sự sáng tạo. Nếu nhớ từng lời từng chữ - tầm chương trích cú - như mọt sách rồi nhìn mọi sự mọi vật qua lăng kính
24 Tháng Sáu 202010:08 CH(Xem: 281)
Kính thưa Thầy, là một người Phật Tử, mỗi khi đi làm phước hay dâng cúng một lễ vật gì đến Chư Tăng thì mình có nên cầu nguyện để mong được như ý mà mình mong muốn không? Hay là để tâm trong sạch cung kính mà dâng cúng không nên cầu nguyện một điều gì? Và khi làm phước mà mong được gieo giống lành đắc Đạo quả
23 Tháng Sáu 20207:24 CH(Xem: 306)
Tất cả chúng ta sẽ phải đối mặt với cái chết, vì vậy, không nên bỏ mặc nó. Việc có cái nhìn thực tế về cái chết của mình sẽ giúp ta sống một đời trọn vẹn, có ý nghĩa. Thay vì hấp hối trong sự sợ hãi thì ta có thể chết một cách hạnh phúc, vì đã tận dụng tối đa cuộc sống của mình. Qua nhiều năm thì cơ thể của chúng ta đã thay đổi.
22 Tháng Sáu 20209:23 CH(Xem: 335)
Đúng là không nên nhầm lẫn giữa luân hồi (saṃsāra) và tái sinh (nibbatti). Tái sinh là sự vận hành tự nhiên của vạn vật (pháp hữu vi), đó là sự chết đi và sinh lại. Phàm cái gì do duyên sinh thì cũng đều do duyên diệt, và rồi sẽ tái sinh theo duyên kế tục, như ví dụ trong câu hỏi là ngọn lửa từ bật lửa chuyển thành ngọn lửa
21 Tháng Sáu 20208:58 CH(Xem: 294)
Trong Tăng chi bộ, có một lời kinh về bản chất chân thật của tâm: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” cùng với ý nghĩa “cội nguồn” của “yoni” trong “yoniso mananikara” là hai y cứ cho tựa sách “Chói sáng cội nguồn tâm”. Tựa đề phụ “Cách nhìn toàn diện hai chiều vô vihữu vi của thực tại”
20 Tháng Sáu 20203:42 CH(Xem: 357)
Trong tu tập nhiều hành giả thường cố gắng sắp đặt cái gì đó trước cho việc hành trì của mình, như phải ngồi thế này, giữ Tâm thế kia, để mong đạt được thế nọ… nhưng thật ra không phải như vậy, mà là cứ sống bình thường trong đời sống hàng ngày, ngay đó biết quan sát mà thấy ra và học cách hành xử sao cho đúng tốt là được.
19 Tháng Sáu 20204:48 CH(Xem: 355)
Lúc còn nhỏ, khi đến thiền viện, tôi phải có cha mẹ đi cùng, và không được đi hay ngồi chung với các sư. Khi các sư giảng Pháp, tôi luôn ngồi bên dưới, chỉ đủ tầm để nghe. Vị thiền sư đáng kính dạy chúng tôi cách đảnh lễ Đức Phậttụng kinh xưng tán ân đức của Ngài. Thiền sư khuyến khích chúng tôi rải tâm từ cho mọi chúng sinh,
18 Tháng Sáu 202010:08 CH(Xem: 297)
Nhiều người thường thắc mắc làm thế nào để thực tập thiền trong đời sống hàng ngày. Tham gia một khóa thiền và thực tập nghiêm túc là sự rèn luyện tích cực trong môi trường đặc biệt. Đây là một việc hữu ích và quan trọng, nhưng việc thực tập thực sự - nếu thiền có một giá trị thực sự nào đó - phải là trong cuộc sống hàng ngày
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1290)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2856)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4371)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 35)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 49)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 87)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 661)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 667)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 780)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1091)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1284)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1161)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.