[04]

06 Tháng Hai 20204:59 CH(Xem: 130)
[04]


Pháp Duyên Khởi

A Discourse on Paticcasamuppada 
(or The Doctrine of Dependent Origination)
Venerable Mahasi Sayadaw
Translated by U Aye Maung
Dịch: Tỳ kheo Minh Huệ (1999)
Nguồn: budsas.org

 

____________________

PhapDuyenKhoi_A

__________________

MỤC LỤC - CONTENTS 

[04]

 

Danh sắc duyên Lục nhập

Sắc và xứ

Kết luận

[04]

30. Nama-Rupa And Salayatana
31. Rupa And Ayatana
32. Summary


Danh Sắc Duyên Lục Nhập

 

Danh sắc duyên sanh lục nhập. Câu này rất thâm sâu và khó hiểu. Ở đây, danh có nghĩa là ba nhóm sở hữu (cetasika khandha), trong khi đó sắc chỉ về bốn đại, sáu loại sắc, mạng quyền, sắc thời tiết và sắc vật thực.

 

Danh sắc dẫn đến lục nhập hay năm căn, đó là: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu xứ này là những cánh cửa dẫn đến lộ trình tâm. Trong thế giới tâm thức, mỗi đơn vị tâm trong suốt cuộc sống đều sanh lên từ các sở hữu câu sanh, nhưng đối với những người bình thường thì sự hiểu biết này vẫn còn là sự hiểu biết của sách vở, chỉ có những vị thánh nhân mới thấy được điều này.

 

Hơn nữa, trong bất cứ kiếp sống nào như kiếp người mà có cả danh lẫn sắc, thì mỗi tâm quả sanh lên từ lúc tục sanh cũng do bởi các sở hữu câu sanh. Tâm quả là loại tâm chỉ có thấy, nghe v.v... các cảnh khả ái hoặc không khả ái.

 

Ở đây, tâm thấy không thể tự nó sanh lên được, vì trong sự thấy đó hàm ý có các sở hữu hoạt động, như tác ý, xem xét cảnh sắc, tiếp xúc với cảnh và tư cố gắng nhìn thấy cảnh. Tâm thấy chỉ có thể sanh lên khi những sở hữu câu sanh này phát sanh chung với nhau cùng một lúc. Đây là điều kiện cùng sanh lên mà Pàli gọi là Sahajàta paccaya- câu sanh duyên. Như vậy, một khối vật nặng mà do bốn người nhấc thì khônbg thể nào nhấc lên được do riêng một người trưởng nhóm. Cũng thế, dầu thức là yếu tố chính của đời sống tâm linh, tự nó có tác dụng rất ít. Nó chỉ có thể hoạt động cùng với những sở hữu khác.

 

Hơn nữa, những sở hữu câu sanh này đóng góp vào năm xứ, đó là mắt, tai v.v... do sự đồng sanh vào lúc tái sanh. Trong những loại tái sanh khác mà không bao hàm sự thọ sanh vào lòng mẹ, cũng có thể có tất cả năm xứ ngay từ đầu. Sự trợ duyên sanh các xứ do thức và các sở hữu vào lúc thọ sanh là điều khó hiểu, nhưng chúng ta phải công nhận theo lời dạy của Đức Phật. Vào lúc khác, tâm quả cũng như tâm phi quả đều đóng góp vào việc duy trì các xứ. Điều này cũng dễ hiểusắc không thể hiện hữu mà không có tâm.

Nama-Rupa and Salayatana

 

Nama-rupa conditions salayatana. This is very profound and hard to understand. Here nama-rupa means the three cetasika khandhas while rupa refers to the four primary elements, the six physical rupas, jivita (life), rupa and nutriment (ahara-rupa).

 

Nama-rupa leads to salayatana or five physical sense-organs, viz., eye, ear, nose, tongue, body and consciousness. These ayatanas are the doors (avara) that lead to vithi process. In the immaterial world every citta-unit throughout the whole life is born of associated cetasika, but for ordinary persons this will remain bookish knowledge as it is to be understood only by Ariyas in the immaterial world.

 

Further, in any existence like human life that has both nama and rupa, every vipaka-citta that arises from the time of conception is also due to associated cetasika. Vipaka-citta means the kind of citta that barely sees, barely hears, etc., the pleasant or unpleasant objects. Here, the seeing citta cannot arise by itself for it pre-supposes manasikara that considers the visual object, phassa that contacts the object and cetana that strives to see it. The seeing citta can arise only when these concomitant cetasikas arise, collectively at the same time. This is conascence condition called sahajata accaya in Pali. Thus, a load that can be raised only by four men working together will not move up if the team leader tries to move it alone. Likewise, although vinnana is the mainspring of mental life it counts for little by itself. It can function only together with other mental factors.

 

Moreover, these associate cetasikas contribute to the five physical ayatanas, viz., eye, ear, etc., by conascence at the moment of rebirth. Of course at the time of conception there is only kaya or rupa. But in other kinds of rebirth that do not involve the mother's womb, there may be all the five ayatanas at the beginning. The conditioning of the ayatanas by vinnana and cetasikas at the moment of conception is hard to understand but we have to accept on the authority of the Buddha. At other times, vipaka as well as the non-vipaka cittas help to maintain the ayatanas. This is understandable since it is impossible for matter to exist without mind.


Sắc Và Xứ

 

Thức tái sanh khởi lên dựa vào nền tảng của ý vật (hadaya-vatthu). Ý xứ có nền tảng của nó ở mắt, tai v.v... Ý tưởng và thức cũng lấy sắc ý vật làm nền tảng vật chất của chúng. Tất cả những sắc phụ như mắt, cảnh sắc, v.v... đều dựa vào bốn đại, đó là đất, nước, gió, lửa. Năm tinh sắc hay sắc thần kinh, tức là mắt, tai v.v... đều có nguồn gốc ở bốn đại và những sắc do nghiệp sanh ở mạng quyền. Năm sắc xứ cũng dựa vào sắc vật thực.

 

Nói tóm lại, tâm thức sanh lên do duyên của ít nhất là ba sở hữu tâm, đó là: Tác ý, xúc và tư. Đôi khi có sanh lên nhiều lần trạng thái tham muốn, khao khát, nóng giận, si mê, ngã mạn, hoài nghi, phóng dật, lo âu, ganh tị, hận thù, bực bội, sợ hãi, v.v...Tất cả những trạng thái này sanh lên do bởi những sở hữu bất thiện. Tương tự, cũng thường có khởi sanh đức tin, tịnh tín, tâm hướng thiện, trạng thái vô tham, lòng bi mẫn, hỷ cảm, niềm tin nhân quả, tâm quán xét vô thường, khổ, vô ngã, v.v... Tất cả những trạng thái này đều sanh lên do bởi những sở hữu thiện. Như vậy, hành giả cảm nhận ra sự tùy thuộc của thức vào các sở hữu thiện hoặc bất thiện, sự tùy thuộc của nhãn thức vào con mắt. Rõ ràngý xứ tùy thuộc vào danh sắc.

 

Tâm cũng cần thiết đối với sự hiện hữu của sắc đang sống. Bởi vậy, năm xứ mà sản sanh ra năm căn đều dựa vào tâm. Năm loại sắc thần kinh không thể tồn tại nếu không có những sắc thô, cũng như tấm gương soi không thể có được nếu khôngthủy tinh thô. Bởi vậy, con mắt bao hàm sự hiện hữu của chất cứng (đất), chất dính (nước), hơi nóng (lửa), và tính giãn nở (gió). Khả năng thấy dựa vào sắc thô của mắt. Khả năng nghe, nếm v.v... cũng vậy. Hơn nữa mạng sống của chúng ta có thể tiếp tục, không gián đoạn cũng nhờ sắc mạng quyền và sắc vật thực. Tất cả những điều này cho thấy năm sắc xứ bắt nguồn từ danh sắc như thế nào.

 

Xứ thứ sáu, tức là ý xứ, bao gồm ý nghĩ, suy quán, ý định v.v..., đều tùy thuộc vào những sở hữu thiện và bất thiện như: Tham, tín và những sở hữu như xúc, cũng như tùy thuộc vào sắc căn bản của nó. Nó khởi sanh từ nguồn gốc của nó, tức là hữu phần, mà hữu phần thì làm nền tảng cho lộ ý môn (manodvàra vithi).

 

 

Rupa And Ayatana

 

The rebirth consciousness arises on the basis of the heart (hadaya-vatthu). The mind ayatana has its basis in the eye, ear, etc. Thought and consciousness too have heart as their physical basis. All the secondary physical phenomena such as the eye, visual object, etc., depend on the four primary elements, viz., pathavi, apo (solidity, motion), etc. The five pasada-rupa, i.e. eye, ear, etc., are rooted in the primary elements and their kamma-based rupas in jivita (life-force) rupa. The five ayatana-rupas too depend on nutriment (ahara-rupa).

 

To sum up, citta-vinnana is conditioned by at least three mental factors, viz., manasikara, phassa and cetana. Sometimes there arise repeatedly greed, craving, anger, illusion, pride, doubt, restlessness, worry, envy, ill-will, anxiety, fear and so forth. All these mental states arise because of unwholesome cetasikas. Similarly, there often occur faith, piety, moral sense, non-attachment, compassion, sympathetic joy (mudita), appreciation of the law of kamma, reflection on anicca, dukkha, anatta, and so forth. These mental states arise from wholesome cetasikas. Thus, the yogi realizes the dependence of vinnana on wholesome or unwholesome cetasikas, the eye-consciousness on the eye. So it is clear that the manayatana is dependent on nama-rupa.

 

The mind is also vital to the existence of living matter. So the five ayatanas that produce sense-organs are dependent on the mind. The sensitive sense-organs (pasada) cannot exist without their gross physical bases just as the reflecting mirror cannot exist without the gross matter of glass. So the eye presupposes the gross matter of solidity (pathavi), cohesion (apo), heat (tejo) and tenseness (vayo); in short, the ability to see depends on the gross physical body of the eye. The same may be said of the ability to hear, the ability to smell, etc. Further, we can maintain life uninterrupted only because of life-force (jivita-rupa) and nutriment. All these facts show how the five ayatana-rupas originate with nama-rupa.

 

The sixth ayatana viz., manayatana comprising thought, reflection, intention, etc., depends on wholesome or unwholesome mental states such as greed, faith and mental factors such as phassa (contact) as well as on its physical bases. It arises from its root viz., bhavanga which in turn forms the basis for the mind-process (manodvara-vithi).


Kết Luận

 

Nói tóm lại, sự thấy bao gồm sắc thần kinh và thức. Nhãn căn tùy thuộc vào thức, mạng quyền, vật thực và sắc căn bản. Nhãn thức tùy thuộc vào nhãn căn và ba sở hữu tâm, là tác ý, tư và xúc. Con mắt cũng như thức tùy thuộc vào danh sắc và năm xứ còn lại cũng tương tự như vậy.

 

Sự hiểu biết thông suốt về sáu Xứ bắt nguồn từ danh sắc như thế nào chỉ có thể xảy ra đối với chư vị Bồ tát. Trong số hàng thánh đệ tử của Đức Phật, ngay cả Ngài Xá-lợi-phất và Mục Kiền Liên xem ra cũng không hiểu thấu đáo về nó trước khi các Ngài chứng đắc tầng thánh Tu-đà-hườn, vì theo kinh sách ghi lại, đạo sĩ Upatissa mà sau này là trưởng lão Xá-lợi-phất đã chứng đắc tầng thánh thứ nhất do nghe câu kệ được nói ra bởi trưởng lão Assaji.

 

Câu kệ, do Đức Phật thuyết, nói rằng tất cả các pháp là kết quả của những pháp khác làm nhân, Đức Phật chỉ ra những nguyên nhân này và có sự chấm dứt các quả cùng với các nhân. Upatissa đã chứng đắc quả thánh Tu-đà-hườn sau khi nghe câu kệ này, nhưng họ không thể quán xét sâu đậm về pháp duyên khởi này trong một khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy. Người ta có thể hiểu rõ giáo pháp của Đức Phật theo khả năng hiểu biết của mình, nhưng không thể hiểu hết pháp ấy một cách đầy đủ được.

 

Chú giải đã giải thích câu kệ liên quan đến Tứ diệu đế: "Tất cả các pháp là quả", chỉ về khổ đế có nhân là ái dục. Trong câu kệ, ái dục là nhân, là nhân của khổ.

 

Bởi vậy, câu kệ tóm gọn chân lý về khổ và nguyên nhân của nó.

 

Vào thời ấy, có nhiều quan điểm về linh hồn, cho rằng linh hồnbất tửchuyển sanh sang thế giới khác sau khi chết, linh hồn bị hủy diệt sau sự tan rã cuối cùng của thân xác, linh hồn do thượng đế tạo ra, linh hồnvô định, v.v...Câu kệ chỉ công nhận sự hiện hữu của nhân và quả và phủ nhận tánh bất tử hay đoạn diệt của linh hồn, và giáo lý này giúp hai vị đạo sĩ có được tuệ quán đặc biệt về bản chất của đời sống.

 

Bộ Visuddhimagga mahàtika đồng hóa câu kệ này với giáo lý duyên khởi. Nó chỉ về một bài kinh trong bộ Samyutta nikàya, trong đó nói rằng: "Nếu nhân này sanh lên, thời quả kia theo sau. Nếu nhân này diệt thời quả kia sẽ chấm dứt". Theo bộ Mahàtika, thì nội dung chính của giáo pháp này nằm trong câu kệ trên, về cả sự sanh (tùy thuận) và sự diệt (nghịch) của khổ.

 

Tạng Mahàtika mô tả câu kệ này là bài kinh tóm tắc giáo lý duyên khởi. Bài kệ nào cũng được xem là có lợi ích nếu nó được tôn trí trong bảo tháp. Cho nên, chẳng lấy làm lạ khi những câu kệ được tìm thấy trong chính những Bảo tháp cổ.

 

Cả hai cách giải thích trong chú giải và trong bộ Mahàtika đều đáng ca ngợi, vì hai thánh đế đầu tiên ám chỉ pháp duyên khởi về sự sanh của khổ và nguyên nhân của nó, trong khi hai thánh đế sau ám chỉ giáo lý về sự diệt của khổ.

 

Để kết luận các nhân và các quả trong chuỗi nhân duyên. Trong kiếp quá khứ của một người, vô minh dẫn đến các hành vi, lời nóiý nghĩ, và những hành này làm sanh khởi thức. Như vậy, có năm quả trong kiếp sống hiện tại đó là thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ. Đến lượt những quả này trở thành nhân hay nói cách khác, chúng gieo những hạt giống cho kiếp sống tương lai. đó là ái, thủ và hữu. Kết quả là có sinh, già, chết, ưu bi và khổ được dự trữ cho kiếp sống tương lai.

 

Pháp duyên khởi rất vi diệu và được Đức Phật thuyết đến Đại đức A-nan-đa. A-nan-đa suy quán giáo pháp ấy từ đầu đến cuối và ngược lại. Đối với đại đức A-nan-đa, điều ấy rất rõ ràng và không có gì khó khăn. Vị ấy đi đến Đức Thế Tôn và bạch rằng: "Bạch Đức Thế Tôn, pháp duyên khởi này quả thật rất vi diệu. Nhưng đối với con, nó xem ra dễ hiểu". Đức Phật quở trách A-nan-đa, nói rằng: "Này A-nan-đa, ngươi không nên nói như thế".

 

Theo chú giải, những lời của Đức Phật ám chỉ lời khen ngợi lẫn quở trách đến đại đức A-nan-đa. Đức Phật muốn nói như vầy: "Này A-nan-đa, ngươi rất sáng trí và do vậy, giáo pháp đối với ngươi thì dễ hiểu, nhưng ngươi đừng nghĩ rằng nó cũng dễ hiểu đối với những người khác".

 

Khả năng hiểu pháp của A-nan-đa là do bốn yếu tố, đó là: Ba-la-mật mà vị ấy đã tích lũy trong nhiều kiếp quá khứ, sự chỉ dạy của nhiều vị thầy, sự hiểu biết rộng rãi và sự chứng đắc Sơ đạo của vị ấy.

 

Vào một kiếp xa xưa trong quá khứ, A-nan-đa là hoàng tử Sumana, em trai của Đức Phật Padumuttara. Giữ chức vụ tổng trấn, Sumana đã dẹp yên một cuộc dấy loạn ở vùng biên giới. Đức vua rất hài lòng và cho Sumana chọn một đặc ân. Hoàng tử xin phép được phục vụ Đức Phật trong ba tháng an cư kiết hạ. Đức vua không muốn ban đặc ân này và vì vậy, vua nói lời thoái thoát rằng quả thật khó mà biết được ý của Đức Phật như thế nào; Vả lại, nếu Đức Phật miễn cưỡng đi đến chỗ ngụ của hoàng tử thì Ngài không thể làm gì được.

 

Theo lời đề nghị của các vị Tỳ khưu, hoàng tử yêu cầu trưởng lão Sumana để được yết kiến Đức Phật. Khi đã gặp được Đức Phật, hoàng tử hỏi Ngài về phước báu đặc biệt nào khiến Sumana có năng lực vượt trội các vị Tỳ khưu khác và được làm thị giả của Đức Thế Tôn. Đức Phật trả lời rằng hoàng tử có thể trở thành như Sumana bằng cách thực hành pháp bố thítrì giới. Hoàng tử thỉnh Đức Thế Tôn nhập hạ ở thị trấn của vị ấy, để vị ấy có thể làm những việc phước, ngõ hầu thành tựu được những ước nguyện đặc biệttrở thành thị giả của một vị Phật tương lai. Thấy rằng nếu Ngài đi đến đó sẽ đem lại lợi ích cho nhiều người, Đức Phật nói rằng: "Này Sumana, Như Lai muốn đi đến chỗ vắng vẻ". Lời tuyên bố trên ngầm ý chấp nhận lời thỉnh cầu của hoàng tử.

 

Sau đó hoàng tử truyền lệnh cho xây dựng một trăm tịnh xá dọc theo con đường, để Đức Phậtchư Tăng có chỗ nghỉ ngơi thoải mái qua đêm. Hoàng tử cũng mua một khu lâm viên và biến nó thành một tịnh xá lộng lẫy với những cốc liêu khác để Đức Phật và đông đảo chư Tăng trú ngụ.

 

Khi công việc đã hoàn thành, hoàng tử nhắn tin đến Đức vua và thỉnh Đức Phật về thị trấn của mình. Hoàng tử và tùy tùng của vị ấy long trọng đón tiếp Đức Phậtchúng Tăng, cúng dường đến các Ngài những bó hoa, vật thơm, thỉnh các Ngài đến tịnh xá. Ở đó, hoàng tử long trọng cúng dường tịnh xá và khu vườn đến Đức Phật.

 

Sau khi đã làm xong công việc bố thí vĩ đại này. Hoàng tử triệu tập các bà vợ của mình và các quan đến, rồi nhắn nhủ với họ như sau: "Đức Phật vì lòng bi mẫn đối với chúng ta mà đến đây rồi. Chư Phật không quan tâm đến lợi lộc. Các Ngài chỉ quan tâm đến việc thực hành chánh pháp. Ta muốn cúng dường Đức Phật bằng sự hành pháp để Ngài hoan hỷ. Ta sẽ thọ trì thập giới và ở tại chỗ ngụ của Đức Phật. Các ngươi hãy hộ độ và hầu hạ chư vị A-la-hán mỗi ngày trong ba tháng hạ này như ta đã làm trong ngày hôm nay".

 

 

SUMMARY

 

To recapitulate: Seeing involves sensitive eye-organ and consciousness. The eye-organ depends on consciousness, life-force, nutriment and physical base. The eye-consciousness depends on the eye-organ and the three mental factors of reflection, striving and contact. In short, the eye as well as the eye-consciousness depend on nama-rupa and the same may be said of other five ayatanas.

 

A thorough knowledge of the origin of the six ayatanas on the basis of nama-rupa is possible only for bodhisattas. Among the Buddha's disciples, even Sariputta and Moggallana did not seem to understand it comprehensively before they attained sotapanna. For, it is said that the ascetic Upatissa who was later to become Sariputta thera attained the first stage on the holy path on hearing the verse uttered by Assaji thera.

 

The verse, ascribed to the Buddha, says that all phenomena (dhammas) are the effects of certain other phenomena which are the causes. The Buddha points out these causes and there is the cessation of the effects together with the causes. Upatissa and his friend Kolita are said to have attained sotapanna after hearing this verse, but they could not have reflected deeply on the dependent origination in such a short space of time. One may fairly understand the Buddha's teaching on the doctrine according to one's intellectual capacity but, it is impossible to grasp all of it fully.

 

The commentary explains the verse in the context of the four noble truths, "All the dhammas is the effect" refers to the truth of suffering as having its origin in craving. The cause in the gatha means craving as the cause of dukkha. So the gatha epitomises the truth about suffering and its cause.

 

In those days there were many views about the soul (atta) viz., that the soul was immortal and passed onto another abode after death, that it was annihilated after the final dissolution of the body, that it was created by God, that it was infinite and so forth. The gatha recognizes only the existence of the cause and effect and denied the immortality or annihilation of the soul and this teaching afforded the two ascetics a special insight into the nature of life.

 

Visuddhimagga Mahatika identifies this gatha with the teaching on Paticcasamuppada. It refers to a sutta in Samyuttanikaya which says, "If this cause arises, then that effect follows. If this cause ceases, then that effect is also ended. So avijja causes sankhara, etc., so there is suffering. With the cessation of avijja there follows the cessation of sankhara and so on until suffering becomes extinct." According to the Mahatika, the substance of this teaching is implicit in the aforementioned gatha, in regard to both the arising (anuloma) and cessation (patiloma) of dukkha.

 

Mahayana pitaka describes this gatha as a sutta that sums up the doctrine of Paticcasamuppada. Any writing of the gatha is said to be beneficial if it is enshrined in a cetiya (pagoda). No wonder that many of these writings are found in very ancient pagodas.

 

Both views in the commentary and Mahatika are plausible. For the first two noble truths imply Paticcasamuppada in respect of the arising of dukkha and its cause while the other two noble truths imply the doctrine in respect of the cessation of dukkha.

 

To sum up the causes and effects in the chain of causation: In the past life of a person, ignorance leads to acts, speech and thoughts and these sankharas give rise to vinnana. Then there are five effects in the present life, viz., vinnana, nama-rupa, ayatana, phassa and vedana These effects in turn become causes or in other words, they sow the seeds for future life, viz., craving, clinging and becoming (tanha, upadana and jati). As a result there are old age, death, grief and suffering in store for the future life.

 

Paticcasamuppada is profound and this is borne out by the Buddha's saying to Ananda. Ananda reflected on the doctrine from the beginning to the end and vice versa. To him it was very clear and it presented no difficulty. He approached the Buddha and said, "Lord, this Paticcasamuppada is indeed very profound. But, for me it seems so easy to understand." The Buddha chided him, saying, "You should not say like that, Ananda."

 

According to the commentary, the Buddha's words imply a compliment as well as a reproach to Ananda. The Buddha meant to say in effect, "Ananda, you are highly intelligent and so it is easy for you to understand the doctrine, but do not think that it may be equally easy for other people to understand it."

 

Ananda's ability to understand the doctrine was due to four factors, viz., the parami (perfections) which he had acquired in his previous lives, the instructions of his teachers, his wide knowledge and his attainment of the first stage on the holy path.

 

Long, long ago, Ananda was prince Sumana, the brother of Padumuttara Buddha. As a provincial governor, he subdued an uprising successfully. The king was much pleased and told him to ask for any boon he desired. The prince asked for permission to serve the Buddha for three months during the lent. The king did not wish to grant this boon and so he said evasively that it was indeed hard to know the Buddha's mind, that he could do nothing if the Lord was reluctant to go to the prince's abode.

 

On the advice of the bhikkhus, the prince requested a thera named Sumana to arrange for an interview with the Buddha. When he met the Buddha, he told the Lord how Sumana thera had done a thing that was beyond the power of other bhikkhus. He asked what kind of good deeds a man should do to be so intimate with the Lord. The Buddha said that he could become like Sumana by practising dana and sila. The prince requested the Lord to spend the lent in his city as he wished to do good deeds so that he might become a specially privileged thera like Sumana in the holy order of a future Buddha. Seeing that his visit there might benefit all and sundry, the Buddha said, "Sumana, the Buddha loves solitude," a saying that meant tacit acceptance of the invitation.

 

The prince then ordered over one hundred monasteries to be built along the route where the Buddha and the Sangha might rest comfortably at night. He bought a park and turned it into a magnificent monastery as well as other dwellings for the Buddha and numerous monks.

 

Then when all was ready, he sent word to his father and invited the Buddha to come to his city. The prince and his people welcomed the Buddha and his followers, and honouring them with flowers and scents, led them to the monastery. There the prince formally donated the monastery and the park to the Buddha.

 

After performing this act of dana the prince summoned his wives and ministers and said, "The Buddha has come here out of compassion for us. The Buddhas do not care for material welfare. They care only for the practice of the Dhamma. I wish to honour the Buddha with practice so that he may be well pleased. I will observe the ten precepts and stay at the residence of the Buddha. You must feed and serve all the Arahats every day during the rains-retreat as I have done today."

__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 418)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 598)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 513)
06 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 637)
05 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 820)
03 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 625)
27 Tháng Hai 202010:02 SA(Xem: 108)
Cuối thế kỷ 20, lịch sử Phật giáo sang trang một cách bất ngờ. Khởi nguồn từ một vùng đất nghèo cằn cỗi của vùng đông bắc Thái Lan, tỉnh Ubon-rachathani. Ngày ấy, vị thiền sư tiếp một khách Tăng trẻ từ xa đến xin được tham học đạo thiền. Đó chỉ là lời khẩn khoản bình thường. Nhưng chính vị khách Tăng không giống bất cứ thiền sinh nào
26 Tháng Hai 20208:14 CH(Xem: 129)
Nowadays, when Buddha-dhamma is being disseminated, there should be only one basis of teaching relating to the Middle Way or the Eightfold Path: the practice of morality, concentration, and acquisition of profound knowledge, and the Four Noble Truths.
26 Tháng Hai 20203:56 CH(Xem: 137)
Này các thầy Tỳ Khưu, đây là con đường duy nhất để thanh lọc (tâm) chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc diệt khổ thân và khổ tâm, đạt Thánh ĐạoGiác Ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ. Bốn (cách quán sát đó) là gì? Này các thầy Tỳ Khưu,
25 Tháng Hai 20209:18 CH(Xem: 114)
‘Bạch Thế Tôn, mới rồi, một gia chủ giàu có ở thành Savatthi này qua đời mà không có con thừa kế. Con vừa cho chuyển tài sản của ông ta vào kho của hoàng cung; những tám triệu đồng tiền bằng vàng chưa kể số tiền bằng bạc. Mặc dù là một gia chủ giàu có, thế nhưng bữa ăn hằng ngày của ông ta thì chỉ là cháo nấu bằng gạo nát
24 Tháng Hai 20209:43 CH(Xem: 117)
Lộ trình tu tập được Thế Tôn ví như khúc gỗ trôi sông, xuôi về biển Niết-bàn. Lênh đênh chìm nổi trong hành trình mênh mang đó, có khúc gỗ về đến biển nhưng có khá nhiều khúc gỗ lại không. Người tu cũng vậy, chỉ khác khúc gỗ là không buông xuôi mà thường xuyên nỗ lực phản tỉnh để tháo gỡ, vượt qua chướng ngại mà xuôi đến
23 Tháng Hai 202010:39 CH(Xem: 145)
Tôi sanh ra trong một gia đình theo đạo Phật, và do đó tôi theo đạo Phật với tính cách "cha truyền con nối". Trên thực tế tôi rất ít chú ý tới vấn đề tôn giáo, nói chung. Một phần vì tôi thấy đa số người theo một tôn giáo nào đó thường đi lễ, đi chùa với mục đích để cầu phước lành cho kiếp sống hiện tại và để được lên thiên đường
21 Tháng Hai 20205:07 CH(Xem: 169)
Trong dòng lịch sử văn minh của nhân loại cách đây hơn 25 thế kỷ, những lời dạy về một nghệ thuật sống hoàn hảo, an bìnhhạnh phúc ngay trong hiện tại, một pháp môn tu tập có khả năng đưa đến giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau được Đức Phật, bậc Thầy
20 Tháng Hai 202010:38 CH(Xem: 154)
Ngài Anan hỏi Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, chúng con tu tập theo sự hướng dẫn của Thế Tôn thì khi nào chúng con sẽ đến được Niết Bàn?”. Đức Phật mới chỉ khúc cây trôi giữa dòng sông và nói: “Nếu khúc cây kia không bị kẹt vào bờ bên này, không bị kẹt vào bờ bên kia, không tự bị mục nát từ bên trong, không bị chìm xuống đáy,
18 Tháng Hai 202011:44 SA(Xem: 228)
Quyển sách này, The Experience of Insight, không phải là một quyển sách đặt nặng vào phần lý thuyết, mà là một quyển sách chú trọng về sự thực hành. Joseph Goldstein là một thiền sư Hoa Kỳ. Ông đã sống nhiều năm ở Thái Lan và Ấn Độ để học thiền Vipassana,
16 Tháng Hai 20202:25 CH(Xem: 257)
Từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 8 tháng 4 năm 1983 chúng tôi đã rất may mắn được một vị thầy đầy kinh nghiệm về thiền Vipassana tổ chức một khoá chuyên tu tại Penang, trung tâm thiền Phật giáo Malaysia, hướng dẫn, dạy bảo, sữa chữa và nhắc nhở chúng tôi về thiền minh sát. Chúng tôi đã được lợi lạc to lớn từ những lời hướng dẫn
15 Tháng Hai 20208:01 CH(Xem: 196)
Để giúp cho đọc giả có thể nắm được sự khác biệt giữa thiền định (chỉ quán) và thiền Vipassana (tuệ quán), PTVN đã gặp sư Phước Nhân, một hành giả giỏi pháp hành của thiền viện Phước Sơn để xin sư nói rõ về thiền định, thiền Vipassana, sự khác biệt giữa hai phương pháp tập cũng như khái quát phương thức tu tập và kết quả
14 Tháng Hai 202010:11 CH(Xem: 197)
Rất khó khuyến khích và truyền cảm hứng cho người khác mà không làm họ thất vọng ít nhiều. Muốn mô tả những kết-quả của việc tu tập—mô tả những trải nghiệm thâm sâu như tâm ảnh nimitta, tầng thiền định jhāna, và thánh quả Nhập Lưu—để truyền cảm hứng tu hành cho mọi người. (Cũng giống như việc mô tả về ngày lãnh lương
13 Tháng Hai 20203:54 CH(Xem: 226)
Hỏi: Tôi cố gắng rất nhiều trong khi luyện tập, thế nhưng tôi vẫn có cảm giác là dường như mình không hề đạt được một chút kết quả nào cả. Đáp: Điều này thật hết sức quan trọng. Không nên tìm cách đạt được bất cứ một thứ gì. Ngay cả sự ham muốn đạt được sự giải thoát hay giác ngộ cũng sẽ ngăn chận không cho mình thực hiện
12 Tháng Hai 20207:50 CH(Xem: 185)
Dưới đây là một bài thuyết giảng của nhà sư Ajahn Chah trước một cử tọa gồm các tỳ kheo Tây Phương, các sa di và cả người thế tục, và đặc biệt là dành cho cha mẹ của một tỳ kheo người Pháp sang thăm con xuất gia ở Thái Lan vừa được thụ phong tỳ kheo. Buổi giảng được tổ chức tại ngôi chùa Wat Pah Pong của nhà sư Ajahn Chah
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 256)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
10 Tháng Hai 20207:00 SA(Xem: 2901)
Tủ Sách Và Các Bài Viết Của HT. Thích Thanh Từ
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 278)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
08 Tháng Hai 20208:38 SA(Xem: 260)
Lần đầu tiên, khi con trai tôi nói muốn đi tu, tôi rất ngạc nhiên. Đó là một buổi sáng chủ nhật, đầu xuân, khi chúng tôi như lệ thường đang trên đường đến thiền viện. Năm học mới sắp khai giảng, và nó sửa soạn vào lớp Ba. Khi đang đi với nhau, nó bỗng ngước lên nhìn tôi
07 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 299)
Duyên khởi là pháp rất quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Bồ tát của chúng ta đã thiền quán rất sâu đậm về pháp duyên khởi này khi Ngài suy xét về bản chất của kiếp sống và đã chứng ngộ giải thoát. Cũng như các vị Bồ tát khác, đầu tiên Bồ tát của chúng ta
06 Tháng Hai 20201:01 CH(Xem: 110693)
Nguyên tắc căn bản của nhân duyên đơn giản là chính nó. Đức Phật mô tả nguyên tắc nầy, bằng câu nói như sau: Vì cái nầy có, nên cái kia có. Vì cái nầy sinh, nên cái kia sinh. Vì cái nầy không, nên cái kia không. Vì cái nầy diệt, nên cái kia diệt.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 518)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2141)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3514)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
27 Tháng Hai 202010:02 SA(Xem: 108)
Cuối thế kỷ 20, lịch sử Phật giáo sang trang một cách bất ngờ. Khởi nguồn từ một vùng đất nghèo cằn cỗi của vùng đông bắc Thái Lan, tỉnh Ubon-rachathani. Ngày ấy, vị thiền sư tiếp một khách Tăng trẻ từ xa đến xin được tham học đạo thiền. Đó chỉ là lời khẩn khoản bình thường. Nhưng chính vị khách Tăng không giống bất cứ thiền sinh nào
26 Tháng Hai 20208:14 CH(Xem: 129)
Nowadays, when Buddha-dhamma is being disseminated, there should be only one basis of teaching relating to the Middle Way or the Eightfold Path: the practice of morality, concentration, and acquisition of profound knowledge, and the Four Noble Truths.
26 Tháng Hai 20203:56 CH(Xem: 137)
Này các thầy Tỳ Khưu, đây là con đường duy nhất để thanh lọc (tâm) chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc diệt khổ thân và khổ tâm, đạt Thánh ĐạoGiác Ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ. Bốn (cách quán sát đó) là gì? Này các thầy Tỳ Khưu,
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 256)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 278)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 424)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 475)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 5702)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 746)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.