[06]

06 Tháng Hai 20204:59 CH(Xem: 140)
[06]


Pháp Duyên Khởi

A Discourse on Paticcasamuppada 
(or The Doctrine of Dependent Origination)
Venerable Mahasi Sayadaw
Translated by U Aye Maung
Dịch: Tỳ kheo Minh Huệ (1999)
Nguồn: budsas.org

 

____________________

PhapDuyenKhoi_A

__________________

MỤC LỤC - CONTENTS 

[06]

 

Mối liên hệ giữa ý môn và thức

Tóm tắt

Thọ dẫn đến ái

Sáu loại ái

Ái dục và luân hồi

Sự chấm dứt ái dục

Tích trưởng lão Mahàtissa

Chuyện chim két

Quán và đoạn trừ

Đoạn diệt ở gốc rễ

Phiền não và sự thất niệm

Tư tưởng và sự cảm xúc

Ba loại ái

[06]

35. Relation Between Manodvara And Vinnana, Etc.
36. Recapitulation
37. Vedana Leads To Tanha
38. Six Kinds Of Tanha
39. Tanha And Samsara
40. Extinction Of Craving
41. The Story Of Mahatissa Thera
42. Story Of A Parrot
43. Contemplation And Extinction
44. Cutting Off At The Foundation
45. Kilesa And Unmindfulness
46. Thoughts And Tactile Impressions
47. Three Kinds Of Craving (Tanha)


Mối Liên Hệ Giữa Ý Môn Và Thức

 

Ý thức (Mano-vinnàna) làm công việc suy nghĩ, nghĩ ra và hiểu biết, có nguồn gốc của nó ở tâm và đối tượng của tâm. Tâm mà hình thành nền tảng của nó là tâm hữu phần (bhavanga-citta), là loại tâm mà chúng ta có từ lúc thọ thai. Nó xảy ra không ngừng tùy theo nghiệp. Nó là nền tảng của sự nhận biết. Khi chúng ta ngủ say thì đời sống tinh thần của chúng ta hoàn toàn là tâm hữu phần. Và nó trở nên tích cực khi đối diện với cảnh của tâm và nó khởi sanh ý định và sự nhận biết. Bởi vậy, chúng ta có thể suy nghĩ và biết chỉ dựa vào nền tảng là hữu phần. Thực ra, tâm này luôn có mặt dù không có ý định và sự nhận biết, nhưng bhavanga có thể dẫn đến các sự hiện diện của tâm chỉ khi nào nó mạnh.

 

Có những lúc chúng ta không thể suy nghĩ thì chúng ta ngủ gật hoặc sự suy nghĩ của chúng ta có thể vô dụng, bất chấp sự cố gắng của chúng ta và điều này do bởi bhavanga bị yếu. Như vậy, chính bhavanga có ít mục đích. Nó trở nên tích cực chỉ khi nào nó có cảnh mới. Do đó, nó được gọi là bhavangacalana (hữu phần dao động) hay bhavangapaccheda (hữu phần dứt dòng). Hữu phần đứt dòng làm khởi sanh ý định và sự nhận biết. Theo các bộ chú giải, àvajjanachuyển hướng tâm hay sự hướng về cảnh của tâm, cũng được xem là nền tảng cho sự hoạt động của tâm. Nó khởi sanh như là trạng thái của tâm đối với cảnh. Nếu nó có cảm giác và nhạy bén, thì nó có sự ghi nhớ tất cả sự kiện quan trọng và các cảnh.

 

Nhà văn hay xem xét những sự kiện quan trọng để viết sách và người xướng ngôn thường chọn những từ thích hợp để nói, làm cho bài viết và bài nói chuyện của họ được hoàn hảo. Hơn nữa, chuyển hướng tâm này dẫn đến những tâm tạo ngiệp thiện hoặc bất thiện, tùy theo sự chuyển hướng của nó về mục đích tốt hay xấu. Nó mở đường cho sự suy xétnhận biếtchúng ta thực sự biết rằng ý định và sự nhận biết khởi sanh từ chuyển hướng tâm. Bởi vậy, có câu: "Mananja - tâm là nền tảng", nên được hiểu là cũng ám chỉ đến chuyển hướng tâm.

 

Quan trọng ngang hàng với sự hoạt động của tâm là cảnh của tâm. Cảnh pháp luôn luôn sanh khởi khi chúng ta suy xét vấn đề. Nếu không có cảnh pháp thì sự hoạt động của tâm không thể xảy ra được. Như vậy, đôi khi chúng ta muốn suy nghĩ nhưng không thể nghĩ ra được, và chúng ta không thể nhớ lại những sự kiện chính hay những đối tượng cần thiết. Do vậy, sự hoạt động của tâm tùy thuộc vào tâm ý (bhavanga - hữu phần), chuyển hướng tâm và cảnh của tâm.

 

Theo các bộ chú giải, quả tim hình thành nền tảng vật chất cho tất cả mọi sự kiện của tâm. Nhưng ngày nay, các bác sĩ phương Tây đã lấy đi quả tim bịnh hoạn của người bịnh và thay vào đó bằng một vật thay thế tốt hơn. Cuộc thí nghiệm không hoàn toàn thành công, nhưng báo chí đăng tin rằng quả tim mới hoạt động được vài ngày. Tin này có thể làm khởi lên một số hoài nghi về vai trò của quả tim trong đời sống tinh thần của nhân loại.

 

Có hai cách lý giải phù hợp với vấn đề này. Dầu quả tim bị lấy đi, nhưng sức mạnh chính của nó chưa bị diệt và tâm bhavangacitta có thể vẫn còn dây dưa ở chỗ của nó, giống như cái đuôi của con thằn lằn vẫn còn cựa quậy sau khi nó bị đứt. Hơn nữa, tâm bhavangacitta có thể hoạt động trở lại khi vật ghép hoạt động bình thường nhờ máu của thân, cũng như tế bào mới hay con mắt mới được ghép có sắc thần kinh mới. Hoặc chúng ta có thể giải quyết vấn đề dựa vào bộ Patthàna của tạng A-tỳ-đàm, là bộ sách mô tả nền tảng của ý thức (Manovinnàna) là "cơ quan vật lý ấy làm duyên cho tâm như là nền tảng của nó". Bộ sách ấy đặc biệt không đề cập cơ quan nào của cơ thể. Như vậy, theo bộ sách này, chúng ta có thể thừa nhận rằng một phần nào đó của cơ thể là chỗ dựa của tâm, có lẽ là một phần nào đó ở trong đầu. Những ai không muốn định vị tâm ở trong quả tim, có thể xem cái đầu là nền tảng vật chất của nó.

 

Trong phần chú giải của tạng A-tỳ-đàm có nêu ra sự so sánh giữa con nhện và sự vận hành của tâm. Con nhện dệt mạng để bắt ruồi muỗi. Nó làm như vậy theo bản năng chỉ vài ngày sau khi nở ra. Ngược lại, một đứa bé dầu đã một năm tuổi vẫn không làm gì được cho chính nó. Con nhện nằm chờ đợi giữa mạng nhện, ăn bất cứ con vật nào bị vướng vào đó và trở về chỗ trú của nó, dường thế ấy, bhavanga hay manovinnàna có chỗ trú của nó là quả tim. Và cũng như những sợi tơ trên tổ nhện nối kết chỗ trú của nó với vùng xung quanh, thì máu được bơm từ quả tim chảy đi qua các ống dẫn máu và truyền đi khắp cơ thể. Bởi vậy, cảnh sắc trong con mắt tác động vào tâm bhavangacitta ở trong quả tim và biến tâm ấy thành nhãn thức v.v... qua suốt quá trình tâm (vithi), rồi trở về chỗ trú đầu tiên của nó. Âm thanh, mùi v.v... cùng với những căn tương ứng cũng tương tự như thế.

 

Bây giờ, điều rõ ràng là bhavanga cùng với hoạt động nguyên thủy của nó, tức là suy nghĩ và biết, hình thành động cơ chính trong đời sống tinh thần của chúng ta. Khi có cảnh sắc, nhãn thức khởi lên với con mắt là nền tảng của nó và rồi ý thức (Manovinnàna) suy xét về nó. Điều tương tự cũng được áp dụng với nhĩ thức v.v... với tai, mũi và lưỡi là nền tảng của chúng. Về thân thức, phạm vi của nó rộng rãi vì nó tùy thuộc vào kích cỡ của thân.

 

Khi cảnh không rõ thì Manovinnàna thống trị đời sống tinh thần của chúng ta. Đôi khi chúng ta trầm ngâm trong sự suy nghĩ đến nỗi chúng ta không lưu ý tất cả các cảnh bên ngoài. Thậm chí sự suy nghĩ miên man về một vấn đề quan trọng làm chúng ta quên cả ngủ. Khi ấy, chúng ta bị ám ảnh bởi những ý nghĩ sanh lên liên tục trên nền tảng hoạt động của tâm, mà điều kiện cần thiết là bhavanga, àvajjana và các cảnh pháp của tâm. Đối với vị hành giả quán niệm mỗi ý nghĩ khi nó khởi sanh, những ý nghĩ này xem ra sẽ sanh khởi và diệt mất từng phần một cách riêng biệt.

 

Mỗi sự kiện của tâm tùy thuộc vào sự có mặt của tâm, đối tượng của tâm và sự nhận biết. Điều này được theo sau bởi sự tiếp xúc với những cảnh trong tâm. Những hình ảnh này, có thể thực hoặc không thực, có hiện hữu hoặc không hiện hữu, chúng có mặt trong sự tưởng tượng bất cứ lúc nào mà chúng ta suy nghĩ hoặc định làm điều gì. Điều này quen thuộc đối với những người đã từng đọc những câu chuyện bổn sanh. Đọc những câu chuyện này gợi lên những hình ảnh về các lâu đài và vua chúa theo sự tưởng tượng của họ. Chúng xa vời với sự thật về lịch sử, vì những câu chuyện ấy có nguồn gốc ở Ấn Độ, con người và địa phương được mô tả trong những câu chuyện bổn sanh phải phù hợp với văn hoá và cách sống của người Ấn Độ.

 

Những cuốn sách tiểu thuyết hiện đại làm gợi lên những hình ảnh về phố chợ, làng mạc, đàn ông, đàn bà, tội phạm, v.v... Người đọc biết rằng tất cả những hình ảnh này có tính chất hư cấu và tưởng tượng, thế mà khi đang đọc, chúng hiện ra như thực và vì thế sự khoan khoái, buồn thương và những tình cảm khác dậy lên trong độc giả. Tất cả những điều này là do sự tiếp xúc với những hình ảnh trong tâm.

 

Trong bài kinh Phạm Võng, Đức Phật dạy rằng: "Những giáo lý và các niềm tin này xuất phát từ sự tưởng tượng sinh động, làm cho chúng trở nên rõ ràng giống như thực". Tóm lại, sự tưởng tượng sinh độngcần thiết khi chúng ta nói, viết, củng cố đức tin, suy nghĩ hay chỉ để cho tâm phóng đi tự do.

 

Sự tưởng tượng dẫn đến cảm thọ. Những hìng ảnh khả ái gây ra thọ lạc, như những hình ảnh liên quan đến sự giàu có trong quá khứ của chúng ta hay sự thịnh vượng sẽ có trong tương lai. Nói cách khác, những hình ảnh không khả ái làm cho chúng ta không vui, nghĩ về nỗi khổ trong quá khứ là làm sống lại những kỷ niệm đau buồn và suy nghĩ về những phiền toái có thể xảy ra trong tương lai cũng làm chúng ta không kém buồn khổ. Nguyên nhân của những điều khổ như vậy có thể hoàn toàn do tưởng tượng mà ra, như trường hợp những người ta thán về tin tử biệt của một người quyến thuộc, nhưng về sau mới biết rằng người ấy chưa chết.

 

Hình ảnh không tốt cũng không xấu sẽ làm khởi sanh thọ xả. Khi ấy, chúng ta không vui cũng không buồn. Quả thật chúng taấn tượng là không cảm thọ chút nào cả, những điều này cho thấy bản chất vi tế của thọ xả mà theo các bộ chú giải, sẽ được biết qua ví dụ về dấu chân của con nai.

 

Khi con nai chạy qua một tảng đá lớn, dấu chân bị mất đi vì con vật không để lại dấu chân trên đó, nhưng nếu dấu chân được tìm thấy ở cả hai bên đường mòn, chúng ta có thể kết luận rằng con vật đã đi qua tảng đá. Cũng vậy, hành giả cũng biết rõ các thọ lạcbất lạc. Khi có thọ xả, vị ấy không lưu ý đến nó và chỉ chú ý đến sự thấy, nghe, v.v... Nhưng sau đó, vị ấy lại có thọ lạc hoặc bất lạcvì vậy vị ấy kết luận rằng trước đó vị ấy có thọ xả trong khi đang niệm về những sự kiện thông thường của tâm.

 

Bởi vậy, Đức Phật dạy rằng: "Do có tâm và cảnh của tâm, ý thức sanh khởi; Sự có mặt của tâm, cảnh của tâm và ý thức dẫn đến ý xúc, và do có ý xúc, thọ sanh khởi".

 

Đây hoàn toàn là một quá trình trong mối quan hệ nhân và quả, mà chẳng có liên quan gì đến chúng sanh, ngã, tạo hoá hay bất cứ sự ngẫu nhiên nào. Tiếng Pàli: "Dhamma - Pháp", chỉ về năm cảnh cũng như các cảnh do tưởng tượng ra. Năm cảnh lại trở thành đối tượng chú ý của hoạt động tâm. Bởi vậy, Manovinnàna bao gồm cả thảy sáu cảnh, tức là cái đã thấy, đã nghe, v.v..., và cái mà người ta chưa thấy, chưa nghe v.v... Mỗi cảnh đều dẫn đến xúc và xúc làm khởi sanh thọ.

 

Đối với người thường, những sự kiện của tâm như vậy gắn liền với ý tưởng về ngã. Ý tưởng như vậy là ảo tưởng, không phù hợp với chuỗi nhân quả. Điều này được vị hành giảchánh niệm nhận biết qua thực nghiệm. Vị ấy quán niệm mỗi pháp trong tâm, truy cứu nguyên nhân của nó và trở nên biết rõ bhavanga, àvajjana cũng như cảnh của tâm. Như vậy, qua thực nghiệm, vị ấy biết rằng mỗi pháp trong tâm chỉ có nghĩa là mối tương quan giữa nhân và quả, không có gì là ngã, tạo hoá hay ngẫu nhiên.

 

Vị ấy cũng biết rằng sự hoạt động trong tâm dẫn đến xúc, rồi xúc sanh thọ. Kiến thức của vị ấy không phải là kiến thức sách vỡ, mà là sự hiểu biết qua thực nghiệm. Vị ấy theo sát và quán niệm mỗi sự kiện của tâm. Nếu tâm chạy về với nhà của vị hành giả trong khi đó vị ấy đang tu niệm ở thiền đường, và vị ấy hướng sự chú ý đến đó, thì sẽ có sự tiếp xúc giữa tâm của vị ấy với cảnh là quê nhà. Cũng thế, những sự tiếp xúc với ngôi chùa shwedagon hay một xứ xa xôi nào đó xảy ra khi đó vị ấy niệm và quán sát những tư tưởng tương ứng làm phân tán tâm của vị ấy. Sự tiếp xúc với các cảnh của tâm gọi xúc - Phassa.

 

Điều rõ ràng không kém đối với vị hành giả là thọ phát sanh từ xúc. Trong khi hành giả đang hành thiền, vị ấy cảm thấy vui sướng khi đó vị ấy bỗng nghĩ đến một điều gì đó mà làm cho vị ấy vui thích; Cảm thấy buồn khi nghĩ về chuyện buồn; Muốn cười khi nghĩ đến điều gì có tính chất tiếu. Bởi vậy, vị ấy biết rằng thọ chỉ là kết quả của xúc. Nhưng tuệ quán của vị hành giả quán niệm về danh sắc vào mỗi lúc khởi sanh của chúng còn sâu hơn sự hiểu biết về nguồn gốc của thọ. Bởi vì, khi đó vị ấy phát triển định, vị ấy thấy rằng đối tượng của nội quán của vị ấy cũng như yếu tố chủ thể của nó, tức là thức, đều diệt mất. Bởi vậy, vị ấy đạt được tuệ quán về tánh vô thường của tất cả các pháp, tức là sự suy nghĩ, cảm thọ v.v... biết được tánh chất bất toại nguyện và không đáng tin cậy cùng tánh chất vô ngã của chúng. Tuệ quán như vậy là sự giác ngộ qua thực nghiệm và sự lãnh hội giáo lý duyên khởi.

Relation between Manodvara And Vinnana, Etc.

 

Manovinnana that thinks, conceives and cognizes has its origin in the mind and mind-objects. The mind which forms its basis is the bhavanga-citta that we have from the moment of conception. It occurs ceaselessly according to kamma. It is the basis for perception and cognition. When we sleep or when the mind is otherwise occupied, our mental life is all bhavanga-citta. It becomes active in the face of mind-objects and there arise intention and cognition. So we can think and know only on the basis of bhavanga. True, this citta is always present in the absence of intention and cognition but bhavanga can lead to mental events only when it is strong.

 

At times we cannot think because we are drowsy or our thinking may be futile, in spite of our effort, and this is due to weakness of bhavanga. Thus, bhavanga by itself serves little purpose. It becomes active only when it is in contact with a new sense-object. Hence, it is called bhavangacalana, active bhavanga or bhavanga-paccheda, bhavanga with its stream cut off. This last bhavanga gives rise to intention and cognition. According to the commentaries, avajjana (advertence of the mind towards the object) is also to be considered the basis for mental activity. Avajjana forms the first stage in the consciousness-process. It arises as the inquiring state of mind in regard to the object. If it is alert and sharp, it is mindful of all the essential facts and objects.

 

The good writer considers the important facts for his book and the good speaker chooses appropriate words for his speech, thereby making their writings and speeches perfect. Further, this avajjana leads to good or bad kammic consciousness accordingly as it is bent on good or bad objectives. It is open to introspection and cognition since we can know actually that intention and awareness arise from avajjana. So the words: "mananja - mind as the basis" should be understood as reference also to avajjana.

 

Equally vital to mental activity is the mind-object. The object always arises when we reflect. In the absence of mind-objects mental activity is impossible. Thus, sometimes we wish to think but have to give up thinking because we cannot recall the essential facts or objects.

 

Hence, mental activity depends on the conjunction of the mind (bhavanga), inquiring mind (avajjana) and the mind-objects.

 

According to the commentaries, the heart forms the physical basis of all mental events. But today Western doctors have removed the diseased heart of a patient and replaced it with a good substitute. The experiment was not a complete success but the press reports say that the transplanted heart functioned for a few days. This news may raise doubts about the role of the heart in the mental life of mankind.

 

This question admits of two explanations. Although the heart is removed, its potency may not become extinct and bhavanga-citta may still linger in its place just like the tail of a house-lizard that moves after it has been cut off. Moreover, the bhavanga-citta may become active again when the transplant gets a new lease of life from the blood of the body, just as the new tissue or new eye ball that is engrafted has new sensitivity. Or, we can dispose of the question on the basis of Abhidhamma pitaka, for Patthana, one of the Abhidhamma books, describes the physical basis of manovinnana (mind) simply as "that physical organ which conditions the mind as its basis." It does not specifically mention any organ or part of the body. Thus, according to this canonical book, we may assume that a certain part of the body is the seat of the mind, perhaps it is a certain part of the heart or the head. Those who do not wish to locate the mind in the heart may regard the head as its physical basis.

 

Here, we must mention the analogy of the spider and the evolution of mind as set forth in the commentary on Abhidhamma pitaka. The spider builds a web which is a kind of net for catching flies. It can do so instinctively in a matter of days after its birth whereas by contrast even a year-old child can do nothing for himself. The spider waits in the center of its web, eats up any creature that gets entangled there and returns to its abode. In the same way, the bhavanga or mano-vinnana has the heart as its abode and like the threads of the spider's web connecting its abode and its surroundings, the blood pumped by the heart flows through the blood-vessels and spreads all over the body. So the visual image in the eye stirs the bhavanga-citta in the heart and turns it into eye-consciousness and so on through its process (vithi). It (bhavanga) then turns back to its original seat. The same may be said of sound, smell, etc., with their respective sense-organs.

 

It is now clear that bhavanga, together with its original activity, that is, thinking and knowing, forms the mainspring of our mental life. When there is a visual object, the eye-consciousness arises with the eye as its basis and then the manovinnana reflects on it. The same is true of the ear-consciousness, etc., with the ear, the nose and the tongue as their bases. As for the body-consciousness, its sphere is extensive as it depends on the size of the body.

 

When the sense-objects are not apparent, the mano-vinnana or the mind that comprises thinking and knowing holds sway over the mental life. Sometimes we are so much absorbed in thought that we remain unmindful of all sense-objects. Preoccupation with an important matter may even make us sleepless. We are then dominated by thoughts that arise ceaselessly one after another on the basis of mental activity as conditioned by bhavanga, avajjana and mind-objects. To the yogi who notes every thought as it arises, these thoughts will appear to arise and vanish separately in fragments.

 

Every mental event depends on the conjunction of mind, mind-object and cognition. This is followed by contact with mental images. These images, which may be real or unreal, existent or non-existent, are present in imagination whenever we think or intend to do something. This is familiar to those who have read, for example, the jataka stories. Reading these stories give rise to mental images of cities and kings that are coloured by Burmese beliefs and traditions. They are far from historical truth for since the stories have their origin in India, people and places described in the jatakas must have conformed to the Indian culture and way of life.

 

Modern novels evoke images of towns, villages, men, women, criminals and so forth. The reader knows that all these are purely fictitious and imaginary and yet while he is reading, they appear as real and, hence, the delight, sorrow and other emotions that a good story arouses in him. All this is due to contact with mental images.

 

As the Buddha says in Brahmajala sutta, "these teachings and beliefs stem from vivid imagination that makes them clear and real." In short, vivid imagination is necessary when we speak, write, hold a belief or think or just let the mind wander freely.

 

Imagination leads to feeling. Pleasant images cause pleasant feeling as do, for example, images related to our past affluence or the prospect of becoming affluent in future. On the other hand, unpleasant images make us unhappy. To think of the past suffering is to revive unpleasant memories and equally unpleasant is the anticipation of the troubles and arisings that might beset us in future. The cause of such unpleasantness may be purely imaginary as in the case of the people who grieved over the reported death of a relative only to learn later that he was still alive.

 

The image that is neither pleasant nor unpleasant will give rise to neutral (upekkha) feeling. We are then neither happy nor unhappy. Indeed we have the impression of having no feeling at all, but this indicates simply the subtle nature of upekkhavedana which, according to the commentaries., is to be known by the analogy of the tracks of the deer.

 

When a deer runs across a large rock, the track is lost since the animal leaves no footprints on it, but if the footprints are to be found on both sides of the rock, we conclude that the deer has run across the rock. Likewise, the yogi is well aware of the pleasant or unpleasant feelings. When he has upekkhavedana he does not notice it and is mindful only of seeing, hearing and so forth. But after that, he has again pleasant or unpleasant feeling and so he concludes that he has had neutral (upekkha) feeling while being mindful of ordinary mental events.

 

So the Buddha says: "Conditioned by the mind and mind-object manovinnana arises; the conjunction of mind, mind-object and manovinnana leads to sense-contact and, because of sense-contact, there is feeling."

 

This is purely a process of cause-and-effect relationship that has nothing to do with a being, ego, creator or any happening by chance. By the Pali word "dhamma", the teaching refers to the five sense-objects as well as the imagined objects. The five sense-objects again become the focus of mental activity. So manovinnana involves all the six sense-objects, that is, what one has seen, heard, etc., and what one has not seen, not heard, etc. Every sense-object leads to sense-contact which in turn gives rise to feeling.

 

For common people, these mental events are bound up with the idea of ego, self or atta. Such an idea is an illusion irrelevant to the chain of causation. This is empirically realized by the mindful yogi. He notes every mental event, traces its cause and becomes aware of the bhavanga and avajjana as well as the mind-object. So he knows empirically that every mental event means only the interrelation of cause and effect, leaving no room for ego, creator or chance.

 

He knows too that mental activity leads to sense-contact which in turn gives rise to feeling. His knowledge is not bookish but empirical. He follows and notes every mental event. If his mind wanders to his home while he is meditating at a retreat, he directs his attention to it and there is the contact between his mind and its object, viz., the image of the house. In the same way, contacts with Shwedagon pagoda or a foreign country occur when he notes and follows the corresponding thoughts that distract his mind. This contact with mind-objects is phassa.

 

Equally clear to the yogi is the feeling that results from sense-contact. While practising meditation, he feels delighted when he happens to think of something that pleases him; sorry when the thought about a sad event occurs to him; inclined to laugh when he thinks of something ludicrous. So he knows that feeling is merely the outcome of sense-contact. But the insight of the yogi who notes nama-rupa at every moment of their arising is deeper than this knowledge of the origin of feeling. For as he develops concentration and tranquillity (samadhi), he finds that every object of his introspection as well as its subject, that is, consciousness, passes away. So he gains a clear insight into the impermanence of all mental events, viz., thinking, feeling, etc., their unsatisfactoriness and unreliability and their impersonal and insubstantial character. Such insight means the empirical realization and appreciation of the Paticcasamuppada or dependent origination.


Tóm Tắt

 

Ở phần đầu của bài pháp, chúng tôi đã giải thích về những mắc xích của chuỗi nhân quả cho đến thọ, là pháp khởi sanh từ xúc. Bây giờ, chúng tôi xin tóm lược những điều đã nói.

 

Vô minh là sự mê mờ, không thấy Tứ diệu đế. Nó làm cho kẻ phàm phu không thấy được tánh chất vô thườngvô ngã của các pháp. Bởi vậy, họ suy nghĩ, nói và làm với hy vọng được hạnh phúc trong kiếp hiện tạimai sau. Những nghiệp về thân, khẩu và ý này thuộc thiện hoặc bất thiện và chúng cũng được gọi là hành (Sankhàra).

 

Hành làm sanh khởi kiếp sống mới. Người lâm chung có những cảnh hồi tưởng về nghiệp đã tạo, và những cảnh về kiếp tương lai hiện rõ nét và làm duyên để một cái thức mới của kiếp sống mới khởi sanh. Nếu không có cảnh đặc biệt nào liên quan đến thức mới, thì ấn tượng lâm chung của kiếp sống mới làm cảnh cho thức mới khởi sanh nhiều lần.

 

Tâm Bhavangacitta này bắt đầu hoạt động vào lúc thấy, v.v... Khi ấy, có sanh khởi nhãn thức, do duyên của con mắt và cảnh sắc. Nó là thành phần của trạng thái tâm thức, nghĩa là toàn bộ đời sống tinh thần đều do duyên hành. Cái chúng ta thấy, nghe, v.v..., có thể là khả ái hoặc không khả ái và bản tánh tương ứng của nhãn thức, nhĩ thức, v.v... đều tùy thuộc tánh chất thiện hay bất thiện trong quá khứ của chúng ta, tức là nghiệp thiện hoặc nghiệp bất thiện trong kiếp quá khứ.

 

Điều này áp dụng cho cả thảy sáu loại thức khởi sanh từ sáu cảnh. Loại thức cuối cùng ngấm ngầm trong hoạt động của tâm, bao gồm sự suy nghĩ, tưởng tượng, quyết chí, v.v... tùy thuộc vào Bhavanga-citta, àvajjana-citta, nền tảng vật chất (sắc ý vật) và cảnh của tâm. Sự hoạt động tinh thần này (manovinnàna) bao gồm bảy chập tư tưởng (javana) và hai chập tư tưởng khác (tadarammana). Ở đây, Tadarammana là sản phẩm của nghiệp thiện hoặc bất thiện. Javana không phải là sản phẩm như vậy, mà theo Abhidhamma nó được gọi là vinnàna do duyên hành, trong đó nó sanh khởi từ bhavanga, sản phẩm của bhavanga.

 

Cùng với sự sanh khởi của vinnàna, cũng có sanh khởi những hiện tượng tâm sinh lý khác (cetasikas và rùpas). Như vậy, vinnàna dẫn đến nàma-rùpa (danh sắc), nhưng vinnàna được theo sau bởi sáu xứsáu xúc. Xúc có nghĩa là sự kết hợp của tâm, cảnh của tâm và căn (cơ quan xúc giác). Nó làm sanh khởi thọ, mà có thể là thọ lạc, thọ khổ hoặc bất khổ bất lạc. Loại thọ thứ ba được gọi là thọ xả, là loại thọ khiến chúng ta tin tưởng rằng không có loại thọ nào cả, nhưng theo abhidhamma, thực ra nó là sự khoái lạc vi tế, hàm ý sự vắng mặt của cái khổ khó chịu.

 

 

Recapitulation

 

In the first part of the discourse we have explained the links in the chain of causation up to the vedana (feeling) which arises from phassa (sense-contact). To sum up what we have said so far.

 

Avijja is ignorance of the four noble truths. It makes ordinary people blind to the impermanence and insubstantiality of sense-objects. So they think, speak and act in the hope of securing happiness in the present life or hereafter. These deeds in thought, word or bodily actions are either wholesome or unwholesome and they are also called sankharas (kamma-formation).

 

The sankharas give rise to new existence. The dying person has flashbacks of his kammic deeds and visions of future life that impress him and condition his new consciousness in a new life. In the absence of any special object that concerns the new consciousness, the latter occurs repeatedly with the death-bed impression of his previous life as its object.

 

This bhavanga-citta becomes active at the moment of seeing, etc. Then, there arises eye-consciousness that is dependent on the eye and visual form. It is part of the state of consciousness, that is, the whole mental life as conditioned by sankhara. What we see, hear, etc., may be pleasant or unpleasant and the corresponding nature of eye-consciousness, ear-consciousness, etc., is due to the ethical character of our past deeds, that is the wholesomeness or unwholesomeness of the kammas in the past existence.

 

This applies to all of the six types of consciousness that arise from six sense-objects. The last type of consciousness, implicit in mental activity comprising thinking, imagining, willing, etc., is dependent on bhavanga-citta, avajjana-citta (mental advertence), the physical basis and the mental image. This mental activity (manovinnana) involves seven thought-moments (javana) and two other thought-moments (tadarammana). Here tadarammana is the product of good or bad kamma. Javana is not such a product, but in Abhidhamma it is labelled sankhara-based vinnana in that it arises from bhavanga, the product of sankhara.

 

Together with the arising of vinnana, there also arises other concomitant psycho-physical phenomena (cetasika and rupas). Thus vinnana leads to nama-rupa, but vinnana is followed also by the six ayatana (sense-organs) and six phassa (sense-impressions). Phassa means the conjunction of the mind, the mind-object and the sense-organ. It gives rise to vedana (feeling) which may be pleasant or unpleasant or neither pleasant nor unpleasant. The last kind of feeling which is called upekkhavedana, gives us the impression of the absence of any feeling, but according to Abhidhamma, it is in fact a kind of subtle pleasure that implies only the absence of unbearable pain.


Thọ Dẫn Đến Ái

 

Do có thọ lạc hay khổ nên có khởi sanh ái. Ái có nghĩa là sự ham muốn hay thèm khát cảnh dục mà nó không có, hay nếu đã có rồi thì nó muốn được nhiều hơn. Nó không biết thoả mãn, vì tất cả cảnh dục làm vừa ý nó nên nỗi khao khát của nó không thể nào thoả mãn được.

 

Bởi vậy, một vị trời nói rằng các vị chư thiên giống như các ngạ quỉ ở chỗ là các ngạ quỉ rất đói khát, vì ở trong thế giới ấy, chúng chẳng có gì để ăn hay uống, cũng thế các vị chư thiên luôn luôn thèm khát dầu họ đang đắm chìm trong tất cả các loại dục lạc. Điều này nghe ra tất thú vị, vì thọ mạng của các vị chư thiên ở cung trời Đao lợi tính ra hằng triệu năm theo thời gian ở quả đất và mạng sống còn lâu hơn nữa ở các cõi trời cao hơn, như Dạ-ma, Hoá lạc.

 

Tuy nhiên, dầu sự hưởng lạc của họ không ngừng, thù thắng, trong thời gian rất lâu dài như vậy, các vị chư thiên vẫn không bao giờ thoả mãn, vì ái dục của họ không thỏa mãn được.

 

Đối với loài người cũng giống hệt như thế. Người nghèo thì cố gắng hết sức để tìm kiếm dục lạc. Dĩ nhiên, họ nghèo khổ, họ không bao giờ được toại nguyện ước muốn của họ. Những nỗi khao khát của người giàu cũng không bao giờ thoả mãn được, đó là sự khao khát của cải, chức vị cao sang và giai cấp cao quí trong xả hội. Điều này do bởi bản chất của ái. Nó càng được nuôi dưỡng bao nhiêu thì càng thèm khát bấy nhiêu và như thế, so với người nghèo về mặt này, người giàu còn tệ hơn nhiều, các quốc gia giàu tệ hơn các quốc gia nghèo.

Vedana Leads To Tanha

 

Because of pleasant or unpleasant feeling, there arises tanha. Tanha means perpetual craving or hunger. It craves for sensual objects that it does not have or it craves for more of the objects that it already has. It knows no satiety or satisfaction. For all the sensual objects to gratify it, its hunger is insatiable.

 

So a deva said that devas are like petas in that just as the petas are very hungry because of lack of anything to eat or drink in their realm, so also devas are always hungry although they indulge in all kinds of sensual pleasure. This sounds quite plausible. For the life-span of a Tavatimsa deva means millions of years on earth and the life is still longer in other higher deva-worlds such as Yama, Nimmanarati. Yet, in spite of their ceaseless and fabulously lifelong enjoyment of pleasure, the devas are never satisfied because their tanha is insatiable.

 

The same is true of human beings. Poor people seek sensual pleasure to the best of their ability. Of course, because of their poverty, they can never fulfil all their desires but equally insatiable is the craving of the rich, the high officials and the upper crust of society. This is due to the nature of tanha. The more it is fed, the more hungry it becomes and so it is worse among the rich than among the poor, more oppressive in wealthy countries than in poor countries.


Sáu Loại Ái

 

Ái không bao giờ chán xem những cảnh khả ái, đàn ông hoặc đàn bà mà nó thích. Nó tầm cầu những âm thanh ngọt ngào. Nó thèm khát mùi thơm, đồ ăn ngon và những loại thức uống khoái khẩu. Nó thèm muốn được cảm thọ và đây chắc chắnái dục tệ hại nhất đối với những người thích dục lạc. Ái cũng có nghĩa là sự ưa thích các cảnh của tâm, là những cảnh không đi qua con mắt, tai và các căn khác. Đó là cảnh mà chúng ta chỉ có thể biết được bằng tâm. Theo các bộ kinh, nó có nghĩa là năm loại sắc thần kinh hay tinh sắc, bốn nguyên tố vi tế như Apo (nước), v.v... các sở hữu tâm, các quan niệm về hình sắc, đặc tính, danh xưng, v.v...

 

Mọi người khao khát những sắc thần kinh tốt vì họ muốn được trông thấy rõ ràng, muốn nghe rõ ràng hay muốn có sự xúc chạm nhạy bén. Họ tầm cầu nguyên tố nước, vì họ muốn giữ cho miệng, cuống họng và da của họ được ẩm ướt. Họ vui thích trong ý nghĩ về giới tính của họ và giới tính-đối lập, và vì thế họ muốn giới nam hoặc giới nữ. Họ muốn sống lâu và đi đứng nhẹ nhàng, và sự ham muốn này cho thấy sự khao khát của họ về sắc mạng quyền và tánh nhẹ nhàng của thân,v.v... Sự ưa thích hạnh phúc, trí nhớ tốt và sự thông minh chỉ về một số quyền hay khả năng tinh thần. Sự ưa thích hình vóc diện mạo của chính họ hay của phái khác, cũng như sự ưa thích lời khendanh tiếng, hoặc sự khao khát về các quan niệm.

 

Tương ứng với sáu cảnh, chúng ta có sáu loại ái. Sáu loại ái này có thể chỉ là sự ưa thích dục lạc - dục ái (kàmatanhà). Sự yêu thích này có thể được kết hợp với ảo tưởng về sự trường tồn (bhavatanhà - hữu ái), đó là loại ái trong niềm tin về sự vĩnh cửu. Ái cũng có thể đi kèm với niềm tin về sự đoạn diệt, khiến người ta luyến ái vô cùng đối với dục lạc (vibhavatanhà). Như vậy, có sáu loại ái tương ứng với sáu cảnh ở một trong ba loại ái (dục ái, hữu ái, phi hữu ái) hay mười tám loại ái. Mỗi loại ái này có thể có những cảnh nội phần hay cảnh ngoại phần, và suy ra là ba mươi sáu loại ái. Bởi vì mỗi loại ái có thể liên quan đến quá khứ, hiện tại hoặc tương lai, và tính thêm như vậy, chúng ta có một trăm lẻ tám loại ái. Nhưng tất cả ái đều thuộc về ba loại ái: Dục ái, hữu áiphi hữu ái.

 

Người hằng tiếp xúc với cảnh xấu thường khao khát cảnh tốt, khả ái. Những người bị đau đớn thì tìm cách thoát khỏi nó. Tóm lại, theo chú giải người bị khổ thì khao khát hạnh phúc. Mọi người đều tìm cách thoát khỏi đau đớn, nghèo túng, những cảnh không vừa lòng và những cảm thọ khó chịu. Sự vắng mặt khổ có nghĩa là lạc, chúng ta tìm cách thoát khỏi những ý nghĩ không vui, khỏi sự lo lắng về vật thực, y phục và chỗ ngụ. Nhưng một khi con người có đầy đủ những nhu cầu cần thiết của đời sống thì họ có khuynh hướng phát triển những thèm muốn khác. Chú giải nói rằng: "Người giàu muốn giàu thêm". Vì chính bản thân của ái dục là không thể toại nguyện được. Chúng ta muốn thọ hưởng những thứ tốt đẹp của đời sống hoài hoài. Chúng ta muốn gia tăng tài sản của chúng ta. Càng có nhiều càng muốn nhiều hơn và đời sống càng cao thì ước muốn thọ hưởng nó càng nhiều. Ái dục không bao giờ đi đến chỗ kết thúc, vì nó được nuôi dưỡngduy trì bởi thọ.

 

Nói về ái kết hợp với thọ xả, chú giải mô tả cảm thọ đồng sanh là lạc (sukha) vì tánh chất không thiên lệch của nó. Khi chúng ta tiếp xúc với những cảnh thông thường thì không có thọ lạc hay khổ nào sanh lên rõ ràng; Nhưng vì thọ xả này có tính chất vi tế nên nó có pha chút lạc và vì thế nó làm cho chúng ta muốn có lạc rõ ràng hơn. Nó khiến chúng ta không hài lòng với những cảnh bình thường và muốn có đồ ăn ngon, áo quần đẹp, sự cảm xúc khoái lạc hơn và những điều kiện sống tốt hơn.

 

Tóm lại, những cảnh khả ái tạo ra sự luyến ái và khao khát cảnh khả ái hơn. Những cảnh không khả ái thì gây ra ước muốn tránh xa chúng.

 

Khi có những cảnh tạo ra thọ xả thì chúng ta vẫn không mãn nguyện với nó và muốn những thứ tốt hơn. Tất cả những điều này cho thấy thọ làm khởi sanh ái.

Six Kinds Of Tanha

 

Tanha is never tired of seeing pleasant objects, man or woman whom it likes. It seeks sweet sounds. It hungers for good scent, good food and good drinks. It craves for tactile sensation and this is surely the worst craving for people who love sensual pleasure. Tanha also means liking for mind-objects that are impervious to the eye, the ear and other physical organs. It is the object that we can know only mentally. According to the scriptures it means the five sensitive (pasada) rupas, the four subtle elements such as apo, etc., the mental elements (cetasikas) concepts of forms, qualities, names, etc.

 

People crave for good pasada-rupas because they want to see clearly, to hear distinctly, or to have keen sense of touch. They seek apo elements as they wish to keep their mouth, throat and skin moist. They delight in the consciousness of their own sex and the opposite and hence their craving for manhood and womanhood. They want to live long and to move lightly, and this desire shows their hunger for the fine rupas of jivita and kayalahuta, etc. Their desire for happiness, good memory and good intelligence points to their craving for certain mental faculties. Love of one's own physical appearance and that of the opposite sex as well as the desire for praise and fame again shows the hunger for concepts.

 

For six sense-objects there are six kinds of craving. These six cravings may mean merely the love of sensual pleasure (kamatanha). This love may be combined with the illusion of permanence (bhavatanha), tanha that implies the eternity-belief. Craving is also bound up with the belief in annihilation which makes some people overly attached to sensual pleasure (vibhavatanha). So there are six cravings (corresponding to six sense-objects) for each of the three tanhas (kamatanha, bhavatanha and vibhavatanha) or 18 cravings. Each of these cravings may have internal objects or external objects and this leads to 36 kinds of craving. Since each craving may relate to the present, past or future, there are thus a total of 108 kinds of tanha. But all kinds of craving boil down to three kinds of tanha viz., kama-, bhava- and vibhava-tanhas.

 

People who are in contact with unpleasant sense-objects long for pleasant objects. Those who suffer pain seek freedom from it. In short, according to the commentary, the suffering person longs for happiness. People seek freedom from pain, poverty and unpleasant objects and feelings. Absence of suffering means happiness (sukha). We seek freedom from preoccupation with unpleasant thoughts, from worry about food, clothing and shelter. But, once a man is well provided with the necessities of life, he tends to develop other cravings. Says the commentary, "The wealthy man wants to increase his wealth." For it is in the nature of tanha to be insatiable. We wish to enjoy the good things of life repeatedly; we wish to increase our possessions. The more we have, the more we want, and the higher the quality of life is, the greater is the desire to enhance it. Tanha never comes to an end for it is fuelled and perpetuated by vedana or feeling.

 

As regards the tanha associated with upekkha (neutral) feeling, the commentary describes the concomitant feeling as pleasant (sukha) because of its poise and subtlety. In the case of our contact with ordinary sense-objects, neither the pleasant feeling nor unpleasant feeling is apparent; but since this upekkha feeling is fine and subtle, it is tinged with (sukha) pleasantness and hence it makes us crave for more definite pleasure. It leads to discontentment with the ordinary sense-objects and kindles the desire for better food, better clothes, better sense-contact and better living conditions.

 

In short, pleasant sense-objects create attachment and craving for better objects. Unpleasant objects create the desire to be rid of them. When the sense-objects produce neither pleasant nor unpleasant feelings, we are still discontented with our lot and crave for better things. All these show how vedana gives rise to tanha.


Ái DụcLuân Hồi

 

Khi thức khởi sanh vào lúc thấy, v.v... đồng thời cũng có khởi sanh danh sắc, lục nhập, xúc và thọ. Đối với kẻ phàm phu chưa thoát khỏi phiền não, thọ dẫn đến ái. Rồi ái gây ra thủ, thủ lại khiến người ấy làm điều thiện hoặc bất thiện (kammabhava). Trong điều kiện đó, nghiệp hữu đưa đến tái sanh, để rồi khiến chúng sanh phải chịu sự già, bịnh, chết và các điều khổ khác về thân cũng như tâm. Điều này cho thấy các thọ dẫn đến cái khổ luân hồi.

 

Không ai có thể ngăn cản sự sanh khởi của danh sắc, lục nhập, xúc và thọ, là những pháp cùng sanh với thức. Đức Phật và chư vị A-la-hán cũng có các thọ lạc, khổ hoặc xả, là kết quả của sự tiếp xúc với các cảnh. Các Ngài thọ khổ sanh lên từ thân, nhưng các Ngài không có thọ khổ trong tâm. Các Ngài cũng không vui thích những cảm giác khoái lạc. Bởi vậy, các Ngài thoát khỏi khao khát và luyến ái. Các Ngài không cố gắng tầm cầu khoái lạc và hạnh phúc, và do lối sống không tạo nghiệp của các Ngài, các Ngài đoạn diệt sự tái sanh, danh sắc và những nhân khổ khác. Đây là sự chấm dứt khổ đối với vị A-la-hán đã hoàn toàn thoát khỏi các phiền não.

 

Bởi vậy, có câu: "Do sự chấm dứt hoàn toàn ái dục bằng con đường thánh đạo, nên thủ cũng chấm dứt".

 

Sự trải qua các cảm thọ lạc và khổ khiến kẻ phàm phu chưa chứng đắc A-la-hán khao khát những điều tốt đẹp của đời sống, nhưng nó không ảnh hưởng đến những người đã chứng đắc A-la-hán. Điều này nghe ra khó tin đối với kẻ phàm phu, nhưng thật ra cảnh cám dỗ nhất cũng không hấp dẫn vị A-la-hán và vị ấy cũng không vui thích lợi ích cho mình. Do đó, vị ấy hoàn toàn thoát khỏi khao khát và luyến ái và điều này có nghĩa là sự chấm dứt nghiệp hữu, tái sanh và những điều khổ nối theo của nó.

 

Bởi vậy, có câu: "Sự chấm dứt thủ dẫn đến sự chấm dứt nguyên nhân của tái sanh (nghiệp hữu). Sự chấm dứt nghiệp hữu dẫn đến sự chấm dứt tái sanh. Sự chấm dứt tái sanh dẫn đến sự chấm dứt già, chết, ưu bi, v.v...

 

 

Tanha And Samsara

 

Simultaneously with the arising of consciousness at the moment of seeing, etc., there arise nama-rupa, ayatana, phassa and vedana. For every ordinary person who is not yet free from defilements, vedana (feeling) leads to tanha. Tanha in turn causes upadana (clinging) that makes him do a good or a bad deed (kammabhava). Under certain conditions, kammabhava gives rise to rebirth that makes living beings subject to old age, sickness, death, grief and all other mental and physical sufferings. This is how feelings lead to samsaric dukkha.

 

Nobody can prevent the arising of nama-rupa, ayatana, phassa and vedana as concomitants of vinnana. The Buddha and the Arahats, too, have pleasant, unpleasant or neutral (upekkha) feelings as a result of contact with sense-objects. They feel pain that arises from physical affliction but they do not suffer mentally; nor do they take delight in pleasant sensations. So they are free from craving and attachment. They do not strive for pleasure and happiness and because of their non-kammic way of life, they do away with rebirth, nama-rupa and other causes of suffering. This is the extinction of dukkha for the Arahat who is completely free from defilements.

 

So it is said, "Due to the complete extinction of tanha that is rooted in pleasant or unpleasant feeling on the Ariyan path, there arises the extinction of upadana (clinging)."

 

Experience of the pleasant or unpleasant feelings make the non-Arahats crave for the good things of life but it has no effect on the person who has attained Arahatship after passing through the successive stages on the holy path. This may sound incredible to the common people but in fact the most alluring sense-object has no appeal for the Arahat and he takes no interest in his welfare. He is, therefore, wholly free from craving and attachment and this means complete extinction of kammic effort, rebirth and its attendant suffering.

 

So it is said, "The extinction of upadana leads to the extinction of the cause of rebirth (kammic effort). The extinction of kammic effort leads to extinction of rebirth. Extinction of rebirth leads to extinction of old age, death, grief, etc."


Sự Chấm Dứt Ái Dục

 

Tóm lại, do sự chấm dứt hoàn toàn ái dục bởi đạo quả A-la-hán, nên có sự chấm dứt hoàn toàn mọi kết quả sau nó, và điều này có nghĩa là sự chấm dứt khổ.

 

Cũng như đạo quả A-la-hán là sự chấm dứt hoàn toàn ái dục, sự chứng đắc tầng thánh A-na-hàm có nghĩa là sự chấm dứt ái dục cùng với sự tái sanh trong cõi dục, sự già, chết. Ở tầng thánh Tu-đà-hườn, hành giả nắm chắc là đã đoạn diệt tất cả ái dục dẫn đến bốn khổ cảnhkhông luân hồi quá bảy kiếp. Bởi vậy, vị ấy thoát khỏi tất cả đau khổ của bốn ác đạo xứ và sau bảy kiếp ở cõi dục, vị ấy cũng thoát khỏi hoàn toàn đau khổ. Như vậy, sự hàm ý trong pháp duyên khởiái dục càng yếu thì khổ càng ít.

 

Cũng vậy, tuệ minh sát bảo đảm sự chấm dứt ái dục trong từng chốc lát. Sự sanh khởi sáu cảnh dẫn đến thọ khổ hoặc lạc, và nếu khôngtuệ minh sát, nó sẽ dẫn đến ái và những điều khổ nối theo.

 

Nhưng đối với vị hành giả thường xuyên thực hành chánh niệm và đã phát triển tuệ minh sát, vị ấy chỉ thấy sự sanh và diệt của tất cả các pháp, tánh chất vô thường, khổ và vô ngã của chúng. Vị ấy cũng thấy rằng thọ khổ hay lạc sanh và diệt tức khắc. Bởi vậy, vị ấy không vui thích khi thọ sanh khởi, vị ấy không thèm muốn thọ khác. Vị ấy thoát khỏi tất cả ái dục.

 

Sự chấm dứt ái dục do bởi thánh đạo khác với sự chấm dứt do bởi pháp minh sát ở chỗ: Sự chấm dứt do thánh đạochấm dứt vĩnh viễn, trong khi sự chấm dứt bằng pháp minh sát thì không vĩnh viễn. Ái dục chỉ chấm dứt vào lúc quán và đối với cảnh được quán. Do đó nó được gọi là "Giải thoát tạm thời - Tadanganibbuti" hay sự chấm dứt phiền não từng phần.

 

Vị hành giả thiền quán chỉ biết sự thấy, nghe, v.v... Trạng thái biết đơn thuần như vậy không pha chút ái dục nào, và kết quả là thủ, nghiệp, tái sanh, v.v... cũng không xảy ra. Nói cách khác, do sự chấm dứt ái, vòng luân hồi tạm thời bị cắt đứt và sự chấm dứt ấy được gọi là giải thoát tạm thời.

 

Extinction Of Craving

 

In short, with the complete extinction of tanha due to Arahatship, there is the complete extinction of all its consequences and this means the extinction of suffering. It does not imply the disappearance of happiness or a living being. It is simply the cessation of the nama-rupa process that is the source of dukkha.

 

Just as Arahatship means complete extinction of craving, the attainment of anagami stage on the path means extinction of sensuous craving together with rebirth in the sensual world, old age, death, etc. At the sotapatti stage, the yogi is assured of extinction of all craving that may lead to the lower worlds or more than seven existences. So he is free from all suffering of the lower worlds and the suffering for more than seven lifetimes in the sensual world. Thus implicit in the Paticcasamuppada is the lessening of dukkha with the weakening of tanha.

 

Likewise, the vipassana insight ensures the momentary extinction of tanha. The arising of six sense-objects leads to pleasant or unpleasant feeling and in the absence of vipassana insight, it finally ends in tanha and its attendant suffering.

 

But as for the yogi who practises constant mindfulness and has developed vipassana insight, he finds only the arising and passing away of all phenomena, their impermanence, suffering and impersonality. He also finds that the pleasant or unpleasant feeling arises and passes away instantly. So he does not delight in the feeling that arises, he does not crave for another feeling; he is free from all craving.

 

Extinction of craving on the Ariyan holy path differs from extinction by vipassana in that in the former case, the extinction is permanent and it concerns every sense-object whereas in the latter case extinction is neither permanent nor universal. Tanha is extinct only at the moment of contemplation and only in respect of the object contemplated. Hence, it is called "tadanga nibbuti", momentary or partial extinction of defilements.

 

The yogi who practises meditation is barely aware of seeing, hearing, etc. This state of bare awareness leaves no room for tanha and as a result upadana (clinging), kamma, rebirth, etc., cease to occur. In other words, with the cessation of tanha, the samsaric cycle is partly cut off and this is called tadanga nibbuti.


Tích Chuyện Trưởng Lão Mahàtissa

 

Có một câu chuyện về trưởng lão Mahàtissa xảy ra tại Sri lankà, người đã đoạn diệt ái dục bằng con đường thiền chỉthiền quán. Một hôm nọ, Ngài rời khỏi ẩn xá ở trong rừng, để vào thành phố khất thực. Trên đường đi, Ngài gặp một thiếu phụ đang bỏ nhà ra đi sau khi gây gổ với chồng. Nhìn thấy trưởng lão, tình ái trong người nàng bộc phát và nàng cười to một cách đầy quyến rũ. Khi nhìn nàng, trưởng lão chú ý đến hàm răng của nàng. Vì Ngài đang thực hành pháp quán niệm đề mục bộ xương, nên toàn thân của nàng đối với Ngài chỉ là một đống xương không hơn không kém. Ngài tập trung vào ấn tướng này và đắc định. và sau khi quán bộ xương với tâm ở trạng thái cận định, Ngài chứng đắc đạo quả A-la-hán.

 

Trưởng lão tiếp tục đi khất thực và trên đường đi, Ngài gặp chồng của nàng. Người đàn ông hỏi ngài có thấy người đàn bà kia, mang diện mạo như thế, như thế không. Trưởng lão đáp lại rằng Ngài có thấy một người, nhưng không biết đó là đàn ông hay đàn bà. Tất cả những gì Ngài thấy được chỉ là một bộ xương đang đi đó thôi.

 

Cái mà Ngài trông thấy thực ra chỉ là một bộ xương của người đàn bà, nhưng pháp quán của Ngài đã chuyển ấn tướng về tấm thân của nàng thành hình ảnh một bộ xương. Bởi vậy, trong tâm của Ngài không hề pha chút dục vọng hay phiền não nào khác khi Ngài bắt cảnh người đàn bà kia. Như vậy, nhờ pháp quán dựa trên nền tảng của tâm thiền, Ngài đã đoạn trừ mọi lậu hoặcchứng đắc đạo quả A-la-hán.

 

Câu chuyện này có thể làm sanh khởi hoài nghi trong số những người không hành thiền, về sự sanh khởi hình ảnh bộ xương vào lúc thấy hàm răng của một người. Nhưng nếu không hành thiền, người ta không thể hiểu pháp thiền đem lại sự thành tựu như thế nào. Chỉ tu thiềnkhông quán thì không thể tạo ra những hình ảnh trong tâm, vì những hình ảnh tùy thuộc vào pháp quán vững chắclâu dài. Sự tưởng tượng là sức mạnh của tưởng. Quán thường xuyên sẽ làm cho tưởng mạnh lên, nhờ đó mà người ta có thể tạo ra bất cứ loại hình ảnh nào về chính mình hoặc của người khác. Khả năng của tâm như vậy có thể xảy ra ngay cả với con chim két, như đã được kể lại trong chú giải của bài kinh Đại niệm xứ.

The Story Of Mahatissa Thera

 

There is the story of Mahatissa thera in Sri Lanka who overcame tanha through the practice of both samatha and vipassana. One day he left his forest retreat early in the morning and on the way to Anuradha city for his begging round, he met a woman who had left her home after quarrelling with her husband. At the sight of the thera, there arose in her a lustful desire and she laughed aloud seductively. On looking at her the thera noticed her teeth. Since he had been contemplating the skeleton, the whole body of the woman appeared as a heap of bones. He concentrated on this mental image and attained jhana. Then, after contemplating the image of the skeleton in his jhanic state of mind, he attained Arahatship.

 

The thera continued his journey and on the way met the woman's husband. The man asked him whether he had seen a woman. The thera replied that he did see something but that he did not know whether it was a man or a woman. All that he noticed was a skeleton that passed him on the way.

 

What he actually saw was the woman's teeth, but his practice of contemplation had turned his impression of her body into the image of a skeleton. Hence, in his mind there was no room for lust or any other defilement arising from his sense-contact with the woman. Then practising vipassana on the basis of his jhanic consciousness, he became free from defilements and attained Arahatship.

 

This story might raise doubts among non-meditating people as regards the arising of the image of a skeleton at the sight of a person's teeth, but without practice one cannot have any clear idea of what mind training (bhavana) can accomplish. The mere exercise of concentration without any training cannot help to create mental images for these depend on steadfast and prolonged practice of contemplation. Imagination is the power of perception. Repeated contemplation strengthens perception which then helps create any kind of image of oneself or other people. This faculty of mind is possible even for a parrot as is borne out by a story in the commentary on Satipatthana sutta.


Chuyện Chim Két

 

Có một vũ nữ nọ ngủ trọ qua đêm tại chỗ ngụ của các vị Tỳ-khưu-ni và khi ra đi, nàng bỏ lại một con chim két thông minh. Con chim được các vị Sa-di-ni đem về nuôi dưỡng và nó được đặt tên là Buddha-rakkhita. Vị trưởng ni viện nghĩ rằng: "Một việc phước cần làm là dạy con chim két quán một đề mục nào đó trong khi nó đang sống giữa những con vật đầy khát ái". Bởi vậy, bà ta dạy nó niệm đề mục: "Atthi: bộ xương".

 

Một sáng nọ, chim két bị một con diều hâu lớn tha đi. Nghe tiếng la ó rầm rộ của những vị Sa-di-ni, diều hâu sợ hãi và buông thả chim két. Vị ni trưởng hỏi nó đã quán gì khi bị diều hâu tha đi. Chim két nói rằng: "Con nghĩ về một bộ xương đang bị tha đi và con tự hỏi nó sẽ bị tan rã ở đâu". Vị ni trưởng nói rằng: "Lành thay! Pháp quán này sẽ giúp con thoát khỏi kiếp sống luân hồi".

 

Một đề mục được quán thường xuyên sẽ tạo ra ấn tượng sâu đậm. Bởi vì ngay cả một con chim két cũng có thể tưởng tượng ra bộ xương thì không lý do gì mà con người không thể làm như thế được. Chim két tưởng tượng chính nó cũng như những kẻ khác là những bộ xương. Do nhờ pháp quán này, nó đã không sợ hãi, nóng giận hay lo lắng khi nó bị diều hâu tha đi.

 

Bởi vậy, pháp thiền Tứ niệm xứ được tán dươngpháp hành giúp đoạn trừ ưu bi và đem lại sự chấm dứt cái khổ về cả thân lẫn tâm. Nhưng có thể có nhiều người không thông minh bằng chim két trong câu chuyện, vì họ không bao giờ vui thích pháp và sự quán niệm về nó. Vị hành giả nên quyết tâm tu tập tiến bộ hơn chim két bằng thiền minh sát.

 

Nếu trưởng lão Mahàtissa không xem người đàn bà đang cười là bộ xương thì vị ấy chắc chắn có thể khởi dục tìnhtrở thành con mồi cho sự quyến rũ ở chỗ vắng vẻ của rừng núi. Dầu lúc ấy trưởng lão không có dục tình, nhưng ấn tượng người đàn bà sẽ tạo cơ hội để vị ấy bị sa ngã vào dịp khác. Nhờ pháp quán về bộ xương trong pháp hành minh sát, Ngài đã đoạn trừ các pháp ô nhiễmthành đạt rốt ráo khỏi kiếp sống luân hồi. Ở đây, sự chấm dứt ái dục qua pháp hành minh sát được gọi là: "Giải thoát tạm thời - tadanga", trong khi sự chấm dứt ái dục bằng đạo quả A-la-hán thì được gọi là "Giải thoát hoàn toàn".

 

Story Of A Parrot

 

A dancer put up for the night at the residence of bhikkhunis and when she went away, she left an intelligent parrot. The bird was cared for by the novitiates and it was called Buddha-rakkhita. The abbess of the nunnery thought that it would be good if there was something to contemplate for the bird living among the spiritual aspirants. So she taught her to contemplate "atthi: skeleton".

 

One morning the parrot was swooped up by an eagle. In the wake of the hue and cry raised by the young nuns, the eagle became frightened and dropped the parrot. The Abbess asked it what it contemplated when it was seized by the eagle. The bird replied, "I thought of a skeleton being carried off and I wondered where it would be scattered." The Abbess said "Well done! This contemplation will contribute to your liberation from samsaric existence."

 

A thing that is repeatedly contemplated will become fixed in the long run. Since even a parrot can imagine a skeleton, there is no reason why a human being cannot do likewise. The parrot imagined itself as well as others to be skeletons. Because of this contemplation, it had no fear, anger or worry when it was taken away by the eagle.

 

So Satipatthana bhavana is extolled as a practice that helps to overcome grief and anxiety and to bring about the extinction of mental and physical suffering. But there may be many people who are not as wise as the parrot in the story since they never take interest in the dhamma and contemplate it. The yogi should resolve to surpass the parrot in the practice of vipassana.

 

If Mahatissa thera had failed to regard the laughing woman as a skeleton, he might have become lustful and fallen a victim to temptation in the solitude of the forest. Even if he had no sexual desire at that time, any impression of the woman would have laid him open to temptation at other times. But thanks to his contemplation of the skeleton in the practice of vipassana, he overcame defilements and achieved final liberation from samsaric existence. Here, the extinction of tanha through vipassana practice is called tadanga nibbuti, partial extinction, while extinction through arahatship is called "total extinction".


Quán Và Đoạn Trừ

 

Bởi vậy, với sự chấm dứt hoàn toàn ái dục mà do thọ làm duyên sanh, cũng có sự chấm dứt thủ, tức là chấm dứt toàn bộ mọi kết quả của ái. Quán vô thường, khổ và vô ngã bảo đảm sự chấm dứt tạm thời ái, thủ, nghiệp, tái sanh, v.v... Mục đích của pháp hành minh sátchấm dứt mọi lậu hoặc và cái khổ luân hồi. Bởi vậy, nó là vấn đề tối quan trọng đáng được quan tâm đối với nhưng ai tầm cầu giải thoát hoàn toàn. Nếu khôngpháp hành này thì thọ lạc hay khổ vào mỗi lúc thấy v.v... chắc chắn dẫn đến nghiệp và tái sanh.

 

Thức có liên quan trong mỗi lúc thấy là do vô minh và hành trong kiếp quá khứ. Sự thấy xảy ra cùng với thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ. Các bài kinh mô tả từng pháp này một cách riêng lẻ, nhưng thật ra chúng không khởi sanh riêng lẻ, cái này đến cái khác. Nếu thức khởi sanh từ hành, thì nó khởi sanh chung với danh sắc, lục nhập, xúc và thọ. Tất cả những pháp này đều là kết quả của nghiệp hành quá khứ. Chúng được gọi là Dị thục quả luân hồi (vipàkavatta), vì đó là những kết quả của vòng luân hồi. Phiền não luân hồi, tức là vô minh, ái và thủ, tạo ra nghiệp luân hồi, là nghiệp và hành; Nghiệp luân hồi dẫn đến quả luân hồi, là thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ, chúng lại dẫn đến phiền não luân hồi.

 

Sự khởi sanh năm quả luân hồi này vào lúc thấy nghĩa là đối với hầu hết chúng sanh chỉ có thấy. Thực ra, sự thấy là sản phẩm của thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ, cũng như những sự kiện tâm sinh lý khác như nghe, ngửi, v.v...

 

Sự thấy bao gồm thức cùng với tác ý (manasikàra), tư (cetanà) v.v... cộng thêm nhãn căn bao gồm danh sắc. Nó cũng bao gồm bốn xứ là sắc thần kinh mắt, cảnh sắc, nhãn thứcpháp xứ. Sự tiếp xúc với cảnh sắc là xúc và sự khổ hay lạc mà cảnh đem lại là thọ. Do vậy, tất cả năm quả đều gắn liền vào mỗi lúc thấy. Nghe, ngửi v.v... cũng y như vậy.

 

 

Contemplation And Extinction

 

So with the total extinction of tanha that results from vedana, there is the extinction of upadana which means the extinction of all the consequences of craving. Contemplation of anicca, dukkha and anatta ensures the partial extinction of tanha, upadana, kamma, rebirth, etc. The object of vipassana practice is to put an end to defilements and samsaric suffering. So it is a matter of paramount importance that deserves the attention of everyone who seeks total liberation. Without this practice, pleasant or unpleasant feeling at every moment of seeing, etc., is bound to lead to craving, kamma and rebirth.

 

The consciousness involved in every moment of seeing is due to avijja and sankhara in the previous existence. Seeing occurs together with vinnana, nama-rupa, ayatana, phassa and vedana. The scriptures treat each of these dhammas separately in terms of their causal relations, but in fact they do not arise separately one after another. If vinnana arises from sankhara, it arises together with its respective nama-rupa, ayatana, phassa and vedana. All of these dhammas are the results of the past kamma sankhara. They are termed vipaka-vatta which means round or cycle of resultants. The round of defilements viz., ignorance, craving and clinging produce round of kamma viz., kamma and sankhara which leads to round of resultants viz., consciousness, nama-rupa, sense-organs, contact, feeling which again give rise to the round of defilements.

 

The arising of these five resultants at the moment of seeing means to most people simply just seeing. In fact, seeing is the product of vinnana, nama-rupa, ayatana, phassa and vedana as are other psycho-physical events such as hearing, smelling and so forth.

 

Seeing involves consciousness together with mental advertence (manasikara), volition (cetana), etc., plus the eye-organ which comprises the nama-rupa. It also involves four ayatanas viz., eye sensitivity, visual object, eye consciousness and mental advertence (dhammayatana). Contact with the visual object is phassa and the pleasantness or unpleasantness that the object causes is vedana. Hence all the five resultants are bound up with every moment of seeing. The same may be said of other phenomena that arise from hearing, smelling and so forth.


Đoạn Diệt Ở Gốc Rễ

 

Năm kết quả hay năm pháp thuộc tâm sinh lý này xảy ra liên tụclần lượt, bao gồm cái mà chúng ta gọi là người, chư thiên hay chúng sanh. Những cách gọi thông thường này thực ra chỉ về năm uẩn. Không có chúng sanh thường tồn và vững chắc. Sự thật duy nhất là sự sanh diệt của danh sắc, và đối với vị hành giảchánh niệm, tuệ quán này có nghĩa là sự chấm dứt ái, thủ, nghiệp, tái sanh và khổ, là một chuỗi gồm những kết quả phát sanh từ thọ, dành chung cho mọi người.

 

Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt bánh xe sanh tử (paticcasamuppàda) qua sự cắt đứt then chốt của nó, tức là ái, do thọ làm duyên sanh.

 

Để ngăn ngừa không cho ái sanh khởi từ thọ, vào lúc thấy, hành giả phải tập trung chú ý vào mỗi pháp khởi sanh từ sáu căn. Ở đây, sự tiếp xúc rõ ràng nhất là sự tiếp xúc liên quan đến các nguyên tố ở dạng thô (mahàbhùta - đại chủng) và nó cần thiết cho hành giả mới bắt đầu thiền quán.

 

Cách này phù hợp với lời dạy của Đức Phật trong bài kinh Đại niệm xứ: "Gacchanto va gacchàmìti pajànàti: hành giả biết rằng vị ấy đang đi khi đó vị ấy đi". Vị ấy biết nó khi đó vị ấy niệm: "đi, đi". Vị hành giả thực hành pháp niệm khi đang đứng, nằm, duỗi tay hay làm bất cứ điều gì khác. Khi không có hành động của thân hay sự chuyển động nào để niệm, vị ấy nên chú tâm vào sự phồng và xẹp của cái bụng, vị ấy cũng nên niệm bất cứ tư tưởng nào hay hoạt động nào của tâm và bất cứ thọ nào khởi lên trong người vị ấy. Tóm lại, vị ấy phải chánh niệm đối với tất cả các pháp thuộc về cả thân lẫn tâm mà khởi sanh từ sáu căn. Khi định phát triển, niệm như vậy dẫn đến tuệ quán, khiến cho ái dục không có chỗ để khởi sanh. Do sự chấm dứt ái, cũng có sự chấm dứt thủ và tái sanh cùng với tất cả khổ nối theo. Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt kiếp sống luân hồi qua sự chấm dứt nguyên nhân cốt yếu là ái dục.

 

Ngày nay, khoa học và kỹ thuật đã tạo ra các loại máy móc mà chúng ta không thể cho hoạt động hoặc ngưng hoạt động mà không có kiến thức về cách sử dụng chúng. Những người biết bí mật có thể làm cho chúng hoạt động bằng cách bấm vào các nút điều khiển. Cũng vậy, điểm then chốt của vòng luân hồi mà kinh Duyên khởi mô tả là ái do thọ làm duyên sanh. Nhưng điều này có thật chỉ khi nào thọ đi kèm với hai khuynh hướng ngủ ngầm, đó là Santànusàya (hiện hữu tùy miên) và àrammanànusàya (cảnh tùy miên). Các vị A-la-hán đã đoạn diệt những khuynh hướng này. Vì vậy, dầu các Ngài vẫn còn các thọ, nhưng ái của các Ngài đã chấm dứt. Sự chấm dứt ái như vậy không còn chỗ để nghiệp mới phát sanh, làm vô hiệu nghiệp cũ, và không còn sự tái sanh sau khi các Ngài nhập Vô dư Niết-bàn.

 

Những kẻ phàm phu vẫn còn những phiền não ngủ ngầm, có nghĩa là sự hiện hữu của ái dục không những còn nằm tiềm ẩn ở một nơi nào đó, mà trong những hoàn cảnh thích hợp, chúng có thể khởi sanh lên. Cho nên từ Pàli: Santànusaya kilesa (hiện hữu tùy miên phiền não) ám chỉ khuynh hướng này. Phiền não ngủ ngầm có thể trở thành tham, sân, si và những điều ác khác đối với những người không quán về danh sắcvì vậy họ rơi vào các ảo tưởng về sự thường tồn, lạc và hữu ngã. Phiền não mà khởi sanh từ các cảnh khi vắng mặt tuệ minh sát thì được gọi là Aramapànusaya kilesa (cảnh tùy miên phiền não).

 

Cutting Off At The Foundation

 

These five psycho-physical resultants or phenomena occur ceaselessly one after another and comprise what we call man, deva or living being. These are conventional terms that refer in fact to the collection of the five nama-rupa elements. There is no solid, monolithic and permanent being. The only reality is the arising and passing away of nama-rupa and for the mindful yogi, this insight means the extinction of craving, clinging, kamma, rebirth, suffering - a chain of consequences that might result from feeling in the case of common people.

 

This is the way to the cessation of the wheel of life (Paticcasamuppada) through the elimination of its key link viz., tanha as conditioned by feeling. In order to prevent tanha from arising as the result of vedana, at every moment of seeing the yogi should focus on every phenomenon that arises from six senses. Here, the most obvious of these sense contacts is the tactile sensation that concerns gross primary elements (Mahabhuta) and it is necessary for the beginner to start contemplation with it.

 

This way is in accord with the Buddha's teaching in Satipatthana sutta, "Gacchanto va gacchamiti pajanati: (the yogi) knows that he is walking when he walks." How does he know it? He knows it as he notes mentally "walking, walking". He practises mindfulness, too, when he stands, lies, bends his arms, or does anything else. When there is no bodily action or movement to be noted, he should direct his attention to the abdominal rising and falling. He should also note any thought, or mental activity and any feeling that may arise in him. In short, he must be mindful of all the psycho-physical phenomena that arise from the six senses. As concentration develops, such mindfulness leads to insight into anicca, dukkha and anatta, an insight that leaves no room for craving. With the extinction of craving, there is also an end to clinging, and rebirth with all its attendant suffering. This is the way to the cessation of samsaric existence or life-cycle through the elimination of its root cause, namely, craving.

 

Today, science and technology have created machines which we cannot run or stop running without a knowledge of their modus operandi. Those who know the secret can operate them by manipulating their key plugs. In the same way, the keynote of the life-cycle as described by the doctrine of Paticcasamuppada is that tanha is caused by vedana, but this is true only if vedana is coupled with two kinds of latent tendencies (anusaya) viz., Santananusaya and arammananusaya. The Arahats are free from these tendencies and so, although they have feelings, their craving is extinct. This extinction of craving leaves no room for new kamma, neutralizes old kamma, and there is no more rebirth after their parinibbana.

 

But ordinary people have potential defilements which means not the existence of evil desires lying latent somewhere but only the possibility of their arising under certain circumstances. Hence, the Pali term santananusaya kilesa for this tendency. This potential kilesa may become greed, hatred, ignorance and other evils in the case of those who fail to contemplate the nama-rupas and so become subject to the illusions of permanency, happiness and ego-entity. This kilesa which may arise from sense-objects in the absence of vipassana insight is called arammananusaya kilesa.


Phiền Não Và Sự Thất Niệm

 

Tham và sân khởi sanh liên quan đến cảnh mà người ta đã thấy hoặc đã nghe, là sự hiện bày pháp ngủ ngầm thứ hai. Những ấn tượngchúng ta nuôi dưỡng là những ấn tượng về người hoặc vật thường tồn, khả ái hoặc dễ ghét. Cho nên sự nhớ lại những hình ảnh ấy làm sanh khởi tham, sân và si mê hay ảo tưởng về sự thường tồn.

 

Tham là từ đồng nghĩa với ái. Nó sanh lên do bởi thọ lạc. Nhưng khi có thọ khổ, nó cũng sanh lên, khiến chúng ta thèm khát những cảm giác khoái lạc. Vô minh cũng dẫn đến tự mãn, tham và ái. Như vậy, tham, sân và si làm sanh khởi thọ và thọ làm sanh khởi ái cùng với những cái khổ nối theo của kiếp sống luân hồi. Chỉ có sự thực hành pháp niệm thấy, nghe v.v... mới loại trừ được ái hoặc tham luyến đối với những cảm xúc khoái lạc. Không có pháp hành này, ái ngự trị chúng ta và dẫn đến cái khổ trong kiếp sau cũng như bây giờ.

 

Ở trong câu chuyện bổn sanh Mora-jàtaka, Bồ tát lúc bấy giờ là chim công trống, thường hay đọc câu thần chú hộ thân khi đi ngủ lúc tối và khi thức dậy lúc sáng sớm. Cho nên suốt bảy trăm năm, ngài đã thoát được lưới bẩy của bọn thợ săn. Sau đó, một người thợ săn khác dùng một con công cái làm chim mồi, và bị mê hoặc bởi giọng hót của nó, công trống quên tụng chú hộ thân và bị dính bẩy.

 

Tại Ba la nại, có một tay nhạc công chơi đàn hạc tên là Guttila. Vị ấy mê say một cô gái, nhưng bị chế giễu và từ chối. Bởi vậy, ban đêm cậu ta ca một bản nhạc rất mùi mẫn và đánh nhạc ở ngay trước nhà của nàng. Bị mê hoặc bởi tiếng nhạc, cô gái chạy ào ra khỏi nhà như bị thôi miên, ngã nhào và chết tại chỗ.

 

câu chuyện Morajàtaka, chính giọng cái, và ở câu chuyện sau, lại do giọng đực mà đem lại đau khổ và cái chết.

 

Không ai phủ nhận rằng cái mà chúng nghe là vô thường. Mọi cái mà chúng ta nghe đều biến mất liền liền, tuy thế chúng ta vẫn thích những bài ca và tiếng nhạc, vì tánh chất có vẻ liên tục của chúng. Nếu chúng ta niệm mỗi âm thanh rằng: "Nghe à, nghe à" thì sự giác ngộ của chúng ta về tánh chất vô thường của chúng sẽ làm cho các thọ lạc của chúng ta không thể dẫn đến ái. Nhờ thế, thủ không sanh khởi và tất cả những điều khổ nối theo cũng thế.

 

Hành giả ít khi ngửi mùi. Dĩ nhiên, vị ấy cũng phải niệm nó và thấy rằng nó không làm cho ái sanh khởi.

 

Chánh niệm đặc biệt rất quan trọng trong việc ăn uống. Người không có chánh niệm thì thích thú khi ăn món ngon. Người ấy thích khoái lạc như vậy. Người ấy muốn trong tương lai và kiếp sau cũng được như thế. Ái dục về đồ ăn và thức uống rất mạnh mẽ, nó có thể dẫn đến một kiếp sống mà khiến người ta phải sống bằng đồ ăn dở. Như vậy, theo bài kinh Bàlapandita sutta (Hiền ngu kinh), những người làm ác nghiệp để kiếm miếng ăn ngon đều phải tái sanh làm súc vật để ăn cỏ, lá hoặc phẩn của người ta.

 

Ăn vật thực xấu cũng có khuynh hướng tạo ra ước muốn vật thực tốt. Do đó, hành giả phải quán niệm tất cả mọi thứ, mọi cử động của tay, miệng và mọi cảm xúc khi đó vị ấy ăn. Qua pháp niệm này, vị ấy sẽ thấy sự diệt trong mọi hành động của vị ấy, mọi cảm xúc và thọ. Bằng cách này, vị ấy sẽ đạt được tuệ quán về tánh chất vô thường của mọi pháp, là tuệ quán dẫn đến sự chấm dứt ái dục và những điều khổ nối theo của nó.

Kilesa And Unmindfulness

             

Greed and anger that arise in connection with what one has seen or heard are the manifestations of the second kind of latent tendency. The impressions that we retain are those of permanent, lovely or repulsive beings or things. So recall of those images gives rise to attachment (lobha), anger (dosa) or illusion of permanency (moha).

 

Lobha is another synonym for tanha. It is due to pleasant feeling but it may also arise when unpleasant feeling makes us crave for pleasant sensations. Ignorance, too, leads to complacency, attachment and craving. Thus lobha, dosa and moha give rise to feeling which in turn causes craving with its attendant sufferings of samsaric existence. It is only the practice in bare awareness of seeing, hearing, etc., that rules out the possibility of craving and nostalgia for the pleasant sensations from the senses. Without this practice, craving dominates us and leads to suffering in afterlife as well as here and now.

 

In the Mora jataka, the bodhisatta who was then a peacock used to utter a gatha when he arose in the morning and when he went to sleep in the evening. So for 700 years he escaped the trap set by a hunter. Then the hunter employed a peahen as a decoy and enticed by her, the peacock forgot to recite the gatha and fell into the trap. In Benares, there was a harpist called Guttila. He made love to a girl but he was ridiculed and rejected. So at night he sang a very sweet song and played his harp in front of the girl's house. Fascinated by the music, the girl rushed out blindly, stumbled and fell to her death. In the Mora jataka it was the female voice, and here it was the male voice that brought about suffering and death.

 

No one can deny that what we hear is impermanent. Everything that we hear vanishes instantly, yet we enjoy songs and music because of their apparent continuity. If we note every sound, "hearing, hearing" mentally, our realization of their impermanence makes it impossible for our pleasant feelings to become cravings. This means non-arising of upadana and all its resultant suffering.

 

Smell is seldom experienced by the yogi. He must, of course, note it and see that it does not give rise to craving.

 

Mindfulness is especially important in eating. The unmindful person delights in eating good food. He is fond of such pleasure; he craves for it in future and hereafter. This craving for good food and drinks is powerful. It may lead to an existence that makes a person subsist on bad food. Thus, according to the Balapandita sutta, those who do misdeeds for the pleasure of good food are reborn as animals that eat grass, leaves or human excreta.

 

Eating bad food also tends to create the desire for good food. Therefore, it is necessary for the yogi to note everything, every movement of his hand and mouth and every sensation when he is eating. Through this practice of mindfulness he becomes aware of the vanishing of his actions, sensations and feeling. In this way he gains an insight into impermanence of everything, an insight that leads to the extinction of craving and its attendant suffering.


Tư Tưởng Và Sự Cảm Xúc

 

Sự cảm xúc luôn luôn có mặt trên khắp thân thể. Sự suy nghĩ cũng thế, hiện diện trong mọi lúc, ngoại trừ khi hành giả đi ngủ. Bởi vậy, những tư tưởng và những cảm xúc trở thành các đối tượng của pháp quán trong hầu hết mọi khi. Hành giả quán những sự xúc chạm khi không có gì khác để chú ý vào.

 

Vị ấy quán niệm những tư tưởng của mình, dầu chúng có tính chất khả ái hay không khả ái. Hành giả sơ cơ thường bị những tư tưởng phóng dật như vậy, nhưng chúng thường biến mất khi đó vị ấy đã an trú trong pháp hành và phát triển sự định tâm. Những tư tưởng về pháp đôi khi xảy đến với một số hành giả và những tư tưởng này cần phải được chú niệm. Sự quán niệm những tư tưởng này cũng làm phát sanh tuệ quán về tánh chất vô thường và sự chấm dứt khổ.

 

Ở đây, một số người có thể thắc mắc rằng sự mô tả về pháp này có liên quan gì đến pháp duyên khởi. Pháp duyên khởi nêu ra những kết quả với những nhân của chúng làm duyên sanhmục đích của chúng tôi là chỉ cho thấy con đường dẫn đến sự chấm dứt cái khổ luân hồi do bởi sự tác động qua lại giữa các nhân và quả của chúng. Bởi vậy, chúng tôi phải mô tả pháp hành này bất cứ khi nào phù hợp. Như vậy, khi nóiù rằng: "Vô minh dẫn đến hành và hành dẫn đến tái sanh", chúng tôi phải chỉ ra cách đoạn trừ vô minh. Thức và các pháp khác cũng vậy, cuối cùngđau khổ. Điều cần nhấn mạnh là phải đoạn trừ mắc xích giữa thọ và ái, là nguyên nhân chính của đau khổ.

 

Thoughts And Tactile Impressions

 

Tactile impression is always present all over the physical body. Thinking, too, is also present all the time except when the yogi goes to sleep. So thoughts and tactile impressions form the objects of vipassana practice for most of the time. The yogi contemplates the tactile impressions when he has nothing else to engage his attention.

 

He notes his thoughts even though they happen to be unpleasant and undesirable. The beginner in meditation is often subject to such distractions, but they usually disappear as he gains practice and develops concentration. Thoughts about the Dhamma occur to some yogis from time to time and these should be noted. Introspection of these thoughts also ensures insight into impermanence and the extinction of suffering.

 

Here, some may wonder what this description of vipassana practice has to do with the discourse on Paticcasamuppada. The doctrine points out the chain of consequences as conditioned by their respective causes and our object is to show the way to the end of samsaric suffering that finally results from the interplay of their causes and consequences. So we have to describe the practice wherever it is relevant. Thus, when it is said that "avijja leads to sankhara and sankhara to rebirth", we have to show the way to remove avijja. So also in connection with vinnana, etc., that finally bring about dukkha, it is necessary to stress the need for removing the link between vedana and tanha, that is the main cause of dukkha.


Ba Loại Ái.

 

Nếu thọ khởi sanh từ sự tiếp xúc với các cảnh mà không được quán một cách đúng pháp, thì nó sẽ dẫn đến một trong ba loại ái: Dục ái, hữu áiphi hữu ái.

 

1/- Dục ái (kàmatanhà) nhắm đến các cảnh dục và nó phổ biến nhất trong những chúng sanh ở cõi dục.

 

2/- Hữu ái (bhavatanhà) có liên quan chặt chẽ với thường kiến (sassati-ditthi). Nó chấp vào sự thường tồn của chúng sanh và tánh chất không thể huỷ diệt của cái ngã, dầu tấm thân có tan rã đi nữa. Tà kiến này không ăn sâu vào hàng Phật tử. Những ai không theo giáo lý của Đức Phật thì chấp chặc nó, đến nỗi nó trở thành chướng ngại lớn cho việc giải thoát của những kẻ ấy. Hữu ái của họ thật rõ rệt ở ảo tưởng về cái ngã thường tồn và sự ưa thích dục lạc.

 

3/- Phi hữu ái (vibhavatanhà) sanh lên từ đoạn kiến. Tri kiến này không được tìm thấy trong hàng Phật tử chân chính. Phi hữu ái có nghĩa là muốn có sự đoạn diệt đời sống một cách tự nhiên sau khi chết, cũng như sự ưa thích dục lạc trong quan điểm duy vật.

 

Một trong ba loại ái này khởi sanh đều do không giác ngộ tánh chất vô thường, khổ và vô ngã qua sự quán niệm về các thọ. Bởi vậy, để đề phòng ngăn chặn ái và những điều khổ nối theo như tái sanh, lão tử v.v... hành giả nên quán mọi pháp và cố gắng thấy các pháp như thật. 

 

 

Three Kinds Of Craving (Tanha)

 

If feeling (vedana) that arises from contact with sense-objects is not rightly contemplated, it leads to one of the three kinds of craving viz., craving for sensual pleasure, craving for existence and craving for non-existence.

 

The first kind of craving (kamatanha) is focused on sensual objects and it is most prevalent among the living beings of the sensual world.

 

The craving for existence (bhavatanha) is bound up with the eternity-belief (sassata-ditthi). It presupposes the permanence of a living being and the indestructibility of the ego despite the dissolution of the physical body. The belief is not deep-rooted among the Buddhists, but non-Buddhists hold it so firmly that it is a major impediment to their spiritual liberation. Their craving for existence is evident in their illusion of permanent self and their love of sensual pleasure.

 

The craving for non-existence (vibhavatanha) is born of the annihilation belief (uccheda-ditthi). The belief is not found among Buddhists and no one is a true Buddhist if he or she holds the belief. The craving for non-existence means the desire for the automatic cessation of the life-stream after death as well as the love of pleasure rooted in the materialistic view of life.

 

Each of these three cravings stems from the failure to realize anicca, dukkha and anatta through the introspection of feelings. So in order to forestall craving and its consequences, namely, rebirth and suffering, the yogi should contemplate every phenomenon, and try to see everything as it really is.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 418)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 600)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 513)
06 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 637)
05 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 820)
03 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 625)
27 Tháng Hai 202010:02 SA(Xem: 111)
Cuối thế kỷ 20, lịch sử Phật giáo sang trang một cách bất ngờ. Khởi nguồn từ một vùng đất nghèo cằn cỗi của vùng đông bắc Thái Lan, tỉnh Ubon-rachathani. Ngày ấy, vị thiền sư tiếp một khách Tăng trẻ từ xa đến xin được tham học đạo thiền. Đó chỉ là lời khẩn khoản bình thường. Nhưng chính vị khách Tăng không giống bất cứ thiền sinh nào
26 Tháng Hai 20208:14 CH(Xem: 129)
Nowadays, when Buddha-dhamma is being disseminated, there should be only one basis of teaching relating to the Middle Way or the Eightfold Path: the practice of morality, concentration, and acquisition of profound knowledge, and the Four Noble Truths.
26 Tháng Hai 20203:56 CH(Xem: 137)
Này các thầy Tỳ Khưu, đây là con đường duy nhất để thanh lọc (tâm) chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc diệt khổ thân và khổ tâm, đạt Thánh ĐạoGiác Ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ. Bốn (cách quán sát đó) là gì? Này các thầy Tỳ Khưu,
25 Tháng Hai 20209:18 CH(Xem: 114)
‘Bạch Thế Tôn, mới rồi, một gia chủ giàu có ở thành Savatthi này qua đời mà không có con thừa kế. Con vừa cho chuyển tài sản của ông ta vào kho của hoàng cung; những tám triệu đồng tiền bằng vàng chưa kể số tiền bằng bạc. Mặc dù là một gia chủ giàu có, thế nhưng bữa ăn hằng ngày của ông ta thì chỉ là cháo nấu bằng gạo nát
24 Tháng Hai 20209:43 CH(Xem: 117)
Lộ trình tu tập được Thế Tôn ví như khúc gỗ trôi sông, xuôi về biển Niết-bàn. Lênh đênh chìm nổi trong hành trình mênh mang đó, có khúc gỗ về đến biển nhưng có khá nhiều khúc gỗ lại không. Người tu cũng vậy, chỉ khác khúc gỗ là không buông xuôi mà thường xuyên nỗ lực phản tỉnh để tháo gỡ, vượt qua chướng ngại mà xuôi đến
23 Tháng Hai 202010:39 CH(Xem: 145)
Tôi sanh ra trong một gia đình theo đạo Phật, và do đó tôi theo đạo Phật với tính cách "cha truyền con nối". Trên thực tế tôi rất ít chú ý tới vấn đề tôn giáo, nói chung. Một phần vì tôi thấy đa số người theo một tôn giáo nào đó thường đi lễ, đi chùa với mục đích để cầu phước lành cho kiếp sống hiện tại và để được lên thiên đường
21 Tháng Hai 20205:07 CH(Xem: 169)
Trong dòng lịch sử văn minh của nhân loại cách đây hơn 25 thế kỷ, những lời dạy về một nghệ thuật sống hoàn hảo, an bìnhhạnh phúc ngay trong hiện tại, một pháp môn tu tập có khả năng đưa đến giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau được Đức Phật, bậc Thầy
20 Tháng Hai 202010:38 CH(Xem: 154)
Ngài Anan hỏi Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, chúng con tu tập theo sự hướng dẫn của Thế Tôn thì khi nào chúng con sẽ đến được Niết Bàn?”. Đức Phật mới chỉ khúc cây trôi giữa dòng sông và nói: “Nếu khúc cây kia không bị kẹt vào bờ bên này, không bị kẹt vào bờ bên kia, không tự bị mục nát từ bên trong, không bị chìm xuống đáy,
18 Tháng Hai 202011:44 SA(Xem: 228)
Quyển sách này, The Experience of Insight, không phải là một quyển sách đặt nặng vào phần lý thuyết, mà là một quyển sách chú trọng về sự thực hành. Joseph Goldstein là một thiền sư Hoa Kỳ. Ông đã sống nhiều năm ở Thái Lan và Ấn Độ để học thiền Vipassana,
16 Tháng Hai 20202:25 CH(Xem: 257)
Từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 8 tháng 4 năm 1983 chúng tôi đã rất may mắn được một vị thầy đầy kinh nghiệm về thiền Vipassana tổ chức một khoá chuyên tu tại Penang, trung tâm thiền Phật giáo Malaysia, hướng dẫn, dạy bảo, sữa chữa và nhắc nhở chúng tôi về thiền minh sát. Chúng tôi đã được lợi lạc to lớn từ những lời hướng dẫn
15 Tháng Hai 20208:01 CH(Xem: 196)
Để giúp cho đọc giả có thể nắm được sự khác biệt giữa thiền định (chỉ quán) và thiền Vipassana (tuệ quán), PTVN đã gặp sư Phước Nhân, một hành giả giỏi pháp hành của thiền viện Phước Sơn để xin sư nói rõ về thiền định, thiền Vipassana, sự khác biệt giữa hai phương pháp tập cũng như khái quát phương thức tu tập và kết quả
14 Tháng Hai 202010:11 CH(Xem: 197)
Rất khó khuyến khích và truyền cảm hứng cho người khác mà không làm họ thất vọng ít nhiều. Muốn mô tả những kết-quả của việc tu tập—mô tả những trải nghiệm thâm sâu như tâm ảnh nimitta, tầng thiền định jhāna, và thánh quả Nhập Lưu—để truyền cảm hứng tu hành cho mọi người. (Cũng giống như việc mô tả về ngày lãnh lương
13 Tháng Hai 20203:54 CH(Xem: 226)
Hỏi: Tôi cố gắng rất nhiều trong khi luyện tập, thế nhưng tôi vẫn có cảm giác là dường như mình không hề đạt được một chút kết quả nào cả. Đáp: Điều này thật hết sức quan trọng. Không nên tìm cách đạt được bất cứ một thứ gì. Ngay cả sự ham muốn đạt được sự giải thoát hay giác ngộ cũng sẽ ngăn chận không cho mình thực hiện
12 Tháng Hai 20207:50 CH(Xem: 185)
Dưới đây là một bài thuyết giảng của nhà sư Ajahn Chah trước một cử tọa gồm các tỳ kheo Tây Phương, các sa di và cả người thế tục, và đặc biệt là dành cho cha mẹ của một tỳ kheo người Pháp sang thăm con xuất gia ở Thái Lan vừa được thụ phong tỳ kheo. Buổi giảng được tổ chức tại ngôi chùa Wat Pah Pong của nhà sư Ajahn Chah
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 256)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
10 Tháng Hai 20207:00 SA(Xem: 2901)
Tủ Sách Và Các Bài Viết Của HT. Thích Thanh Từ
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 278)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
08 Tháng Hai 20208:38 SA(Xem: 260)
Lần đầu tiên, khi con trai tôi nói muốn đi tu, tôi rất ngạc nhiên. Đó là một buổi sáng chủ nhật, đầu xuân, khi chúng tôi như lệ thường đang trên đường đến thiền viện. Năm học mới sắp khai giảng, và nó sửa soạn vào lớp Ba. Khi đang đi với nhau, nó bỗng ngước lên nhìn tôi
07 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 300)
Duyên khởi là pháp rất quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Bồ tát của chúng ta đã thiền quán rất sâu đậm về pháp duyên khởi này khi Ngài suy xét về bản chất của kiếp sống và đã chứng ngộ giải thoát. Cũng như các vị Bồ tát khác, đầu tiên Bồ tát của chúng ta
06 Tháng Hai 20201:01 CH(Xem: 110693)
Nguyên tắc căn bản của nhân duyên đơn giản là chính nó. Đức Phật mô tả nguyên tắc nầy, bằng câu nói như sau: Vì cái nầy có, nên cái kia có. Vì cái nầy sinh, nên cái kia sinh. Vì cái nầy không, nên cái kia không. Vì cái nầy diệt, nên cái kia diệt.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 518)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2141)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3516)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
27 Tháng Hai 202010:02 SA(Xem: 111)
Cuối thế kỷ 20, lịch sử Phật giáo sang trang một cách bất ngờ. Khởi nguồn từ một vùng đất nghèo cằn cỗi của vùng đông bắc Thái Lan, tỉnh Ubon-rachathani. Ngày ấy, vị thiền sư tiếp một khách Tăng trẻ từ xa đến xin được tham học đạo thiền. Đó chỉ là lời khẩn khoản bình thường. Nhưng chính vị khách Tăng không giống bất cứ thiền sinh nào
26 Tháng Hai 20208:14 CH(Xem: 129)
Nowadays, when Buddha-dhamma is being disseminated, there should be only one basis of teaching relating to the Middle Way or the Eightfold Path: the practice of morality, concentration, and acquisition of profound knowledge, and the Four Noble Truths.
26 Tháng Hai 20203:56 CH(Xem: 137)
Này các thầy Tỳ Khưu, đây là con đường duy nhất để thanh lọc (tâm) chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc diệt khổ thân và khổ tâm, đạt Thánh ĐạoGiác Ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ. Bốn (cách quán sát đó) là gì? Này các thầy Tỳ Khưu,
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 256)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 278)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 425)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 475)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 5702)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 747)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.