[08]

06 Tháng Hai 20204:59 CH(Xem: 132)
[08]


Pháp Duyên Khởi

A Discourse on Paticcasamuppada 
(or The Doctrine of Dependent Origination)
Venerable Mahasi Sayadaw
Translated by U Aye Maung
Dịch: Tỳ kheo Minh Huệ (1999)
Nguồn: budsas.org   

 

____________________

PhapDuyenKhoi_A

__________________

MỤC LỤC - CONTENTS 

[08]

 

Thủ dẫn đến hữu

Câu chuyện Mandaka

Thủ và nghiệp hữu

Bổn sanh Puppharatta

Thiện nghiệp và phi thiện nghiệp

Nghiệp và tái sinh

Bốn loại nghiệp

Chuyện vua A-xà-thế

Thường nghiệp và cận tử nghiệp

Sự sanh và khổ

Sầu khổ và ta thán

Chuyện Subrahmadeva

Dục thủ có nghĩa tất cả những loại ái dục mãnh liệt

Kiến thủ và nguyên nhân của sự tái sinh

Mê tín và ác sinh

Cuồng tín

Giới cấm thủ

Ngã ngữ thủ

Chuyện ông Ugga

 

[08]

58. Clinging Leads To Becoming
59. Kammabhava
60. Upapattibhava
61. Story Of Mendaka
62. Upadana And Kammabhava
63. Puppharatta Jataka
64. Right And Wrong Good Kamma
65. Kamma And Rebirth
66. Four Kinds Of Kamma
67. Story Of Ajatasattu
68. Habitual And Death-Bed Kammas
69. Birth And Suffering
70. Grief And Lamentation
71. Story Of Subrahma Deva
72. Kamupadana Means All Kinds Of Excessive Craving
73. Attachment To Belief As The Cause Of Rebirth
74. Superstition And Evil Rebirth
75. Fanaticism Or Religious Upadana
76. Silabbatupadana - Attachment To Wrong Practices
77. Attavadupadana - Attachment to Ego-Belief
78. Story of Ugga


Thủ Dẫn Đến Hữu

 

Có hai loại hữu, đó là nghiệp hữu (kammabhava) và sanh hữu (upapattibhava).

Clinging Leads To Becoming

 

Upadana leads to bhava (becoming). There are two kinds of bhava, viz., kammabhava and upapattibhava.


Nghiệp Hữu (Kammabhava).

 

Nghiệp hữu là nghiệp dẫn đến tái sanh. Đức Phật mô tả nó là phước hành, phi phước hànhbất động hành. Đó là những nghiệp dẫn đến những cõi dục, sắc và vô sắc. Ngài cũng đồng hóa nghiệp hữu với tất cả những nghiệp làm sanh khởi kiếp sống mới.

 

Trong ba loại hành, phước hành bao gồm tám loại tư (cetanà) thiện ở trong cõi dục và năm loại tư thiện trong cõi sắc. Phi phước hành là nhóm mười hai bất thiện tư. Bất động hành là bốn thiện tư trong cõi vô sắc.

 

(1) Kammabhava

 

Kammabhava means the kamma that leads to rebirth. The Buddha describes it as the punnabhi, apunnabhi and anenjabhi sankharas that lead to lower sensual world or the higher material and immaterial worlds. He also identifies kammabhava with all kammas that give rise to new existence.

 

Of the three sankharas, punnabhi sankhara comprises the eight wholesome volitions (cetana) in sensual sphere and five wholesome volitions in the material (rupa) sphere. Apunnabhi sankhara is the group of twelve unwholesome volitions. Anenjabhi sankhara means the four wholesome volitions in immaterial sphere. Also leading to rebirth are the kammas that arise together with the wholesome volitions in sensual sphere, viz., having no covetous thoughts or designs about another's possessions, having no design against another person's life and holding right views. These kammas are implicit in punnabhi sankhara. In short, kammabhava is the good or bad volition that leads to rebirth.


Sanh Hữu (Upapattibhava).

 

Sanh hữu có chín loại:

 

1- Dục hữu (Kàmabhava): Là danh sắc của những chúng sanh trong cõi dục. Nói cách khác, dục hữu chỉ về những kiếp sống trong cõi địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, chư thiênnhân loại.

 

2- Sắc hữu (Rùpabhava): Là các uẩn của những vị phạm thiên hữu sắc.

 

3- Vô sắc hữu (Arùpabhava): Là các danh uẩn của những vị phạm thiên vô sắc.

 

4- Hữu tưởng hữu (Sannìbhava): Là danh sắc của những chúng sanh có tưởng thô, tức là những chúng sanh ở hai mươi chín cõi, ngoại trừ những cõi Phi-tưởng-phi-phi-tưởng.

 

5- Vô tưởng hữu (Asannìbhava): Là danh sắc những vị phạm thiên vô tưởng.

 

6- Phi tưởng phi phi tưởng hữu (Asannìnàsannìbhava): Là các danh uẩn của những vị phạm thiên cao nhất.

 

7- Nhứt uẩn hữu (Ekavokàrabhava): Là hữu với duy nhất sắc uẩn.

 

8- Tứ uẩn hữu (Catuvokàrabhava): Là hữu với bốn danh uẩn.

 

9- Ngũ uẩn hữu (Pancavokàrabhava): Là hữu với năm danh sắc uẩn.

 

Tóm lại, sanh hữudanh sắc của kiếp sống mới, là kết quả của nghiệp. Nó bao gồm thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ.

 

Hữu sanh lên từ thủ, về cơ bản, là nghiệp hữu, còn sanh hữu chỉ là sản phẩm phụ của nghiệp hữu.

 

Do sự tiếp xúc với sáu cảnh khả ái hoặc không khả ái, có sanh khởi sáu loại thọ lạc hoặc không lạc. Các thọ dẫn đến ái và ái phát triển thành thủ, thủ đối với các cảnh dục có thể trở nên quá mạnh đến mức khao khát được cộng trú với gia đình mình trong kiếp sống tương lai. Câu chuyện sau đây về vị phú hộ Mendaka sẽ nói lên mức độ của thủ rất mạnh mẽ trong một người.

(2) Upapattibhava

 

Upapattibhava is of nine kinds. (1) kammabhava means the nama-rupas of living beings in the sensual world. In other words, kammabhava refers to existences in the hell and the worlds of devas, mankind, animals and petas. (2) rupabhava - the khandhas of brahmas with rupas. (3) arupabhava - namakhandhas of brahmas with no rupas. (4) sannibhava - nama-rupas of beings with gross perceptions, that is beings in 29 abodes other than asanni nevasanni abodes. (5) asanaribhava - nama-rupa of asanni-brahmas. (6) Nevasanninasanni - namakhandhas of higher brahmas. (7) ekavokarabhava - the bhava with only rupakkhandha. (8) catuvokarabhava - the bhava with four namakhandhas. (9) pancavokarabhava - of bhava with five nama-rupakkhandhas.

 

In short, upapattibhava means the nama-rupas of the new existence that results from kamma. It comprises the vinnana, nama-rupa, salayatana, phassa and vedana.

 

The bhava that arises from upadana is basically kammabhava, the other upapattibhava being merely its by-product.

 

From contact with six pleasant or unpleasant sense-objects there arise six pleasant or unpleasant feelings.

 

Feelings lead to craving and craving develops into clinging; clinging to sensual objects may become excessive to the point of craving for union with one's family in a future life or attainment of Nibbana hand in hand with one's beloved. The excessive degree of a man's upadana is evident in the story of the merchant Mendaka.


Câu Chuyện Mendaka

 

Mendaka là một vị thương nhân giàu có trong một kiếp sống quá khứ. Lúc bấy giờ, có xảy ra một nạn đói, khiến cho lương thực của ông ta dần dần cạn kiệt. Cuối cùng, ông ta phải cho tất cả những người hầu ra về, chỉ còn lại ông ta với vợ, con trai, nàng dâu và một người nô lệ. Vợ của ông ta đã trút hết số gạo còn lại để nấu cho cả nhà ăn, nhưng khi họ sắp ăn thì một vị Phật Độc giác xuất hiện trước cửa nhà của ông ta để khất thực.

 

Nhìn thấy Đức Phật Độc giác, vị thương nhân suy nghĩ về ác nghiệp của mình, rằng do kiếp trước thiếu pháp bố thí nên bây giờ mới bị đói. Rồi ông ta dâng phần ăn của mình đến Phật Độc giác và nguyện có được vật thực dồi dào, được sống chung với những người trong nhà ở kiếp sau. Vợ của ông ta cũng bố thí phần ăn của bà và cũng phát nguyện như ông ta. Đứa con trai và vợ của cậu ta cũng làm y như cha mẹ đã làm, là có được vật thực và tiền bạc vô hạn, cũng như được đoàn tụ với vợ, chồng, cha, mẹ và nô lệ.

 

Những lời nguyện của vị thương nhân và cả gia đình rõ ràng cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của thủ trong cõi dục và hầu hết mọi người ngày nay cũng mang loại thủ như vậy, không kém gì thủ của Mendaka và gia đình ông ta. Nhưng đáng chú ý hơn là loại thủ của người hầu Punna. Sau khi dâng cúng phần ăn của mình, ông ta phát nguyện cho được vật thực dồi dàotái sanh làm nô lệ trong gia đình của ông Mendaka! Ông ta chẳng hề cầu mong được sanh làm vua hay phú hộ; Sự luyến ái nặng tình của ông ta đối với những người chủ của mình thật mạnh mẽ, đến nỗi ông ta chỉ muốn làm nô lệ của họ trong kiếp sống sau.

 

Một thời nọ, có một vị xã trưởng, có quan hệ tốt với những quan chức chính quyền. Lúc bấy giờ, dưới sự cai trị của nước Anh, hầu hết những quan chức cao cấp đều là người Anh. Ông xả trưởng rất thích tỏ thái độ tôn kính họ. Ông ta nói rằng ông thích nói câu: "Dạ vâng, thưa ông chủ" khi được một vị quan chức nào đó gọi. Sự chấp thủ của ông ta, về cơ bản, giống như sự chấp thủ của Punna.

 

Đức Phật Độc giác phúc chúc (ban phước) cho họ và ra đi. Do năng lực thần thông của Ngài, họ thấy Ngài bay về Hi mã lạp sơn và chia đều số vật thực cho năm trăm vị Phật Độc giác.

 

Trong chính ngày hôm ấy, vị thương nhângia đình của ông ta tận mắt chứng kiến sự bố thí của họ đang trổ quả một cách kỳ diệu. Họ thấy cái nồi đầy cơm. Họ ăn no nê, thế mà cái nồi vẫn luôn luôn đầy cơm. Họ thấy những kho thóc của họ ngập tràn thóc lúa.

 

Những lời nguyện của họ được thành tựu trong thời của Đức Phật Gotama, tức là họ trở thành những người trong cùng một gia đình tại Bhaddiya, một thành phố của nước Magadha. Tin đồn về sự thành tựu lời nguyện ước của họ thật phi thường và đáng kinh ngạc, đến nỗi đức vua của xứ ấy phải cho một vị quan đi dò xét và thấy rằng tin đồn có thật. Câu chuyện này được kể trong tạng Luật.

Story Of Mendaka

 

Mendaka was a rich merchant in a previous life. In the face of a famine, his stock of provisions gradually ran out and at last he had to send away his attendants and was left with his wife, a son, his daughter-in-law and a slave. His wife had cooked rice that was barely enough for their consumption, and they were about to eat it when a paccekabuddha appeared to receive food.

 

At the sight of the paccekabuddha, the merchant thought of his bad kamma, that is, lack of dana in a previous life that had now brought about his starvation. He then offered his share of rice to the paccekabuddha and prayed for abundant supply of food and reunion with the members of his household in his future lives. His wife too donated her share of rice and expressed a similar wish in her prayer. The son and his wife followed suit and prayed in the same vein, that is, for unlimited supply of food and money as well as reunion with the same wife, husband, parents and slaves.

 

The prayers of the merchant and his family clearly point to the powerful influence of upadana in the sensual sphere and most people today are no less subject to the same kind of attachment. But more appalling is the upadana of the slave Punna. After offering his share of rice, he prayed for abundance of food and rebirth as the slave of the same family! It never occurred to him to pray for rebirth as a king or a merchant; his attachment to his masters and mistresses was so strong that he wanted only to be their slave hereafter.

 

Once there was a village headman who stood well with Government officials. Those were the days when under British rule most of the high ranking officials were Englishmen. The headman took much delight in paying respect to them. He said that he enjoyed saying, Phaya, "Yes, my Lord," when he was called by an officer. His attachment was essentially the same as that of Punna.

 

The paccekabuddha blessed them and departed. By means of his psychic power they saw him fly back to the Himalayas and share the food with five hundred other fellow buddhas.

 

On that very day, the merchant and his family found their acts of dana bearing fruit wonderfully. They found the rice pot full of rice. They ate to their hearts' content, but the pot was always full of rice. They found their granaries, too, overflowing with grains.

 

Their prayers were fulfilled in the lifetime of the Buddha-Gotama for they became members of the same household in Baddiya, a city of the Magadha country. The news of the fulfilment of their prayers was so unusual and amazing that the king made an inquiry through a minister and found that it was indeed true. This story is mentioned in Vinaya pitaka.


Thủ Và Nghiệp Hữu

 

Khi tham dục đối với cảnh phát triển thành ái mạnh mẽ, thì người ta trở nên liều mạng và ra sức dành cho bằng được nó, bằng phương tiện tốt hoặc xấu. Trộm cắp, cướp đoạt, sát nhân bè nhóm phe phái đâm sau lưng chiến sĩ, khen mình chê người v.v... và những hành động ngông cuồng khác trong thời nay đều xuất phát từ thủ. Một số tội ác có nguồn gốc ở dục thủ, trong khi một số tội ác khác sanh lên từ một trong ba loại ảo kiến dựa trên thủ. Người ta phạm tội ác không chỉ do ước muốn bất thiện của họ, mà còn do sự luyến ái mù quáng với vợ, chồng v.v...

 

Câu chuyện sau đây chứng minh cho nghiệp hữu bất thiện xuất phát từ dục thủ.

Upadana And Kammabhava

 

When the sensual desire for an object develops into an intense craving, a person becomes desperate and tries to secure it by fair means or foul. Thefts, robberies, frauds, murders and so forth that are rampant nowadays stem from upadana. Some crimes are rooted in sensual upadana while others arise from one of the three kinds of illusion based on upadana. People commit crimes not only because of their unwholesome desire but also because of their blind attachment to wives, husbands, etc.

 

The following is a story illustrative of the evil kammabhava resulting from sensual upadana.


Chuyện Bổn Sanh Puppharatta

 

Thuở xa xưa, có một người đàn ông nghèo ở tại thành Ba la nại. Anh ta chỉ có một bộ quần áo bằng vải dày. Anh ta giặt sạch nó để mặc vào lễ hội Taza-aundine, nhưng vợ của anh ta không thích y phục màu trắng, mà chỉ thích bộ đồ hồng. Tất cả mọi cố gắng để an ủi nàng đều vô hiệu, cuối cùng anh ta lẽn vào vườn của vua vào lúc ban đêm để ăn trộm một loại hoa, được dùng để nhuộm bộ đồ của vợ anh ta. Anh ta bị lính canh bắt giữ, và bị vua truyền lệnh đâm xuyên người. Anh ta rất đau đớn vì những con quạ mổ vào mắt anh ta. Tuy thế, anh ta vẫn cho rằng nỗi đau đớn nơi thân chẳng đáng kể là bao so với nỗi đau đớn tâm hồn khi nghĩ rằng anh ta không đáp ứng được ước muốn của người vợ và không được đi dự hội với vợ. Bởi vậy, trong khi đang khóc cho sự rủi ro của mình, anh ta chết và tái sanh xuống địa ngục.

 

Ngày nay, có thể có nhiều người làm điều ác do sự thúc ép của những người mà họ yêu. Tất cả những điều ác này bao gồm cái nghiệp mà xuất phát từ thủ dẫn đến các khổ cảnh. Bởi vậy, bộ Thanh tịnh đạo có đoạn nói rằng: "Do ảnh hưởng của dục thủ, người ta tạo ác nghiệp bằng thân, khẩu và ý, do sự khao khát các cảnh dục trong đời sống hiện tại và ước muốn gìn giữ chúng để làm của riêng. Những ác nghiệp như vậy thường dẫn đến các khổ cảnh".

Puppharatta Jataka

 

Long ago, there was a poor man in Benares. He had only a suit of thick clothes. He washed it to wear during the Tazaungdine festival, but his wife disliked the white clothes and craved for a garment of pink colour. All his efforts to reason with her being in vain, the man at last sneaked into the royal garden at night to steal the flower that was to be used for dyeing his wife's garment. He fell into the hands of the guards and was ordered by the king to be impaled. He suffered terribly with the crows pecking at his eyes. Yet he murmured that his physical pain was nothing when compared to the mental suffering that overwhelmed him when he thought of the non-fulfilment of his wife's desire and his inability to enjoy the festival together with her. So crying over his ill-luck, he died and landed in hell.

 

Today, there may be many people who do evil due to the pressure of those whom they love. All these evil deeds comprise kammas stemming from upadana and leading to the lower worlds. So Visuddhimagga says: "Under the influence of sensual upadana, people do evil in deeds, words and thought because of their craving for sensual objects in the present life and their desire to preserve the objects in their possession. Such evil deeds usually lead to the lower worlds."


Thiện Nghiệp Và Phi Thiện Nghiệp

 

Một số thiện nghiệp là đúng nhưng số khác thì sai. Cái gọi là thiện nghiệp mà một người làm thì có hại và như vậy chúng là ác nghiệp. Ví dụ: Một số người tin rằng giết một con thú để giúp cho nó kết thúc kiếp sống súc vật đầy đau khổviệc thiện. Mọi loài chúng sanh đều sợ chết, biết cảm thọ đau đớn, cho nên gây đau đớn và chết chóc cho loài vật là điều sai.

 

Một số người cho rằng đối với một người đang bị hành hạ bởi một chứng bịnh ngặt nghèo mà cho họ một cái chết nhanh chóng là việc phước. Nhưng người bịnh dầu muốn hết đau vẫn không muốn chết. Cho dù người ấy tỏ ý muốn chết, nhưng theo quan điểm Phật giáo, gây ra cái chết cho một chúng sanh rõ ràng là điều sai, và nếu một người trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết phi thời cho người cha hay mẹ bằng hành động giết chết "êm ái", thì đó là một trọng tội, phải đọa địa ngục.

 

"Do sự khao khát dục lạc ở cõi nhân loại và các cõi chư thiên, do đi theo tà sư ngoại đạo v.v... một số người làm các ác nghiệp như sát sanh để đạt được mục đích của họ. Nhưng do kết quả của ác nghiệp, họ phải sanh vào khổ cảnh sau khi chết".

 

Theo chú giải thì những quan niệm sai lầm của họ sanh lên do bởi các tà sư, do không làm thiện nghiệp trong quá khứ và thiếu hộ phòng bản thân. Tin vào những ông thầy ác sẽ dẫn đến ác nghiệp, nhiều ác nghiệp trong kiếp quá khứ sẽ làm cho người ta dễ hấp thụ các niềm tin sai lạc và những thói quen xấu, và sự thiếu hộ phòng bản thân khiến người ấy dễ rơi vào cám dỗ.

 

Tôn giáo chân chánh được gọi là Saddhamma, "tôn giáo của người thiện". Những người theo chánh pháp thường tầm cầu cho mình lợi ích bằng cách lắng nghe lời dạy thánh thiện, tránh xa các điều ác, giữ chánh kiến như tin vào kiếp sống tương lai, nghiệp quả của nó v.v..., trau dồi những ý nghĩ thiện, thực hành bố thí, trì giớitham thiền.

 

Sự thực hành bố thí, trì giớitu tâmpháp chân chánh và thánh thiện, vì pháp ấy vô hạimọi người đều có thể tiếp nhận được. Không ai đi chê trách một người không sát sanh, trộm cắp, chửi mắng và không làm những ác nghiệp khác. Những thiện nghiệpchúng ta làm để được lợi ích ở đây trong hiện tạimai sau đều là những thiện nghiệp phát sanh từ thủ trong cõi dục. Nhưng thiện nghiệp này dẫn đến tái sanhcõi người và các cõi chư thiên. Bởi vậy, bộ Thanh tịnh đạo có đoạn rằng:

 

"Những người nghe chánh pháp thường tin vào nghiệp và kết quả của thiện nghiệp, xem chúng như là hành trang cho một kiếp sống mới tốt đẹp hơn ở cõi dục của những người giàu, những người có địa vị cao hay của những vị chư thiên. Bởi vậy, họ làm các thiện nghiệp do sự thúc đẩy của dục thủ (Kamupàdàna) và nhờ đó sẽ được sanh vào cõi nhân loại hoặc các cõi chư thiên".

Right And Wrong Good Kamma

 

Some good deeds are right but some are wrong. The so-called good deeds that some people do are harmful and as such they are evil kammas. For example, some people believe that it is a good deed to put an end to the suffering of some animals by cutting short their span of life. Every living being is afraid to die or suffer pain and it is certainly wrong to cause pain and death to animals.

 

Some people also consider it a good deed to bring about the speedy death of a person who is suffering from an incurable, painful disease. But the patient does not want to die although he wants to be free from pain. Even if he expresses the desire to die, it is wrong from the Buddhist point of view to cause the death of a living being and if one directly or indirectly causes the premature death of a parent by "mercy killing", it is a grave kammic offence that leads to hell.

 

"Craving for the sensual pleasures of the human and deva-worlds, and misled by false teachings, etc., some people do misdeeds such as killing for the attainment of their object. But as a result of their evil kamma, they land in the lower worlds after death."

 

According to the commentary, misconceptions of those people arise from false teachers, lack of good kamma in the past and the failure to guard oneself. Reliance on evil teachers leads to evil kamma, much evil kamma in the previous life makes it easy to acquire evil views and evil habits, and lack of self-vigilance makes one an easy prey to temptation.

 

True religion is called saddhamma "the religion of the good man". Those who follow the true religion hear good teachings, avoid evil deeds, evil words and evil thoughts, hold right views about the future life, kamma and its fruits, etc., cultivate good thoughts and practise dana, sila and bhavana for their welfare.

 

The practice of alms-giving, morality and mental development is true and good dhamma because it is harmless and acceptable to everybody. Nobody will blame a man who avoids killing, stealing, abusing and other misdeeds. The good deeds which we do for our welfare here and now or hereafter are wholesome kammas that stem from upadana in the sensual sphere. These kammas lead to rebirth in the human or deva worlds. So the Visuddhimagga says: "Those who hear the true teaching believe in kamma and the efficacy of good deeds as passport to better life in the sensual worlds of rich men, aristocrats or divine beings. So they do good deeds under the influence of kamupadana and are reborn in the human and deva worlds."


Nghiệp Và Tái Sanh

 

Theo câu pháp "Bhava paccayà jàti: hữu dẫn đến tái sanh" thì sự tái sanh xảy ra trong cõi người và các cõi chư thiên hoặc các cõi thấp, do bởi tiến trình của thiện nghiệp hay ác nghiệp. Như vậy, tái sanh bắt nguồn từ các nghiệp, mà nghiệp là kết quả của thủ và ái, thủ và ái có nguồn gốc từ sự tiếp xúc giữa sáu cảnh và sáu căn tương ứng (àyatana).

 

Nói cách khác, có sanh khởi thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ trong kiếp hiện tại, là kết quả của vô minh và hành trong kiếp quá khứ, và bây giờ ái và thủ làm sanh khởi nghiệp mới, nhờ đó, tạo điều kiện cho sự tái sanh mới. Toàn bộ vấn đề giống như một người gây ra tội ác trong khi đang ở trong tù để chịu án của một tội trước, hoặc một người đã mắc thêm nợ mới trước khi anh ta trả xong nợ cũ.

 

Những nghiệp mới như vậy chất chồng đến hàng ngàn chỉ trong một kiếp sống. Trong những điều kiện nào đó, những nghiệp này trở thành cảnh tướng lúc lâm chung và dẫn đi tái sanh, trong khi những nghiệp khác sẽ tạo ra sự tái sanh vào những dịp khác trong vòng luân hồi. Nếu có những nghiệp có sức mạnh lớn trong kiếp quá khứ mà chưa cho quả, chúng sẽ lấn át nghiệp hiện tại, xuất hiện làm cảnh lâm chung và tạo ra sự tái sanh ở cõi thấp hoặc cao. Số phận khi chết của một người trong những trường hợp như vậy được quyết định bởi tính chất của nghiệp.

 

Kamma and Rebirth

 

As it is said, "Bhava paccaya jati," rebirth occurs in the human and deva worlds or in the lower worlds because of good or evil kamma-process. So rebirth stems from kammas which result from clinging (upadana) and craving that is rooted in the contact between the six sense-objects and the corresponding sense-organs (ayatana).

 

In other words, there arise vinnana, nama-rupa, salayatana, phassa and vedana in the present life as the avijja sankhara, etc., in a previous existence and now on top of that, tanha and upadana give rise to new kamma, thereby providing the ground for new rebirth. The situation is like that of a man who has committed a crime while he is in prison for a previous conviction, or that of a man who has incurred new debt before he has fully settled his old debt.

 

Such new kammas accumulate by the thousands in a single lifetime. Under certain conditions one of these kammas becomes a death-bed vision and leads to rebirth while other kammas will create rebirth at other times in the life-cycle. If there are residual kammas from the previous lives that possess great force, they take precedence over present kamma, appear as death-bed visions and create rebirth in the lower or higher worlds. The post-mortem destiny of the person in such cases is determined by the nature of kamma.


Bốn Loại Nghiệp

 

Nghiệp có bốn loại, tùy theo cách cho quả của nó.

 

1- Trọng nghiệp (Garuka kamma).
2- Đa tác nghiệp hay thường nghiệp (Bahula hay àcinnakakamma).
3- Cận tử nghiệp (Àsannakamma).
4- Dĩ tác nghiệp (Katattàkamma).

 

Những hành động sau đây thuộc trọng nghiệp:

 

- Giết cha mẹ hay một vị A-la-hán.
- Gây thương tích cho Đức Phật hay chia rẽ Tăng.

 

Những thiện nghiệp thuộc cõi sắc hoặc vô sắctrọng nghiệp thiện.

 

Các trọng nghiệp ngăn chặn sự cho quả của những nghiệp khác và chính nó dẫn đi tái sanh, các tâm thiền hữu sắcvô sắc dẫn đi tái sanh ở các cõi phạm thiên hữu sắcvô sắc.

 

Các trọng nghiệp ác dẫn đi tái sanhđịa ngục sau khi chết; Do đó, từ "ngũ vô gián nghiệp" là năm loại ác nghiệp to lớn, nhất định dẫn đến địa ngục. Một người giết cha hay mẹ của mình, dầu cố ý hay vô ý, thì không bao giờ có thể đắc thiền hay đạo quả trong kiếp hiện tại, người ấy chắc chắn phải tái sanh vào địa ngục sau khi chết. Đối với người như thế thì không có thiện nghiệp nào có thể ngăn chặn việc tái sanh vào địc ngục của vị ấy. Câu chuyện vua A-xà-thế là bằng chứng cho điều ấy.

Four Kinds Of Kamma

 

Kamma is of four kinds, according to the way in which it bears fruit. (1) //garukamma// - weighty kamma, (2) //bahula or acinnaka kamma// - habitual kamma, (3) //asanna kamma// - death proximate kamma and (4) //katatta// kamma - stored-up kamma.

 

//Garukamma// is killing parents or an Arahat or causing injury to a Buddha or causing a schism in the Sangha. As for the good //garukammas//, there are the good kammas of the material and non-material worlds. The //garukammas// head off the fruition of other kammas and lead to rebirth, rupa and arupa jhanas among them leading to rupa and arupa rebirth.

 

The evil garukammas lead direct to hell after death; hence, the term //pancanantriyakammas// - the five great evil kammas leading invariably to hell. The man who kills his father or mother unknowingly or knowingly can never attain jhana or the path and fruition (maggaphala) in the present life; he is bound to land in hell after his death. He cannot attain jhana or the path nor can any good kamma save him from hell. This is evident in the story of Ajatasattu.


Chuyện Vua A-Xà-Thế

 

A-xà-thế là con trai của Tần bà sa, vua nước Ma kiệt đà (Ấn Độ), đệ tử thuần thành của Đức Phật. Trước khi sanh ra hoàng tử, hoàng hậu khởi ước muốn được uống máu từ cánh tay phải của vua. Khi đức vua biết điều này, vị ấy cho cắt máu và làm thoả mãn nỗi khao khát của hoàng hậu. Khi ấy các nhà tiên tri tiên đoán rằng đứa bé trong bào thai của hoàng hậu sau này sẽ trở thành kẻ thù của đứa vua. Do đó, hoàng tử mới có tên là Ajàtasattu (kẻ thù ngấm ngầm của đức vua trong khi còn ở trong bào thai của mẹ).

 

Hoàng hậu cố gắng phá cái bào thai, nhưng vì nghiệp của đức vua và nghiệp của đứa bé đã xui khiến như vậy nên cố gắng của hoàng hậu không thành công. Đức vua ra lệnh phải bảo vệ cái bào thai thật chu đáo và đứa bé đã chào đời. Khi hoàng tử lớn khôn, vị ấy được phong làm người thừa kế hiển nhiên.

 

Rồi hoàng tử trẻ kia rơi vào nanh vuốt của Đề-bà Đạt-đa đầy dã tâm, là người đã lạm dụng thần thông của mình cho mục đích vị kỷ. Khi biến thành cậu bé với con rắn quấn quanh bụng, hắn xuất hiện trước mặt A-xà-thế, rồi hắn trở lại hình tướng một vị Tỳ khưu. Hoàng tử rất kinh cảm, và chẳng lạ gì đối với những người ưa thích phép thuật, là họ tin vào bất cứ ai có thể hóa phép thần thông. Hoàng tử rất kính trọng Đề-bà Đạt-đa và trở thành đệ tử của hắn.

 

Rồi Đề-bà Đạt-đa bắt đầu lên đường để thực hiện mưu đồ hiểm ác. Hắn bảo với hoàng tử A-xà-thế rằng con người sống chẳng được là bao, cho nên hoàng tử phải giết vua cha và lên ngôi trong khi còn đang ở thời kỳ đầu tiên của kiếp người. Còn về Đề-bà Đạt-đa, hắn sẽ giết Đức Phật. Hoàng tử đã thất bại trong việc tước đoạt mạng sống của vua cha. Nhưng khi biết được ước muốn của hoàng tử, vua Tần bà sa bèn nhường ngôi cho con trai của mình.

 

Tuy nhiên, sự chuyển quyền đã làm thất bại dự định giết vua Tần bà sa của Đề-bà Đạt-đa. Nghe theo lời xúi giục của hắn, A-xà-thế lại truyền lệnh tống giam vua và bỏ đói vị ấy. Hoàng hậu là người duy nhất được phép vào thăm đức vua. Bà dùng nhiều cách để bí mật đem đồ ăn vào cho đức vua, nhưng cuối cùng bị cấm vào thăm đức vua. Từ hôm ấy, đức vua không có gì để ăn, nhưng vị ấy vẫn cố gắng đi kinh hành. Sau đó, theo lệnh của A-xà-thế, những người thợ cạo đến cắt lớp da dưới bàn chân của Tần bà sa để vị ấy không thể đi được.

 

Theo chú giải, sở dĩ vị ấy bị thương tích như vậy là vì trong một kiếp quá khứ vị ấy đã đi giày vào sân thờ của Bảo tháp và giẫm chân dơ lên chiếu dành cho các vị Tỳ khưu.

 

Vua Tần bà sa có lẽ chết ở tuổi 67. Đứa con trai A-xà-thế của vị ấy bản tánh không ác. Bằng chứng là vị đã thành tín theo Đức Phật sau khi đã cư xử sai với cha của mình, vị ấy còn cho xây dựng nhiều Bảo tháp để tôn thờ Xá lợi Phậthết lòng hộ độ chư Tăng trong ba tháng kiết tập Tam tạng. Chính sự thân cận với tà sư khiến vị ấy lầm lạc phạm tội giết cha. Cuộc đời của vị ấy đã cho chúng ta một bài học nhớ đời.

 

Trong ngày phụ vương của vua A-xà-thế chết thì vợ của vị ấy cũng hạ sanh một đứa con trai. Nghe tin ấy, A-xà-thế lòng rộn ràng và chan chứa tình thương đối với đứa con trai của mình. Tình thương này nhắc nhở vị ấy nhớ đến người cha của mình, bèn ra lệnh phóng thích ngay vua cha, nhưng đã quá muộn. Về sau khi nghe mẫu hậu kể lại về vua cha đã thương mến và nâng niu mình khi còn thơ ấu như thế nào thì vị ấy vô cùng hối hận. Cuộc đời của vị ấy trở nên khốn khổ và bất hạnh. Khi đêm xuống, vị ấy không thể chợp mắt được, bị ám ảnh bởi những cảnh tượng về các địa ngục và bị dày vò bởi hành động giết cha, một người cha hiền và là một đệ tử của Đức Phật.

 

Do sự tiến dẫn của vị quan ngự y Jìvaka, đức vua lên đường yết kiến Đức Phật. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn được vây quanh bởi một ngàn vị Tỳ khưu. Nhưng vì các Tỳ khưu đang thực hành pháp thanh tịnh nên tất cả đều im lặng, không một âm thanh nào phát ra từ miệng hay từ sự động đậy tay chân. Đầy cảm kích, đức vua nói rằng: "Cầu mong cho đứa con trai Udayabhadda của ta có được sự thanh tịnh của các vị Tỳ khưu như thế! "Có lẽ vị ấy sợ rằng đứa con trai sau này sẽ biết việc vị ấy chiếm ngôi và sẽ đi theo bước chân của mình. Nhưng về sau, nỗi sợ hãi của đức vua đã biến thành hiện thực, trải qua các đời cháu chắt. Những đứa con đều giết cha trước khi lên ngôi vua.

 

Vua A-xà-thế hỏi Đức Phật về những lợi ích của đời sống sa môn. Đức Phật giải rộng về những lợi ích có được trong đời sống phạm hạnh. Sự tôn kính của người thiện tín đối với vị Tỳ khưu, giới thanh tịnh, sơ thiền và những tầng thiền khác cao hơn, các pháp thần thông, sự chấm dứt phiền não và sự chứng đắc đạo quả.

 

Sau khi nghe thời pháp, A-xà-thế trang nghiêm phát nguyện trở thành đệ tử của Đức Phật. Nếu không phạm tội giết cha thì vị ấy sẽ chứng đắc tầng thánh Nhập lưu sau khi nghe thời pháp của Đức Phật. Tuy nhiên, kể từ dạo ấy, A-xà-thế được sự thanh thản trong tâm và sau khi chết vị ấy không bị những cơn khiếp đảm của địa ngục A-tỳ mà đáng ra dành sẵn cho vị ấy nếu vị ấy không gặp Đức Phật.

Story Of Ajatasattu

 

Ajatasattu was the son of Bimbisara, the king of Magadha state, a devoted follower of the Buddha. Prior to the birth of the prince, the queen had the desire to drink the blood from the right arm of the king. When the king learnt this, he had the blood taken out and fulfilled her desire. The soothsayers then predicted that the child in the queen's womb would become the king's enemy. Hence the name Ajatasattu - the potential enemy of the father while still in the mother's womb.

 

The queen tried to abort the child but as the king's kamma and the child's kamma would have it otherwise, she did not succeed in her attempt. The king had her pregnancy well protected and the child was born. When he came of age, he was appointed heir-apparent.

 

Then the young prince fell into the clutches of the evil-minded Devadatta who misused his psychic power for his selfish ends. Turning himself into a boy with a snake coiled around his waist, he appeared before Ajatasattu and then showed himself as a bhikkhu. The prince was deeply impressed, and no wonder for people are very much interested in miracles and they have blind faith in anyone who can perform them. The prince held Devadatta in high esteem and became his devoted follower.

 

Then Devadatta made another move for the success of his evil design. He told the prince that since people did not live long, he (the prince) should kill his father and become king while still in the prime of his life; and that he (Devadatta) on his part would kill the Buddha. The prince failed in his attempt on the life of the king but when the latter learnt of his desire, he handed over his kingship to his son.

 

The transfer of power nonetheless came short of Devadatta's scheme. On his advice, Ajatasattu imprisoned his father and starved him. The queen was the only person who was permitted to visit the prison and see the king. She secretly brought food for the king by various means and at last she was forbidden to visit the prison. From that day, the king got nothing to eat but still he managed to keep himself in good physical condition by pacing on the floor. Then by the king's order, the barbers caused such injury to the feet of his father as to make it impossible for him to walk. According to the commentary, he was thus injured because in a previous life he walked with footwear on the platform of a pagoda and trod with unwashed feet on a mat meant for the bhikkhus.

 

King Bimbisara died probably at the age of 67. His son Ajatasattu was not evil-minded at heart. His good nature was evident in his devotion to the Buddha after he had wronged his father, his adoration and enshrinement of the Buddha relics and whole-hearted support which he gave to the First Council. It was his association with the evil teacher that led him astray to the point of patricide. His life affords us a lesson that we should specially bear in mind.

 

On the very day of his father's death, his wife gave birth to a son. On hearing the news, he became excited and overwhelmed with great affection for his child. This reminded him of his father and he ordered the release of the imprisoned king, but it was too late. When later on he learnt from his mother how much he was loved and cared for by his father in his childhood, he was seized with remorse. His life became wretched and miserable. He could not sleep at night, haunted by the visions of hell and smitten by conscience for his crime against his father, a devout lay disciple of the Buddha at that.

 

So led by the physician Jivaka, he went to see the Buddha. At that time the Lord was surrounded by over a thousand bhikkhus. But as they were in a contemplative mood, all was quiet with none speaking or making any movement of their hands or feet. Being deeply impressed, the king said, "May my son Udayabaddha be blessed with the kind of serenity which these bhikkhus possess!" Perhaps he feared lest his son should come to know how he seized power and try to follow in his father's footsteps. But later his fear did become a reality for down to his great grandson, the sons ascended the throne after killing their fathers.

 

King Ajatasattu asked the Buddha about the immediate benefits of the life in the holy order. The Lord enlarged on the benefits accruing from the holy life - the lay follower's reverence for the bhikkhu, moral purity, the first jhana and other higher states of consciousness in the mundane sphere, psychic powers, extinction of defilements and the attainments of the holy path.

 

After hearing the sermon, Ajatasattu formally declared himself a disciple of the Buddha. He would have attained the first stage on the path but for his patricide. Nevertheless, from that time he had peace of mind and after his death, he was spared the terrors of Avici hell that would have been in store for him had he not met the Buddha.


Thường NghiệpCận Tử Nghiệp

 

Ba trọng nghiệp: Giết vị A-la-hán, gây thương tích cho Đức Phậtcố ý chia rẽ Tăng, chắc chắn sẽ dẫn người phạm tội đi địa ngục.

 

Một loại nghiệp khác cho quả là thường nghiệp. Không sống cuộc đời thiện hạnh sẽ trở thành thói quen nếu khôngbiện pháp nào hoá giải nó, và nó sẽ cho quả ác trong kiếp sống tương lai. Bởi vậy, người cư sĩ, nếu sống có ngũ giới và nếu bị phạm giới nào thì phải sám hốithọ trì lại cho trong sạch. Giới trong sạch cần thiết cho vị Tỳ khưu. Nếu vô ý hoặc cố ý phạm phải một giới cấm nào đó mà không sám hối cho trong sạch thì sẽ trở thành thói quen. Bởi vậy, vị Tỳ khưu phải tinh tấn gìn giữ giới luật.

 

Bố thí, tôn kính cha mẹ và thầy tổ, niệm Phật, hành thiền v.v... mà người ta thực hành hằng ngày cũng là những thường nghiệp. Nó có khuynh hướng cho quả tức thì.

 

Trường hợp vắng mặt thường nghiệp, thì những điều mà chúng ta làm lúc cuối cuộc đời của chúng ta (nghiệp cận tử) sẽ cho quả nghiệp. Trong một bộ sách A-tỳ-đàm, cận tử nghiệp được mô tả là mạnh hơn thường nghiệp, nhưng có lẽ điều này chỉ đúng trong những trường hợp ngoại lệ. Theo các bộ chú giải thì thường nghiệp có thể chiếm ưu thế và cho quả.

 

Tuy nhiên, căn cứ vào những câu chuyện cổ của Phật giáo, chúng ta có thể tin chắc vào cận tử nghiệp, một đao phủ thủ đã giết người đến năm chục năm, nhưng nhờ cúng dường vật thực đến trưởng lão Xá-lợi-phất và nghe pháp của Ngài trong lúc lâm chung, vẫn được sanh về thiên giới, và một người chài lưới, trước khi chết, được gặp một vị trưởng lão, nên được sanh về thiên giới.

 

Sự phủ nhận những nghiệp mà chúng ta thường làm sẽ cho quả ngược lại. Một vị thiện nam người Sinha Lese (Tích Lan) đã hành thiền trong nhiều năm, nhưng thất vọng vì không đạt được ấn tướng nào, ngay cả ánh sáng. Cuối cùng, ông ta kết luận rằng giáo pháp của Đức Phật không phải là con đường giải thoát, và do tà kiến này, ông ta tái sanh vào cõi ngạ quỉ sau khi chết.

 

Không thấy được ánh sáng v.v... trong việc hành thiền có thể do hành không đúng hoặc thiếu Ba-la-mật. Trong thời Đức Phật, một vị Tỳ khưu tên là Sunakkhatta, đắc được thiên nhãn thông nhưng không đắc được thiên nhĩ thông, vì vị ấy không tạo Ba-la-mật về mặt này; ngoài ra, vị này còn bị một ác nghiệp ngăn cản.

 

Bởi vậy, hành giả không nên thất vọng, thối chí nếu sự thực hành của mình không cho kết quả như ý. Nhìn chung, sự thực hành đúng sẽ dẫn đến những kinh nghiệm khác thường. Do sự an tịnhvắng lặng của tâm, đề mục niệm và tâm niệm sẽ trở nên rõ rệt, cũng như mối quan hệ nhân quả của chúng và sự sanh diệt nhanh chóng, không ngừng của chúng. Lúc ấy, hành giả sẽ thấy ánh sáng. Nhưng dầu không thấy nó rõ ràng, vị ấy vẫn có được các pháp như hỷ, tịnh v.v... và các pháp hỷ, tịnh v.v... hình thành một chuỗi các chi pháp giác ngộ (thất giác chi ) mà rất cần thiết cho sự phát triển tuệ minh sát. Pháp quán danh sắc tự nó không dẫn đến những tầng thiền bậc cao.

 

Trong trường hợp vắng mặt thường nghiệpcận tử nghiệp, thì sẽ có dĩ tác nghiệp, là nghhiệp mà người ta đã làm một lần nào đó trong đời.

 

 

Habitual And Death-Bed Kammas

 

The other three weighty kammas, viz., killing an Arahat, causing injury to the Buddha and wilfully causing a schism in the Sangha are also bound to drag the offender to hell.

 

The other type of kamma that bears fruit is habitual kamma, called //bahula or acinna kamma//. Failure to lead a good moral life may become habitual if no step is taken to remove it, and it will have evil kammic effect in a future life. So laymen should live up to the five precepts and in case of any breach verbally affirm the will to guard one's moral life more vigilantly. Moral purity is equally vital to the life of a bhikkhu. Failure to make amends for any deliberate or unintentional violation of a vinaya rule will create habitual kamma and so the bhikkhu should seek to regain moral purity through confession and reaffirmation of his will to preserve it.

 

Alms-giving, reverence for parents and teachers, contemplation of the Buddha, practice of meditation and so forth, which one does daily are also habitual kammas that tend to bear immediate fruits.

 

In the absence of habitual kamma, what we do at the last moment of our life (//asanna kamma//: death-bed kamma) produces kammic results. In one Abhidhamma book, it is described as being more potent than habitual kamma but perhaps this is true only in exceptional cases. As the commentaries say, the habitual kammas probably take precedence and bear fruits.

 

Nevertheless, in the light of stories in ancient Buddhist literature we can certainly rely on death-bed kamma. A dying man who had killed people for over 50 years attained the deva-world after offering food to Sariputta and hearing his discourse. This story finds an echo in the experience of a. Sinhalese fisherman who landed in the deva world after his encounter with a thera just before his death.

 

As productive as the positive death-bed kamma is its negative counterpart. A Sinhalese layman who practised meditation for many years was disappointed as he had never seen even the light. He then concluded that the Buddha's teaching was not the way to liberation and because of this false view he landed in the peta world after his death.

 

Failure to encounter the light, etc., in the practice of meditation may be due to wrong method, wrong effort or lack of basic potential (parami). In the time of the Buddha, a monk called Sunakkhatta attained divine eye but not the divine-ear because he did not have the potential for it and, besides, there was his bad kamma as a hindrance.

 

So the yogi need not be disheartened if his practice does not produce the desired effect. By and large, practice along the right path leads to unusual experiences.

 

With tranquillity and purity of mind, the material object of contemplation and the contemplating consciousness become clearly distinct as do their causal relation and their ceaseless, rapid arising and dissolution. At that time, the yogi sees the light but even if he does not see it clearly he experiences joy, ecstasy, etc., for joy, ecstasy, tranquillity, equanimity, etc., form the links of enlightenment (//bojjhanga//) that are so vital to the development of vipassana insight. Reflection on namarupa by itself does not lead to these higher states of consciousness.

 

In the absence of habitual or death-bed kamma, there is kattata kamma which means the kamma that one has done once in a lifetime.


Sự Sanh Và Khổ

 

Vai trò của nghiệp trong pháp duyên khởi được nhấn mạnh ở mắc xích: "Sankhàra paccayà vinnànam: Do hành, có sanh khởi thức tái sanh". Phần này chúng tôi đã giải thích đầy đủ chi tiết rồi. Người lâm chung bị dính theo những tướng và những cảnh pháp liên hệ đến nghiệp của vị ấy và khi đó vị ấy chết, có theo liền các sắc do nghiệp sanh cùng với thức tái sanh, do sự luyến ái vào lúc lâm chung của vị ấy làm duyên sanh.

 

Sự tiếp xúc với các cảnh làm khởi sanh thọ, và thọ sanh ái, dầu là thọ lạc hay khổ. Thọ lạc tạo ra tham luyến với các cảnh khả ái, còn thọ khổ thì khiến chúng ta khao khát những cảnh vừa lòng. Khi tham ái trở nên mạnh và phát triển thành khát ái mãnh liệt (thủ), thì nó cho kết quả bằng hành động hay sự cố gắng để thoả mãn khát ái ấy. Người ta làm những việc thiện hay ác mà họ hy vọng sẽ giúp làm thoả mãn nhu cầu và ước muốn của họ. Chính nghiệp hữu có gốc rễ ở ái làm sanh khởi sự tái sanh. Tái sanh gắn liền với khổ, dầu nó xảy ra ở bất cứ cõi nào.

 

Không cần thiết phải nói nhiều về khổ ở cõi súc sanh và những đọa xứ khác. Trong cõi nhân loại cũng vậy, khổ là một sự thực của đời sống mà không thể thoát ra được. Cái khổ của con người bắt đầu khi còn ở trong bụng mẹ. Lớn lên con người phải làm việc cực nhọc để kiếm sống, lại phải đối đầu với những kẻ xảo quyệt và anh chị. Cho dù người ta thoát khỏi cái khổ trong sự phấn đấu để sanh tồn đi nữa, cuối cùng người ấy cũng phải đối đầu với tuổi già, bịnh hoạn và sự chết. Từ lúc còn ở trong bụng mẹ, con người phải thọ lãnh cái khổ này của đời sống. Cái khổ đến với con người trong mọi lúc. Người ta có thể sống một cuộc sống hạnh phúc, vui vẻ, nhưng quá trình hoạt động của thân và tâm của người ấy đang già và hoại dần.

 

Có một câu chuyện của người Ấn Độ, nhấn mạnh tánh chất cố hữu của sự già, bệnh và chết. Có một người nọ ngậm thuốc trường sanh và bay vào ẩn náo trong rừng để tránh tuổi già. Một người khác trốn dưới biển để tránh bệnh hoạn và một người khác nữa vào trốn trong hang núi Hy mã lạp sơn để tránh sự chết. Khi những đứa con trai của ba người kia đi tìm kiếm họ, chúng thấy người đàn ông thứ nhất đã trở nên già với tất cả những nét xấu xí của tuổi già, người thứ hai thì bị bệnh sắp chết và người thứ ba thì đã chết queo.

 

Tất cả mọi người đều phải già, bệnh và chết. Một khi con người sanh ra thì không có gì che chở người ấy để khỏi bị những điều khổ này. Do đó, trong bộ Pháp cú kinh có Phật ngôn:

 

"Không có chỗ nào trong hư không, dưới biển hay trên mặt đất để người ta tránh khỏi cái chết."

Birth And Suffering

 

The role of kamma in the chain of causation is underscored in the teaching sankhara paccaya vinnanani - "From sankhara there arises rebirth consciousness", which we have already explained in detail. The dying person is attached to the signs and visions relating to his kamma and so on his death there follow kamma-based rupas together with rebirth-consciousness conditioned by his death-bed attachment.

 

Contact with the sense-objects gives rise to feeling which in turn produces desire. It does not matter whether the feeling is pleasant or unpleasant. Pleasant feeling creates attachment to pleasant objects while unpleasant feeling makes us crave for pleasant objects. When the desire becomes strong and develops into frantic craving (upadana), it results in activity or effort for its fulfilment. People do good or bad deeds which they hope will help to satisfy their needs and desires. It is this kammabhava rooted in craving that gives rise to rebirth. Rebirth is bound up with suffering regardless of the world in which it takes place.

 

There is no need to dwell on the sufferings in the animal and other lower worlds. Among human beings, too, suffering is an inescapable fact of life. A man's suffering begins while he is in the mother's womb. He has to work hard for his living, he is harassed by bullies and tyrants. Even if he escapes from the dukkha inherent in the struggle for survival, he will finally have to face old age, sickness and death. From the time of his conception, man is headed towards these inevitable evils of life. He is approaching them at every moment. He may live an apparently care-free, happy life but his namarupas are forever in the process of ageing and disintegration.

 

There is an Indian story which stresses the inevitability of old age, sickness and death. A man being afraid of old age rose into the air with the elixir of life in his mouth and hid in the sky. Another man hid under the sea to escape sickness and still another hid in a cave in Himalayas to avoid death. When their sons searched for them they found that the first man had become old with all the ugly signs of decrepitude, the second man was sick unto death and the third man was dead.

 

Everyone is subject to old age, sickness and death. Once a man is reborn, there is nothing that will protect him from these evils of existence. Hence, the Buddha's saying in the Dhammapada that there is no place in the sky, on land or in the sea, where one can escape death.


Sầu KhổTa Thán

 

Già, bệnh và chết là ba cái khổ không thể tránh được, chừng nào sự tái sanh còn xảy ra trong dòng danh sắc đang biến hoại. Tái sanh cũng dẫn đến sầu khổ, lo âu, ta thánkhổ não.

 

Chúng ta khổ lụy khi có một người trong gia đình bị chết. Nỗi thương tiếc trùm xuống khi chúng ta mất đi một người nào đó, chẳng hạn như cha, mẹ hay chồng mà chúng ta phải nương tựa vào, hoặc một đứa con trai hay con gái mà chúng ta yêu chuộng. Một nguyên nhân khác của sự sầu khổ là sự mất mát tiền bạc, của cải, bởi những vị quan ác, bọn cướp, kẻ trộm, bảo lụt hay những đứa con phá của. Sự sầu khổ cũng sanh lên do bệnh tật và sức khỏe yếu kém. Một số người bịnh quá bi quan đến nỗi những trạng thái tinh thần của họ trở thành chướng ngại cho sự bình phục. Người có giới cũng tiếc nuối, buồn bực khi giới hạnh của mình bị suy sụp. Sự buồn bựchối tiếc cũng hành hạ những người nhận ra lỗi lầm của mình sau khi từ bỏ chánh kiến để đi theo tà kiến dưới sự hướng dẫn của các vị tà sư.

 

Ngoài ra, còn có nhiều điều bất hạnh khác trong cuộc sống. Ví dụ: Các tai hoạ, tức là: Nạn nhân của bọn cướp v.v..., sự khổ nhọc trong việc kiếm sống và việc kiếm về những nhu cầu của cuộc sống v.v... mà tạo ra bao điều đau đớn, sầu khổta thán.

 

Khỏi phải nói nhiều về những điều khổ thân ở địa ngục, ngạ quỉ và cõi súc sanh. Do có thức mà con người phải chịu đau khổ khi tiếp xúc với những cảnh không vừa lòng. Cái khổ nơi thân thường dẫn theo cái khổ nơi tâm. Điều này không áp dụng cho vị A-la-hán hoặc vị A-na-hàm, vì các Ngài không buồn khổ, lo lắng, dầu đang bị khổ nơi thân và vị hành giảchánh niệm, thoát khỏi ngã kiến, không còn than thân cũng không bị khổ thân trong khi cảm thọ cái khổ nơi thân. Do đó, điều quan trọng trong giáo pháp của Đức Phậtchúng ta cần phải giác tỉnh với khổ thọ khi chúng ta gặp phải.

 

Người ta sẽ không hạnh phúc khi nghĩ đến những cảnh khổ bi đát và những điều bất hạnh xảy đến với họ trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai. Họ cảm thấy đau đớn, sầu khổ khi thấy mình bị những điều rủi ro đè nặng.

 

Tất cả những điều khổ này có mặt vì có sự sanh. Đời sống hoàn toàn đau khổ nếu không có chỗ đứng của cái ta và không có điều gì tốt đẹp.

 

Theo giáo lý duyên khởi, điều duy nhất nối kiếp sống này với kiếp sống khác là mối quan hệ nhân quả. Do ái dục, nghiệp hành,v.v..., bắt nguồn từ vô minh trong một kiếp sống, có sanh khởi năm loại quả, đó là thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ. Những quả này bắt đầu bằng sự tái sanhkết thúc bằng sự chết, có sự già và những điều khổ khác xen vào.

 

Giáo pháp của Đức Phật không hấp dẫn những người bình thường, nặng nề những ảo tưởng về hạnh phúcthực thể của bản ngã. Nhưng tánh chất vô thường và khổ là những sự thực của đời sống không sai chạy vào đâu được và đời sống trong cõi chư thiên cũng thế thôi. Một số chư thiên địa cầu phải phấn đấu vất vả để sinh tồn và còn khổ hơn loài người. Họ được gọi là chư thiên đọa xứ (vinipàtika) và họ bao gồm Dạ xoa, thần, v.v... thuộc chư thiên hạ giới. Một số chư thiên ở các cõi trời cũng không được hạnh phúc vì họ không có chỗ trú ngụ tốt và thiếu người hầu. Ngay cả Đế thích, vua của chư thiên, cũng đã thú nhận với trưởng lão Ma Ha Ca Diếp rằng vị ấy không được chói sáng nhiều lắm, vì vị ấy được sanh vào cõi chư thiên do thiện nghiệp mà vị ấy làm đã lâu trước khi có xuất hiện giáo pháp của Đức Phật, và vị ấy phải biến mất khi gặp các vị chư thiên chói sáng hơn, vì những vị chư thiên ấy đã làm thiện nghiệp trong thời Đức Phật.

 

Như vậy, Sakka cũng không phải hoàn toàn được hạnh phúctùy tùng của vị ấy cũng vậy. Họ kể lại với trưởng lão Ma Ha Ca Diếp rằng họ khốn khổ vì họ có ít giá trị so với những tiên nữ làm hoàng hậu, có địa vị cao. Một số chư thiên trở nên khốn khổ khi cái chết đã gần kề với những điềm báo như: Hoa trang sức trên người họ bị héo úa, mồ hôi chảy ra từ nách và những tướng lão hoại khác. Một số chư thiên chết đột ngột trong khi đang chìm đắm trong dục lạc, giống y như người chết bởi một nhát dao bén. Cái chết có thể xảy ra trong chớp nhoáng, như trong câu chuyện Subrahma Deva sau đây.

 

 

Grief And Lamentation

 

Death and the other two evils of life are inevitable so long as rebirth takes place within the framework of disintegrating nama-rupa. Rebirth leads also to grief, anxiety, lamentations and anguish.

 

We grieve when a member of the family dies. The grief is overwhelming when we lose someone, e.g. parents or a husband on whom we have to depend or someone, e.g. a son or a daughter whom we love dearly. Another cause for grief is the loss of material possessions through evil-minded officials, robbers, thieves, destructive fires, floods, cyclones, and hated heirs. Grief is also caused by the affliction of disease and decline of health. Some sick persons are so much depressed that their mental states become a hindrance to their recovery. In the case of morally scrupulous monks and laymen, any damage to moral life gives rise to anxiety. Thus, the rishi Isisinga suffered terrible anguish when his moral integrity was undermined by the seduction of a goddess. Anxiety and repentance also torment those who realize their mistakes after having rejected the right view in favour of a wrong one under the guidance of a false teacher.

 

Besides, there are many other misfortunes in life, e.g. accidents, viz., victimization by robbers, etc., hardship in earning one's living and, securing the necessities of life and so forth that occasion grief, anguish and lamentation.

 

There is no need to dwell on the physical sufferings in hell and the animal and peta-worlds. Because of his consciousness, man also suffers anguish whenever he is in contact with unpleasant sense-objects. As he has thus to suffer mentally into the bargain, it is for him something like adding insult to injury. This does not apply to the Arahat or the noble one at the anagami stage, for being free from irritation (dosa) he remains unperturbed in the face of physical suffering and so does the mindful yogi who is free from ego-illusion that tends to add to the sense of self-pity. Hence, the importance of the Buddha's teaching that we should be aware of unpleasant feeling when we suffer from it.

 

People are unhappy when they think of the frustrations and misfortunes that beset them in the past or at present or that may beset them in future. They feel bitter and upset when they find themselves in distress and burdened with misfortunes.

 

All these sufferings are rooted in rebirth. Life is all suffering without the ego and without anything good even if there were such ego to enjoy it.

 

According to the doctrine of Paticcasamuppada, the only thing that links one existence with another is the cause-and-effect relationship. From craving, kammic effort, etc., based on ignorance in one existence, there arise five effects, viz., consciousness, body and mind, sense-organs, contact, and feeling. These effects begin with rebirth and end in death with old age, anxiety and other sufferings in between them.

 

This teaching of the Buddha will not appeal to common people who harbour illusions of happiness and ego-entity. But impersonality and suffering are the unmistakable facts of existence and life in the deva-world is no exception. Some earth-bound devas have to struggle hard for survival and are more miserable than human beings. They are called //vinipatika// devas and they comprise ghosts, devils, etc., that belong to lower order of devas. Some devas in heavens are not happy because they do not have good abodes and enough attendants. Even Sakka, the king of devas, admitted to the elderly thera Mahakassapa that he was not very much luminous as his attainment of deva-world was due to the good kamma which he did long before the proclamation of Buddha-dhamma and that he had to hide himself when he saw the devas who outshone him as they had done good kamma in the time of the Buddha.

 

Thus, Sakka was not always happy and so were his female attendants who told Mahakassapa that they were wretched and miserable since they counted for little among the high-ranking queen-goddesses. Some devas become unhappy on the approach of death that is heralded by the withering of their bedecked flowers, the sweating from their armpits and other signs of senility. Some devas die suddenly while indulging in celestial pleasure just like a man whose life is cut off by stroke. Death may be a matter of seconds like the extinction of the flame of a candle. This is borne out by the story of Subrahma deva.


Chuyện Phạm thiên Subrahma

 

Subrahma Deva đang sống trong hạnh phúc khi những tùy tùng, những tiên nữ của vị ấy đang ca hát và hái hoa trên cây, họ chết đột ngột và tái sanh vào địa ngục. Subrahma Deva thấy họ đang chịu khổ trong địa ngụcđồng thời vị ấy cũng thấy trước rằng trong vài ngày nữa vị ấy cũng sẽ chết và chịu chung số phận với những tùy tùng của mình. Đầy kinh hãi, vị ấy đi đến Đức Phật và hỏi Ngài xem có chỗ nào mà vị ấy sống không sợ hãi. Khi thấy Đức Thế Tôn trả lời rằng Ngài không thấy con đường nào giải thoát cho chúng sanh ngoài sự thực hành các pháp giác chi, pháp Đầu đà (dhutanga) và Tứ chánh cần. Chỉ có những pháp ấy mới có thể đoạn trừ các phiền não. Pháp thu thúc lục căn là pháp ngăn chặn phiền não và Niết-bàn là pháp xuất ly tất cả.

 

Nghe qua những điều này, vị chư thiên cùng với tùy tùng của vị ấy đều chứng đắc tầng thánh Nhập lưu. Điều chúng ta cần lưu ý ở đây là cái chết đột ngột của những vị tiên nữ. Số phận của những kẻ chết thình lình như vậy trong khi đang vui hưởng dục lạc quả thật khủng khiếp, vì họ rất có thể tái sanh địa ngục do kết quả của các bất thiện nghiệp. nếu có điềm báo cái chết sẽ đến, thì nó sẽ tạo ra sợ hãi và làm cho cái khổ tăng thêm.

 

Khổ bắt nguồn từ sự luyến ái khoái lạc không chỉ giới hạn trong cõi dục. Bởi vì các vị chư thiên hữu sắc hay vô sắc cũng khổ. Ở cõi phạm thiên không có khoái lạc về giới tính hay bất cứ dục lạc nào khác. Những vị phạm thiên chỉ thấy, nghe hoặc suy nghĩ và những cảnh thấy, v.v... của họ không hàm chứa dục tình. Nhưng theo bộ Visuddhimagga thì có một số người khởi lên nỗi khao khát những dục lạc ở cõi phạm thiên, vì qua sự đồn đãi hoặc suy luận, họ tin rằng những dục lạc như vậy tối thắng hơn những dục lạccõi người và cõi chư thiên. Đó chẳng qua là ái dục dẫn đến sự chứng đắc thiền hữu sắc, vô sắccuối cùng đưa họ tái sanh vào các cõi hữu sắc hoặc vô sắc.

 

Chẳng lạ lùng gì khi có một số người nghĩ hoặc nói về dục lạc ở cõi Phạm thiên. Những người hiểu rõ giáo pháp của Đức Phật sẽ phủ nhận quan niệm ấy, nhưng có lẽ nó hấp dẫn những kẻ ngu si, dốt nát. Những bộ sách về tôn giáo của người Ấn Độ có vẽ chân dung Phạm thiên và vợ của ông ta, ngay cả Niết-bàn như là một cõi chư thiên với những thiên cungchúng ta có thể sống với gia đình và người hầu của chúng ta.

 

Story Of Subrahma Deva

 

Subrahma deva was having a good time when his attendants, the goddesses who were singing and plucking flowers on the tree died suddenly and landed in hell. Subrahma deva saw them suffering in hell and at the same time he foresaw that he too would die in a few days and share the fate of his attendants. Being much frightened, he came to the Buddha and asked the Lord to show him the place where he could live without fear. The Lord then says that he sees no way to salvation for every living being other than the practice of //bojjhanga// dhamma (links of enlightenment such as mindfulness), the //dhutanga// (ascetic practices) and //sammappadhana// (right exertion), that serve to put an end to defilements, the control of senses (indriyasamvarasile), the control that helps to keep off the defilements and Nibbana which means renunciation of everything.

 

On hearing this, the deva and his attendants attained the first stage on the holy path. What we should note here is the sudden death of the goddesses. The fate of those who thus die suddenly while engaged in the pursuit of pleasure is indeed terrible for they are likely to land in hell as a result of unwholesome kammic impulses. If there is any sign that heralds the approach of death, it creates fear and adds to their suffering.

 

Suffering that stems from attachment to pleasure is not confined to the sensual sphere. For it is the lot, too, of the Brahmas in their immaterial or formless (arupa) world. In the Brahma world there is no pleasure of sex or any other sensual pleasure. The Brahmas only see, hear or think and the objects of their seeing, etc., have no sexual overtones. But as Visuddhimagga says, some people develop a craving for the sensual pleasures of the Brahma world because they believe either through hearsay or speculation that such pleasures are superior to those of the human and deva-worlds. It is no other than their sensual craving that leads to the attainment of rupajhana, arupajhana, samapatti and finally lands them in the rupa or arupa brahma worlds.

 

It is not surprising that some people think or speak of the sensual pleasure in the Brahma world. Those who are well aware of the true teachings of the Buddha will reject the idea but it probably appeals to ignorant people. The Indian religious books portray Brahma with his wife and some regard even Nibbana as a heavenly abode with celestial mansions where we can dwell with our families and attendants.


Dục Thủ Có Nghĩa Là Tất Cả Những Loại Ái Dục Mãnh Liệt

 

Dục thủ (kàmupàdàna) ở đây không chỉ có nghĩa là sự khao khát mãnh liệt đối với dục lạc. Nó cũng có nghĩa là những hình thức phát triển của ái dục đối với cõi sắc và vô sắc. Do đó theo bộ Thanh tịnh đạo thì vị hành giả có thể đoạn trừ loại ái dục thái quá này chỉ ở giai đoạn thánh đạo cuối cùng và chính ái dục này nằm ở căn cội của mọi cố gắng để chứng đắc thiền hữu sắc hoặc vô sắc. Đối với người bình thường, thiền như vậy có nghĩa là sự tạo nghiệp hữu sắc hoặc vô sắc, do duyên của ái dục và nghiệp này dẫn đến tái sanh ở cõi phạm thiên hữu sắc hoặc vô sắc. Từ lúc tái sanh, có sanh khởi sự già lão không ngừng của danh sắc. Sự già lão của vị Phạm thiên không rõ nét như sự già lão của con người, nhưng nó cũng dẫn đến sự biến hoại và khi sức sống cạn hết, vị phạm thiên ấy cũng không thể tránh khỏi cái chết.

 

Vì không có sân, nên đời sống của vị Phạm thiên không bị ưu sầu, lo lắng v.v... và sự cảm xúc về thân không có nơi vị Phạm thiên nên vị ấy không bị khổ thân. Tuy nhiên, vị ấy vẫn không thể thoát khỏi sự sanh, già và chết, là những trạng thái vốn có ở mọi kiếp sống.

 

Như vậy, sự tránh khỏi già và chết có nghĩa là sự đoạn trừ khả năng tái sanh. Để tránh khỏi sự tái sanh, chúng ta tìm cách tránh thoát thiện nghiệpbất thiện nghiệp, và sự phủ nhận nghiệp hữu đòi hỏi phải phủ nhận ái và thủ. Vì mục đích này, quá trình tâm phải dừng lại ở thọ không cho khởi sanh tham muốn với bất cứ cái gì. Sự đoạn trừ tham ái qua pháp quán vô thường, khổ và vô ngã của các pháp sanh lên từ các căn là phương pháp duy nhất để đoạn trừ ái dục, tái sanh và những nhân khác trong chuỗi nhân quả. Đây là sự chấm dứt khổ tạm thời, sự chấm dứt vĩnh viễn chỉ xảy ra khi hành giả bước vào thánh đạo.

 

 

Kamaupadana Means All Kinds Of Excessive Craving

 

Kamaupadana here means not only the excessive craving for sensual pleasure. It means also the developed forms of craving for the material and immaterial (rupa and arupa) worlds. Hence, according to Visuddhimagga, the yogi can do away with this inordinate craving only at the last stage of the holy path and it is this craving that lies at the root of every effort to attain rupa or arupa jhana. For ordinary people such jhana means rupa or arupa kammic effort based on sensual craving and this leads to rebirth in rupa or arupa world of Brahmas. From the time of rebirth there arises the ceaseless ageing (jara) of nama-rupa or either of the two phenomena of life. The senility of the Brahma is not apparent like that of a human being but still it leads to decay, and when his course is run, he cannot avoid death.

 

Being free from hatred, the life of a Brahma is not subject to grief, worry, anxiety and so forth; and the lack of physical sensitivity makes him free from physical suffering. He cannot, however, escape birth, old age and death that are inherent in every kind of existence.

 

So escape from old age and death presupposes the effort to rule out the possibility of rebirth. In order to avoid rebirth, we must seek to avoid wholesome or unwholesome kamma and negation of kammic existence calls for negation of attachment and craving. For this purpose, the mental process must end in feeling and stop short of developing the desire for anything. This denial of desire through the contemplations, anicca, dukkha and anatta of everything arising from the senses is the only way to avoid craving, rebirth and other links in the causal sequence that leads to old age and death. This means the temporary extinction of suffering which the yogi can overcome once and forever when he develops vipassana insight on the holy path.


Kiến ThủNguyên Nhân Của Sự Tái Sanh

 

Kiến thủ là sự bám chắc theo loại tà kiến phủ nhận nghiệp và kiếp sống tương lai. Do đó đoạn kiến nhấn mạnh sự đoạn diệt sau khi chết, đó là một loại kiến thủ. Người chấp theo tà kiến như vậy sẽ không làm việc thiện cũng không tránh điều ác. Người ấy chẳng cần làm gì cho hạnh phúc của kiếp sống sau, mà chỉ lo hưởng thụ càng nhiều càng tốt, bằng bất cứ phương tiện nào. Vì người ấy không quan tâm đến đạo đức nhân quả, nên phần lớn hành động của anh ta thường là bất thiện, để rồi tạo ra những ấn tướng lúc lâm chung và dẫn anh ta tái sanh vào khổ cảnh. Điều này thấy rõ trong câu chuyện ngạ quỉ Nandaka.

 

Nandaka là một vị quan trong thời của đức vua Piígala nước surattha, là một vương quốc nằm ở phía bắc tỉnh Bombay, thuộc tây Ấn Độ hiện nay. Vị ấy chấp theo tà kiến, tức là cho rằng bố thí không có lợi ích gì v.v... Sau khi chết, ông ta tái sanh làm một Peta (quỉ) ở trong cây Ban-yan (cây đa), nhưng khi con gái của ông ta cúng dường vật thực đến một vị Tỳ khưu và hồi hướng phước báu cho ông ta, thì ông ta có được đồ ăn và thức uống của chư thiên một cách dồi dào, bất tận. Khi ấy ông ta mới công nhận có nghiệp và ân hận cho ý nghĩ điên rồ trong kiếp trước của ông ta. Một hôm vị phi nhân Nandaka dùng thần lực dẫn vua Piígala đi đến chỗ ngụ của ông ta và tiếp đãi đức vua cùng tùy tùng bằng đồ ăn và thức uống của chư thiên. Đức vua vô cùng kinh ngạc và để làm thỏa mãn tánh tò mò của đức vua, vị phi nhân kể lại về sự tái sanh đọa xứ của mình như là quả nghiệp của sự chấp thủ tà kiến của vị ấy, tánh phi đạo đức và sự chống đối việc bố thí; Vị ấy cũng kể lại sự thay đổi số phận đột ngột của mình do sự hồi hướng phước báu của đứa con gái. Đoạn vị ấy buồn rầu kể về cái khổ kinh khủngđịa ngục mà vị ấy sắp phải lãnh chịu sau khi chết, và địa ngục ấy dành cho những người chấp theo tà kiếnphỉ báng thánh tăng trong khi còn ở trên dương thế.

 

Chú giải cũng nói rằng: Sự chấp theo đoạn kiến có thể dẫn đến cõi chư thiên hoặc phạm thiên nếu đoạn kiến ấy xảy ra ở cõi trên, nhưng các vị chư thiênphạm thiên rõ ràng không hề tin vào sự đoạn diệt của họ sau khi chết. Nói chung, đoạn kiến khiến người ta thiên về những ác nghiệp.

 

Những hành động tạo nghiệp cũng có thể do thường kiến làm động cơ thúc đẩy. Tà kiến này tạo ra ảo tưởng về thực thể của con người, cho rằng chính cái ngã thường tồn sẽ thọ lãnh những thiện nghiệp hoặc bất thiện nghiệp trong kiếp sống tương lai. Bởi vậy, người có tà kiến này chuyên tâm làm những việc mà họ cho là thiện. Thực ra một số hành động có thể là ác, nhưng nghiệp của người ấy dầu là thiện hay bất thiện mà sanh lên từ thường kiến, thì cũng dẫn đến tái sanhđau khổ.

 

Lại nữa, một động cơ chính khác của hành động tạo nghiệp là sự mê tín. Có nhiều hình thức mê tín, ví dụ: Cho rằng gặp người ăn xin sẽ đem lại xui xẻo, ong làm tổ trong nhà sẽ đem lại sự nghèo khổ. Do ảnh hưởng của những niềm tin như vậy, người ta có thể làm điều ác, như cư xử thô bạo với người ăn xin, hoặc giết chết những con ong. Câu chuyện Cittasambhùta jàtaka sau đây sẽ chứng minh điều ấy.

 

Trong chuyện bổn sanh này, Bồ tát có tên là Citta thuộc giai cấp cùng khổ Chiên đà la. Bấy giờ, A-nan-đà là em bà con của Bồ tát, tên là Sambhùta. Họ kiếm sống bằng nghề nhảy múa. Một hôm đứa con gái của một vị thương nhân và người con gái của một vị quí tộc Bà la môn đang trên đường ngoạn cảnh với tùy tùng của họ. Khi trông thấy hai cậu con trai kia, họ cho đó là điềm xấu, bèn quay về nhà. Tùy tùng của họ lấy làm tức giận và đánh xối xả vào hai đứa bé Chiên đà la, vì chúng là nguyên nhân khiến cuộc vui chơi của họ bị hủy bỏ.

 

Hai cậu bé lên đường đi đến Takkasila và cải trang làm hai chành trai Bà la môn, họ chuyên tâm vào việc học tập. Citta được cử làm lớp trưởng do tư chất thông minh của vị ấy. Một hôm, ông thầy gọi họ đến một nơi khác để học cách tụng kinh Phệ đà. Ở đó, Sambhùta vô ý uống nhầm sửa còn nóng, nên buộc miệng nói tiếng địa phương: "Khalu, khalu" và Citta cũng quên mình mà thốt ra rằng: "Niggala, niggala" (nhổ ra, nhổ ra). Những câu này đã để lộ thân phận của họ, khiến các môn sinh nhận ra họ là người Chiên đà la. Hai chàng trai bị đánh đập và bị đuổi ra khỏi trường.

 

Theo lời khuyên của ông thầy, họ xuất gia làm đạo sĩ. Sau khi mạng chung, họ sanh làm chim, và khi sanh lại làm người, Citta là con của vị Tư tế quan và nhớ lại ba kiếp quá khứ của mình. Vị ấy xuất gia làm đạo sĩ, đắc thiền và các pháp thần thông. Sambhùta làm vua, vị ấy nhớ lại kiếp sống sanh làm người Chiên đà la.

 

Do năng lực thần thông, Citta biết người em của mình vẫn còn say mê trong khoái lạc của vị đế vương và sau khi chờ đợi đến năm chục năm, vị ấy đi đến khu vườn của đức vua. Đức vua nhận ra đạo sĩ là anh của mình trong kiếp quá khứ và mời đạo sĩ chung hưởng khoái lạc vương giả. Nhưng vì biết rõ kết quả của nghiệp thiện và bất thiện, Bồ tát nguyện với chính mình là sống cuộc đời tự chế, xuất ly và xả bỏ. Vị ấy nhắc vua nhớ lại những thời kỳ sống chung với nhau trong những kiếp quá khứ. Đó là kiếp sanh làm Chiên đà la, làm chim và làm nai. Mục đích của vị ấy là chỉ cho thấy kiếp sống bấp bênh, không định hướng và khuyên đức vua hãy xuất gia làm đạo sĩ để phát triển đời sống tâm linh. Nhưng thật khó để đức vua từ bỏ dục lạc. Bởi vậy, Bồ tát quay về Hi mã lạp sơn. Về sau, đức vua thấy được tính chất tạm bợ của dục lạcđi vào Hi mã lạp sơn, xuất gia làm đạo sĩ. Ở đó, vị ấy chuyên tâm hành thiền và đắc định cùng các pháp thần thông.

 

 

Attachment To Belief As The Cause Of Rebirth

 

Ditthupadana means the attachment to the view which rejects future life and kamma. Hence, ucchedaditthi which insists on annihilation after death is a kind of ditthupadana. A person who holds such a belief will have no need to do good or avoid evil. He will do nothing for other-worldly welfare and seek to enjoy life as much as possible by fair means or foul. As he has no moral scruples, most of his acts are unwholesome kammas that create death-bed visions and lead him to the lower worlds. This is evident in the story of Nandaka peta.

 

Nandaka was a general in the time of king Pingala who ruled Surattha country that lay north of the present province of Bombay in West India. He clung to false views e.g. that it was useless to give alms and so forth. After his death he became a peta on a banyan tree, but when his daughter offered food to a monk and shared her merit with him, he had an unlimited supply of celestial drinks and food. He then realized the truth of the kammic law and repented of his adherence of false views in his previous life. One day, he led king Pingala to his abode and entertained the king and his followers to a celestial feast. The king was much surprised and in response to his inquiry, the peta gave an account of his rebirth in the lower worlds as a kammic result of his false views, immorality and vehement opposition to alms-giving; and the sudden change of his fortune following his sharing of merit acquired by his daughter. He also described the suffering that he would have to undergo after his death, the terrible suffering in hell that he was to share with those who held wrong views and vilified the holy men during their earthly existence.

 

The moral of the story is that attachment to wrong views (e.g. that an act has no kammic result, etc.) leads to unwholesome acts and rebirth in the lower worlds.

 

The commentary also says that clinging to uccheda (annihilation) belief leads to deva or Brahma worlds if annihilation is supposed to follow demise on those higher planes of existence, but devas and Brahmas apparently do not believe in their annihilation after death. By and large, the belief in annihilation makes people prone to misdeeds.

 

Kammic deeds may also be motivated by eternity belief (sassataditthi). The belief creates the illusion of personal identity, the illusion which makes a man believe that it is his permanent self that will have to bear the consequences of his good or bad deeds in a future life. So he devotes himself to what he regards as good deeds. Some of his deeds may be bad in fact, but in any case his deeds, whether good or bad, that arise from eternity belief lead to rebirth and suffering.

 

Still, another mainspring of kammic deed is superstitious belief. There are many superstitions, for example, that seeing a man of low class brings about misfortune, that the beehive or a guana in a house is a sure omen of poverty. Under the influence of such beliefs, a person may do evil, such as treating an outcaste cruelly or killing the bees. This is borne out by the Cittasambhuta jataka.

 

In the jataka the bodhisatta was a man of low chandala class called Citta. Ananda was then his cousin named Sambhuta. They made their living by dancing with bamboos. One day, the daughter of a merchant and the daughter of a high-caste brahmin who were very superstitious went for a picnic with their attendants. At the sight of the two dancers, they considered it an ill omen and returned home. Their irate followers then beat the two men for denying them the pleasure of the picnic.

 

The two dancers then went to Taxila and disguised as brahmins, they devoted themselves to learning. Citta became a student leader by virtue of his intelligence. One day, their teacher sent them to a place where they were required to recite the brahmanical parittas. There having got his mouth burnt by drinking hot milk unmindfully, Sambhuta uttered, "Khalu, Khalu" in his dialect and Citta was so absent-minded as to say, "niggala, niggala" ("spit out, spit out"); these slips of the tongue led to their undoing for their high caste brahmin students found out their secret. They were beaten and expelled from school.

 

On the advice of their teacher they became rishis (forest ascetics or hermits). After their death they passed on to the animal world, first as two deers and as two eagles in their next existence. Then Citta became the son of the chief Brahmin and remembered his three previous lives. He led the life of a hermit and attained jhana and psychic powers. Sambhuta became a king, he remembered his low caste life as a chandala and spent his time in the pursuit of sensual pleasure.

 

By means of his psychic power, Citta knew his brother's spiritual immaturity and after waiting for 50 years he came to the king's garden. The king recognized the hermit as his brother in a previous life and was prepared to share royal pleasures with him. But being aware of the kammic effects of good and bad deeds, the bodhisatta had pledged himself to a life of self-restraint, renunciation and detachment. He reminded the king of their close associations in their previous lives, to wit, as low-caste chandalas, as deers and as birds. His object was to point out the erratic course of kammic life and to urge the king to become an ascetic for further spiritual progress. But it was hard for Sambhuta to give up his worldly pleasures. So the bodhisatta returned to the Himalayas. Then the king became disenchanted with his worldly pleasures and went to the Himalayas where he was welcomed by the hermit. There, as a hermit he devoted himself to spiritual exercises and attained jhana and psychic powers.


Mê Tín Và Ác Sanh

 

Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở trong câu chuyện này là những ác nghiệp khởi sanh từ sự mê tín. Vai trò của mê tínnguyên nhân của những ác nghiệp được thấy rõ trong câu chuyện người thợ săn Koka.

 

Trong thời Đức Phật, có một người thợ săn tên là Koka, ở tại một ngôi làng nọ. Một hôm ông ta dẫn những con chó đi vào rừng săn thú. Trên đường đi, ông ta gặp một vị Tỳ khưu đang đi khất thực. Người thợ săn cho rằng đây là điềm xấu. Trùng hợp thay, ngày hôm ấy ông ta chẳng săn được con thú nào cả. Trên đường về, ông ta lại gặp vị Tỳ khưu. Đầy giận dữác ý, ông ta thả chó tấn công vị Tỳ khưu. Vị Tỳ khưu bỏ chạy và leo lên một nhánh cây nọ. Người thợ săn bắn một mũi tên vào bàn chân của vị Tỳ khưu. Vị Tỳ khưu đau đớn quằn quại trên nhánh cây và chiếc y của vị ấy rơi xuống, trùm lấy người thợ săn. Những con chó tưởng đó là vị Tỳ khưu, bèn xông đến cắn xé ông ta. Kết quả là người thợ săn bị những con chó của ông ta cắn chết. Sau khi nhận ra rằng chúng đã giết chết chủ của mình, những con chó bỏ chạy.

 

Vị Tỳ khưu trở về bạch lại vấn đề với Bậc Đạo Sư. Nhân đó, Thế Tôn nói rằng:

 

"Kẻ ngu hại người không hề làm khổ kẻ khác. Hắn hại người đã thoát khỏi phiền não, nhưng ác nghiệp của hắn đã dội lại trên chính hắn, như đám bụi bay ngược trở lại người tung ngược chiều gió".

 

Ở đây, cái chết thê thảm của tên thợ săn, sự tái sanh vào khổ cảnh của hắn và đau khổ do ác nghiệp mà chính hắn tạo ra đều xuất phát từ mê tín. Một số người lấy làm lo sợ khi nghe nhà chiêm tinh nói về vị trí những ngôi sao báo trước vận xấu của họ. Bởi vậy, họ dâng cúng hoa và đèn đến tượng Phật, bố thí đến chư Tăng, nghe Pháp và hành thiền. Một số người thỉnh chư Tăng về nhà tụng kinh an lành để ngăn ngừa rủi rotai họa mà họ tin sẽ đến vì những cảnh mộng mà họ thấy. Thiện nghiệp của họ dẫn đến thiện sanh, nhưng giống như những sự tái sanh khác do ác nghiệp, nó cũng đầy đau khổ.

 

Một số người thiếu trí làm điều ác để mong xua tan những rủi ro có thể xảy đến với họ. Những câu chuyện bổn sanh có nêu ra việc giết thú để cúng tế, bao gồm việc giết bốn con dê, bốn ngựa, bốn người v.v... Hình thức giết thú tế thần này, chúng ta sẽ được biết qua câu chuyện về vua Kosala trong thời Đức Phật.

 

Vua Kosala say mê một người đàn bà đã có chồng. Bởi vậy, vua cho gọi người chồng đến và giao cho anh ta một công việc ở xa. Nếu người chồng kia không làm xong công việc và trở về trước khi mặt trời lặn thì sẽ bị trừng phạt.

 

Người kia làm theo lệnh của đức vua và trở về trước khi mặt trời lặn, nhưng cổng thành đã đóng lại và vì không thể đi vào thành phố được, anh ta đành tá túc qua đêm ở Kỳ Viên tịnh xá.

 

Bị đốt cháy bởi dục tìnhtham ái, đức vua trằn trọc và không thể chợp mắt trong đêm ấy được. Vị ấy nghe giọng nói của bốn người đang chịu khổ trong địa ngục vạc dầu vì tội tà dâm trong kiếp quá khứ của họ. Có lẽ do nguyện lựcnăng lực thần thông của Đức Phật khiến cho vua nghe được những giọng nói này phát ra từ địa ngục. Đức vua lấy làm kinh hãi và sáng sớm hôm đó cho vời vị Tư tế quan đến giải mộng. Vị Tư tế quan nói rằng những giọng nói ấy báo hiệu những rủi ro sắp xảy đến, và để ngăn chặn nó, đức vua phải tế voi, ngựa v.v... mỗi thứ một trăm.

 

Đức vua sai sửa soạn đầy đủ mọi thứ để tế lễ. Ôi độc ác thay! Chỉ vì cứu mạng một người mà phải giết chết hằng ngàn mạng sống. Trong sốù những nạn nhân sắp bị giết, có cả con người, và khi nghe những tiếng kêu la thảm thiết của họ, hoàng hậu Mallikà đi đến đức vua và bảo vị ấy đến yết kiến Đức Phật.

 

Đức Phật khẳng định với đức vua rằng những tiếng nói ấy chẳng liên quan gì đến vị ấy cả. Đó là giọng nói của bốn chàng trai mà vào thời kỳ Đức Phật Ca Diếp, đã đi dụ dỗ nhưng người đàn bà đã có chồng, bây giờ đang bị nấu sôi trong địa ngục vạc dầu. Họ đang hối hận và bày tỏ ước muốn được làm điều thiện sau khi thoát khỏi địa ngục. Đức vua vô cùng sợ hãi và nguyện sẽ không bao giờ nhòm ngó vợ của người khác. Vị ấy bạch với Đức Phật rằng đêm hôm trước ấy quả thật dài, vì suốt đêm vị ấy không thể ngủ được. Nhân đó Đức Phật thốt lên câu kệ:

 

"Đêm dài đối với người không ngủ được.
Một do tuần quả là xa đối với người mệt lã.
Cũng vậy đối với kẻ ngu, không biết chánh pháp, vòng luân hồi dài vô tận".

 

Sau khi nghe câu kệ này, nhiều người chứng đắc quả thánh Dự lưu và các tầng thánh khác. Đức vua truyền lệnh phóng thích tất cả những chúng sanh sắp tế thần. Nếu khônglời khuyên của Đức Phật thì chắc chắn vị ấy đã tạo nhiều ác nghiệpcâu chuyện này cho thấy sự mê tín dẫn đến ác nghiệp như thế nào.

 

Superstition And Evil Rebirth

 

What we wish to emphasize in this story is the evil kammas that arise from superstitions. The role of superstition as the cause of evil deeds is also evident in the story of Koka, the hunter.

 

In the time of the Buddha, there was a hunter called Koka in a certain village. One day he set out with his dogs to hunt in the forest. On the way he met a monk who was out on his begging round. The hunter considered this encounter an omen that boded no good. As luck would have it, he did not get any animal for food on that day. On his return he again met the monk. Now blind with fury and ill-will, he set his dogs on the monk. The monk had to run and climb up a tree.

 

He sat on a branch that was not very high. The hunter poked at the feet of the monk with the sharp end of an arrow. The latter had to lift his feet one after the other and at last his robe got loose and slipped down. It fell upon the hunter and seeing him thus wrapped up in the robe, the dogs mistook him for the monk and attacked him. Thus, he was killed by his own dogs. Then realizing that they had killed their master, the dogs ran away.

 

The monk got down from the tree and reported the matter to the Buddha. Thereupon, the Lord says, "The foolish man wrongs a person who has never wronged another. He wrongs a person who is free from defilements, but his evil deed boomerangs on him just like the particle of dust that returns to us when we throw it against the wind."

 

Here, the hunter's terrible death, his rebirth in the lower worlds and suffering arise from an evil deed that in turn is rooted in his superstition. Some people get alarmed when an astrologer says that the position of planets bodes no good for them. So they offer flowers and candles to the Buddha image, give dana to the monks, hear the sermons and practise meditation. Some have the parittas recited by monks to stave off the impending evil that they associate with their unpleasant dreams. Their good deeds lead to good rebirth, but like the other rebirths that stem from evil deeds, it too is fraught with suffering.

 

Some ignorant people do evil to keep off the misfortunes that might befall them. The jatakas mention the animal sacrifice of some kings that involves the killing of four goats, four horses, four men and so forth as propitiatory offerings to gods. On one occasion, this kind of rite was planned by king Kosala in the time of the Buddha.

 

The king had taken a fancy to a married woman and so one day he sent her husband on an errand to a distant place. Should he fail to accomplish the task entrusted to him and return to the capital on the same day, he was to be punished. The man carried out the king's order and returned before sunset, but the city gate was closed and so being unable to enter the city, he spent the night at Jetavana monastery.

 

Overwhelmed with lust and evil desire, the king could hardly sleep in his palace. He heard the voices of the four men who were suffering in hell for having committed adultery in their previous lives. It was perhaps by virtue of the Buddha's will and psychic power that the king heard these voices from hell. The king was frightened and in the morning, he sought the advice of the Brahmin counsellor. The Brahmin said that the voices portended imminent misfortune and that in order to stave it off, the king should sacrifice elephants, horses, etc., each kind of animals numbering a hundred.

 

The king made preparations for the animal sacrifice. How cruel is human nature that dictates the sacrifice of thousands of lives to save one's own life. Among the potential victims there were human beings, and hearing their cries, queen Mallika approached the king and asked him to seek the advice of the Buddha.

 

The Buddha assured the king that the voices had nothing to do with him. They were the voices of four young men who, having seduced married women in the time of Kassapa Buddha, were now suffering in Lohakumbhi hell. They were now repentent and belatedly trying to express their desire to do good after their release from hell. The king was very much frightened and vowed never to lust for another man's wife. He told the Buddha how the previous night had seemed very long because he could not sleep. The man who had fetched what the king wanted said too that he had travelled one yojana the previous day. Thereupon, the Buddha uttered the verse: "To one who cannot sleep, the night seems long; to the weary traveller, a yojana is a long distance. Similarly, for the foolish man who does not know the true dhamma, the life-cycle is long."

 

After hearing this gatha, many people attained sotapanna and other stages on the holy path. The king ordered the release of all living beings that were to be sacrificed. But for the Buddha's words, he would have done unwholesome kammas, and this story shows how superstitious beliefs lead to evil deeds.


Cuồng Tín

 

Thiện nghiệp hay ác nghiệp cũng xuất phát từ những loại cuồng tín. Nói chung, ai cũng cho rằng tôn giáo của mình là chánh giáo, còn những tôn giáo khác là tà giáo, ngoại đạo. Bởi vậy, họ ra sức truyền bá tôn giáo của họ, dùng sức mạnh để thâu phục kẻ khác hoặc khủng bố hay đối xử tàn bạo với những kẻ không chịu tin theo tín ngưỡng của họ. Tất cả những điều ác này xuất phát từ sự cuồng tín.

 

Lại nữa, những hành động tạo nghiệp cũng có thể xuất phát từ sự chấp thủ, vào hệ tư tưởng hay quan điểm về những vấn đề trong thế gian. Một số người dùng quyền lực để bắt ép ngưới khác phải chấp nhận tín điều của mình. Họ tuyên truyền nó bằng nhiều cách. Mặt khác, họ nói xấu, xuyên tạc hay phá hoại sự đoàn kết của những người không chịu tin theo họ. Tất cả những hành vi này tạo thành nghiệp hữu, mà nguyên nhân của nó là thủ.

 

Tóm lại, tất cả những sự cố chấp vào các lối thực hànhniềm tin ngoài ngã ngữ thủ đều là kiến thủ và sẽ dẫn đến các hành động tạo nghiệp.

Fanaticism Or Religious Upadana

 

Good or evil kammas are also born of religious attachments. By and large, people believe that theirs is the only true religion, that all other religions are false. So they try to spread their religion, convert other people by force or otherwise persecute the non-believers. All these evils had their origin in religious upadana or fanaticism.

 

Again kammic deeds may stem from attachment to ideology or views on worldly matters. Some people seek to impose their creed on other people by every means in their power; they propagate it in various ways and they discredit or slander or undermine the unity of those who do not agree with them. All these efforts and activities form the kammabhava due to upadana.

 

In short, all obsessions with practices, and beliefs other than the ego-belief mean excessive attachment to views that leads to kammic deeds.


Giới Cấm Thủ

 

Một số người tin rằng họ có thể đạt được giải thoát qua một số pháp hành nào đó mà không liên quan gì đến Tứ diệu đế. Niềm tin như vậy được gọi là giới cấm thủ. Có nhiều phương diện của giới cấm thủ, như thờ cúng loài vật, tổ chức hình thức cúng tế với hy vọng đạt đến chỗ giải thoát.

 

Theo bộ Thanh tịnh đạo, một số người tin vào những lối thực hành này, cho đó là con đường giải thoát, để rồi tạo các nghiệp dẫn đến cõi người, trời, cõi phạm thiên hữu sắcvô sắc.

 

Bộ Thanh tịnh đạo chỉ nói về những nghiệp dẫn đến cõi người và những cõi khác cao hơn mà thôi. Nó không đề cập những nghiệp dẫn đến khổ cảnh. Sở dĩ chú giải không đề cập đến các ác nghiệp sanh lên từ giới cấm thủ, vì điều ấy quả rõ ràng. Theo Cẩu hành giả kinh và những bài kinh khác, thì người ta sẽ tái sanh làm bò hay chó nếu người ấy sống hoàn toàn giống những con vật ấy về hành vi, lời nóiý nghĩ; Hoặc người ấy tái sanh vào địa ngục hoặc cõi súc sanh nếu người ấy theo tà kiến nhưng không thực hành đầy đủ. Khỏi cần nói, chúng ta cũng biết rằng sự giết thú để tế thần linhdo bởi những loại thủ này, sẽ dẫn đến khổ cảnh. Những tà nghiệp khác xuất phát từ thủ mà có liên quan đến các hình thức cúng tế và nghi lễ cũng có kết quả như vậy.

 

Tóm lại, mọi niềm tin vào tính hiệu năng của một lối thực hành nào đó như là phương pháp diệt trừ phiền não đều là giới cấm thủ. Theo những cuốn chú giải về bộ Thanh tịnh đạo, thì sự chấp vào giới thông thường hay các tầng thiền hợp thế mà cho là con đường giải thoát thì được gọi là giới cấm thủ. Các tầng thiền vô sắc mà Alàra và Udaka chứng được đều xuất phát từ loại thủ này và những việc làm của nhiều người, dựa vào niềm tin thượng đế, cũng thuộc loại thủ này. Tất cả những loại thủ này đều dẫn đến tái sanh và khổ.

 

Silabbatupadana - Attachment To Wrong Practices

 

Some people believe that they can attain salvation through certain practices that have nothing to do with the Four Noble Truths. Such a belief is called silabbatupadana. It is silabbatupadana, too, to worship animals, to adopt the animal way of life, to perform certain rites and ceremonies in the hope of attaining salvation.

 

According to Visuddhimagga, some people rely on these practices as the way to salvation and do kammic deeds that lead to rebirth in the human world, the deva world and the material (rupa) and immaterial (arupa) worlds.

 

The Visuddhimagga refers only to kammas leading to the human and other higher worlds. It makes no mention of the kammas leading to the lower worlds. It does not follow, however, that silabbatupadana does not give rise to bad kammas. The commentary does not mention the evil kamma arising from silabbatupadana only because it is too obvious to need allusion. It is said in the Kukkuravatika and other suttas that a man is reborn as an ox or a dog if he lives to the letter like those animals in deed, word or thought or he is reborn in hell or animal world if he accepts the false belief but does not practise it fully. Needless to say, the killing of animals as a sacrifice to gods that arises from this upadana leads to the lower worlds, and so do other misdeeds resulting from the upadana that is bound up with certain forms of worship, rites and ceremonies.

 

In short, every belief in the efficacy of a practice as an antidote to evil is silabbatupadana. According to the commentaries on Visuddhimagga it is silabbatupadana even to rely entirely on conventional morality and mundane jhana as the way to liberation. The arupa jhanas attained by Alara and Udaka originated in this upadana and so do the deeds of many people that are based on faith in God. All these upadanas leads to rebirth and suffering.


Ngã Ngữ Thủ

 

Loại thủ cuối cùngngã ngữ thủ. Đó là sự tin tưởng sâu đậm vào thực thể của bản ngã, cho rằng bản ngã thường tồn là chủ nhân của mọi hành vi, lời nóiý nghĩ.

 

Một ít người thoát khỏi loại thủ này. Người bình thường tin rằng: Chính "ta" thấy, nghe, cử động,v.v... Ảo tưởng về thực thể của bản ngã là động cơ chính của tự ái và sự lo âu về hạnh phúc của cái ta. Tánh bao quát và quyền tuyệt đối của sự ái ngã được nhấn mạnh trong câu trả lời của hoàng hậu Mallikà với vua Kosala.

 

Mallikà là con gái của người thợ kết tràng hoa. Một hôm nàng gặp Đức Phật trên đường đi và dâng vật thực đến Ngài. Sau khi thọ thực xong, Đức Thế Tôn bảo với A-nan-đà rằng nàng sẽ trở thành hoàng hậu của vua Kosala trong chính ngày hôm ấy. Đức vua bị thua trận và cưỡi ngựa trốn chạy. Đầy mệt lả. Đức vua vào nghỉ trong vườn hoa, ở đó vị ấy được Mallikà tiếp đãi và chăm sóc. Đầy hoan hỷ, đức vua dẫn nàng về hoàng cung và đưa nàng lên ngôi chánh hậu. Lời tiên tri của Đức Phật đã thành hiện thực, do bởi thiện nghiệp mới và thiện nghiệp trong kiếp quá khứ của nàng.

 

Nhưng Mallikà không đẹp bằng những nàng thứ phi khác. Hơn nữa, là một thiếu nữ sanh ra từ gia đình nghèo, nàng cảm thấy lúng túng trước các quan thần. Bởi vậy để khích lệ nàng, đức vua hỏi nàng thương ai nhất. Câu trả lời mà vị ấy mong chờ là: "Tâu bệ hạ, thiếp thương bệ hạ nhất". Sau đó, vị ấy sẽ nói với nàng rằng vị ấy cũng yêu nàng hơn bất cứ ai khác, và theo suy nghĩ của vua, sự xác định tình yêu của vị ấy sẽ làm gia tăng sự thân thiết, gắn bó của họ và khiến nàng sống ở hoàng cung tự nhiên hơn.

 

Tuy nhiên, là một người đàn bà thông minh, đầy tự tin, nàng thẳng thắn trả lời rằng không có ai mà nàng yêu nhiều hơn chính nàng. Đức vua phải công nhận rằng vị ấy cũng thương mình nhiều hơn bất cứ ai khác. Rồi đức vua đem những câu đối thoại này bạch với Đức Phật. Nhân đó Thế Tôn nói rằng: "Không ai trong thế gian này thương người khác hơn chính mình. Mọi người đều thương mình nhiều nhất. Bởi vậy, mọi người nên có lòng từ và đừng xử tệ với người khác".

 

Trong Phật ngôn này, chữ "ta, mình", tiếng Pàli là Atta, nó không có nghĩa là ngã trong ngã kiến. Nó chỉ về cái ta trong ý nghĩa thường tình và tiếng ta mà con người dùng để phân biệt mình với người khác mà thôi. Nhưng ngã kiến cũng là nguồn gốc của tự ái. Ngã kiến càng mạnh thì tự ái càng nhiều.

 

Chúng ta không thương người khác nhiều hơn chính mình. Một người thương vợ hoặc chồng hay con cái chỉ như là người bạn đời, người hầu hay người bảo hộ mà thôi. Tình thương của cha hay mẹ không thực sự nhiều hơn tình yêu châu ngọc. Bởi vậy, nếu một người nói rằng tình yêu của người ấy đối với một người nào đó lớn hơn tình yêu chính mình, thì những lời của người ấy chỉ được tin một phần nhỏ thôi. Khi đứng giữa cái sống và cái chết, ngay cả người mẹ cũng sẽ không quan tâm đến đứa con của mình (điều này rất vi tế, khó nhận ra-ý của dịch giả-).

 

Một thuở nọ, có một người đàn bà đi chung với một đoàn thương buôn ngang qua sa mạc. Vì nàng ngủ quên nên bị bỏ lại cùng với đứa con. Khi mặt trời lên cao, cát nóng lên và nàng phải đặt cái thúng, rồi đến y phục lót dưới chân. Nhưng sức nóng bốc lên càng lúc càng nhiều đến nỗi không thể chịu được, cuối cùng nàng buộc lòng phải đặt đứa con bên dưới thân của nàng. Do đó, mới có lời nói rằng ngay cả người mẹ cũng có thể hy sinh đứa con đẻ để bảo vệ chính mình.

 

Do sự ái ngã mà nguồn gốc của nó là ngã kiến, người ta tầm cầu hạnh phúc cho mình và gia đình của mình bằng phương tiện tốt hoặc xấu. Người ấy không do dự làm điều ác, miễn sao được lợi cho mình. Nhưng niềm tin vào cái ta thường tồn cũng dẫn đến các thiện nghiệp. Do niềm tin thúc đẩy mà có một số người thực hành bố thí, trì giới, hành thiền v.v... để được sanh về cõi chư thiên, phạm thiên, nhưng ở đó họ cũng phải chịu sự già, chết và những điều khổ khác của kiếp sống.

 

Tóm lại, mọi cố gắng để mưu cầu hạnh phúc trong đời hiện tại hoặc đời mai sau đều xuất phát từ ngã kiến. Sự cố gắng tạo nghiệp như vậy khác với sự tạo nghiệp sanh lên từ dục thủ ở chỗ: Hành động trước có động cơ chính là sự chấp thủ vào tính đồng nhất cá thể (cho thân này là ta, là của ta) trong khi hành động sau có động cơ là sự khao khát dục lạc. Tuy nhiên, đối với những người quá chấp chặc vào ngã kiến, thì tính vị kỷ có quan hệ khăng khít với dục tham.

 

Đối với những vị thánh nhân đã hoàn toàn thoát khỏi ngã kiến, thì hành động thiện của họ chỉ do dục thủ thúc đẩy. Như vậy, sự bố thí, trì giới, tham thiền của ông Cấp cô độc, bà Visàkhà, Mahànàma và những người khác, trong khi nương vào thánh đạo, có thể xuất phát từ ước muốn được cuộc sống tốt đẹp hơn ở cõi người và cõi chư thiên, hoặc được chứng các tầng thánh cao hơn.

Attavadupadana - Attachment To Ego-Belief

 

The last upadana (attavadupadana) is attachment to ego-belief. It is the strong conviction about the ego entity, the firm belief that the ego exists permanently, that it is the agent of every deed, speech and thought.

 

Few people are free from this upadana. The average man believes that it is "I" who sees, hears, moves, etc. This illusion of ego-entity is the mainspring of self-love and concern about the welfare of one's self. The universality and omnipotence of self-love are underscored in Queen Mallika's reply to king Kosala.

 

Mallika was originally the daughter of a flower vendor. One day she met the Buddha on the way and offered her food. After eating the food, the Lord told Ananda that the girl would become the queen of king Kosala. On that very day, king Kosala who was defeated in the battle, fled on horseback. Utterly exhausted and forlorn, the king rested in the flower-garden where he was tenderly attended on by Mallika. Being much pleased, the king took her to the palace and made her his chief queen. The Buddha's prophecy came true because of her recent good kamma and her good deed in the past existence.

 

But Mallika was not as good looking as other lesser queens. Moreover, as a woman born of a poor family, she felt ill at ease among the courtiers. So in order to cheer her the king one day asked her whom she loved most. The answer which he expected was "Your Majesty, I love you most." He would then tell her that he too, loved her more than anyone else and this demonstration of his love would, so he thought, increase their intimacy and make her more at home in the palace.

 

Nevertheless, as an intelligent woman who had the courage of conviction, Mallika replied frankly that there was no one whom she loved more than herself. She asked the king whom he loved most. The king had to admit that he too loved himself more than anyone else. He reported this dialogue to the Buddha. Then the Lord said, "There is no one in this world who loves another person more than himself. Everyone loves himself or herself most. So everyone should have sympathy and avoid ill-treating another person."

 

In this saying of the Buddha, the word "self" or in Pali, atta, does not mean the atta or atman of the ego-belief. It refers only to self in its conventional sense or the self that a man speaks of to distinguish his own person from other living beings. But the ego-belief is also a source of self-love. The more powerful the belief is, the greater is the love of oneself.

 

We do not love anyone more than our own selves. One loves one's wife or husband or child only as a helpmate, an attendant or a support. Marital or parental love is no more real than love of precious jewellery. So if a person says that his love of someone is greater than his love of himself, his words must be taken with a large grain of salt. In cases of life-and-death crisis, even a mother will not care for her child.

 

Once a woman travelling with a caravan across the desert was left behind with her child as she was asleep when the caravan departed. As the sun rose higher in the sky, the sands became hotter and she had to place her basket and then her clothes under her feet. Still the heat became more unbearable till at last she was forced to put down her child under her body. Hence, the saying that even a mother will sacrifice her child for self-preservation.

 

Because of this self-love based on ego-belief, man seeks his welfare or the welfare of his family by fair means or foul. He does not hesitate to do evil that serves his interests. But the belief in a permanent self also leads to good kammas. Some people are motivated by the belief and so they practise sila, dana, jhana, etc., for their welfare in afterlife. As a result they land in deva and Brahma worlds, but there they have to face again old age, death, and other evils of existence.

 

In short, every effort to seek one's welfare in the present life or hereafter is rooted in ego-belief. Such kammic effort differs from that arising from kamupadana only in that its mainspring is obsession with personal identity whereas in the case of the latter the driving-force is craving for sensual pleasure. Nevertheless, for those who are strongly attached to ego-belief, egoism is closely bound up with sensual desire.

 

As for the Ariyas who are wholly free from ego-belief, they are motivated only by kamupadana when they do good. Thus, the dana, sila and bhavana of Anathapindika, Visakha, Mahanama and others on the holy path may stem from their desire for better life in the human and deva-worlds or for the attainment of higher stages on the path.


Chuyện Ông Ugga

 

Có thể đoán chừng rằng các vị A-na-hàm làm các việc thiện là do ước muốn được hạnh phúc ở cõi phạm thiên hữu sắcvô sắc, và đạo quả A-la-hán. Dĩ nhiên, chính đạo quả A-la-hán có thể giúp đoạn trừ ái dục. Ước muốn được chứng đắc đạo quả A-la-hán là động cơ thúc đẩy làm các việc thiện trong trường hợp của vị hành giả đã đắc quả A-na-hàm, có thể thấy rõ về câu chuyện vị A-na-hàm Ugga.

 

Ugga là một vị gia chủ ở thành Vesali. Đức Phật đã nói về tám đức tánh kỳ diệu của ông Ugga. Để đáp lại một sự thắc mắc của một vị Tỳ khưu nọ, Ugga bèn trình bày về tám đức tánh của ông ta như sau:

 

1/- Khi gặp Đức Phật lần đầu tiên thì ông ta kết luận chắc chắn rằng đức Gotama là vị Phật có thật, là Đức Phật toàn tri.

 

2/- Ông ta giác ngộ Tứ diệu đế qua đạo tuệ A-na-hàm, khi ông ta nghe thời pháp của Đức Phật. Ông ta thọ trì ngũ giới, bao gồm cả giới không hành dâm.

 

3/- Ugga có bốn bà vợ. Ông bảo họ rằng ông không còn ưa thích tình dụccho phép họ trở về nhà với cha mẹ hoặc lấy chồng khác tùy theo ý thích của họ. Theo lời yêu cầu của bà vợ chánh, ông ta sẵn lòng tổ chức đám cưới trước khi gả nàng về cho người đàn ông mà nàng yêu.

 

4/- Ông quyết định dùng tất cả tài sản của mình để bố thí vật thực đến các vị thánh tăng.

 

5/- Ông đi đến các vị Tỳ khưu một cách đầy tôn kính.

 

6/- Ông thành kính lắng nghe các vị Tỳ khưu thuyết pháp, nếu các vị Tỳ khưu không thuyết pháp thì ông thuyết.

 

7/- Các vị chư thiên đi đến ông ta và nói rằng: " Giáo pháp của Đức Phật rất hay". Ông đáp lại rằng dầu họ có nói như vậy hay không thì pháp vẫn là pháp. Ông không cảm thấy tự phụ trong cuộc đàm đạo.

 

8/- Ông thấy mình đã thoát khỏi năm hạ phần kiết sử mà sẽ dẫn đến các cõi dục bậc thấp.

 

Một hôm, Ugga, vị gia chủ có tám đức tánh này và đã chứng đắc tầng thánh A-na-hàm, đã dâng cúng vật thực và y phục thượng hạng đến Đức Phật. Thế-tôn bình phẩm tánh chất của pháp bố thí như sau:

 

"Người bố thí vật mà mình ưa thích hoặc đánh giá cao thì sẽ được cái mà người ấy thích nhất. Người bố thí đến bậc thánh có giới đức cao thượng tức là đang làm việc bố thí mà người bình thường khó làm, và do đó người ấy sẽ được cái thích nhất".

 

Vài năm sau, Ugga chết và tái sanh vào cõi Phạm thiên Ngũ tịnh cư. Chẳng bao lâu sau, vị ấy đi đến đảnh lễ Đức Phật. Vị ấy nói rằng vị ấy đã chứng đắc đạo quả A-la-hán, là ước nguyện đích thực của vị ấy khi đó vị ấy dâng cúng nhiều vật thực ưa thích đến Đức Phật trong kiếp quá khứ của mình. Đức Phật lại bình phẩm về quả báu của sự bố thí - Được cái mà mình quí trọng nhất nếu dâng cúng vật quí trọng, Đạt được mục đích hiếm có nếu dâng cúng vật hiếm có. Đạt được kết quả khen ngợi nếu dâng cúng vật được ca ngợi nhiều.

 

Tánh chất đạo đức trong câu chuyện này là người ta có thể chứng đắc đạo quả A-la-hán, đời sống phạm hạnh tối thượng, như là quả của sự bố thí quí trọng. Sự bố thí của Ugga được thúc dục bởi ước muốn được chứng đạo quả A-la-hán và chính ước muốn này hay dục thủ (kàmupàdàna) hình thành động cơ thúc đẩy của vị ấy. Một số người có thể phản đối việc xem từ dục thủđồng nghĩa với ước muốn chứng đắc đạo quả A-la-hán, và thích gọi nó là Kusalachanda (thiện dục), nhưng họ sẽ phải giải thích là nó thuộc loại thủ nào mà làm khởi sanh các thiện nghiệp của bậc thánh như bố thí, trì giới v.v...

 

Story Of Ugga

 

The anagami Ariyas do good presumably because of their desire for the bliss in material and immaterial spheres and arahatship. It is, of course, arahatship that can help remove sensual craving. The desire for arahatship as the motivation for doing good in the case of anagami yogi is evident in the story of Ugga.

 

Ugga was a householder in Vesali city. The Buddha spoke of the eight wonderful attributes possessed by Ugga. In response to the inquiry by a monk about the Lord's reference to his attributes, Ugga said that he knew nothing about it but that he had eight distinctive qualities which were as follows.

 

l. When he saw the Buddha for the first time, he concluded decisively that Gotama was the real, all-Enlightened Buddha.

 

2. He attained anagami insight into the Four Noble Truths when he heard the Buddha's discourse. He observed the five precepts that included abstinence from sexual intercourse.

 

3. He had four young wives. He told them about his sexual abstinence and permitted them to return to their parents' homes or to marry the men of their own choice. At the request of his eldest wife, he willingly performed the wedding ceremony before giving her away to the man she loved.

 

4. He had resolved to spend all his wealth on giving alms to holy men of high moral character.

 

5. He approached the bhikkhus respectfully.

 

6. He heard the bhikkhus' sermon respectfully. He preached if the bhikkhus did not give a sermon.

 

7. The devas came to him and said, "The doctrine of the Buddha is very good." He replied that the Dhamma was a good doctrine whether or not they said so about it. He did not feel conceited for his dialogue with the devas.

 

8. He found himself free from the first five attachments that lead to the lower, sensual worlds.

 

One day Ugga, the householder who possessed these eight qualities and had attained the anagami stage on the path, offered food and robes which he liked very much to the Buddha. The Lord commented on the nature of alms-giving as follows:

 

"One who offers anything that pleases him or that he prizes highly gets something which he adores. One who offers to the Ariyan Noble who is of high moral character is doing an act of dana that it is hard for ordinary people to do and therefore he gets what he wants very much."

 

Some years later, Ugga died and passed on to the Suddhavasa brahma-world. Before long he came and paid respect to the Buddha. He said that he had attained Arahatship that was indeed the object of his aspiration when he offered his much beloved food to the Lord in his previous existence. The Buddha again commented on the nature of kammic benefits of alms-giving - how the giver got what he prized most if he offered his much-prized object, how he attained a rare object if he offered rare things, how he attained to a much extolled stage if he offered much-extolled objects.

 

The moral of this story is that one may even attain Arahatship, the summum bonum of the holy life as the kammic result of giving away one's much prized and precious objects. Ugga's alms-giving was motivated by the desire for Arahatship and it is this desire, or kamupadana that formed his driving force. Some people may object to making the term kamupadana synonymous with the desire for Arahatship and label it rather kusalachanda (wholesome desire) but then they will have to explain what kind of upadana it is that gives rise to good acts of Ariya such as dana, sila, etc.


__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 413)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 579)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 509)
06 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 634)
05 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 815)
03 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 622)
27 Tháng Hai 202010:02 SA(Xem: 26)
Cuối thế kỷ 20, lịch sử Phật giáo sang trang một cách bất ngờ. Khởi nguồn từ một vùng đất nghèo cằn cỗi của vùng đông bắc Thái Lan, tỉnh Ubon-rachathani. Ngày ấy, vị thiền sư tiếp một khách Tăng trẻ từ xa đến xin được tham học đạo thiền. Đó chỉ là lời khẩn khoản bình thường. Nhưng chính vị khách Tăng không giống bất cứ thiền sinh nào
26 Tháng Hai 20208:14 CH(Xem: 49)
Nowadays, when Buddha-dhamma is being disseminated, there should be only one basis of teaching relating to the Middle Way or the Eightfold Path: the practice of morality, concentration, and acquisition of profound knowledge, and the Four Noble Truths.
26 Tháng Hai 20203:56 CH(Xem: 93)
Này các thầy Tỳ Khưu, đây là con đường duy nhất để thanh lọc (tâm) chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc diệt khổ thân và khổ tâm, đạt Thánh ĐạoGiác Ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ. Bốn (cách quán sát đó) là gì? Này các thầy Tỳ Khưu,
25 Tháng Hai 20209:18 CH(Xem: 93)
‘Bạch Thế Tôn, mới rồi, một gia chủ giàu có ở thành Savatthi này qua đời mà không có con thừa kế. Con vừa cho chuyển tài sản của ông ta vào kho của hoàng cung; những tám triệu đồng tiền bằng vàng chưa kể số tiền bằng bạc. Mặc dù là một gia chủ giàu có, thế nhưng bữa ăn hằng ngày của ông ta thì chỉ là cháo nấu bằng gạo nát
24 Tháng Hai 20209:43 CH(Xem: 94)
Lộ trình tu tập được Thế Tôn ví như khúc gỗ trôi sông, xuôi về biển Niết-bàn. Lênh đênh chìm nổi trong hành trình mênh mang đó, có khúc gỗ về đến biển nhưng có khá nhiều khúc gỗ lại không. Người tu cũng vậy, chỉ khác khúc gỗ là không buông xuôi mà thường xuyên nỗ lực phản tỉnh để tháo gỡ, vượt qua chướng ngại mà xuôi đến
23 Tháng Hai 202010:39 CH(Xem: 118)
Tôi sanh ra trong một gia đình theo đạo Phật, và do đó tôi theo đạo Phật với tính cách "cha truyền con nối". Trên thực tế tôi rất ít chú ý tới vấn đề tôn giáo, nói chung. Một phần vì tôi thấy đa số người theo một tôn giáo nào đó thường đi lễ, đi chùa với mục đích để cầu phước lành cho kiếp sống hiện tại và để được lên thiên đường
21 Tháng Hai 20205:07 CH(Xem: 165)
Trong dòng lịch sử văn minh của nhân loại cách đây hơn 25 thế kỷ, những lời dạy về một nghệ thuật sống hoàn hảo, an bìnhhạnh phúc ngay trong hiện tại, một pháp môn tu tập có khả năng đưa đến giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau được Đức Phật, bậc Thầy
20 Tháng Hai 202010:38 CH(Xem: 150)
Ngài Anan hỏi Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, chúng con tu tập theo sự hướng dẫn của Thế Tôn thì khi nào chúng con sẽ đến được Niết Bàn?”. Đức Phật mới chỉ khúc cây trôi giữa dòng sông và nói: “Nếu khúc cây kia không bị kẹt vào bờ bên này, không bị kẹt vào bờ bên kia, không tự bị mục nát từ bên trong, không bị chìm xuống đáy,
18 Tháng Hai 202011:44 SA(Xem: 222)
Quyển sách này, The Experience of Insight, không phải là một quyển sách đặt nặng vào phần lý thuyết, mà là một quyển sách chú trọng về sự thực hành. Joseph Goldstein là một thiền sư Hoa Kỳ. Ông đã sống nhiều năm ở Thái Lan và Ấn Độ để học thiền Vipassana,
16 Tháng Hai 20202:25 CH(Xem: 253)
Từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 8 tháng 4 năm 1983 chúng tôi đã rất may mắn được một vị thầy đầy kinh nghiệm về thiền Vipassana tổ chức một khoá chuyên tu tại Penang, trung tâm thiền Phật giáo Malaysia, hướng dẫn, dạy bảo, sữa chữa và nhắc nhở chúng tôi về thiền minh sát. Chúng tôi đã được lợi lạc to lớn từ những lời hướng dẫn
15 Tháng Hai 20208:01 CH(Xem: 193)
Để giúp cho đọc giả có thể nắm được sự khác biệt giữa thiền định (chỉ quán) và thiền Vipassana (tuệ quán), PTVN đã gặp sư Phước Nhân, một hành giả giỏi pháp hành của thiền viện Phước Sơn để xin sư nói rõ về thiền định, thiền Vipassana, sự khác biệt giữa hai phương pháp tập cũng như khái quát phương thức tu tập và kết quả
14 Tháng Hai 202010:11 CH(Xem: 192)
Rất khó khuyến khích và truyền cảm hứng cho người khác mà không làm họ thất vọng ít nhiều. Muốn mô tả những kết-quả của việc tu tập—mô tả những trải nghiệm thâm sâu như tâm ảnh nimitta, tầng thiền định jhāna, và thánh quả Nhập Lưu—để truyền cảm hứng tu hành cho mọi người. (Cũng giống như việc mô tả về ngày lãnh lương
13 Tháng Hai 20203:54 CH(Xem: 223)
Hỏi: Tôi cố gắng rất nhiều trong khi luyện tập, thế nhưng tôi vẫn có cảm giác là dường như mình không hề đạt được một chút kết quả nào cả. Đáp: Điều này thật hết sức quan trọng. Không nên tìm cách đạt được bất cứ một thứ gì. Ngay cả sự ham muốn đạt được sự giải thoát hay giác ngộ cũng sẽ ngăn chận không cho mình thực hiện
12 Tháng Hai 20207:50 CH(Xem: 179)
Dưới đây là một bài thuyết giảng của nhà sư Ajahn Chah trước một cử tọa gồm các tỳ kheo Tây Phương, các sa di và cả người thế tục, và đặc biệt là dành cho cha mẹ của một tỳ kheo người Pháp sang thăm con xuất gia ở Thái Lan vừa được thụ phong tỳ kheo. Buổi giảng được tổ chức tại ngôi chùa Wat Pah Pong của nhà sư Ajahn Chah
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 251)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
10 Tháng Hai 20207:00 SA(Xem: 2892)
Tủ Sách Và Các Bài Viết Của HT. Thích Thanh Từ
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 277)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
08 Tháng Hai 20208:38 SA(Xem: 253)
Lần đầu tiên, khi con trai tôi nói muốn đi tu, tôi rất ngạc nhiên. Đó là một buổi sáng chủ nhật, đầu xuân, khi chúng tôi như lệ thường đang trên đường đến thiền viện. Năm học mới sắp khai giảng, và nó sửa soạn vào lớp Ba. Khi đang đi với nhau, nó bỗng ngước lên nhìn tôi
07 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 298)
Duyên khởi là pháp rất quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Bồ tát của chúng ta đã thiền quán rất sâu đậm về pháp duyên khởi này khi Ngài suy xét về bản chất của kiếp sống và đã chứng ngộ giải thoát. Cũng như các vị Bồ tát khác, đầu tiên Bồ tát của chúng ta
06 Tháng Hai 20201:01 CH(Xem: 110689)
Nguyên tắc căn bản của nhân duyên đơn giản là chính nó. Đức Phật mô tả nguyên tắc nầy, bằng câu nói như sau: Vì cái nầy có, nên cái kia có. Vì cái nầy sinh, nên cái kia sinh. Vì cái nầy không, nên cái kia không. Vì cái nầy diệt, nên cái kia diệt.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 518)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2134)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3514)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
27 Tháng Hai 202010:02 SA(Xem: 26)
Cuối thế kỷ 20, lịch sử Phật giáo sang trang một cách bất ngờ. Khởi nguồn từ một vùng đất nghèo cằn cỗi của vùng đông bắc Thái Lan, tỉnh Ubon-rachathani. Ngày ấy, vị thiền sư tiếp một khách Tăng trẻ từ xa đến xin được tham học đạo thiền. Đó chỉ là lời khẩn khoản bình thường. Nhưng chính vị khách Tăng không giống bất cứ thiền sinh nào
26 Tháng Hai 20208:14 CH(Xem: 49)
Nowadays, when Buddha-dhamma is being disseminated, there should be only one basis of teaching relating to the Middle Way or the Eightfold Path: the practice of morality, concentration, and acquisition of profound knowledge, and the Four Noble Truths.
26 Tháng Hai 20203:56 CH(Xem: 93)
Này các thầy Tỳ Khưu, đây là con đường duy nhất để thanh lọc (tâm) chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc diệt khổ thân và khổ tâm, đạt Thánh ĐạoGiác Ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ. Bốn (cách quán sát đó) là gì? Này các thầy Tỳ Khưu,
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 251)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 277)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 418)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 466)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 5697)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 741)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.