[09]

06 Tháng Hai 20204:59 CH(Xem: 1201)
[09]


Pháp Duyên Khởi

A Discourse on Paticcasamuppada 
(or The Doctrine of Dependent Origination)
Venerable Mahasi Sayadaw
Translated by U Aye Maung
Dịch: Tỳ kheo Minh Huệ (1999)
Nguồn: budsas.org

 

____________________

PhapDuyenKhoi_A

__________________

MỤC LỤC - CONTENTS 

[09]

 

Thiền Minh sát và thủ

Luân hồi và ba thời

Năm nhân quá khứ

Sự khác biệt giữa hành và nghiệp hữu

Quả hiện tại do nhân quá khứ

Kiến thức và pháp hành Minh sát

Đoạn trừ các nhân hiện tại

Cách nhìn của vị A-la-hán về đời sống

Không phải sự đoạn diệt mà là sự chấm dứt đau khổ

Chuyện Tỳ khưu Yamaka

Câu khẳng định của Tỳ-khưu-ni Vajirà về bản chất của năm uẩn

[09]

79. Vipassana Practice and Upadana
80. Life-Cycle and Three Time Dimensions
81. Five Causes in the Past
82. Distinction between Sankhara and Kammabhava
83. Present Effect Due to Past Cause
84. Knowledge for Vipassana Practice
85. Removing the Present Causes
86. Arahat's Outlook On Life
87. Not Annihilation But Extinction Of Suffering
88. Story Of Yamaka
89. Bhikkhuni Vajira On The Nature Of Khandhas


Thiền Minh Sát Và Thủ

 

Pháp hành minh sát cũng được xem là do dục thủ của người tầm cầu sự giải thoát khỏi mọi đau khổ của kiếp sống. Người bình thường phải tu quán để thoát khỏi bốn loại thủ, trong khi các bậc thánh thì phải tu quán để diệt dục thủ. Như vậy, pháp hành minh sát do thủ chi phối. Theo bộ Thanh tịnh đạo và một bộ chú giải khác có tên Sammohavinodani, thì vô minhnguyên nhân gián tiếp của các thiện nghiệp mà trong đó người ta phải hành thiện để thoát khỏi vô minh, và chú giải cũng nói rằng sự tu tiến (bhàvanà) hay sự thực hành minh sát là một trong những thiện nghiệp ở cõi dục mà người ta phải thực hành để đạt được sự giải thoát như vậy.

 

Có một thắc mắc là liệu pháp hành minh sát có thể dẫn đến tái sanh hay không? Những bài chú giải của bộ kinh Anguttara-nikàya và bộ Patthàna có nêu ra khả năng như vậy. Theo chú giải bộ Anguttara thì ba loại chánh kiến đầu dẫn đến thiện sanh, còn hai chánh kiến sau, là chánh kiến khởi sanh từ quả của đạo (Phala - sammàditthi) và chánh kiến phát sanh từ pháp hành minh sát thì có khuynh hướng giải thoát.

 

Tuy nhiên, chú giải cũng nói rằng vị Tu-đà-hườn còn phải tái sanh bảy kiếp trước khi chứng đắc đạo quả A-la-hán. Theo bộ Patthàna, quán về Appamà (nhân duyên của kiếp sống) dẫn đến tái sanh trong cõi dục và chú giải cũng định nghĩa Appamà cetanà là Gotrabhù cetanà. Do đó, thật hợp lý để kết luận rằng pháp hành minh sát có thể dẫn đến sự tái sanh trước khi chứng đắc đạo quả A-la-hán.

 

Nhưng Vipassanà có thể bảo đảm sự giải thoát luân hồi qua tuệ quán về vô thường, khổ và vô ngã của tất cả các cảnh trần - Đó là tuệ quán đoạn trừ phiền não do sự khao khát những cảnh trần ấy. Sự không sanh khởi của ái như vậy có nghĩa là sự không sanh khởi của nghiệp và tái sanh. Như vậy, tuệ minh sát giúp đoạn trừ nghiệp và những quả luân hồi của nó bằng sự đoạn trừ từng phần (Tadangapahàna).

 

Hơn nữa, bằng sự tổng hợp, hành giả giác ngộ được tánh chất vô thường, khổ và vô ngã của các pháp mà vị ấy đã quán. Như vậy, vị ấy đoạn trừ các phiền não và tiềm năng tạo nghiệp của chúng bằng sự áp chế đoạn trừ (vikhambhana). Sau đó, có sanh khởi tuệ đạo của bậc thánh, giúp đoạn trừ vĩnh viễn các phiền não. Tính chất nhanh như chớp của tuệ quán này có thể ví như hành động phê chuẩn cuối cùng tờ công văn do bởi người đứng đầu của một cơ quan chính quyền, mà trong đó những phần việc cần làm đã được những viên chức cấp dưới làm rồi. Chúng ta không thể không nói đến sự đóng góp to lớn của quá trình thực hành minh sát, cũng như chúng ta không thể không kể đến những nhát cưa trước đó mà nhờ đó người ta có thể cưa nhát cuối cùng để cắt đứt cây gỗ. Do đó, phụ chú giải của bộ Thanh tịnh đạo có giải rằng:

 

"Tuệ đạo siêu thế giúp dập tắt vĩnh viễn những phiền nãohành giả đã cố gắng hết sức để đoạn trừ qua tuệ minh sát hợp thế".

 

Những kẻ không thực hành thiền quán, sống trong ảo tưởng về lạc và ngã thường tồn, ảo tưởng ấy dẫn đến ái dục, nghiệp hữu, tái sanh và tất cả mọi thống khổ của kiếp sống luân hồi.

 

 

Vipassana Practice And Upadana

 

The practice of vipassana, too, is to be attributed to kamupadana of a person who seeks permanent deliverance from evils of existence. Ordinary people have to contemplate to be free from the four upadanas while the Ariyas have to contemplate to overcome kamupadana. Thus, vipassana practice stands for the conquest of upadana. According to Visuddhimagga and another commentary, viz., Sammohavinodani, avijja is indirectly the cause of good acts in that one has to do good for liberation from avijja and it is also said that bhavana or vipassana practice is one of the good acts in the sensual world which one has to do for such liberation.

 

The question then arises as to whether vipassana practice can lead to rebirth. The commentaries on Anguttara Nikaya and Patthana point to such a possibility. According to the commentary on Anguttara Nikaya, the first three right views lead to good rebirth, the last two right views, viz., the view that is born of fruition on the path (phala-sammaditthi) and the view that results from vipassana practice tend to liberate the yogi from life-cycle (samsara). It says, however, on the authority of a learned thera (Culabhaya) that the yogi is subject to rebirth for seven times before he attains Arahatship. According to Patthana, contemplation of appamana (conditions of existence) leads to rebirth in sensual sphere, and the commentary defines appamana-cetana as maturity (gotrabhu cetana). Hence, it is reasonable to assume that vipassana practice can give rise to rebirth before Arahatship is won.

 

But vipassana can ensure freedom from samsara through insight into anicca, dukkha and anatta of all sense-objects - an insight that keeps off the defilement of craving for them. This non-arising of craving means non-arising of kamma and rebirth. Thus, vipassana insight helps to offset kamma and its samsaric consequences by tadangapahana (overcoming by opposite).

 

Moreover, through inductive generalization, the yogi realizes the anicca, dukkha and anatta of other phenomena that he has contemplated. Thus, he keeps off the defilements and their kammic potentials by repression (vikkhambhana pahana). Then, there follows the Ariyan insight on the path that helps to root out the defilements. The emergence of this insight may be likened to the signing of an official letter by the head of a government department. The act of the officer-in-charge is, in fact, to give the finishing touch to the lot of work done by his subordinates. We cannot ignore the major contribution of vipassana practice in the pursuit of spiritual enlightenment any more than we can ignore the work of office staff or the cumulative effect of repeated use of a saw that makes it finally possible for the woodcutter to exterminate the tree once and forever. As the sub-commentary on Visuddhimagga says:

 

"Transcendent insight on the path helps to stamp out, root and branch only the defilements which the yogi has done his utmost to overcome through mundane vipassana insight."

 

Those who do not contemplate, labour under the illusion of bliss and ego-entity. The illusion leads to craving, kammic efforts, rebirth and all the sufferings that are inherent in life-cycle.


Luân Hồi Và Ba Thời

 

Giáo lý duyên khởi mô tả mười hai pháp duyên khởi đó là:

 

1- Vô minh.
2- Nghiệp hành.
3- Thức.
4- Danh sắc.
5- Lục nhập.
6- Xúc.
7- Thọ.
8- Ái
9- Thủ.
10- Hữu.
11- Sanh.
12- Lão và tử.

 

Theo giáo lý này, vô minhái dục là hai nguyên nhân chính của khổ. Có hai luân hồi: Tiền luân hồi và hậu luân hồi. Tiền luân hồi bắt đầu bằng vô minh, là nguyên nhân chính của nó, và kết thúc bằng thọ, trong khi đó hậu luân hồi bắt đầu bằng ái và kết thúc ở tử. Ở luân hồi trước, vô minh và nghiệp trong kiếp quá khứ dẫn đến tái sanh, trong khi ở luân hồi sau thì ái và thủ tạo ra tái sanh trong kiếp sau. Hai luân hồi cho thấy cách mà hai kiếp sống của con người được nối lại với nhau qua nhân và quả.

 

Lại nữa, nếu pháp duyên khởi được mô tả theo khía cạnh thời gian, thì vô minh và hành là hai mắc xích ở kiếp quá khứ, các mắc xích từ thức đến nghiệp liên quan đến hiện tại, còn tái sanh, lão và tử là những mắc xích dành sẵn cho chúng takiếp sau. Như vậy, giáo lý duyên khởi chỉ về ba khía cạnh thời gian.

Life-Cycle And Three Time Dimensions

 

The doctrine of Paticcasamuppada describes twelve causes and effects viz., (1) ignorance, (2) kamma formations, (3) consciousness, (4) mind and body, (5) six senses, (6) sense-contact, (7) feeling, (8) craving, (9) clinging, (10) becoming (bhava), (11) birth (jati), (12) old age and death.

 

According to the doctrine, ignorance and craving are the two main sources of suffering. There are two life-cycles, the anterior life-cycle and the posterior life-cycle. The anterior life-cycle begins with ignorance as its main source and ends with feeling, while the posterior life-cycle begins with craving and ends with death. In the former life-cycle, ignorance (avijja) and kamma formations (sankhara) in the past life leads to rebirth, while in the latter life-cycle, craving (tanha) and clinging (upadana) cause rebirth in future. The two life-cycles show how a man's lifetimes are linked with one another through cause and effect.

 

Again, if the doctrine of dependent origination is to be described on time-scale, avijja and sankhara are two links in the past life, the links from vinnana to kammabhava concern the present life, while birth, old age and death are the links that future has in store for us. Thus, the doctrine refers to three time dimensions.


Năm Nhân Quá Khứ

 

Giáo lý duyên khởi chỉ mô tả vô minh và hành là hai nhân quá khứ, nhưng trên thực tế, vô minh thường có ái đi theo và thủ, hành cũng luôn luôn dẫn đến nghiệp hữu. Bởi vậy, bộ Patisambhidàmagga có bình giải về giáo lý duyên khởi như sau:

 

"Vô minh là sự mê lầm chi phối chúng ta trong khi hành động tạo nghiệp. Hành có nghĩa là sự dốc sức cố gắng, ái là sự khao khát những kết quả của một hành động trong kiếp hiện tạikiếp sau. Thủ là nỗi ám ảnh về hành động và kết quả của nó. Nghiệp hữusự cố ý. Năm yếu tố này trong quá khứ tạo thành nguyên nhân của sự tái sanh trong hiện tại".

 

Như vậy, chúng ta phải xét đến tất cả năm mắc xích này, đó là vô minh, ái, thủ, hành và nghiệp hữu, nếu chúng ta muốn mô tả đầy đủ nguyên nhân quá khứ. Trong năm yếu tố này, vô minh, ái và thủ được gọi là phiền não luân hồi (kilesavatta). Hành và nghiệp hữu được gọi là nghiệp luân hồi (kammavatta). Chú giải cũng nêu ra sự khác biệt giữa hành và nghiệp hữu, mô tả sự dụng công trước đó, sự trù liệu v.v... chuẩn bị cho một hành động là hành và sự cố ý ngay lúc tạo ra hành động là nghiệp hữu. Như vậy, sự kiếm tiền mua sắm vật dụng v.v... để chuẩn bị cho hành động bố thí là hành, trong khi trạng thái tâm vào lúc cúng dườngnghiệp hữu. Những công việc sửa soạn dẫn đến hành động giết người là hành, trong khi tư hay cố ý vào lúc giết là nghiệp hữu.

Five Causes In The Past

 

The doctrine describes the past cause only in terms of avijja and sankhara but in point of fact avijja is invariably followed by tanha and upadana and sankhara too always lead to kammabhava. So Patisambhidamagga comments on the doctrine as follows.

 

"Avijja is ignorance that dominates us while doing a kammic deed. Sankhara means collection and exertion of effort. Tanha is the craving for the results of an action in the present life and hereafter. Upadana is obsession with action and its result. Kammabhava is volition. These five factors in the past constitute the cause of present rebirth."

 

Thus, we have to consider all these five links viz., avijja, tanha, upadana, sankhara and kammabhava if we are to describe the past cause fully. Of these, avijja, tanha and upadana are labelled kilesavatta (cycle or round of defilements). Sankhara and kammabhava are called kammavatta (cycle of actions). The commentary makes a distinction between sankhara and kammabhava, describing the prior effort, planning, etc., preparatory to an act as sankhara and the volition at the moment of doing the act as kammabhava. Thus, seeking money, buying things, etc., prior to an act of dana comprise sankhara while the state of consciousness at the time of offering is kammabhava. Preliminary activities leading to an act of murder are sankhara while cetana or volition at the time of killing is kammabhava.


Sự Khác Biệt Giữa Hành Và Nghiệp Hữu

 

Một cách phân loại khác giữa hành và nghiệp hữu căn cứ vào những sát na đổng lực tâm (hay tâm thực). Người ta nói rằng trong một hành động sát sanh hay bố thí bao gồm bảy sát na đổng lực tâm. Sáu đổng lực tâm đầu tiên là hành, đổng lực thứ bảy là nghiệp hữu.

 

Cách phân loại khác nữa cho rằng sở hữu tư (cetanà - hay cố ý) là nghiệp hữu và những sở hữu khác đi cùng với sở hữu tư là hành.

 

Cách phân loại cuối cùng là hữu ích khi chúng ta nói về những thiện nghiệp ở cõi sắc và vô sắc. Tất cả ba phương pháp đều áp dụng trong trường hợp những hành động thiện và bất thiện ở cõi dục, còn phương pháp đầu tiên là dễ hiểu nhất đối với người sơ cơ học Phật.

 

Lại nữa, bộ Thanh tịnh đạo cho rằng sự tái sanh là do những cảnh hồi tưởng quá khứ, những nghiệp tướngảo giác giữ sự chú ý của người lâm chung trong giờ phút cuối cùng của kiếp sống. Bởi vậy, theo chú giải này, nghiệp hữu có thể định nghĩa là sở hữu tư (cetanà), là yếu tố xui khiến các hành động thiện hoặc ác trong kiếp quá khứ và hành là trạng thái tâm do cảnh lâm chung làm duyên.

 

Distinction Between Sankhara And Kammabhava

 

The other kind of distinction between sankhara and kammabhava is based on impulse-moments. It is said that an act of murder or alms-giving involves seven impulse-moments. The first six impulse-moments are called sankhara while the last is termed kammabhava.

 

The third way of making the distinction is to describe volition (cetana) as kammabhava and other mental states associated with volition as sankhara.

 

The last method of classification is helpful when we speak of good deeds in rupa and arupa spheres. All the three methods apply in the case of good or bad acts in sensual world, but the first method is most illuminating for those who are not well informed.

 

Alternatively, Visuddhimagga attributes rebirth to flash-backs, visions and hallucinations that hold a dying person's attention at the last moment of his life. So according to this commentary, kammabhava may be defined as the volition (cetana) that motivated his good or bad acts in the past and the sankhara as the mental state conditioned by his death-bed experiences.


Quả Hiện Tại Do Nhân Quá Khứ

 

Như vậy, do phiền não luân hồinghiệp luân hồi gồm năm nhân quá khứ của chúng, có sanh khởi thức tái sanh cùng với danh sắc (thân tâm), sáu xứ, sáu xúc và thọ. năm kết quả này được gọi chung là quả luân hồi (vipàkavatta). Do bởi vô minh, những người bình thường lầm tưởng cảnh trần và cảnh pháp là lạc. Họ phát triển tham ái, nhờ đó mà bắt đầu lại cái vòng nhân quả đầy đau khổ.

 

Thức, danh sắc, lục nhập v.v... sanh lên như là kết quả của những nghiệp quá khứ. Tất cả đều nằm trong mối quan hệ nhân quả. Trong mối quan hệ nhân quả này, chẳng hề có chỗ nào là ta, thượng đế hay đấng tối cao nào cả. Điểm khác biệt duy nhấtđịnh luật thiện ác bao trùm mối quan hệ này. Tánh chất của thọ dầu lạc hay khổ, đều tùy thuộc vào hành thiện hay hành ác trong quá khứ. Thực tế, không có người cảm thọ cũng không có ai đem đến cảm thọ ấy. Đời sống chỉ là một dòng trôi chảy liên tục của tâm thức, xúc v.v... do duyên của năm nhân là vô minh, ái dục v.v...

 

 

Present Effect Due To Past Cause

 

Thus, owing to the rounds of defilements and kamma comprising the five causes in the past, there arises rebirth-consciousness together with mind-body, six bases, impressions and feeling. These five effects are collectively called vipaka vatta (round of effects). Because of their ignorance, common people have the illusion of pleasantness about every sense-object and mind-object. They develop craving, thereby starting again the vicious cycle of causes and effects that represent their rounds of suffering.

 

Consciousness, the six sense bases, etc., arise as the kammic result of past kammas. It is a matter of cause-and-effect relationship just like all other phenomena. This leaves no room for ego, God or Prime Mover. The only difference is the moral law governing this relationship, the nature of feeling, whether pleasant or unpleasant, being dependent on the good or bad sankhara in the past. In reality there is no person who has pleasant or unpleasant feeling nor any being who causes him to have such an experience. Life is only the continuum of consciousness, impression, etc., as conditioned by five factors, viz., ignorance, craving, etc.


Kiến Thức Về Pháp Hành Minh Sát

 

Những người chỉ biết lỏm bỏm về pháp duyên khởi hoặc vi diệu pháp, thường cho rằng những ai không có kiến thức này thì không thể thực hành minh sát được. Thực ra, vị hành giả hành thiền dưới sự hướng dẫn của một vị thiền sư lão luyện thì không cần phải quan tâm nhiều về triết học cao siêu của Phật giáo, vì người ấy có thể làm theo những lời chỉ dạy của ông thầy, cộng thêm kiến thức căn bản rằng đời sống là một quá trình danh sắc, có tánh chất vô thường, khổ và vô ngã. Đầy đủ kiến thức căn bản này là nhu cầu hiểu biết cần thiết cho vị hành giảchí nguyện giải thoát. Điều này được Đức Phật xác nhận ở trong bài kinh Culatanhàsakhaya sutta. Trong bài kinh ấy, Đức Phật tiếp tục giảng giải về pháp hành minh sát. Trong bài kinh, sự hiểu biết về danh sắc được gọi bằng từ: "Abhijànàti - chứng tri", mà theo chú giải có nghĩa là sự hiểu biết đầy đủ và cũng chỉ về Nàma-rùpa paricchedanàna (danh sắc phân định trí) và Paccayapariggahanàna (duyên xác định trí).

 

Qua pháp quán, hành giả biết tất cả các pháp một cách chi tiết, là vô thường, khổ và vô ngã (viên tri - parijànàti). Do đó tiếng pàli chỉ về sammàsananàna (phổ thông trí) và những tuệ khác.

 

Đối với pháp quán duyên khởi, sự hiểu biết về tánh chất tùy thuộc và mối quan hệ nhân quả trong đời sống cũng đủ để loại trừ sự chấp ngã. Không cần phải hiểu thông suốt về mười hai mắc xích hay hai mươi điểm chính của giáo lý duyên khởi. Nếu pháp hành minh sát đem lại sự hiểu biết như vậy, thì một người có trí ít ỏi như trưởng lão Culapanna mà chứng đắc đạo quả A-la-hán là điều không ai ngờ được. Trí nhớ của trưởng lão rất kém đến nỗi không thể nhớ được vài câu kệ mà vị ấy đã học trong bốn tháng. Tuy nhiên, chỉ vài giờ sau khi thực hành theo sự chỉ dạy của Đức Phật, trưởng lão đã chứng đắc đạo quả A-la-hán.

 

Một tín nữ khác, tên là Màtikamàtà, đã chứng đắc tầng thánh thứ ba (A-na-hàm) nhờ sự chỉ dạy của một số Tỳ khưu, là các vị thầy của bà. Bà không biết nhiều về Vi diệu pháppháp Duyên khởi. Có nhiều hành giả khác cũng giống như tín nữ này và trưởng lão Culapanna. Bởi vậy, hành giả có thể chứng đạo qua pháp quán mà không cần phảikiến thức thông suốt về giáo lý cao siêu của Đức Phật.

 

Không biết bản chất thực của thọ lạc hay thọ khổ là vô minh. Chính ái dục ưa thích cảnh trần và thủ thì khao khát nó. Tầm cầu cái mà người ta ưa thích, hành thiện hoặc hành ác để đem lại hạnh phúc hay lợi ích cho mình trong đời hiện tạivị lai là hành và nghiệp hữu. Năm yếu tố này là những nguyên nhân hiện tại và chúng tạo ra sự tái sanh sau khi chết. Giáo lý duyên khởi chỉ nêu ra ba nhân là thọ, ái và thủ, nhưng trên thực tế, ba yếu tố này ám chỉ hai nhân khác, là vô minh và hành, hai nhân này là những động cơ chính của ái và nghiệp hữu. Bởi vậy, bộ Patisambhidàmagga (Vô ngại giải đạo) mô tả tất cả năm yếu tố này là những nguyên nhân của sự tái sanhkiếp sau.

 

 

Knowledge For Vipassana Practice

 

Those who have a smattering of Paticcasamuppada or Abhidhamma say that it is impossible to practise meditation without a knowledge of these teachings. But, in fact the yogi who practises under the guidance of a learned teacher need not bother about higher Buddhist philosophy for he can follow the teacher's instructions if he knows only that life is a mental and physical process characterized by impermanence, suffering and insubstantiality. The adequacy of this simple knowledge to meet the intellectual need of the yogi who is bent on Arahatship is borne out by the Buddha in Culatanha-sankhaya sutta. There the Lord goes on to talk about vipassana practice. In the sutta, the yogi's understanding of nama-rupa is termed "abhijanati" which, says the commentary, means full comprehension and refers to nama-rupa paricchedanana and paccayapariggahanana.

 

Through contemplation, the yogi knows all phenomena analytically as anicca, dukkha and anatta (parijanati). Here, the Pali terms refer to sammasananana and other vipassana insights.

 

As regards Paticcasamuppada, a knowledge of the conditionality and cause-effect relationship in life that rules out a being ego or self is sufficient. It is not necessary to know the twelve links or the twenty main points of the doctrine thoroughly. If the practice of vipassana presupposes such a comprehensive knowledge, it would be unthinkable for a man of low intelligence like, say, thera Culapanna. The thera's memory was so poor that he could not remember a few gathas that he had learnt for four months. Nevertheless, he attained Arahatship in a few hours when he practised contemplation as instructed by the Buddha.

 

Another laywoman, Matikamata by name, attained the third stage (anagami) on the holy path in advance of some bhikkhus who were her meditation teachers. She did not know much about Abhidhamma and Paticcasamuppada. There were many other yogis like this woman and Culapanna thera. So it is possible for a yogi to attain the holy path if he contemplates even though he may not have thoroughly learnt the higher teachings of the Buddha.

 

Not to know the real nature of pleasant or unpleasant feeling is avijja (ignorance). It is tanha to like a sense-object and it is upadana to have craving for it. To seek the object of one's desire, to do good or evil for one's happiness or welfare in the present life or hereafter means sankhara and kammabhava. These five factors are the present causes and they give rise to rebirth after death. The doctrine of Paticcasamuppada mentions only three causes, viz., vedana, tanha and upadana but in reality these three factors imply two other causes, viz., avijja and sankhara since these two are the mainsprings of tanha and kammabhava respectively. So Patisambhidamagga describes all these five factors as causes of rebirth in future.


Đoạn Trừ Các Nhân Hiện Tại

 

Mọi hành động thiện hoặc ác đều bao hàm sự nối kết đầy đủ của năm nhân hiện tại này và những trường hợp của sự nối kết như vậy xảy ra trong một kiếp sống đến hằng ngàn lần. Nhưng trong hoàn cảnh nào đó, những nhân này có thể dẫn đến sự tái sanh sau khi chết, hoặc hai hoặc ba kiếp liên tục. Mỗi kiếp sống đều gắn liền với sự già, chết, ưu sầu, ta thán v.v... và nếu chúng ta muốn tránh những điều này, chúng ta sẽ phải diệt trừ những nhân hiện tại.

 

Về mặt này, chúng ta nên niệm tất cả các pháp thuộc sắc như: "thấy à, nghe à" v.v... vào lúc chúng đang sanh khởi. Khi sự chú tâm mạnh lên, chúng ta niệm sự diệt nhanh chóng của chúng và sẽ biết rõ tánh chất của chúng là vô thường, bất toại nguyện và không đáng tin cậy. Sự nhận biết này giúp chúng ta khắc phục vô minhảo tưởng, thường dẫn đường cho ái, thủ và nghiệp hữu sanh khởi. Như vậy, chúng ta đã làm mất tác dụngvô hiệu hóa năm nhân hiện tại, nhờ đó mà ngăn chặn được sự tái sanh và những điều khổ dính theo.

 

Phương pháp đoạn trừ năm nhân hiện tại như vậy được gọi là đoạn trừ tạm thời - Sự đoạn trừ một số phiền não qua pháp quán - . Bằng phương pháp này, hành giả đạt được Nhất-hướng Niết-bàn (tadanganibbuti) hay sự chấm dứt phiền não từng phần qua pháp quán. Về sau, có sanh lên đạo tuệ, nghĩa là sự chấm dứt tất cả các hành và sự giác ngộ Niết-bàn (samucchedapahàna).

 

Khi ấy, các phiền não và các nghiệp vĩnh viễn chấm dứt. Các hành giả chứng đắc tầng thánh Nhập lưu thì đoạn trừ các phiền não và các nghiệp dẫn đến các khổ cảnh, và chỉ tái sanh không quá bảy kiếp. Hành giả chứng quả Nhất lai (Tư-đà-hàm) thì đoạn trừ những phiền não và những nghiệp mà nhờ đó vị ấy tái sanh không quá hai kiếp. Trong khi đó bậc A-na-hàm thì đoạn trừ các phiền não và những nghiệp dẫn đến tái sanh các cõi dục. Cuối cùng, vị hành giả chứng đắc đạo quả A-la-hán thì đoạn trừ hết những phiền não và những nghiệp còn lại. Nói cách khác, vị ấy trở thành bậc thánh Ưng cúng vì đã hoàn toàn thoát khỏi mọi phiền não.

 

Removing The Present Causes

 

Every good or evil act means the complete conjunction of these five present causes and occasions for such a conjunction in a single lifetime may number by thousands. Under certain circumstances these causes may lead to rebirth after death or two or three rebirths successively. Every existence is bound up with old age, grief, death, etc., and if we wish to avoid these sufferings, we will have to remove the present causes.

 

To this end we should note all physical phenomena, "seeing", "hearing", etc., at the moment of their arising. With the development of concentration, we note their instant passing away and become aware of their impermanence, unsatisfactoriness and unreliability. This awareness helps us to overcome ignorance and illusion that fuel craving, attachment and kammic effort: we thus keep the five present causes inoperative and inactive, thereby forestalling rebirth and consequent suffering.

 

This method of removing the causes is labelled //tadangapahana// - overcoming some defilements through contemplation. By this method, the yogi attains //tadanganibbuti// - partial extinction of defilements through contemplation. Later on, there arises the insight on the Ariyan path which means the extinction of all sankhara and the realization of Nibbana (//samucchedapahana//).

 

The defilements and kammas are then done away with, once and forever. The yogis who attain sotapatti stage overcome the defilements and kammas that lead to the lower worlds, and those that may cause good rebirth for more than seven lifetimes, the yogis at the sakadagami stage overcome those that may cause more than two rebirths while the yogis at the anagami stage remove those that lead to rebirth in sensual worlds. Finally, the yogi who attains arahatta stage eradicates the remaining defilements and kamma. In other words, he becomes an Arahat, the Noble one who is worthy of honour because he is wholly free from defilements.


Cách Nhìn Của Vị A-La-Hán Về Đời Sống

 

Vị A-la-hán không còn ảo tưởng về bản chất của các cảnh trần. Vị ấy đã thấy rõ tánh chất bất thiện của chúng và điều này có nghĩa là vị ấy đã giác ngộ sự thật về khổ nhờ phá tan vô minh. Bởi vậy, vị ấy không còn tham muốn bất cứ cái gì trên đời. Điều chắc chắn là vị A-la-hán vẫn còn phải vướng bận những nhu cầu tự nhiên về thân như ăn, ngủ v.v... nhưng vị ấy xem chúng là hành khổ (sankhàra dukkha) và không thấy cái gì là lạc đối với vị ấy.

 

Câu hỏi sanh lên là liệu vị A-la-hán có muốn chết sớm để chấm dứt cái khổ như vậy không. Nhưng ước muốn chết sớm hoặc sự tan rã của tấm thân cũng là ước muốn hủy diệt và vị A-la-hán đã đoạn diệt ước muốn này rồi. Bởi vậy, có một câu nói của một vị A-la-hán trong trưởng lão tăng kệ là: Vị A-la-hán không muốn chết cũng không muốn sống.

 

Vị A-la-hán không muốn sống lâu vì đời sống là một khối đau khổ trong uẩn. Mặc dầu, cái khối uẩn (khandha) cần sự chăm sóc và quan tâm thường xuyên, nhưng nó không đáng tin cậy chút nào. Đối với nhiều người thuộc hạng trung niên và lão niên, đời sống đem lại khá nhiều điều trái ý nghịch lòng, sự thất bại và chua cay. Những điều kiện sống diễn ra càng ngày càng tệ hơn, sức khỏe suy giảm và không còn gì ngoài sự tan rã hoàn toàn và cái chết chờ đón chúng ta. Tuy thế, do bởi vô minhái dục, nhiều người vẫn thích sự hiện hữu. Nói cách khác, vị A-la-hán đã hết ảo tưởng và vị ấy thấy đời sốngảm đạm và đơn điệu. Vì thế, vị ấy không còn ưa thích đời sống.

 

Nhưng vị A-la-hán cũng không muốn chết, vì ước muốn được chết là bản năng thù địch mà vị ấy đã đoạn trừ rồi. Điều mà vị ấy muốn là nhập Niết-bàn, đó là ước muốn hơi giống với ước muốn của người thợ muốn lãnh lương mỗi ngày hay cuối tháng.

 

Người thợ không thích đối mặt với sự vất vảtúng thiếu, nhưng anh ta phải làm việc để kiếm sống và cũng không muốn bị mất việc làm. Anh ta chỉ muốn có tiền và trông chờ đến ngày lãnh lương. Cũng vậy, vị A-la-hán chỉ chờ giây phút nhập Niết-bàn, không còn dư sót chút gì về thân và tâm. Bởi vậy, khi nghĩ về thọ mạng của mình, các vị A-la-hán tự hỏi rằng mình phải chịu đựng gánh nặng về danh sắc uẩn thêm bao lâu nữa. Do đã hết vô minh nên dòng sống của vị La hán hoàn toàn bị cắt đứt sau khi nhập Niết-bàn.

Arahat's Outlook On Life

 

The arahat has no illusion about the nature of sense-objects. He is aware of their unwholesomeness and this means he realizes the truth of dukkha because he is free from ignorance (avijja). So he has no craving for anything. Inevitably, he has to fill the biological needs of his physical body such as eating, sleeping, etc., but he regards them as conditioned (sankhara) dukkha and finds nothing that is pleasant to him.

 

The question arises as to whether he should long for speedy death to end such suffering. But the desire for early death or dissolution of the physical body too is a destructive desire and the Arahat is free from it. So there is an Arahat's saying in the Theragatha that he has neither the wish to die nor the wish to live.

 

The Arahat does not wish to live a long life for life means largely the burden of suffering inherent in khandha. Although the burden of khandha needs constant care and attention, it is not in the least reliable. To many middle-aged or old people, life offers little more than frustration, disappointment and bitterness. Living conditions go from bad to worse, physical health declines and there is nothing but complete disintegration and death that await us. Yet, because of ignorance and attachment many people take delight in existence. On the other hand, the Arahat is disillusioned and he finds life dreary and monotonous. Hence, his distaste for life.

 

But the Arahat does not prefer death either. For death-wish is an aggressive instinct which he has also conquered. What he wants is to attain Nibbana, a longing that is somewhat analogous to that of a worker who wishes to get his daily or monthly wage.

 

The worker does not like to face hardship and privations for he has to work inevitably just to make his living but he does not want to lose his job either. He wants only money and looks forward to pay-day. Likewise, the Arahat waits for the moment when he should attain Nibbana without anything left of his body-mind complex. So when they think of their life-span, the Arahats wonder how long they will have to bear the burden of nama-rupa khandha. Because of his disillusionment, the Arahat's life-stream is completely cut off after Nibbana, hence it is called //anupadisesanibbana//.


Không Phải Sự Đoạn Diệt Mà Là Sự Chấm Dứt Đau Khổ

 

Những người tin vào cái ngã hay linh hồn thường chê Niết-bàn là sự chết vĩnh viễn của một chúng sanh. Trên thực tế, đó là sự chấm dứt hoàn toàn đau khổ do các pháp thuộc thân và tâm cùng với những nhân của chúng, là nghiệp và phiền não, không còn sanh khởi nữa. Bởi vậy, Đức Phật giải thích sự chấm dứt thủ là do sự chấm dứt hoàn toàn ái. Quá trình trở thành (hữu) không còn sanh khởi do sự chấm dứt của thủ v.v... Vì không còn tái sanh nên già, chết và những loại khổ khác cũng hoàn toàn chấm dứt.

 

Ở đây, quan niệm thông thường cho rằng, già và chết là những nỗi đau đớn làm khổ chúng sanh. Nhưng trên thực tế, những điều khổ này chỉ là quá trình danh sắc, chứ chẳng có ai chịu khổ cả, bởi vì không có cái ta hay linh hồn. Cho nên cho rằng sự chấm dứt tái sanh và khổ như là sự đoạn diệt của một chúng sanh thì thật là vô lý.

 

Như vậy, những ai cho rằng Niết-bàn là sự đoạn diệt thì không thoát khỏi ngã kiến. Đối với một người Phật tử có trí, Niết-bàn có nghĩa là sự chấm dứt đau khổ. Điều này được chứng minh trong câu chuyện về Tỳ khưu Yamaka trong thời Đức Phật.

Not Annihilation But Extinction Of Suffering

 

Those who believe in ego or soul deprecate Nibbana as eternal death of a living being. In reality, it is the total extinction of suffering that results from the non-recurrence of psycho-physical phenomena together with their causes viz., kamma and defilements. So the Buddha points out the cessation of upadana arising from the complete cessation of craving, the process of becoming (bhava) ceasing to arise due to cessation of upadana and so on. With the non-arising of rebirth, there is the complete cessation of old age, death and other kinds of suffering.

 

Here, the popular view is that birth, old age and death are evils that afflict living beings but, in point of fact, these evils characterize only the psycho-physical process and have nothing to do with a living entity. Since there is no ego or soul, it makes no sense to speak of the annihilation of a living being with the cessation of rebirth and suffering.

 

So those who regard Nibbana as annihilation are not free from the illusion of ego-entity. To the intelligent Buddhist, Nibbana means only cessation of suffering. This is evident in the story of bhikkhu Yamaka in the time of the Buddha.


Chuyện Tỳ Khưu Yamaka

 

Yamaka tin rằng vị A-la-hán bị đoạn diệt sau khi chết. Vị ấy cố chấp theo quan điểm của mình dầu các vị Tỳ khưu khác đã chỉ ra sự sai lạc của quan kiến ấy. Sau đó, trưởng lão Xá-lợi-phất cho vời Yamaka đến. Trước những câu hỏi xác thực và vững chắc, Yamaka phải chấp nhận rằng năm uẩnvô thường và khổ, và thấy rằng gọi năm uẩnsở hữu của ta, là ta thì quả thật sai. Trưởng lão Xá-lợi-phất bảo vị ấy nhìn vào năm uẩn đúng như thật. Nhờ đó, vị ấy sẽ hết ảo tưởng, vô chấp và được giải thoát.

 

Trong khi đang nghe thời pháp, Yamaka chứng đắc tầng thánh Nhập lưu. Giờ đây, vị ấy đã thoát khỏi các tà kiến. Sau đó, trưởng lão Xá-lợi-phất tiếp tục hỏi vị ấy. Để đáp lại những câu hỏi của trưởng lão, Yamaka nói rằng vị ấy không cho rằng vị A-la-hán là sắc, thọ, tưởng, hành hay thức nữa. Vị ấy cũng không tin rằng vị A-la-hán còn hiện hữu ở một nơi nào đó mà không có sắc, thọ hay bất cứ uẩn nào khác. Do đó, bởi vì vị A-la-hán hay một chúng sanh không thể tìm thấy ở đâu trong năm uẩn ngay cả trước khi chết, lại nói vị A-la-hán bị hoại diệt sau khi nhập Niết-bàn là điều phi lý.

 

Yamaka thú nhận rằng vị ấy đã có quan niệm sai lầm. Bây giờ, vị ấy đã thoát khỏi tà kiếnbiết điều gì nên nói về vị A-la-hán. Nếu có người hỏi vị ấy rằng: "Điều gì xảy ra khi vị A-la-hán nhập diệt?" Vị ấy sẽ trả lời rằng: "Cái chết của vị A-la-hán có nghĩa là sự chấm dứt hoàn toàn đau khổ vốn có trong tánh chất vô thường của năm uẩn".

 

Lời tuyên bố này về vị A-la-hán được xác nhận bởi đại đức Sàriputta, trưởng lãonăm uẩn giống như tên sát nhân đội lốt một người bạn thân và nói rằng sự đồng hóa các uẩn với ngã giống như xem tên sát nhân là bạn của mình vậy.

 

Ở đây, đầu tiên trưởng lão Yamaka tin rằng vị A-la-hán bị đoạn diệt sau khi chết, không còn gì cả. Niềm tin này bao hàm ngã kiến và như vậy quan kiến đoạn diệt về Niết-bàn được gọi là đoạn kiến (Ucchedaditthi), cho rằng Niết-bàn là sự phủ nhận cái ngã sau khi chết. Khi giác ngộ chân lýchứng đắc tầng thánh Nhập lưu, thì trưởng lão nói rằng cái chết của vị A-la-hán có nghĩa là sự chấm dứt hoàn toàn đau khổ vốn có trong năm uẩn.

 

Để tóm tắt về con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ, chúng ta có thể nói rằng: Do không niệm về sự thấy, nghe và những pháp thuộc danh sắc, sẽ có sanh khởi vô minh, ái, thủ, nghiệp và hành, để rồi tạo ra sự tái sanh, già và chết trong kiếp sau. Chánh niệm về tất cả các pháp sẽ ngăn chặn năm nhân hiện tạivô minh v.v... và năm kết quả bao gồm đau khổ.

Story Of Yamaka

 

Yamaka believed that the Arahat was annihilated after his death. He clung to his view although other bhikkhus pointed out its falsity. Then, Sariputta summoned him. Questioned by the elder thera, Yamaka admitted that all the five khandhas are impermanent and suffering, that it would be a mistake to regard them as one's possession or self. Sariputta told him to see the five khandhas as they really are. He would then become disillusioned, detached and liberated.

 

While hearing the sermon, Yamaka attained the sotapanna stage. He was now free from false beliefs. Sariputta then questioned him again. In response to the thera's questions, Yamaka said that he did not identify the Arahat with the physical body, the perception, the feeling, conformations (sankhara) or the consciousness. Nor did he believe that the Arahat existed elsewhere without the rupa, vedana or any other khandha. Therefore, since the Arahat or a living entity is not to be found in the five khandhas even before death, it makes no sense to speak of the Arahat's annihilation after his parinibbana.

 

Yamaka confessed his mistaken view. He was now free from it and he knew what to say about the destiny of the Arahat. If someone were to ask him, "What happens when the Arahat passes away?", he would answer, "The death of the Arahat means the complete cessation of suffering inherent in the impermanent five khandhas."

 

This statement about the Arahat was confirmed by Sariputta. The thera likened the khandhas to the murderer who poses as a friend and said that identifying the khandhas with atta is like welcoming the murderer, etc.

 

Here, the thera Yamaka at first believed that the Arahat was annihilated after death, that there was nothing left. This belief presupposes the illusion of ego-entity and so the annihilation view of Nibbana is called ucchedaditthi, the view that Nibbana means the negation of atta after death. When he realized the truth and attained sotapanna, Yamaka said that the death of the Arahat means the complete extinction of suffering inherent in the impermanent five khandhas.

 

To sum up the way to the cessation of suffering, failure to note seeing, hearing and other psycho-physical phenomena leads to the arising of avijja, tanha, upadana, kamma, and sankhara that in turn cause birth, old age and death in future. Mindfulness of all phenomena forestalls the five present causes viz., avijja, etc., and the five consequences that involve suffering.


Câu Khẳng Định Của Tỳ-Khưu-Ni Vajirà Về Bản Chất Của Năm Uẩn

 

Hơn nữa, sự chấm dứt đau khổ được nhấn mạnh trong câu nói nổi tiếng của Tỳ-khưu-ni Vajirà. Trong khi bà đang ngồi dưới cội cây gần tịnh xá Kỳ Viên, Ma vương xuất hiện và để gây hoang mang và bối rối cho bà, bèn hỏi rằng: "Này bà Tỳ-khưu-ni! Ai đã tạo ra chúng sanh? Đấng sáng tạo ở đâu? Chúng sanh đã khởi thủy như thế nào và kết thúc như thế nào?"

 

Tỳ-khưu-ni Vajirà đáp lại rằng: "Này Ma vương! Theo ngươi nghĩ, cái gì là chúng sanh? Há không phải rằng ngươi tin có chúng sanhảo tưởng chăng? Cái mà ngươi cho là chúng sanh chẳng là gì cả ngoài một khối hữu vi (sankhàra). Không có chúng sanh nào được tìm thấy trong khối hữu vi này. Chúng sanh chỉ là một tên gọi chung cho năm uẩn đó thôi, tức là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Cũng thế "chiếc xe" là tên gọi của sự kết hợp gồm bánh xe, trục xe, gọng xe v.v... Không có chúng sanh nào cả, mà chỉ là một nhóm gồm năm uẩn. Năm uẩn ấy là khổ - Chỉ có khổ sanh, khổ trụ và khổ diệt. Không có sự sanh và diệt của cái gì khác ngoài khổ".

 

Do đó, chúng sanh chỉ là tên gọi chung. Nó không có mặt trong ý nghĩ tuyệt đối, chỉ có quá trình của danh và sắc, bao gồm vô minh, ái, thủ, nghiệp hànhnghiệp hữu là nhân. Thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ là quả. Những quả này lại trở thành nhân làm sanh khởi tái sanh và khổ.

Bhikkhuni Vajira On The Nature Of Khandhas

 

Moreover, it is the extinction of suffering that is underscored in the famous saying of bhikkhuni Vajira. While she was sitting under a tree near Jetavana monastery, Mara appeared and in order to scare and discomfit her, asked her,"Hey, bhikkhuni! Who created a living being? Where is the creator? How did a living being originate and how would he come to an end?"

 

Bhikkhuni Vajira replied, "O, Mara! What do you think is a living being? Is not your belief in a living being an illusion? What you regard as a living being is nothing but a heap of sankhara. No being is to be found in this heap, a living being (sattava) is merely a term for the collection of five khandhas viz., rupa, vedana, etc., just as "chariot" is the term for the combination of wheel, axle, etc.; there is no being but only the group of five khandhas: That cause suffering - in fact, it is only suffering (dukkha) that arises, exists and ends. There is no arising and extinction of anything other than dukkha."

 

Therefore, a living being is to be understood only in the popular acceptation of the term. It does not exist in the absolute sense; there is only the psycho-physical process which comprises ignorance, craving, attachment, kamma and kammic effort as causes and consciousness, body-mind, sense bases, impression and feeling as effects. These effects in turn become causes that give rise to rebirth and suffering.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 4836)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1358)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1390)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1272)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 991)
25 Tháng Mười 202010:40 SA(Xem: 82)
Kỳ thi ra trường của tôi ở Đại học Cambridge năm 1972 là về đề tài vật lý lý thuyết. Đó là quãng thời gian khó nhọc. Toàn bộ sự nghiệp ăn học ở đại học dồn lại thành một loạt những bài-thi khảo sát. Một là đậu hai là rớt. Kỳ thi của tôi bao gồm một bài thi viết luận ba tiếng đồng hồ liên tục vào buổi sáng và một bài thi sát hạch ba tiếng đồng hồ
24 Tháng Mười 20209:58 CH(Xem: 99)
Tối nay tôi sẽ nói về đề tài “quán hay suy ngẫm, chiêm nghiệm” (contemplation) trong Phật giáo. Làm thế nào để quán chiếu, để chiêm nghiệm, để suy ngẫm về Pháp và làm thế nào để áp dụng những điều này trong sự thực hành. Một trong những lý do tôi muốn nói về điều này là vì mọi người hay hỏi tôi làm sao quán và quán như thế nào
23 Tháng Mười 202010:04 CH(Xem: 152)
Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 8, năm 1965, sau khi học xong khóa hè, tôi chuẩn bị sẽ đi California từ New York bằng xe hơi. Ngày ấy tôi mới 20 tuổi và sang tháng 9 tôi sẽ vào học Đại học Brooklyn. Tôi muốn đến thăm một người bạn. Anh ấy đang ở San Francisco mùa hè ấy. Tôi đã thu xếp để cùng đi với mấy người bạn học. Chúng tôi
22 Tháng Mười 20208:57 CH(Xem: 206)
Bài Kinh ĐẠI NIỆM XỨ (Trường bộ kinh Nikaya) là bài kinh quan trọng cho mọi Phật tử như trong phần mở đầu của bài Kinh, Đức Phật đã dạy: “Này chư tỳ kheo, đây là con đường độc nhất để đem lại sự thanh bình cho chúng sanh, vượt thoát sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh tríchứng ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ”.
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4836)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 215)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 230)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
19 Tháng Mười 20209:45 CH(Xem: 210)
Cúng vong linh và cúng cô hồn là tập tục, tín niệm dân gian có từ lâu đời, phổ biến trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt. Cúng vong linh thường thực hiện vào những ngày kỵ giỗ, con cháu soạn mâm cỗ dâng cúng ông bà cha mẹ và những người thân đã mất. Cúng cô hồntrai chủ phát tâm sắm sửa cơm nước lễ vật
18 Tháng Mười 202012:11 CH(Xem: 258)
Các lời trích dẫn giáo lý của Đức Phật cùng các danh nhân khác thường thấy trên mạng, báo chí và tạp chí đủ loại tại các nước Tây phương. Dường như trong cuộc sống dồn dập tại các nơi này, một số người đôi khi cũng thích đọc một vài câu ngắn gọn nhưng sâu sắc, giúp mình suy nghĩ về xã hội, con người và sự sống nói chung.
17 Tháng Mười 20206:19 CH(Xem: 276)
Với người hành thiền mong muốn có được tri kiến đúng đắn về năm uẩn qua việc thực hành Pháp Duyên Sanh, cuốn sách này chắc chắn sẽ là một tác phẩm đáng chú ý nhất. Nó cũng là một sự bổ sung rất ý nghĩa cho việc hiểu Pháp Duyên Sanh. U Than Daing, tác giả của cuốn sách, đã hoàn thành một sự giải thích rất rõ ràng và thấu đáo
16 Tháng Mười 20207:35 CH(Xem: 242)
Đúng, khi người tu thấy ra sự sinh diệt, vị ngọt và sự nguy hại của các pháp hữu vi sẽ không còn ham muốn chấp trước bất kỳ điều gì ở đời. Như Bồ-tát Siddhattha xuất gia không bao lâu đã chứng đắc vị ngọt của tất cả thiền định hữu vi hữu ngã nhưng khi đã thấy ra định này chỉ tạo sự dính mắc trong sắc ái, vô sắc ái ngài liền từ bỏ.
15 Tháng Mười 20204:39 CH(Xem: 243)
Thầy đã nhận được thư con và đọc nhiều lần lá thư ấy. Thầy rất thương con! Con cũng giống như thầy ngày xưa khi mới bỡ ngỡ bước chân đi tìm đạo, thật cô đơn và bơ vơ, không biết phải đi về đâu nữa. Khổ nhất là cái cảnh nửa đời nửa đạo như thế. Đời thì vừa chán vừa sợ, mà sợ nhất là những đam mê của nó cùng với phiền não
14 Tháng Mười 20203:07 CH(Xem: 320)
Nhiều Phật tử đã suy tưởng quá nhiều về Phật pháp nhưng lại thực hành quá ít. Rõ ràng là, vì thiếu kinh nghiệm trong việc hành trì giữ giới, cũng như thiếu những kết quả của công phu thiền tập, họ đã làm sai lệch giáo pháp với những mộng tưởng của chính họ. Bất hạnh thay, trong số những Phật tử này là những vị giáo thọ.
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2564)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
14 Tháng Mười 20209:01 SA(Xem: 2036)
Nhiều Phật tử suy nghĩ về giáo pháp quá nhiều mà thực hành rất ít. Thiếu những trải nghiệm như thế nào là giữ giới, và thiếu dữ liệu từ những tầng thiền định sâu (Thiền Na- Jhana), vô tình họ đã bóp méo giáo pháp bằng những mơ tưởng viển vông của chính họ. Bài kinh Udana (Ud1.10), ghi lại lời Phật dạy cho Bāhiya, là một bài kinh ngắn
13 Tháng Mười 20209:53 CH(Xem: 301)
Khi tôi chết, tôi không muốn có những nghi lễ phô trương. Tôi đã viết di chúc dặn dò nếu tôi chết trong vòng năm mươi dặm của Trung tâm Thiền quán Bhavana (West Virginia, Hoa Kỳ), những người trong đạo tràng nên thu xếp hỏa táng thân xác tôi và sau đó, tùy ý xử lý tro cốt. Tôi không quan tâm. Nếu tôi chết ở nơi khác, họ có thể thu xếp
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2821)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
12 Tháng Mười 202010:53 CH(Xem: 313)
Bài học quý ở đây là: thực sự thực hành + nghe pháp để đối chiếu. Chúng ta chưa bao giờ hiểu đúng cả. Chúng ta chưa bao giờ thực hành đúng cả. Chúng ta chỉ đang tiệm cận dần đến cái đúng. Vì vậy đừng chủ quan. Đừng coi nhẹ những hướng dẫn cơ bản. Thỉnh thoảng cần nghe lại và tìm ra lối thoát cho vấn đề của mình trong đó.
11 Tháng Mười 202011:07 CH(Xem: 335)
Thiền là sự nghỉ ngơi trong tỉnh thức, nghỉ ngơi thật sự cả thân lẫn tâm, con không làm điều gì khác ngoài quan sát, vì vậy không nên ép mình hay đặt một mục tiêu nào cần đạt đến hết. Như con nói, nhiều khi chỉ đơn giản đang ngồi và enjoy với việc ngồi, đó là lúc con không ép mình và khi đó mới là lúc hành thiền đúng nhất đấy con ạ.
08 Tháng Mười 20204:08 CH(Xem: 429)
The Buddha-Dhamma is a moral and philosophical system which expounds a unique path of Enlightenment, and is not a subject to be studied from a mere academic standpoint. The Doctrine is certainly to be studied, more to be practised, and above all to be realized by oneself. Mere learning is of no avail without actual practice.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1968)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3637)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5161)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4836)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2821)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
08 Tháng Mười 202011:06 SA(Xem: 4215)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4836)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 215)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 230)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2564)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1669)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1586)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.