[10]

06 Tháng Hai 20204:59 CH(Xem: 274)
[10]


Pháp Duyên Khởi

A Discourse on Paticcasamuppada 
(or The Doctrine of Dependent Origination)
Venerable Mahasi Sayadaw
Translated by U Aye Maung
Dịch: Tỳ kheo Minh Huệ (1999)
Nguồn: budsas.org

 

____________________

PhapDuyenKhoi_A

__________________

MỤC LỤC - CONTENTS 

[10]

 

Bốn nhóm, ba móc nối và hai mươi yếu tố

Ba luân hồi

Bốn phương diện của giáo lý duyên khởi

Quan niệm sai lầm của Sàti

Đặc tính riêng của mỗi pháp

Không có sự cố gắng

Sự liên quan giữa nhân và quả

Đoạn diệt phiền não luân hồi

A-la-hán và những đức tính cao quí của đức Phật

Câu chuyện về Phạm thiên Paka

Chánh biến tri

Danh tiếng của đức Phật

Tứ diệu đế tóm lượt

Chánh biến tri và đạo quả Phật

Tổng kết

[10]

90. Four Layers, Three Links And Twenty Factors
91. Three Cycles
92. Four Aspects Of Paticcasamuppada
93. The False View Of Sati
94. Distinctive Character Of Each Phenomenon
95. Absence Of Effort (Avyapara)
96. Relevancy Of Cause To Effect
97. Conclusion
98. Cutting Off The Cycle Of Defilements
99. Arahan And The Attributes Of The Buddha
100. Story Of Baka Brahma
101. Sammasambuddha
102. The Fame Of The Buddha
103. The Four Noble Truths In Brief
104. Sammasambuddha And Buddhahood
105. Summary


Bốn Nhóm, Ba Móc Nối Và Hai Mươi Yếu Tố

 

Giáo lý duyên khởi chia thành bốn nhóm, gồm những yếu tố trong chuỗi nhân quả. Nhóm thứ nhất gồm những nhân trong quá khứ, nhóm thứ hai gồm những quả trong hiện tại, nhóm thứ ba gồm những nhân trong hiện tại và nhóm thứ tư gồm những quả trong kiếp sống tương lai.

 

Có ba móc nối cho bốn nhóm trên - Móc nối giữa quá khứhiện tại có hành là nhân và thức là quả, móc nối giữa quả hiện tại và nhân hiện tại có thọ và ái là nhân và quả, và móc nối giữa nhân hiện tạiquả vị lai có hữu là nhân và sanh là quả.

 

Như vậy, có hai mươi yếu tố liên quan đến quá trình danh sắc, đó là năm nhân quá khứ, năm quả hiện tại, năm nhân hiện tại và năm quả vị lai.

 

 

Four Layers, Three Links And Twenty Factors

 

Paticcasamuppada refers to four groups of factors involved in the chain of causation viz., the first group of causes in the past, the second group of effects in the present life, the third group of causes in the present and the last group of effects in the future. The groups are labelled //sangaha// or //sankhepa// in Pali. They may also be translated as layers.

 

There are three links for the four layers - the link between the past and the present involving sankhara as cause and vinnana as effect, the link between the present effect and present cause with vedana and tanha as cause and effect, and the third link between present cause and future with bhava as cause and jati (birth) as effect.

 

Then, there are twenty factors (akara) involved in the psycho-physical process viz., five causes in the past, five effects in the present, five causes in the present and five effects in the future.


Ba Luân Hồi

 

Lại nữa, giáo lý duyên khởi bàn về ba luân hồi: Phiền não luân hồi, nghiệp luân hồi và quả luân hồi.

 

Luân hồi thứ nhất gồm có vô minh, ái và thủ. Luân hồi thứ hai gồm nghiệp hànhnghiệp hữu. Luân hồi thứ ba gồm thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ.

 

Quả luân hồi dẫn đến phiền não luân hồi, phiền não luân hồi làm sanh khởi nghiệp luân hồi và nghiệp luân hồi lại dẫn đến quả luân hồi. Ba luân hồi này cứ xoay vần mãi trong cái vòng đau khổ. Luân hồi có nghĩa là dòng trôi chảy liên tục của quá trình danh sắc, vận hành trong mối quan hệ nhân quả.

 

Muốn thoát khỏi cái vòng đau khổ này, chúng ta phải làm những việc thiện. Chúng ta phải nắm vững về Tứ diệu đế. Chúng ta phải thực hành thiền quán trong lúc thấy, nghe v.v... Chúng ta phải giác tri tánh chất sanh và diệt không ngừng của danh sắc. Tuệ minh sát này sẽ ngăn chặn vô minh và giúp chúng ta thoát khỏi ái dục và thủ, là những pháp đưa đến tái sanhđau khổ.

 

Bộ Thanh tịnh đạo mô tả sự đóng góp của nghiệp vào cái vòng phiền não luân hồi. Một vị hành giả nọ trông thấy cách mà dòng danh sắc phát sanh từ nghiệp luân hồi và quả luân hồi. Vị ấy giác ngộ rằng chỉ có nghiệp và quả của nghiệp. Do kết quả của nghiệp trong quá khứ, có sanh khởi danh sắc trong kiếp hiện tại, danh sắc là nhân của nghiệp hiện tại, nó sanh khởi những hành động tạo nghiệp trong kiếp sống hiện tại. những hành động tạo nghiệp này dẫn đến tái sanh. Bằng cách này, có sự sanh khởi (trở thành) của danh sắc không hề chấm dứt.

 

Ở đây, sự sanh khởi hay trở thành của danh sắc có nghĩa là sự sanh khởi các pháp từ các căn, tức là sự thấy, nghe v.v... Những pháp này dẫn đến phiền não, nghiệp và tái sanh, nối tiếp nhau. Như vậy, quá trình danh sắc được tạo bởi nghiệp luân hồi và quả của nó. theo bộ Thanh tịnh đạo, tuệ quán này có nghĩa là Duyên xác định trí (Paccayapariggahanàna) và Độ nghi thanh tịnh (Kankhàvitarana visuddhi).

 

Three Cycles

 

Again the doctrine of Paticcasamuppada deals with three cycles or rounds (vattas) viz., the cycles of defilements, kamma and fruits. The first cycle comprises ignorance, desire and attachment (upadana), the second (kamma cycle) comprises kammic effort and kammic existence (bhava), and the third vipaka cycle involves consciousness, mind-body, sense bases, impression and feeling.

 

The third vipaka cycle again leads to the cycle of defilement, the cycle of defilement again gives rise to kamma cycle and so on, each of the three cycles occurring one after another ceaselessly in a vicious circle. The three cycles form the samsaric round of suffering. Samsara means continuum of nama-rupa (psycho-physical) process occurring in terms of cause-effect relationship.

 

In order to liberate ourselves from the samsaric cycle of suffering, we do good deeds. We become familiar with the Buddha's teaching about the Four Noble Truths. We practise contemplation at the moment of seeing, hearing, etc. We realize the ceaseless arising and dissolution of psycho-physical phenomena. This vipassana insight forestalls illusion and frees us from craving and attachment that leads to rebirth and suffering.

 

Visuddhimagga describes the contribution of kamma to the cycle of defilement. A certain yogi sees how mind-body complex is born of kammic cycle and vipaka (kammic fruits) cycle. He realizes that there are only kamma and its fruits: As a result of kamma in the past, there arise nama-rupa in the present life; nama-rupa is the cause of present kamma; it gives rise to kammic deeds in present life. These kammic deeds lead to rebirth. In this way there is the arising (becoming) of nama-rupa (being) without cessation.

 

Here, the arising or becoming of nama-rupa means the arising of phenomena from the senses e.g. seeing, hearing, etc. These lead to defilement, kamma, and rebirth successively. Thus, the nama-rupa process is conditioned by the cycle of kamma and its fruit. According to Visuddhimagga, this insight-knowledge means paccayapariggahanana and kankhavitarana visuddhi (Purity of Escape from all Doubt).


Bốn Phương Diện Của Giáo Lý Duyên Khởi

 

Có bốn phương diện của giáo lý duyên khởichúng ta cần phải ghi nhớ. Phương diện thứ nhất là nhân vật (idividual character) của quá trình danh sắcbao gồm ba kiếp sống liên tục. Mặc dầu giáo lý này nhấn mạnh tánh chất tùy thuộc của tất cả các pháp, tuy nhiên thật sai lầm khi tin rằng vô minh, ái và những nhân khác liên quan đến một người, trong khi thức, danh sắc và những quả khác lại liên quan đến một người khác, và trong khi thức, danh sắc và những quả khác lại liên quan đến một người khác nữa, vì niềm tin như vậy ám chỉ sự đoạn diệt hoàn toàn của một chúng sanh sau khi chết, đoạn kiến ấy đã bị Đức Phật bác bỏ. Trên thực tế, quá trình danh sắc có phần giống với sự phát triển của cây xoài. Hạt xoài lên mầm, mầm trở thành cây con và cây con phát triển thành cây xoài to. Ở đây, hạt xoài, cây xoài và cây to hình thành một quá trình liên tục, không gián đoạn trong mối quan hệ nhân quả đến nỗi, thực sự mà nói, không thể phân biệt giữa cây con và cây lớn.

 

Cũng vậy, vô minh, hành, thức v.v... xảy ra trong một sự nối tiếp không gián đoạn về nhân và quả, và vì thế thật hợp lý để nói về một người đặc biệtliên quan đến quá trình ấy. Ví dụ: Chính Devadatta phạm tội chia rẽ tăng và chính Devadatta đang chịu khổ trong địa ngục. Trưởng giả Cấp cô độc đã làm nhiều việc phước và chính ông ta sanh vào cõi chư thiên sau khi chết.

 

Four Aspects Of Paticcasamuppada

 

There are four aspects of the doctrine of Paticcasamuppada that we should bear in mind. The first is the individual character of the psycho-physical process that comprises the three successive existences. Although the doctrine stresses the conditionality of all phenomena, it is a mistake to believe that avijja, tanha and other causes concern one person, while vinnana, nama-rupa and other causes concern one person, and while vinnana, nama-rupa and other effects concern another person for this belief implies the total extinction of a living being after death, the annihilation - view which Buddhism rejects. In reality, the nama-rupa process is analogous to, say, the evolution of a mango tree. The mango seed becomes a seedling, the seedling turns into a young plant and the plant grows into a tree. Here the seed, the young plant and the tree form a continuous, unbroken line of cause and effect relationship so that strictly speaking, it is impossible to distinguish between the tree and the plant.

 

Likewise, avijja, sankhara, vinnana, etc., occur in unbroken succession in terms of cause and effect and so it is reasonable to speak of a particular person involved in the process. It was Devadatta, for example, who committed schism and it is Devadatta who is now suffering in hell. The merchant Anathapindika did good deeds and it was he himself who landed in the deva-world after his death.


Quan Niệm Sai Lầm Của Sàti

 

Sự đồng nhất người tạo nghiệp với người lãnh quả của nó giúp chúng ta tránh được đoạn kiến. Nói cách khác, có một số người tin vào sự chuyển sanh của một người đi từ kiếp sống này đến kiếp sống khác. Quan niệm sai lầm này được gọi là thường kiến. Vào thời Đức Phật, có một vị Tỳ khưu tên là Sàti, đã nghĩ như vậy.

 

Chính những câu chuyện bổn sanh đã đưa vị Tỳ khưu Sàti đến tà kiến này. Vị ấy nghe Đức Phật kể về những câu chuyện bổn sanh mà trong đó Ngài đồng nhất chính Ngài với nhân vật lãnh đạo trong câu chuyện. Bởi vậy, vị ấy suy luận rằng: Thân của Bồ tát tan rã sau khi chết và không có gì nơi cái thân ấy tiếp tục chuyển sanh đến kiếp cuối cùng của Ngài, chỉ có thức vẫn còn sau sự tan rã của thân và thức ấy là bất diệt trong con người của Bồ tát qua mỗi kiếp sống của Ngài, những chúng sanh khác cũng như vậy, không giống như thân, tâm thức không bị tan rã, nó tiếp tục đi từ thân này đến thân khác và tồn tại mãi mãi.

 

Nhưng các câu chuyện bổn sanh chỉ nhấn mạnh sự nối tiếp của mối quan hệ nhân quả đối với người tạo nghiệp và người lãnh quả của nó. Chúng không ám chỉ đến thức hay bất cứ thuộc tính nào còn nguyên vẹn đi từ kiếp sống này sang kiếp sống khác. Mọi thứ đều diệt mất và do bởi sự liên quan nhân quả, nên chúng ta mới cho rằng vị anh hùng trong câu chuyện bổn sanh cuối cùng trở thành thái tử Siddhattha. Bởi vậy, sau khi cật vấn Sàti, Đức Phật nói rằng thức có duyên sanh, nó không thể khởi sanh mà không có nhân liên quan đến nó.

 

Đức Phật nêu ra ví dụ về ngọn lửa mà được gọi tên theo nguồn gốc của nó. Ngọn lửa bắt nguồn từ củi thì được gọi là lửa củi, lửa từ rơm thì được gọi là lửa rơm, v.v... Dường thế ấy, thức cũng có nhân duyên của nó và nó lấy tên theo cái làm duyên sanh cho nó. Như vậy, thức khởi sanh từ con mắt và cảnh sắc thì được gọi là nhãn thức, thức khởi sanh từ tai và âm thanh thì được gọi là nhĩ thức v.v... Thức được định rõ tùy theo cảnh và căn làm cho nó sanh khởi. Khi nguyên liệu của lửa thay đổi thì tên gọi của nó cũng thay đổi. Lửa rơm trở thành lửa bụi cây khi ngọn lửa rơm cháy lan đến bụi cây. Cũng thế, thức cũng thay đổi tên gọi của nó theo căn và cảnh mà nó tùy thuộc. Trường hợp cùng căn và cùng cảnh cũng vậy, chính thức mới xảy ra trong mỗi chập tư tưởng của quá trình tâm. Như vậy, giác ngộ sự thật về quá trình tâm tức là thoát khỏi đoạn kiếnthường kiến.

 

 

The False View Of Sati

 

This identification of the doer of kammic deed with the bearer of its fruit makes it possible for us to avoid the annihilation-view. On the other hand, some people believe in the transmigration of a living being as a whole from one life to another. This mistaken view called sassataditthi (eternity-belief) was held by bhikkhu Sati in the time of the Buddha.

 

It was the Jatakas that led bhikkhu Sati to this view. He learnt how the Buddha identified himself with the leading characters in these birth stories. So he reasoned thus: the physical body of the bodhisatta disintegrated after his death and there was nothing of it that passed on to his last existence. It was only the consciousness that survived physical dissolution and that formed the hard core of the bodhisatta's personality in each of his existence. The same may be said of every other living being. Unlike the physical body, consciousness is not subject to disintegration. It passes on from one body to another and exists forever.

 

But the Jatakas underscore only the continuity of the cause and effect relationship in terms or the doer of kamma and the bearer of kammic fruit. They do not imply the transfer of vinnana or any other attribute intact from one life to another. Everything passes away but because of the causal connection, we have to assume that the hero of a Jataka story finally became Prince Siddhattha. So after questioning Sati, the Buddha says that vinnana is conditioned, that it cannot arise in the absence of its relevant cause.

 

The Buddha cites the simile of a fire which is designated according to its origin. The fire that originates with wood is called wood-fire, that which starts with grass is called grass-fire and so on. Likewise, consciousness is conditioned by something and it is labelled according to that which conditions it. Thus, the consciousness that arises from eye and visual form is called visual consciousness (cakkhu-vinnana), that which stems from ear and sound is called auditory consciousness (sota-vinnana) and so forth. In short, the consciousness is specified according to the sense-object and the sense-organ which together give rise to it. When the cause of a fire changes so does its designation. A grass-fire becomes a bush-fire when the fire spreads to the bush. In the same way, consciousness changes its label according to the sense-object and the sense-organ on which it is dependent. In the case of the same sense-object and the same sense-organ, too, it is the new consciousness that occurs at every moment in the mental process. Thus, to realize the truth about mental process is to be free from annihilation-belief whereas a false view of it leads to eternity-belief.


Đặc Tánh Riêng Của Mỗi Pháp

 

Một phương diện khác của giáo pháp duyên khởi là sự khác biệt giữa các pháp khác nhau trong chuỗi nhân quả. Như vậy, vô minh là một pháp riêng biệt, làm duyên cho hành sanh khởi. Hành là một pháp khác nữa, dẫn đến tái sanh v.v... Phân biệt sự khác nhau của những pháp này tức là hiểu mối nhân quả của chúng và sự hiểu biết này giúp ta thoát khỏi thường kiến. Nó giúp chúng ta diệt trừ ảo tưởng về cái ngã thường tồn, không thay đổi, vẫn tồn tại sau cái chết, và tiếp tục đi sang một kiếp sống khác.

 

Thực ra, thường kiến hay đoạn kiến xuất phát từ sự kiện rằng người ta có khuynh hướng cường điệu hóa sự liên quan giữa các trạng thái tâm trong hai kiếp kế nhau hoặc sự khác biệt giữa chúng. Nếu chúng ta lầm lạc đồng nhất chính chúng ta với danh sắc trong kiếp hiện tạidanh sắc trong kiếp quá khứ thì chúng ta sẽ nghiêng về niềm tin vào tánh bất tử. Nếu chúng ta cường điệu hóa sự phân đôi hai dòng danh sắc, thì chúng ta có thể rơi vào cái bẫy đoạn kiến. Thái độ đúng đắncông nhận dòng danh sắc không bị tách lìa, chảy từ kiếp sống này sang kiếp sống khác trong mối quan hệ nhân quả. Quan niệm này cho chúng ta ấn tượng về đặc tánh nhân vật của danh sắc và như vậy nó làm sáng tỏ sự tiến triển của nghiệp. Tuy nhiên, nó không ám chỉ sự chuyển sanh của danh sắc cũ hay cái ngã, nó thừa nhận sự diệt của danh sắc mới trong kiếp sống hiện tại, dựa vào nghiệp quá khứ. Quan điểm này rất quan trọng trong pháp hành minh sát. Đối với vị hành giả quán niệm danh sắc vào mỗi lúc sanh khởi của chúng, thì hai phương diện của giáo lý trở nên rõ ràng. Vị ấy biết rõ dòng nhân quả bao gồm vô minh, ái, thủ, v.v... Vị ấy biết rõ tánh chất liên tục và dòng trôi chảy không bị gián đoạn của quá trình danh sắc, và do đó vị ấy hoàn toàn phủ nhận đoạn kiến.

 

Hơn nữa, nhờ biết rõ pháp mới sanh khởi bất cứ khi nào vị ấy quán, vị ấy phân biệt được cảnh và tâm thức của vị ấy. Sự quán niệm như vậy làm cho người ta biết rõ thọ, ái, thủ, hành, thức v.v... như là những chặn riêng biệt trong quá trình tâm, và nhờ biết rõ sự sanh khởi của pháp mới, vị ấy thoát khỏi thường kiến.

Distinctive Character Of Each Phenomenon

 

Another aspect of the doctrine is the distinction between the different phenomena constituting the chain of causation. Thus avijja is a distinct phenomenon that conditions sankhara; sankhara is another different phenomenon that leads to rebirth and so on. To differentiate these phenomena is to realize their cause-and-effect relationship and this realization makes us free from eternity-belief. It helps us to do away with the illusion of a permanent, unchanging self that survives death and passes on to another existence.

 

In fact the eternity-belief or the annihilation-belief stems from the fact that people tend to over-emphasize either the connection between the mental states in two successive lives or the distinction between them. If we unintelligently identify ourselves with the nama-rupa in the present life and that in the previous life, we will be inclined to the belief in immortality. On the other hand, if we overstress the dichotomy of the nama-rupas, we are likely to fall into the trap of annihilation-view. The right attitude is to recognize the unbroken stream of nama-rupa that flows from one life to another in terms of cause and effect. This point of view gives us the impression of the individual character of nama-rupa and, as such, it clarifies the working out of kamma. It does not, however, imply the transfer of old nama-rupa or ego. It assumes the cessation of old nama-rupa and the arising of new nama-rupa in the present life on the basis of past kamma.

 

This view is crucial in vipassana practice. To the yogi who contemplates nama-rupa at every moment of their arising, these two aspects of the doctrine are apparent. He becomes aware of the stream of cause and effect comprising avijja, tanha, upadana and so forth. He is aware of the continuity, and the uninterrupted flow of nama-rupa process and, therefore, he rejects the annihilation view completely.

 

Furthermore, being aware of the new phenomenon that arises whenever he contemplates, he discriminates between the sense-object and his consciousness. Contemplation brings to light feeling, craving, clinging, effort, consciousness, etc., as distinct phases of the mental process. And because he is well aware of the arising of new phenomena, he frees himself from eternity-belief.


Không Có Sự Cố Gắng

 

Một phương diện khác của giáo lý duyên khởi là sự vắng mặt cố gắng. Vô minh tạo ra hành mà không có sự cố gắng và không có sự cố gắng nào để khiến hành tạo ra sự tái sanh.

 

Kiến thức về sự thực này có nghĩa là tuệ quán về sự không hiện hữu của bất cứ tác nhân hay chúng sanh nào (kàraka - puggalà) làm công việc nghe, thấy v.v... và nhờ vậy nó giúp chúng ta thoát khỏi ngã kiến. Nhưng theo bộ Thanh tịnh đạo, nó dễ bị hiểu lầm và khiến người ta trở thành kẻ hoài nghi, chỉ chấp nhận thuyết an bài và phủ nhận sự giải thoát.

 

Tánh chất không cố ý của pháp thuộc danh sắc trở nên rõ ràng đối với vị hành giả quán niệm tánh chất sanh diệt không ngừng của chúng, vì vị ấy thấy rõ là do vì danh sắcduyên sanh nên thân và tâm của vị ấy không phải luôn luôn hành động theo ý muốn của vị ấy.

Absence Of Effort (Avyapara)

 

Another aspect of Paticcasamuppada is the absence of effort (avyapara). Avijja causes sankhara without striving and sankhara does not strive to create rebirth. Knowledge of this fact means insight into the non-existence of any agent or being (karaka-puggala) who hears, sees, etc., and as such it makes us free from ego-belief. But as Visuddhimagga says, it lends itself to misinterpretation and turns one into a moral sceptic who accepts determinism and denies moral freedom.

 

The non-volitional nature of conditioned psycho-physical phenomena is apparent to the yogi who contemplates their ceaseless arising and dissolution for he realizes clearly that since nama-rupa is conditioned, his mind and body do not always act according to his desire.


Sự Liên Quan Giữa Nhân Và Quả

 

Phương diện cuối cùng của giáo lý duyên khởi là sự tương ứng cái này với cái kia, giữa nhân và quả (Evam dhammatà: Như thị pháp tánh lý). Mỗi nhân chỉ dẫn đến quả có liên quan. Nó không liên quan gì đến quả không tương ứng. Nói cách khác, mỗi nhân là điều kiện đủ và cần thiết cho quả tương ứng. Sự thật này phá tan niềm tin vào sự ngẫu nhiên hay sự bất lực về mặt đạo đức (akiriyaditthi: Bất tác nghiệp kiến), nhưng theo bộ Thanh tịnh đạo thì đối với những người hiểu sai nó, nó tạo ra cơ sở cho quyết định thuyết (niyàtaditthi-thuyết an bài). Đối với vị hành giả tu tập thiền quán, vị ấy thấy rõ sự liên quan của mỗi quả với nhân của nó, và nhờ vậy, vị ấy không nghi ngờ về tánh chất tương quan giữa cái này với cái kia và tánh chất hiện thực của sự giải thoát.

 

Những điểm đáng nghi nhớ về giáo lý duyên khởi, tôi đã giải thích khá chi tiết rồi. Những điều này sẽ rõ ràng đối với vị hành giả suy xét chúng qua kinh nghiệm của họ, nhưng vì giáo lý thâm sâu, họ sẽ không thể hiểu được một số vấn đề vượt ngoài tầm hiểu biết của họ. Dĩ nhiên, chỉ có Đức Phật Toàn giác mới biết thông suốt tất cả các pháp. Hành giả nên cố gắng hiểu nó càng đầy đủ càng tốt, theo khả năng hiểu biết của mình. Muốn vậy, hành giả nên học hỏi từ các vị Tỳ khưu rành mạch giáo pháp, rồi nghiền ngẫm suy xét những điều mà mình đã nghe, đã học và làm phong phú sự hiểu biết của mình qua sự thực hành minh sát.

 

Trong ba phương pháp nghiên cứu, phương pháp thứ ba (bhàvanàmaya-Tu tập pháp) là quan trọng nhất, vì nhờ tuệ quán qua phương pháp này, hành giả mới chứng được thánh đạothoát khỏi bốn khổ cảnh.

Relevancy Of Cause To Effect

 

The last aspect of Paticcasamuppada is the one-to-one correspondence between cause and effect (evam dhammata). Every cause leads only to the relevant effect; it has nothing to do with the irrelevant effect. In other words, every cause is the sufficient and necessary condition for the corresponding effect. This fact leaves no room for belief in chance or moral impotency (akiriyaditthi) but, as Visuddhimagga says, for those who misunderstand it, it provides the basis for rigid determinism (niyatavada). As for the contemplating yogi, he clearly sees the relevancy of each effect to its cause and so he has no doubt about their one-to-one correspondence and the reality of moral freedom.

 

I have dwelt at length on noteworthy facts about Paticcasamuppada. These will be clear to the yogis who consider them on the basis of their experience but as the doctrine is profound, they will not be able to grasp some facts that are beyond their intellectual level. It is of course only the omniscient Buddha who knew everything thoroughly. The yogi should make it a point to know fully as far as possible within the scope of his intellect. To this end, he should learn from the discourses of bhikkhus, reflect over what he has learnt and enrich his understanding through the practice of mindfulness.

 

Of the three methods of study, the third method (bhavanamaya) is the most important for the yogi who gains insight-knowledge by this method, attains the holy path and is liberated from the dangers of the lower worlds.


Kết Luận

Bây giờ, chúng tôi sẽ kết luận bài pháp về giáo lý duyên khởi bằng một bài giải thích về hồng danh Araham, là ân đức đứng đầu của Đức Phật.

 

Pháp duyên khởi gồm có mười hai mắc xích, bắt đầu từ vô minhkết thúc bằng tử. Trong giáo pháp này, vô minh và ái là hai nguyên nhân nòng cốt. Lại nữa, giáo lý duyên khởi gồm có hai vòng luân hồi. Vòng trước bắt đầu bằng vô minhkết thúc bằng thọ, trong khi đó vòng sau bắt đầu bằng ái và kết thúc bằng lão tử. Bởi vì buồn lo (ưu lự), đau xót (bi thương) v.v... không xảy ra trong cõi phạm thiên, nên chúng không cần thiếtxuất phát từ sự sanh (jàti), và vì vậy, không được kể vào các mắc xích trong pháp duyên khởi.

 

Hơn nữa, vòng luân hồi trước chỉ có vô minh và hành, nhưng vô minh ám chỉ ái, thủ và hành ám chỉ nghiệp hữu. Bởi vậy, tất cả năm mắc xích này hình thành những nhân quá khứ, trong khi thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ hình thành các quả hiện tại. Những mắc xích thức v.v... là những quả của nghiệp thiện hoặc bất thiện, xảy ra vào lúc thấy v.v... Vòng luân hồi sau liên quan trực tiếp đến ái, thủ và nghiệp hữu, nhưng ba nhân này bao hàm vô minh và hành, và vì vậy, cũng như trong quá khứ, vô minh, ái, thủ, hành và nghiệp hữu hình thành những nhân hiện tại để dẫn đến sự tái sanh, lão và tử trong tương lai. Những quả này cũng giống như những quả gồm thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ. Như vậy, giống như các quả hiện tại, quả tương lai cũng có năm.

 

Như vậy, có cả thảy bốn nhóm, gồm năm nhân quá khứ, năm quả hiện tại, năm nhân hiện tại và năm quả vị lai. Những nhóm này tượng trưng cho ba mối quan hệ giữa các nhân quá khứ và các quả hiện tại, giữa các quả hiện tại và nhân hiện tại và giữa các nhân hiện tại với các quả tương lai, và tánh chất tùy thuộc của các pháp rõ ràng trong những nhóm này hay trong hai mươi mắc xích nhân quả mà được gọi tên là Akàra (khía cạnh). Những mắc xích này có thể được phân nhóm trong ba luân hồi, đó là phiền não luân hồi, nghiệp luân hồi và quả luân hồi.

 

Những kẻ đã làm các việc thiện được tái sanh vào cõi người, cõi chư thiên hoặc phạm thiên, trong khi những kẻ gieo tạo nhiều ác nghiệp phải bị đọa vào các khổ cảnh. Những chúng sanh bị trôi lăn trong vòng luân hồi biết làm việc thiện chỉ khi nào họ có được thầy tốt. Thầy tốt thì khó gặp và vì vậy đa số mọi người đều có khuynh hướng làm ác và phải chịu khổ do bởi quả của những ác nghiệp ấy. Một khi được an trú trong thánh đạo, người ta không còn bị rơi vào địa ngục, nhưng vì bánh xe của nghiệp luân hồi vẫn còn quay nên ngay cả chư Phật và chư vị A-la-hán vẫn không sao tránh khỏi sự báo ứng của nghiệp trong kiếp chót của các Ngài.

 

Conclusion

 

Now we will conclude the discourse on Paticcasamuppada with a commentary on Arahant, the chief attribute of the Buddha.

 

The formula about the dependent origination consists of twelve links beginning with ignorance and ending in death. It has ignorance and craving as two root-causes and two life-cycles. The anterior cycle begins with ignorance and ends in feeling, while the posterior cycle begins with craving and ends in death and old age. Since anxiety, grief and the like do not occur in the Brahma world, they do not necessarily stem from birth (jati) and, as such, are not counted among the links of the dependent origination.

 

Furthermore, the anterior life-cycle explicitly shows only avijja and sankhara; but avijja implies tanha-upadana and sankhara implies kammabhava. So all these five links form the past causes, while vinnana, nama-rupa, ayatana, phassa and vedana form the present effects. These vinnana, etc., are the wholesome or unwholesome kammic fruits that are clearly experienced at the moment of seeing, etc. The posterior life-cycle directly concerns tanha, upadana and kammabhava but these three causes imply avijja and sankhara, and so as in the past avijja, tanha, upadana, sankhara and kammabhava represent the five present causes that lead to birth, old age and death in future. These effects are the same as those of vinnana, nama-rupa, etc. Thus, like the present effects, the future effects are also five in number.

 

So there are altogether four groups of layers of five past causes, five present effects, five present causes and five effects in the future. The layers represent three causal relations viz., the relation between the past causes and the present effects; the relation between the present effects and present causes; and the conditionality of phenomenal existence is evident in these layers or the twenty links of cause and effect which are termed //akara//. These links may be grouped in terms of vatta or cycles or rounds of defilements, viz., the cycle of defilements, the cycle of kamma and the cycle of kammic fruits which we have already explained before.

 

Those who have done good kammas pass through human, deva or Brahma worlds while those who have done evil are doomed to rebirth in the lower worlds. Living beings confined to life-cycle (samsara) get the chance to do good only when they have a good teacher. A good teacher is hard to come by and so many people are largely prone to evil deeds and subject to their kammic effects in terms of suffering. It is then said that they are overtaken by Nemesis, that they have to pay for their round of kamma. Once established on the Ariyan path, they cannot land in hell but as for the cycle of kammic fruits, even the Buddhas and Arahats are not spared kammic retribution.


Đoạn Diệt Phiền Não Luân Hồi

 

Nếu chúng ta muốn đoạn diệt ba vòng luân hồi này, chúng ta phải đoạn trừ nhân của chúng, là phiền não luân hồi. Phiền não phát khởi từ sự thấy, nghe v.v... và như vậy chúng ta phải thực hành pháp quán niệm để ngăn chặn sự sanh khởi của chúng khi chúng ta thấy, nghe v.v... Pháp chú tâmchánh niệm giúp hành giả thấy rõ tánh chất vô thườngvô ngã của tất cả pháp. Điều này có nghĩa là vị ấy không còn bị vô minh che mờ và sẽ được thoát khỏi phiền não, nghiệp và quả luân hồi.

 

Bây giờ, để tổng kết con đường dẫn đến sự đoạn diệt hoàn toàn ba luân hồi: Phiền não, nghiệp và quả, chúng tôi xin giải về những ân đức của Đức Phật.

Cutting Off The Cycle Of Defilements

 

If we wish to end the threefold cycle, we will have to remove its cause viz., the cycle of defilements. Defilements originate with seeing, hearing, etc., and so we must practise mindfulness to prevent their arising when we see, hear, etc. The practice of concentration and mindfulness makes the yogi aware of the impermanence and insubstantiality of all phenomena. This means he has no more illusion and is free from the cycle of defilements, kammas and kammic fruits.

 

Now, to sum up the way to the total conquest of the threefold cycle of defilement, kammas and kammic results with reference to the attributes of the Buddha.


A-la-hán Và Những Đức Tánh Cao Quí Của Đức Phật

 

Hồng danh đặc biệt của Đức Phật là Araham (A-la-hán) và từ này chỉ rõ những đức tánh sau đây của Đức Phật.

 

1. Đức Phật đã thoát khỏi tất cả các phiền não. Những vị A-la-hán cũng vậy, nhưng các Ngài không thoát khỏi những thói quen mà vẫn tiếp tục đi theo các Ngài ngay sau khi các Ngài chứng đạt giải thoát. Điều này được thấy rõ trong câu chuyện về trưởng lão Pilindavaccha. Trưởng lão Pilinda là một vị A-la-hán, là người được chư thiên ái kính và Đức Phật khen ngợi. Tuy nhiên vị ấy có thói quen gọi các Tỳ khưu và những thiện tín khác bằng cách xưng hô thiếu lịch sự. Một số Tỳ khưu than phiền với Đức Phật về cách gọi khiếm nhã của trưởng lão. Đức Phật giải thích rằng sở dĩ trưởng lãothói quen thiếu lịch sự như vậy vì trong nhiều kiếp, vị ấy đã sanh vào các gia đình thuộc giai cấp Bà-la-môn, nhưng đã là một vị A-la-hán rồi, trưởng lão có tâm hoàn toàn trong sạchthánh thiện.

 

Nói về Đức Phật, từ khi chứng đắc vô thượng bồ đề, Ngài đã thoát khỏi tất cả mọi thói quen tập nhiễm lưu lại từ những kiếp quá khứ. Điểm khác biệt này về tính chất trọn lành của Đức Phật đáng để chúng ta khắc ghi mỗi khi tụng niệm về ân đức của Phật.

 

2. Đức Phậtdanh hiệu Araham, bởi vì Ngài đã đoạn tận tất cả phiền não. Người ta chỉ sợ kẻ thù bên ngoài như đạo tặc, cọp, rắn v.v... Họ không quan tâm đến kẻ thù bên trong, là những phiền não khủng khiếp hơn nhiều. Trên thực tế, họ phải chịu như vậy, vì khối danh sắcphiền não trong họ vẫn tiếp tục lưu chuyển. Nguyên nhân căn bảnphiền não, chúng làm sanh khởi sự tái sanhđau khổ triền miên. Phiền não kể ra có mười: Tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến, hoài nghi, tâm uể oải, phóng dật, vô tàmvô quý.

 

3. Do ân đức về giới hạnh tối thắng, trí tuệ và sự giác ngộ của Đức Phật, Ngài xứng đáng được tôn kínhcúng dường. Chúng sanh nào tôn kínhcúng dường đến Đức Phật sẽ được thành tựu ước nguyện của mình.

 

4. Bởi vì Đức Phật đã đoạn diệt hoàn toàn tất cả phiền não, nên tâm Ngài hoàn toàn trong sạch dầu ở trước đám đông hay trong chỗ vắng vẻ. Có nhiều người làm ra vẻ đạo đức giả. Trước mặt mọi người thì làm như ta đây là trong sạch thánh thiện, nhưng ở chỗ không ai nghe hoặc thấy thì làm điều ác. Trên thực tế, không có chỗ nào kín đáo để người ta làm ác cả. Cho dù chư thiênloài người không nhìn thấy người làm ác, nhưng chính lương tâm của người ấy trông thấy, đó là sự ray rứt, giằn vặt.

 

Còn về Đức Phật, vì đã chinh phục hoàn toàn tất cả phiền não, nên tâm của Ngài luôn luôn trong sạch và Ngài hoàn toàn không có ý muốn hay ý định làm điều ác hoặc trước mọi người hoặc ở chỗ vắng vẻ.

 

5. Đức Phật đã phá tan những cái căm của bánh xe luân hồi bằng chiếc gươm của đạo quả A-la-hán. Trục bánh xe ở đây tượng trưng cho vô minh, là nguyên nhân nòng cốt, cái vành của bánh xe tượng trưng cho lão và tử, trong khi những chiếc căm tượng trưng cho những mắc xích còn lại của pháp duyên khởi, tức là hành, thức... sanh. Cũng như sự bẻ gẫy những chiếc căm, làm cho bánh xe không lăn được, sự đoạn diệt những mắc xích của pháp duyên khởi làm dừng lại bánh xe luân hồi.

 

Arahan And The Attributes Of The Buddha

 

The Buddha's special designation is Arahan and this word points to the following attributes of the Buddha.

 

(1) The Buddha was free from defilements. So were the Arahats but they were not free from the habits that continued to dominate them even after the attainment of their spiritual goal. This is evident in the story of thera Pilindavaccha. Pilinda was an Arahat, beloved of the devas and extolled by the Buddha. Yet he was in the habit of addressing his fellow bhikkhus or laymen rather rudely. Some bhikkhus complained to the Buddha about the thera's rudeness. The Buddha attributed this unpleasant habit to his having spent several lifetimes in the Brahmin families but said that being an Arahat, the thera was pure and good at heart.

 

As for the Buddha, from the time of his attainment of supreme enlightenment, he became free from all the habits or hangovers of defilements that were carried over from past lives. This distinctive mark of the Buddha's Arahatship should be borne in mind when we contemplate the Lord's attributes. The complete extinction of cycles means total liberation from the three cycles of defilements, kamma and kammic fruits.

 

(2) The Buddha was called Arahan because of his conquest of defilements. People fear only the external enemy such as robbers, snakes, etc. They do not bother about the internal enemy, that is, defilements that are more terrible. In point of fact, they have to suffer because of their mind-body complex and defilements. The root-cause is the defilements that give rise to repeated rebirths and sufferings. The defilements are ten in number viz., craving, hatred, ignorance, pride, illusion, doubt, lassitude, restlessness, shamelessness and lack of conscience.

 

(3) By virtue of his outstanding moral integrity, wisdom and enlightenment, the Buddha was worthy of reverence and offerings. People who revered or made offerings to the Buddha have their wishes fulfilled.

 

(4) Since he had conquered the defilements completely, the Buddha was pure at heart whether in public or solitude. Many people play the hypocrite, posing as good men or women in public but doing evil when there is no-one to see or hear them. In reality, there is no place where one can do evil secretly. Even though the evil-doer is not seen by men and gods, he cannot help having qualms of conscience. His conscience is the most infallible witness to his misdeeds and it forms the basis for death-bed visions that point to unpleasant life that future has in store for him.

 

As for the Buddha, having wholly conquered all the defilements, his mind was always pure and he had absolutely no desire or intention to do evil either publicly or secretly.

 

(5) The Buddha had destroyed the spokes of the wheel with the sword of the Arahatship. Here, the wheel means the cycle of life as described in the doctrine of Paticcasamuppada and the sword means the insight-knowledge of the Arahat. The axle of the wheel represents avijja, the root-cause; the fringe of the wheel stands for old age and death, while the spokes stand for the middle links, viz., sankhara, etc. Just as the removal of spokes makes it impossible for the wheel to move, so also the destruction of the middle links in the chain of conditioned phenomena means the end of the cycle of life.


Câu Chuyện Về Phạm Thiên Baka

 

Điều tiên quyết để chấm dứt vòng luân hồiđoạn diệt nguyên nhân nòng cốt của nó, tức là vô minh, vì vô minh luôn luôn dẫn theo hành, thức v.v... đến lão tử. Điều này quả là đúng trong các cõi dục cũng như ở trong các cõi phạm thiên hữu sắc.

 

Thời Đức Phật, có một vị Phạm thiên tên là Baka. Vị ấy sống rất lâu đến nhiều đại kiếp. Quả thực vậy, vị ấy sống quá lâu đến nỗi không còn nhớ những kiếp quá khứ của vị ấy, nên tin vào sự bất tử của mình, là không có sự già và chết. Đức Phật đi đến chỗ ngụ của Phạm thiên Baka để diệt trừ tà kiến của vị ấy. Vị Phạm thiên vui mừng tiếp đón Đức Phật và huênh hoang ca ngợi đời sống vĩnh cửu của mình. Đức Phật nói rằng quan niệm sai lầm của vị ấy thật là kinh khủng, đã làm cho vị ấy phủ nhận tánh chất vô thường, già và chết. Ngài chỉ ra những thiện nghiệp mà nhờ đó, vị ấy có được cuộc sống lâu dài ở cõi phạm thiên và chính sự sống lâu khôn lường này khiến vị ấy quên đi những kiếp sống quá khứ của mình, lại làm sanh khởi tà kiến về sự bất tử của vị ấy. Khi nghe qua những lời của Đức Phật, Phạm thiên Baka bèn nghĩ lại về sự toàn năng của mình. Tuy nhiên, vị ấy vẫn dương dương tự đắc và để phô trương quyền năng của mình, vị ấy cố gắng biến mất trước Đức Phật và những vị Phạm thiên khác, nhưng không thành. Do oai lực của Đức Phật, vị ấy vẫn sờ sờ ở đó.

 

Rồi Đức Phật tuyên đọc câu kệ sau đây:

 

"Bhàvevaham bhayam disvà bhavam ca vibhavesinam bhavam nàbhivadim kinci nandinca upàdiyim"

 

Ta không khen ngợi bất cứ sanh hữu nào, bởi vì ta thấy sự nguy hiểm trong đó. Ta đã từ bỏ ái dục đối với sanh hữu, bởi vì ta biết rõ sự khổ của nó.

 

Phạm thiên Baka và những vị Phạm thiên khác đã sống rất lâu đến nỗi họ cho kiếp sống và chỗ ngụ của họ là vĩnh hằng. Cũng thế, những điều khổ của đời sống thoát ra khỏi sự lưu ý của những người có nhiều may mắn trong cuộc sống, như sức khỏe, tài sản, quyền tước, sự thành công v.v... Nhưng đời sống ở cả ba cõi đều là khổ. Những vị phạm thiên ở cõi hữu sắc hoặc vô sắc có thể sống trải qua nhiều đại kiếp, nhưng cuối cùng họ cũng phải chết.

Story Of Baka Brahma

 

The first thing to do to end the life-cycle is to remove its root-cause viz., ignorance, for ignorance is invariably followed by sankhara, vinnana, etc., down to jaramarana (old age and death). This is true in the sensual worlds as well as in the material world of Brahmas.

 

Once there was a great Brahma called Baka. He outlived many world-systems (kappa); indeed he lived so long that at last he forgot his previous existences and became convinced of his immortality without old age or death. The Buddha went to his abode to remove his illusion. The Brahma welcomed the Lord and bragged about his eternal life. The Buddha said that his ignorance was appalling in that he denied impermanence, old age and death. He revealed the good deeds that had led to the Brahma's longevity and it was this fabulous longevity that had made him oblivious of his previous lives and created the illusion of his immortality. On hearing this, Baka Brahma had second thoughts about his omnipotence. Still, he was conceited and in order to show his power, he tried to vanish out of sight of the Buddha and other Brahmas but it was in vain. Because of the power of the Lord, he remained visible.

 

Then the Buddha uttered the following verse:

 

Bhavevaham bhayam disva bhavan ja vibhavesinam bhavam nabhivadim kinci nandincana upadiyim:

 

I do not extol any existence because I see danger in it. I have renounced the craving for existence because I am aware of its evil.

 

Baka Brahma and other Brahmas had lived so long that they considered their existence and their abode eternal. Likewise, the evils of life escape the notice of those who have the blessings of a good life such as health, wealth, prestige, success and so forth. But life is subject to suffering on all its three planes: sensual plane, material plane and immaterial plane. A Brahma or a rishi on the material or immaterial planes of existence may live for aeons but they too have to die eventually.


Chánh Biến Tri

 

Đó là tuệ quán dẫn đến sự đoạn diệt vô minh - là nguyên nhân nòng cốt của khổ. Đối với Đức Phật, đây là một trong những ân đức của Ngài. Sammàsambuddha là bậc giác ngộ Tứ diệu đế một cách chân chánh, thông suốtđộc lập (không nhờ vào kẻ khác). Ở đây, mười hai mắc xích của pháp duyên khởi có thể được sắp theo Tứ diệu đế.

 

Như vậy, lão và tử là đế thứ nhất, tức khổ đế, và tái sanhtập đế, sự chấm dứt của nhân này và quả này là diệt đế, và trí tuệ tỏ ngộ sự chấm dứt này là đạo đế.

 

Cách sắp xếp trên có thể áp dụng cho tái sanhnghiệp hữu, nghiệp hữu và thủ, thủ và ái, ái và thọ, thọ và xúc, xúc và lục nhập, lục nhậpdanh sắc, danh sắc và thức, thức và hành, hành và vô minh. Tóm lại, trong mười hai pháp này, pháp đứng ngay trước là tập đế và pháp đứng ngay sau là khổ đế. Chúng ta cũng có thể lấy vô minh làm khổ đế nếu chúng ta xem nó là quả của lậu hoặc, tức là: Dục lậu, hữu lậu, kiến lậuvô minh lậu.

 

Ở đây, sự đồng nhất ái với khổ có thể không được chấp nhận đối với một số người. Nhưng điều ấy vẫn hợp lý nếu chúng ta nhớ lại sự kiện rằng tất cả danh sắc bao gồm ái có nghĩa là khổ, bởi vì nó chịu sự vô thường. Chú giải không mô tả vô minh là khổ. Nhưng chúng ta có thể nói vô minh là khổ sanh lên từ lậu hoặc, hoặc có nguồn gốc ở dục ái, sự tham luyến đời sống, tà kiếnvô minh. Chính vô minh trong quá khứ làm sanh khởi vô minh trong hiện tại. Do đó, các lậu hoặc có thể được xem là nguyên nhân của vô minh.

 

Bởi vậy, sau khi giác ngộ Tứ diệu đế và chứng đạt Niết-bàn, qua sự chứng ngộ của chính Ngài, Đức Phậthồng danh cao quí mà tất cả chúng sanh chẳng ai có được, đó là Sammàsambuddha. Ngài biết rằng tất cả pháp được bao trùm bởi giáo lý duyên khởi đều là khổ và nguyên nhân của khổ. Ngài đã sáng suốt hoàn toàn, không còn ái chấpthoát khỏi mọi triền phược. Bởi vậy, theo bộ Thanh tịnh đạo, Ngài được gọi là Araham, bởi Ngài đã tinh tấn đoạn trừ tất cả những yếu tố phụ trợ của bánh xe luân hồi.

 

Sammasambuddha

 

It is insight knowledge that leads to the destruction of ignorance which is the root-cause of suffering. For the Buddha, this means the attribute of sammasambuddha. Sammasambuddha is one who knows the Four Noble Truths rightly, thoroughly and independently. Here the twelve links of Paticcasamuppada may be differentiated in terms of the Four Noble Truths.

 

Thus, old age and death together means the first truth of suffering and rebirth means the truth about the cause of suffering. The cessation of this cause and this effect means the truth about the cessation (nirodha) and, knowledge of this cessation means the truth about the path to it (magga).

 

The same may be said of rebirth and kammic cause, kammic cause and clinging, clinging and craving, craving and feeling, feeling and contact, contact and six senses, the senses and nama-rupa, nama-rupa and consciousness, consciousness and sankhara, and sankhara and ignorance. In short, what immediately precedes a link is termed its cause (samudaya) and what immediately follows is called its effect (dukkha sacca). We can even make ignorance (avijja), the origin of life-cycle, synonymous with truth about suffering (dukkha sacca); if we regard it as an effect of the attachment (asava) viz., attachment to sensual pleasure, existence, belief and ignorance.

 

Here, the identification of tanha with dukkha may not be acceptable to some people. But it is reasonable if we remember the fact that all nama-rupa including tanha means dukkha since it is subject to impermanence. The commentary does not describe avijja as dukkha, but we can say it is dukkha arising from asava (biases). There are four asavas that have their sources in sensual craving, attachment to life, false belief and ignorance. It is a matter of ignorance in the past again giving rise to ignorance in the present. Hence, the asavas may be regarded as the cause of avijja.

 

So having realized the Four Noble Truths and attained Nibbana, through his own enlightenment, the Buddha earned the unique and glorious title of Sammasambuddha. He knew that all the phenomena covered by the doctrine of Paticcasamuppada are the real dukkha and the causes of dukkha. He was disenchanted, had no attachment and achieved liberation from all fetters. So according to Visuddhimagga, he was called Arahan because he managed to destroy completely all the supports of the wheel of life.


Danh Tiếng Của Đức Phật

 

Danh tiếng của Đức Phật lan rộng khắp thế giới Sa bà. Danh tiếng ấy truyền đi khắp mọi nơi trong vũ trụ, qua những chúng sanh cư ngụ ở một số cõi mà đã đến nghe Phật thuyết pháp và qua những bài pháp mà chính Đức Phật đã thuyết ở một số cõi hoặc qua những đệ tử trước kia của Ngài đã tái sanh vào một số cõi cao sau khi nghe những bài pháp của Ngài.

 

Danh tiếng của Đức Phật truyền đi ngoài cách trên, còn có hai cách khác nữa. Trong thời gian luân hồi dai dẳng, Bồ-tát đã từng đến ở tất cả các cõi ngoài cõi Ngũ tịnh cư, là cõi chỉ dành cho những bậc đã chứng quả thánh A-na-hàm. Bồ tát chỉ chứng đắc bốn tầng thánh ở kiếp chót của Ngài. Bởi vậy, Đức Phật trước khi thành đạo, Ngài chưa bao giờ đến cõi Ngũ tịnh cư. Nhưng khi đã thành đạo rồi, Ngài đã có lần đến đó bằng phương tiện thần thông của Ngài. Khi đến tại cõi ấy, Đức Phật được cung kính đón tiếp bởi hằng triệu vị phạm thiên, họ đã kể cho Ngài nghe về những vị Phật quá khứ và nói rằng sự tái sanh vào Tịnh cư thiên của họ là do sự chứng đắc quả thánh A-na-hàm. Trong số những vị phạm thiên này, cũng có những vị đã thực hành theo giáo pháp của Đức Phật.

 

Đức Phật đã đến viếng tất cả năm cõi Tịnh cư thiên. Danh tiếng của Ngài vang khắp các cõi mà có những đệ tử trước kia của Ngài trú ngụ là điều dễ thấy. Những câu hỏi đặt ra là làm thế nào mà danh tiếng của Ngài thấu đến các cõi Phạm thiên vô sắc. Việc các vị Phạm thiên vô sắc đi đến Đức Phật hoặc Đức Phật đi đến họ là điều không thể xảy ra được. Những người đã thực hành giáo pháp của Đức Phật ở trong cõi dục hoặc cõi hữu sắc, đã chứng ba tầng thánh đầu tiên và chết bằng tâm thiền vô sắc thì có thể tái sanh vào cõi vô sắc nếu họ muốn như vậy. Những vị thánh này biết rõ những ân đức cao quí của Đức Phật và khả năng chứng đắc những tuệ quán mới qua sự thực hành chánh niệm. Như vậy, qua pháp niệm về tất cả danh pháp, cuối cùng họ chứng đắc đạo quả A-la-hán và nhập diệt ở cõi thức vô biên xứ hoặc cõi vô sở hữu xứ hoặc cõi cao nhất, là phi tưởng phi phi tưởng xứ. Bằng cách này, danh tiếng của Đức Phật lan rộng khắp cõi Sa-bà.

 

The Fame Of The Buddha

 

The fame of the Buddha pervaded the whole universe. It spread to all parts of the universe through the inhabitants of some realms who came to hear the Buddha's sermons or through the sermons which the Buddha himself gave in some realms or through the former disciples who had landed in some higher realms after hearing the sermons.

 

We need not dwell on the first way in which the fame of the Buddha spread. As regards the other two ways, in the course of his long wanderings in samsara, the bodhisatta had been to all the realms except the five suddhavasa realms which are meant only for those who have attained anagami stage. The bodhisatta usually attains all the four stages on the path only in his last existence. So the Buddha had never been to suddhavasa realm before and on one occasion he paid a visit to it by means of his psychic powers. On arriving there, he received the homage of millions of brahmas, who told him about the former Buddhas and their landing in suddhavasa realm as the result of their attainment of anagami stage. Among these brahmas, there were also those who had practised the dhamma as disciples of Gotama Buddha.

 

The Buddha visited all the five suddhavasa realms. It is easy to see how he became famous in the realms that were the abodes of his former disciples. But the question arises as to how his fame spread to the formless (arupa) realms. It was not possible for the formless brahmas to come to the Buddha or for the Buddha to go to them. Those who practised the Buddha-dhamma in the sensual or the material world, attaining the first three stages on the path and dying with arupa (formless) jhana might land in the formless worlds if they so desired. These noble ones were aware of the sublime attributes of the Buddha and the possibility of attaining new insights through the practice of mindfulness. So through mindfulness of all mental events, they finally became Arahats and passed away in vinnanancayatana realm or akincannayatana realm or the highest realm called Nevasannanasannayatana. In this way, the fame of the Buddha spread throughout the whole universe.


Tứ Diệu Đế Tóm Lược

 

Chúng tôi đã bàn chi tiết về trí tuệ tỏ thông Tứ diệu đế của Đức Phật liên quan đến ân đức Chánh biến tri. Bây giờ chúng tôi sẽ tóm lược Tứ diệu đế. Theo các bài kinh, tất cả danh sắc ở trong các cõi dục, sắc và vô sắc, ngoại trừ ái, đều tạo thành khổ đế. Đây là đế thứ nhất. Ái là nguyên nhân của khổ, là đế thứ hai. Niết-bàn là sự chấm dứt khổ, là đế thứ ba. Thánh đạocon đường dẫn đến sự chấp dứt, là đế thứ tư. Bốn thánh đế này được hành giả thực chứng qua pháp hành minh sát. Qua thực nghiệm, vị ấy biết rằng tất cả cái gì sanh diệt đều là khổ, sự luyến ái theo chúng là nguyên nhân, sự chấm dứt khổ và nguyên nhân của nó là Niết-bàn, và sự chứng đắc Niết-bàn là đạo.

 

The Four Noble Truths In Brief

 

We have dealt in detail with the Buddha's knowledge of the Four Noble Truths vis-a-vis his attribute of Sammasambuddha. We will now repeat the four truths briefly. According to the scriptures, all the nama-rupa in the sensual, material and immaterial worlds, exclusive of tanha, constitute dukkha. This is the first truth. Tanha as the cause of dukkha is the second truth. Nibbana as the cessation of dukkha is the third truth, and the Ariyan path as the way to cessation is the fourth truth. These Four Noble Truths are realized experientially by the yogi through the practice of vipassana. From experience he knows that all that is arising and passing away mean dukkha, attachment to them is the cause, that cessation of both the dukkha and its cause is Nibbana, and that its attainment is the path.


Chánh Biến TriĐạo Quả Phật

 

Cả hai từ Pàli "Buddha" và "Sammàsambuddha" đều có nghĩa là sự toàn tri hay trí tuệ biết rõ tất cả các pháp. Câu hỏi là làm sao chỉ ra sự khác biệt giữa hai từ trên. Về ân đức Sammàsambuddha, chúng ta nên hiểu rằng Bồ tát chứng đắc quả Phật dựa vào sự quán xét độc lập, còn sự tinh tấn và sự giác ngộ Tứ diệu đế thì qua A-la-hán đạo tuệ. Đạo quả Phật có nghĩa là trí tuệ thông suốt các pháp hữu vivô vi, dựa vào những ân đức vô song của Đức Phật như nhất thiết trí (Sabbannutànàna) v.v...

 

Những ân đức vô song này của Đức Phật được tìm thấytrí tuệ về Tứ diệu đế, bốn loại tuệ phân tích và sáu loại trí mà được gọi là bất cộng trí (những loại trí mà các thánh đệ tử không thể có được). Sáu bất cộng trí là:

 

1. Trí biết rõ những cấp độ tâm linh và phước tội khác nhau của chúng sanh.

 

2. Trí biết rõ những ước muốn, những thiên hướng và những khuynh hướng chưa bộc phát (tùy miên) của chúng sanh.

 

3. Song biến trí - tức khả năng thị hiện song thông.

 

4. Tâm bi mẫn vô lượng đối với tất cả chúng sanh.

 

5. Nhất thiết trí.

 

6. Trí vô ngại đối với bất cứ điều gì mà Đức Phật muốn biết hoặc cho người khác biết.

 

Bây giờ, xin nói về pháp hữu vi (sankhàra) và pháp vô vi (asankhàra). Pháp hữu vidanh sắc hay ngũ uẩn, sanh khởi do sự kết hợp hài hòa của những yếu tốliên quan. Nói cách khác, chúng là những pháp được tạo duyên bởi những điều kiện thích hợp. Như vậy, âm thanh được tạo ra khi có sự cọ sát giữa hai vật rắn như cây củi hoặc thanh sắt. Ở đây, âm thanhpháp hữu vi. Trái ngược với pháp hữu vipháp vô vi, đó là pháp không liên quan gì đến các nhân. Hiện thực cùng tột duy nhất (paramattha) trong loại pháp vô vi là Niết-bàn. Trong những pháp vô vi phi thực tại cùng tột, có nhiều loại tên gọi như tên gọi về những hình thể, hình vật v.v...

 

Nhất thiết trí của Đức Phật được gọi như vậy bởi vì nó bao trùm cả pháp hữu vi lẫn vô vi. Toàn bộ pháp hữu vivô vi gồm có: Hành (sankhàra), những đặc tánh riêng của một số sắc pháp (nipphanna), những đặc tánh có điều kiện của danh sắc, Niết-bàn và các tên gọi (names).

 

Hai đức tánh đầu tiên của Đức Phật hình thành trí tuệ biết rõ những cấp độ tâm linh khác nhau, những sở thích và những căn cơ (khuynh hướng tiềm ẩn) của chúng sanh, trí tuệ ấy được gọi là Phật nhãn (Buddha cakkhu). Bằng Phật nhãn này, Đức Phật trông thấy những chúng sanh có khả năng giác ngộ và đến thuyết pháp cho họ.

 

Sở dĩ chúng tôi kết luận bài trình bày về pháp duyên khởi bằng những ân đức của Phật, bởi vì chúng tôi muốn độc giả khởi niềm tin nơi Đức Phật. Chúng tôi mong rằng quí độc giả cũng sẽ tìm thấy nguồn cảm hứng nơi các vị A-la-hán, là những bậc cũng xứng đáng với hồng danh Araham. Vị A-la-hán hoàn toàn thoát khỏi phiền não, đã phá tan bánh xe sanh tử, không có chỗ kín đáo nào để vị ấy làm điều ác và vì vậy vị A-la-hán xứng đáng được tôn kính cúng dường. Những đức tánh này tạo nên hồng danh Araham.

 

Bởi vậy, quí vị nên cố gắng đoạn diệt phiền não qua pháp niệm về quá trình danh sắc sanh khởi từ sáu môn, hãy đoạn diệt những yếu tố phụ trợ của bánh xe sanh tử và giữ tâm thanh tịnh luôn luôn, nhờ thế mà cuối cùng quí vị sẽ trở thành những bậc A-la-hán và có được hồng danh cao quí Araham. 

Sammasambuddha And Buddhahood

 

Both of the two Pali terms viz., Buddha and Sammasambuddha mean omniscience or knowledge of all the dhammas. This raises the question of how to make a distinction between the two attributes connected by the two terms. By the attribute of sammasambuddha, we are to understand that the bodhisatta attained Buddhahood on the basis of independent reflection, and effort and the realization of the Four Noble Truths through insight on the path of Arahatship. Buddhahood means the thorough and exhaustive knowledge of all the conditioned and the unconditioned dhammas on the basis of the unique attributes possessed by the Buddha such as omniscience (sabbannutanana), etc.

 

These unique attributes of the Buddha consist in knowledge of the Four Noble Truths, four kinds of analytical knowledge and six kinds of knowledge that are not to be found among disciples (asadharananana). The six asadharananana are: (1) knowledge of the different moral and spiritual levels of living beings, (2) knowledge of the desires, inclinations and latent tendencies (anusaya) of living beings, (3) the power to create super-miracles (yamakapatihariyanana), (4) infinite compassion for all living beings, (5) omniscience, and (6) knowledge without any hindrance or obstruction of anything which the Buddha wants to know and which he brings into the focus of his attention.

 

Now a few words about the conditioned (sankhara) and unconditioned (asankhara) dhammas. The sankharas are the nama-rupa or the five aggregates of khandhas that arise owing to the harmonious combination of relevant factors. In other words, they are the phenomena conditioned by favourable circumstances. Thus, sound is produced when there is friction between two hard objects such as sticks or iron bars. Here sound is sankhara. As opposed to sankhara is asankhara which has nothing to do with causes. The only ultimate reality (paramattha) in the category of asankhara dhammas is Nibbana. Of the non-paramattha asankharas there are many kinds of names such as names of shapes, figures and so forth.

 

The Buddha's sabbannutanana is so called because it encompasses the whole range of conditioned and unconditioned dhammas. It is also described in terms of the five neyyadhamma viz., the sankhara, the distinctive qualities of certain rupas (nipphanna), the conditioned characteristics of nama-rupa, Nibbana and names.

 

The first two attributes of the Buddha forming the knowledge of the different spiritual levels, inclinations and latent tendencies of living beings are labelled Buddha-eye (Buddha-cakkhu). With this all-seeing eye, the Buddha chose the living beings who ought to be enlightened, and preached to them the appropriate dhamma at the appropriate moment.

 

We conclude the discourse on the Paticcasamuppada with the commentary on the attributes of the Buddha (Arahan) because we wish to inspire the readers with faith in the Blessed One. We hope that they will find the source of inspiration too, in the Arahats who also possess the Arahan attribute. The Arahat is wholly free from defilements, he has destroyed the framework of life-cycle; there is no secret place where he will do evil and so he is worthy of honour. These are the qualities that make up his Arahan attribute although this attribute as possessed by the ordinary Arahat is below the superlative Arahan attribute of the Buddha.

 

So you should try to overcome defilements through mindfulness of the nama-rupa processes that arise at the six sense-doors, destroy the supports of the wheel of life and keep your mind pure all the time in order that you may eventually become Arahats and earn the glorious title of Arahan.


Tổng Kết

 

Từ hai nguyên nhân nòng cốt được nói đến trong hai thánh đế, có sanh khởi 4 nhóm, 3 luân hồi, 3 sự nối, 12 mắc xích, 3 thời, 20 pháp và năm quá trình danh sắc. Người nào quan sát thấy rõ những quá trình cho quả hiện tại này sẽ không khởi sanh tham ái, mà nguyên nhân của nó là thọ, và nhờ vậy, vị ấy sẽ chấm dứt hoàn toàn vòng luân hồi.

 

Nói cách khác, vị hành giả quan sát mỗi quá trình danh sắc đang khởi sanh từ sáu căn tức là thấy rõ tánh chất vô thường, khổ và vô ngã của chúng. Qua sự thực hành pháp niệm một cách hiệu quả như vậy, hành giả đạt được tuệ quán về bản chất của các cảnh như sắc, thinh v.v... và chinh phục được sự ái luyến các cảnh ấy bằng sự đoạn trừ từng phần. Chấm dứt ái làm cho những pháp khác cũng hết sanh khởi, những pháp khác là thủ, hữu, tái sanh v.v... Sau sự chấm dứt này qua tuệ quán Vipassanà, hành giả diệt được ái ngũ ngầm qua sự đoạn diệt hoàn toàn khi đó vị ấy chứng đắc thánh đạo. Vào lúc này, những pháp khác như thủ v.v... cũng hoàn toàn diệt tắt.

 

Không có giáo lý nào mà nói rằng: Do thọ diệt, ái cũng diệt. Điều này không có gì lạ, bởi vì ngay cả những vị A-la-hán cũng không ngăn chặn được các thọ khi chúng khởi sanh do sự tiếp xúc của căn và cảnh.

 

Có những pháp thuộc danh sắc cần được quan sátthấy như thật bản chất của chúng, là vô thường, khổ và vô ngã, nếu hành giả muốn đoạn trừ các nhân hiện tại, như ái v.v... những quả tương lai và muốn chấm dứt vòng đau khổ. Những pháp này, với cái tên bằng Pàli, được giải thích như sau:

 

- Thức (Vinnàna): gồm có 6 loại: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thứcý thức.

 

- Danh pháp (Nàma): là các sỡ hữu sanh khởi chung với thức.

 

- Sắc (Rùpa): sanh chung với thức ấy. Nàma - rùpa có thể dịch là tâm và vật chất.

 

- Lục nhập (Salàyatana): là sáu chỗ làm nền tảng cho sự hoạt động của tâm, đó là sáu nội xứ, gồm thức và năm cơ quan xúc giác, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân và sáu ngoại xứ gồm: hình sắc, âm thanh, mùi, vị, vật xúc chạm và cảnh của tâm.

 

- Xúc (Phassa): gồm có sáu loại: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc.

 

- Thọ (Vedanà): gồm có ba loại: Thọ lạc, thọ khổ và thọ xả. Chúng ta cũng có thể phân ra sáu loại thọ: Thọ kết hợp với sự thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm của thân và thọ do sự xúc chạm của ý.

 

Hai nhân chính yếu:

 

Vô minh và ái.

 

Hai chân lý:

 

Chân lý về khổ và chân lý về nguyên nhân của khổ (ái).

 

Bốn nhóm:

 

1- Nhóm gồm những nhân quá khứ: Vô minh, nghiệp hành, ái, thủ và nghiệp hữu.
2- Nhóm gồm những quả hiện tại: Thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ.
3- Nhóm gồm những nhân hiện tại: Ái, thủ, nghiệp hữu, vô minhnghiệp hành.
4- Quả tương lai: Sanh, lão, tử v.v...

 

Ba luân hồi:

 

1- Phiền não luân hồi: vô minh, ái, thủ.
2- Nghiệp luân hồi: nghiệp hànhnghiệp hữu.
3- Quả luân hồi: thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, sanh, lão và tử.

 

Ba sự nối:

 

1- Sự nối giữa nghiệp hành là nhân quá khứ và thức là quả hiện tại.
2- Sự nối giữa thọ là quả hiện tại và ái là nhân hiện tại.
3- Sự nối giữa hữu là nhân hiện tại và sanh là quả tương lai.

 

Mười hai mắc xích:

 

1- Vô minh.
2- Nghiệp hành.
3- Thức.
4- Danh sắc.
5- Lục nhập.
6- Xúc.
7- Thọ.
8- Ái.
9- Thủ.
10- Nghiệp hữu.
11- Sanh.
12- Lão và tử.

 

Ba thời:

 

1- Quá khứ bất định: Vô minhnghiệp hành.
2- Hiện tại bất định: Thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, quá trình nghiệp.
3- Tương lai bất định: Tái sanh, lão và tử.

 

Hai mươi yếu tố:

 

- Năm yếu tố của quá trình tạo nhân trong kiếp quá khứ.
- Năm yếu tố của quá trình cho quả trong kiếp hiện tại.
- Năm yếu tố của quá trình tạo nhân trong kiếp hiện tại.
- Năm yếu tố của quá trình cho quả trong kiếp vị tại.

 

 

SUMMARY

 

From the two root-causes referred to in the two noble truths there arise four layers, three cycles, three connections, twelve links, three time-dimensions, twenty phenomena and five nama-rupa processes. One who watches these present resultant processes effectively does not have craving that is rooted in feeling and so he will put an end to life-cycle completely.

 

In other words, the yogi watches every psycho-physical event that occurs at the six senses clearly in terms of its impermanence, unsatisfactoriness and egolessness.

 

Through such effective practice of mindfulness, the yogi gains insight into the nature of the sense-object such as sound, visual form, etc., and overcomes the attachment to it by the opposite (tadanga), that is, he overcomes it by opposing it with the knowledge that undercuts it. The cessation of attachment rules out the arising of the other phenomena e.g. clinging, process of becoming, rebirth, etc. After this cessation through vipassana insight, the yogi overcomes the latent attachment completely through destruction (samuccheda) when he attains the insight knowledge on the Ariyan path. At this moment the other phenomena e.g. clinging, etc., also become totally extinct.

 

There is no teaching which says that with the extinction of feeling, craving too ceases to exist. This is no wonder for even the Arahats do not have any control over their feelings that arise from contact with the six senses.

 

There are certain psycho-physical phenomena that have to be watched and noted as they really are i.e. in terms of anicca, dukkha and anatta if the yogi wants to remove the present causes such as tanha etc., the future results and end the cycle of suffering. These phenomena with their Pali terms are explained below.

 

(1) Vinnana: consciousness, which is of six kinds viz., eye-consciousness, ear-consciousness, nose-consciousness, tongue-consciousness, body-consciousness and mind-consciousness.

 

(2) Nama: mental factors (cetasikas) that arise together with consciousness. Rupa: the physical phenomena that arises together with that consciousness. Nama-rupa may be translated as mind and matter.

 

(3) Salayatana: the six bases of mental activity, that is, the six internal bases comprising the consciousness and the five physical sense-organs viz., eye, ear, nose, tongue and body and the six external bases viz., visible object, sound, odour, sap or gustative object, body-impression and mind-object.

 

(4) Phassa: contact or impression, which is of six kinds viz., visual impression, impression of hearing, of smelling, of tasting, bodily impression and mental impression.

 

(5) Vedana: feelings which is of three kinds viz., pleasant feeling, unpleasant feeling and indifferent feeling. We may also distinguish six kinds of feelings: feelings associated with seeing, hearing, smelling, tasting, body-impression and mental impression.

 

1. Two root-causes:

 

Ignorance (avijja) and craving (tanha).

 

2. Two truths:

 

Truth about the cause (craving) and truth about suffering (dukkha).

 

3. Four layers:

 

(1) The layer of the past cause - ignorance, kamma formations (sankhara), craving, clinging and becoming.

 

(2) The layer of present result - consciousness, mind-body complex, six bases of mental activity, impression, feeling.

 

(3) The layer of present cause - craving, clinging, kamma, becoming, ignorance, kamma formations (sankhara).

 

(4) Future result - birth, old age, death, consciousness, etc.

 

4. Three cycles:

 

(1) The cycle of defilements - ignorance, craving, clinging.

 

(2) The cycle of kamma - kamma formations (sankhara), kamma and becoming.

 

(3) The cycle of kammic results - consciousness, mind-body complex, six bases of mental activity, impression, feeling, birth, old age and death.

 

5. Three connections:

 

(1) The connection between the past kamma formations (sankhara) as the past cause and consciousness as the present result.

 

(2) The connection between feeling as the present result and craving as the present cause.

 

(3) The connection between becoming as the present cause and birth as the future result.

 

6. Twelve links:

 

(1) ignorance (2) kamma formations (3) consciousness (4) mental and physical phenomena (5) six bases (6) impression (7) feeling (8) craving (9) clinging (10) becoming (11) rebirth (12) old age and death

 

7. Three time-dimensions:

 

(1) The infinite past - ignorance and kamma formations.

 

(2) The infinite present - consciousness, mind-body complex, six bases, impression, feeling, craving, clinging, kamma-process.

 

(3) The infinite future - rebirth, old age and death.

 

8. Twenty elements:

 

(1) Five elements of the causative process in the past existence.

 

(2) Five elements of the resultant process in the present existence.

 

(3) Five elements of the causative process in the present existence.

 

(4) Five elements of the resultant process in the future existence.

__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 434)
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 702)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 835)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 700)
03 Tháng Tư 202011:37 CH(Xem: 162)
Có thể nói, sự hiểu biết quan trọng nhất trong cuộc sống là sự hiểu biết về bản chất thực của hiện hữu, một sự hiểu biết có thể trả lời được những câu hỏi sau một cách hợp lý: - Tại sao chúng ta sanh ra? - Chúng ta đi vào hiện hữu hiện nay như thế nào? - Điều quan trọng nhất phải làm trong cuộc đời này là gì? - Thế nào là chết?
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 249)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 250)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 205)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
27 Tháng Ba 20203:30 CH(Xem: 199)
TRÌNH BÀY TÓM LƯỢC 4 CÕI - Trong 4 loại ấy, gọi là 4 cõi. Tức là cõi khổ, cõi vui, Dục-giới, Sắc-giới, cõi Vô-sắc-giới. NÓI VỀ 4 CÕI KHỔ - Trong nhóm 4 cõi ấy, cõi khổ cũng có 4 là: địa ngục, Bàng sanh, Ngạ quỉ và Atula. NÓI VỀ 7 CÕI VUI DỤC GIỚI -
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 244)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
24 Tháng Ba 20202:32 CH(Xem: 227)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Đức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận - Khināsava, bậc đã đoạn trừ mọi lậu hoặc. Chính vì thế, người đi tìm chân lý cần phải hiểu rõ những lậu hoặc này là gì, và làm cách nào để loại trừ được nó.
23 Tháng Ba 20203:56 CH(Xem: 259)
Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chímục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được
22 Tháng Ba 20209:08 CH(Xem: 237)
Everyone is aware of the benefits of physical training. However, we are not merely bodies, we also possess a mind which needs training. Mind training or meditation is the key to self-mastery and to that contentment which brings happiness. Of all forces the force of the mind is the most potent. It is a power by itself. To understand the real nature
21 Tháng Ba 20209:58 CH(Xem: 254)
Chúng ta lấy làm phấn khởi mà nhận thấy rằng hiện nay càng ngày người ta càng thích thú quan tâm đến pháp hành thiền, nhất là trong giới người Tây phương, và pháp môn nầy đang phát triễn mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học khuyên
20 Tháng Ba 20208:30 CH(Xem: 219)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc
17 Tháng Ba 20205:51 CH(Xem: 351)
Mindfulness with Breathing is a meditation technique anchored In our breathing, it is an exquisite tool for exploring life through subtle awareness and active investigation of the breathing and life. The breath is life, to stop breathing is to die. The breath is vital, natural, soothing, revealing. It is our constant companion. Wherever we go,
16 Tháng Ba 20204:16 CH(Xem: 333)
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thởđời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện.
15 Tháng Ba 202012:00 CH(Xem: 271)
Phật giáođạo Phật là những giáo lý và sự tu tập để dẫn tới mục tiêu rốt ráo của nó là giác ngộgiải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, (a) mọi người thế tục đều đang sống trong các cộng đồng dân cư, trong các tập thể, đoàn thể, và trong xã hội; và (b) những người xuất gia dù đã bỏ tục đi tu nhưng họ vẫn đang sống tu
13 Tháng Ba 20209:16 CH(Xem: 259)
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số người xem thiền như là một thứ có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem nó như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh,
12 Tháng Ba 20209:36 SA(Xem: 379)
Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipaṭṭhāna được xem là bài kinh quan trọng nhất trên phương diện thực hành thiền Phật giáo. Các thiền phái Minh Sát, dù khác nhau về đối tượng quán niệm, vẫn không xa khỏi bốn lĩnh vực: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp mà Đức Phật
10 Tháng Ba 20202:09 CH(Xem: 340)
Giới học thiền ở nước ta mấy thập niên gần đây đã bắt đầu làm quen với thiền Vipassanā. Số lượng sách báo về chuyên đề này được dịch và viết tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta đã thấy tính chất phong phú đa dạng của Thiền Minh Sát hay còn gọi là Thiền Tuệ hoặc Thiền Quán này. Thiền Vipassanā luôn có một nguyên tắc nhất quán
10 Tháng Ba 202010:20 SA(Xem: 333)
Trong tất cả các thiền sư cận đại, bà Achaan Naeb là một thiền sư đặc biệt hơn cả. Bà là một nữ cư sĩ đã từng dạy thiền, dạy đạo cho các bậc cao tăng, trong đó có cả ngài Hộ Tông, Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cũng đã từng theo học thiền với bà một thời gian. Năm 44 tuổi, Bà đã bắt đầu dạy thiền
08 Tháng Ba 202011:08 SA(Xem: 285)
A.B.: Đầu tiên, khi họ hỏi Sư: “Sư có muốn nhận giải thưởng này không?” và Sư đã đồng ý. Nhưng phản ứng đầu tiên ngay sau đó là: “Tại sao Sư lại muốn nhận giải thưởng này? Sư là một nhà Sư Phật Giáo, đây là việc một nhà Sư (cần phải) làm. Là một nhà Sư, chúng ta đi truyền giáo, đi phục vụ, và chúng ta không nhất thiết phải đòi hỏi
07 Tháng Ba 20205:16 CH(Xem: 363)
Biên tập từ các bài pháp thoại của ngài Thiền sư Ajahn Brahmavamso trong khóa thiền tích cực 9 ngày, vào tháng 12-1997, tại North Perth, Tây Úc. Nguyên tác Anh ngữ được ấn tống lần đầu tiên năm 1998, đến năm 2003 đã được tái bản 7 lần, tổng cộng 60 ngàn quyển. Ngoài ra, tập sách này cũng đã được dịch sang tiếng Sinhala
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 728)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2309)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3701)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
03 Tháng Tư 202011:37 CH(Xem: 162)
Có thể nói, sự hiểu biết quan trọng nhất trong cuộc sống là sự hiểu biết về bản chất thực của hiện hữu, một sự hiểu biết có thể trả lời được những câu hỏi sau một cách hợp lý: - Tại sao chúng ta sanh ra? - Chúng ta đi vào hiện hữu hiện nay như thế nào? - Điều quan trọng nhất phải làm trong cuộc đời này là gì? - Thế nào là chết?
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 249)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 250)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 379)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 552)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 529)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 739)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 919)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 6057)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;