Chương 1 - Chapter 1

16 Tháng Hai 20203:14 CH(Xem: 210)
Chương 1 - Chapter 1

Thiền Vipassana, Những Bài Giảng Về Thiền Minh Sát
Vipassana Meditation, Lectures On Insight Meditation
Venerable Chanmyay Sayadaw U Janakabhivamsa
Diệu Tâm Phan Minh Nguyệt dịch Việt
Nguồn: myanmarnet.net, abhidhamma.com, budsas.org
 
____________________
VipassanaMeditation_A
 MỤC LỤC CHƯƠNG 1 - CONTENTS OF CHAPTER 1

Chương 1. Hạnh phúc nhờ sự hiểu biết đúng đắn

1) Nguyên nhân của khổ

2) Nguyên nhân của quan niệm sai lầm

3) Nhận diện mọi pháp nhu chúng đang là

4) Sự nhận thức không chọn lựa

5) Đặt tên

6) Samatha và Vipassana (Thiền chỉ và Thiền quán)

7) Sự thực chứng Tứ Diệu Đế - Bát chính đạo

Chapter 1 - Happiness Through Right Understanding

1 - The Cause Of Suffering

2 - The Cause Of False View

3 - See It As It Is

4 - Choiceless Awareness

5 - Labelling

6 - Samatha And Vipassana

7 - Realization Of The Noble Truths


 CHƯƠNG 1 - CHAPTER 1

CHƯƠNG 1. HẠNH PHÚC NHỜ SỰ HIỂU BIẾT ĐÚNG ĐẮN

 

Tất cả mọi người trên thế giới đều muốn hạnh phúc và hoà bình. Đây là lý do tại sao con người đang tìm kiếm con đường chân thật dẫn họ tới sự chấm dứt khổ đau. Tất cả tôn giáo trên thế giới ra đời đều vì cuộc tìm kiếm này. Một tôn giáo lớn trên thế giớiĐạo Phật, nó dẫn con người tới sự chấm dứt khổ đau.

NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMASAMBUDDHASSA

 

CHAPTER ONE: HAPPINESS THROUGH RIGHT UNDERSTANDING

 

Everybody in the world wants happiness and peace. This is the reason why people are seeking the true path which leads them to the cessation of suffering. All kinds of religions in the world arise because of this search. One great religion in the world is Buddhism, it leads people to the cessation of suffering.


Nguyên nhân của khổ

 

Đức Phật Tổ đã tìm ra nguyên nhân của khổ (dukkha). Theo lời dạy của Ngài, tất cả mọi sự vật ra đời đều phụ thuộc vào các điều kiện (nhân duyên). Tất cả mọi sự vật trên thế giới này đều có nguyên nhân của nó; không có gì xuất hiện mà lại không có một nguyên nhân. Khi Đức Phật muốn thoát khỏi khổ đau (dukkha), Ngài phải tìm ra nguyên nhân của nó. Khi nguyên nhân của khổ đã bị xoá bỏ thì sẽ không còn một quả khổ nào nữa. Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ, Ngài phát hiện ra nguyên nhân của khổ là tham ái, vướng mắc (tanha - tập đế). Từ "tanha" có nghĩa là tham lam, dục vọng, khao khát, ham muốn và những thứ giống như thế. Các học giả đạo Phật đã dịch từ ‘tanha" thành từ attachment (tham ái, dính mắc) do đó từ này bao hàm tất cả các hình thức của lòng khao khát. Vì thế trong tiếng Anh, chúng ta sử dụng từ ‘attachment’ để dịch từ ‘tanha" vốn là tiếng Pali.

 

Tanha hay tham áinguyên nhân của khổ. Khi có tham ái thì có khổ. Khi một người có thể diệt trừ được tham ái người đó chắn chắc sẽ thoát khỏi khổ. Lòng tham ái này xuất hiện cũng phụ thuộc vào nguyên nhân. Không có nguyên nhân thì tham ái sẽ không xuất hiện. Tham ái (Tanha) là một trạng thái của tâm thức và là quá trình diễn biến của tâm có nhân duyên của nó. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phát hiện ra nguyên nhân của tham áiquan niệm sai lầm, ví dụ quan niệm sai lầm về một linh hồn, một bản ngã, về "tôi" hay "anh" về tính cách, về cá nhân (nghĩa là sakkàya-ditthi hay atta-ditthi). Do đó sakkàya-ditthi hay atta-ditthi là nguyên nhân của tanha mà gây ra quả khổ. Thế thì cái gì là nguyên nhân của quan niệm sai lầm này (sakkàya-ditthi hay atta-ditthi)?

 

Đức Phật Thích Ca đã chỉ ra rằng sự vô minh, thiếu hiểu biết (moha hay avijjà trong tiếng Pali) về các quá trình diễn biến chân thật của thân và tâm là nguyên nhân của quan niệm sai lầm về một linh hồn hay một bản ngã. Do đó nhờ nhận rahiểu biết đúng đắn về quá trình thân tâm này theo đúng bản chất thực sự của nó, chúng ta có thể xoá bỏ sự vô minh. Tiếp đó chúng ta sẽ nhận biết được Luật nhân quả. Chúng ta có thể tóm tắt chuỗi nhân qủa như sau: Vô minhnguyên nhân, quan niệm sai lầm là kết qủa. Quan niệm sai lầmnguyên nhân, tham ái là kết qủa. Tham áinguyên nhân, đau khổ là kết quả.

 

Bây giờ thì chúng ta biết được rằng: nếu các quá trình của thân và tâm được hiểu biết đúng đắn, thì sự hiểu biết đúng đắn đó sẽ diệt trừ vô minh. Khi vô minh đã bị xoá bỏ, thì sẽ không còn một quan niệm sai lầm nào về một linh hồn, một bản ngã, một con người hay một sinh vật. Khi quan niệm sai lầm này đã bị phá vỡ thì không còn một tham ái nào xuất hiện. Khi tham ái đã bị diệt trừ thì sẽ không còn một đau khổ nào nữa. Do đó chúng ta tiến đến một giai đoạn mà ở đó tất cả khổ đau đều không tồn tại - tức là đạt được diệt đế (Nirodha-sacca).

The Cause of Suffering

 

The Lord Buddha found out the cause of suffering (dukkha). According to his teachings, everything arises dependent on conditions. Everything in the world has its cause; nothing arises without a cause. When the Buddha wanted to get rid of suffering (dukkha), he had to find out the cause. When the cause had been eradicated, there will not be any effect. When the omniscient Buddha became enlightened, he discovered that the cause of suffering is attachment (tanha). The word 'tanha' means greed, lust, desire, craving and the like. Buddhist scholars have translated 'tanha' into attachment so that it covers all forms of desire. So in English, we use the word 'attachment' for 'tanha'.

 

Tanha or attachment is the cause of suffering. When there is tanha there is dukkha (suffering). When a man can eliminate tanha, he is sure to get rid of dukkha. This tanha also arises dependent on a cause. Without a cause, tanha will not arise. Tanha is a mental state and a process of mentality which is conditioned. The Omniscient Buddha discovered that the cause of attachment (tanha) is wrong view, i.e. the false view of a soul, a self, an 'I' or a 'you' a personality or an individuality known as sakkaya-ditthi or atta-ditthi. So thissakkaya-ditthi or atta-ditthi is the cause of tanha which causes dukkha. Then what is the cause of this false view (sakkaya-ditthi or atta-ditthi) ?

 

The Omniscient Buddha pointed out that ignorance (moha or avijja in Pali) of the natural processes of mentality and physicality is the cause of the false view of a soul or a self. Thus by realization or right understanding of this dual process in its true nature, we can exterminate ignorance. Then we come to know the law of Cause and Effect. We can summarize the chain of cause and effect like this: Ignorance is the cause, false view (sakkaya-ditthi or atta-ditthi) is the effect. False view is the cause, attachment is the effect. Attachment is the cause, suffering is the effect.

 

Then what we come to know is : if mental and physical processes are rightly understood, that right understanding will do away with ignorance. When ignorance has been eradicated, then there will not be any false view of a soul, a self, a person or a being. When this false view has been destroyed, there will not arise any suffering. Then we reach a stage in which all kinds of suffering cease to exit - the cessation of suffering (Nirodha-sacca) is attained.


Nguyên nhân của quan niệm sai lầm

 

Chúng ta nên xem xét sự không hiểu biết (vô minh) về các quá trình thân-tâm gây ra quan niệm sai lầm về một linh hồn hay một bản ngã, một con người hay một sinh vật, về "ta" hay "người" như thế nào; và quan niệm sai lầm này đã làm tham ái, dính mắc xuất hiện như thế nào. Chính vì chúng ta không hiểu biết đúng quá trình kép này theo bản chất thực sự của chúng nên chúng ta đã xem nó như một con người hay một sinh vật, một linh hồn hay một bản ngã. Tiếp theo con người đó, sinh vật đó, cái “tôi” đó hay “anh” đó khát khao được giàu có, hay được làm vua , làm hoàng hậu, làm một thủ tướng hay một nhà triệu phú. Niềm mong ước được làm một hoàng hậu hay là một tổng thống v.v.v...là tham ái. Nó phát sinh do một ý tưởng sai lầm về một con người hay một sinh vật, một linh hồn hay một bản ngã, "tôi" và "anh".

 

Nếu chúng ta muốn xoá bỏ sự ham muốn hay tham ái này, chúng ta phải diệt trừ nguyên nhân của nó. Nguyên nhân đó là gì? Nguyên nhân của ham muốn hay tham ái, như tôi đã trình bày ở trước, là quan niệm sai lầm hay khái niệm sai lầm về một con người hay một vật hữu tình, về một linh hồn hay một bản ngã. Vì thế, khi quan niệm sai lầm đã bị phá bỏ, sẽ không còn một tham ái nào muốn trở thành một người giàu, một ông vua, một tổng thống... xuất hiện. Sự khát khao được là, được lấy, được có một cái gì đó phát sinh từ quan niệm hay khái niệm sai lầm về một con người hay một sinh vật, “tôi” và "anh". Khi lòng khát khao hay tham ái đó xuất hiện trong chúng ta, nó mang lại muôn vàn thứ khổ đau.

 

Khi chúng ta tham luyến ngôi nhà của chúng ta, một thứ đồ vật bất động, chúng ta lo lắng cho nó. Nếu nhà của chúng ta bị cháy chúng ta sẽ cảm thấy buồn phiền. Buồn là một trong những loại hình chủ yếu của đau khổ. Nỗi đau khổ đó là do lòng tham ái của chúng ta đối với ngôi nhà. Và lại giống như thế, khi chúng ta tham ái, dính mắc vào họ hàng, bạn bè, con cái, hay cha mẹ của chúng ta; lòng tham ái này cũng lại gây cho chúng ta đau khổ. Khi chúng ta bị dính mắc vào con cái, chúng ta lo lắng về sức khoẻ, học tập của con cái chúng ta và những thứ tương tự. Nếu con chúng ta thi trượt, chúng ta lo lắng, cảm thấy buồn và tiếc. Đau khổ này là thứ đau khổ tinh thần hay dukkha tinh thần, và nó bị gây ra bởi lòng tham ái, dính mắc của chúng ta đối với con cái. Vì thế, tham áinguyên nhân của đau khổ. Tham ái này đến từ đâu? Tham ái này phát sinh từ khái niệm sai lầm về các quá trình của thân và tâm, xem đó như là một con người hay một sinh vật, một linh hồn hay một bản ngã, một cái "tôi" hay "anh". Khi khái niệm này về cá tính hay cá nhân đã bị phá bỏ thì sẽ không còn bất kỳ một tham ái nào. Khi không còn tham ái thì sẽ không còn một đau khổ nào nữa.

The Cause of False View

 

We should consider how ignorance of the mind-body processes causes false view of a soul or a self, a person or a being, an 'I' or 'you'; and how this false view causes attachment to arise. It is because we do not rightly understand this dual process in its true nature that we consider it as as person or a being, a soul or a self. Then, that person, that being, that 'I' or that 'you' has a desire to be rich, or to be a king, a queen or a president, a prime minister or a millionaire. This desire to be a queen or a president etc., is attachment. It arises through the false idea of a person or a being, a soul or a self, an 'I' or 'you'

 

If we want to exterminate this desire or attachment, then we must destroy its cause. What is the cause? The cause of desire or attachment is, as I have explained earlier, the false view or false concept of a person or a being, a soul or a self. So, when the false view has been destroyed, there will not arise any attachment to become a rich man, a king, a president or so on. The desire to be, to get, to have something arises through false view or the false concept of a person or being, an 'I'm or 'you'. When that desire or attachment arises in us, it brings about all kinds of suffering.

 

When we attached to our house, a non-living thing, we are worried about our house. If our house is on fire, we feel sad. Sadness is one of the main kind of suffering. That suffering is caused by our attachment to our house. Then again, when we attached to our relatives, to our friends, to our children, or to our parents; this attachment also causes us to suffer. When we are attached to our children, we worry about our children's health, education and so on. If our children fail their examinations, we are worried, we feel sorry and sad. This suffering is mental suffering or mental dukkha, and is caused by attachment to our children. So, attachment (tanha) is the cause of suffering. Where does this attachment come from? This attachment comes from the false conception of bodily and mental processes as person or a being, a soul or a self, an 'I' or a 'you'. When this concept of personality and individuality has been destroyed, there will not be any attachment. Where there is no attachment, there will not be any suffering.


Nhận diện mọi pháp như chúng đang là

 

Đức Phật Thích Ca chỉ ra rằng bằng cách lưu tâm đến quá trình kép này xem nó như nó thực sự là, chúng ta sẽ có khả năng hiểu đúng bản chất bên trong của nó. Khi chúng ta muốn hiểu một cái gì đó như nó thực sự là, chúng ta nên theo dõi nó, nhìn nó, tỉnh thức nhận biết khi nó thực sự xuất hiện mà không phân tích nó, không suy luận logic, không tư duy triết họckhông định kiến. Chúng ta nên rất tập trung và tỉnh thức thấy nó như nó thực sự là.

 

Ví dụ nhìn vào một cái đồng hồ. Khi chúng ta không quan sát cái đồng hồ một cách rất chăm chú và cẩn thận chúng ta không thể hiểu nó như nó là. Khi chúng ta quan sát nó một cách chăm chú và kĩ lưỡng, chúng ta sẽ thấy nhãn hiệu, kiểu dáng của nó, và những con số trên đồng hồ. Chúng ta sẽ hiểu ra đây là cái đồng hồ; nhãn hiệu của nó là Seiko; nó có một bản đồ thời gian quốc tế v.v... Tuy nhiên, nếu chúng ta không quan sát nó như nó là, hoặc sự quan sát của chúng ta gắn với ý kiến định sẵn là "Tôi đã nhìn thấy cái đồng hồ như thế này và nhãn hiệu của nó là Omega", thế là ngay khi chúng ta nhìn thấy cái đồng hồ này chúng ta sẽ coi nó là đồng hồ Omega. Tại sao? Bởi vì chúng ta không quan sát nó một cách tập trung và cẩn thận. Chúng ta đã dùng định kiến khi nhìn nó, vì thế thành kiến này đã dẫn chúng ta đến một kết luận sai về cái đồng hồ. Nếu chúng ta gác thành kiến sang một bên và quan sát chăm chú, tỉ mỉ cái đồng hồ, chúng ta sẽ hiểu nó như nó là - đây là đồng hồ Seiko, được làm ở Nhật và nó cũng có một biểu đồ thời gian quốc tế. Chúng ta sẽ hiểu nó như nó đang là bởi vì chúng ta đã bỏ sang một bên ý kiến định sẵn về đồng hồ Omega khi chúng ta quan sát nó.

 

Cũng theo cách đó, khi chúng ta muốn hiểu đúng quá trình thân-tâm theo bản chất thực sự của chúng hay như chúng thực sự là, chúng ta không được phân tích chúng hay nghĩ về chúng. Chúng ta không được suy luận hay dùng bất kỳ một tri thức hiểu biết hoặc thành kiến nào. Chúng ta phải bỏ chúng sang bên và chỉ để ý vào cái gì đang xảy ra với hiện tượng thân-tâm như chúng thực sự là. Chúng ta sẽ nhận thấy các quá trình thân-tâm như chúng đúng là. Khi thân chúng ta cảm thấy nóng, chúng ta nên ghi nhận cảm giác đó về cái nóng là nóng. Khi thân cảm thấy lạnh, chúng ta nên ghi nhận nó là lạnh. Khi chúng ta cảm thấy đau, chúng ta nên ghi nhận nó là đau. Khi chúng ta cảm thấy hạnh phúc, chúng ta nên ghi nhận hạnh phúc đó. Khi chúng ta cảm thấy giận dữ, chúng ta nên ghi nhận cái giận dữ đó là giận dữ. Khi chúng ta cảm thấy thất vọng, chúng ta nên tỉnh thức ghi nhận nó là thất vọng. Khi chúng ta cảm thấy buồn chán hay thất vọng, chúng ta nên nhận thức trạng thái cảm xúc buồn hay thất vọng như nó thực sự là.

 

Mỗi quá trình thân, tâm cần được quan sát như nó thực sự xuất hiện để chúng ta có thể hiểu đúng nó theo bản chất thực sự của nó. Sự hiểu biết chân xác đó sẽ dẫn chúng ta đến chỗ xoá bỏ vô minh. Khi vô minh đã bị xoá bỏ, chúng ta sẽ không coi các quá trình thân tâm này là một con người, một sinh vật, một linh hồn hay một bản ngã. Nếu chúng ta coi các quá trình thân-tâm này chỉ là các quá trình tự nhiên thì sẽ không có một tham ái nào phát sinh. Khi tham ái đã bị phá bỏ, chúng ta giải thoát mọi khổ đau và đạt được diệt đế. Vì thế, tỉnh táo nhận thức các quá trình diễn biến của thân-tâm theo bản chất chân thực của chúng là con đường dẫn đến diệt đế. Đó là con đườngĐức Phật Thích Ca đã thuyết giảng trong kinh "Tứ niệm xứ".

 

Trong bài pháp này, Đức Phật Thích Ca dạy chúng ta phải nhận thức được rõ ràng các hiện tượng thân tâm như chúng thực sự là. Có rất nhiều phương pháp mà thông qua đó chúng ta có thể tỉnh thức về các quá trình diễn biến thân tâm, nhưng có thể tóm tắt chúng như sau:

 

Tỉnh thức về quá trình thân (Kàyanupassanà Satipatthàna).
- Tỉnh thức đối với cảm giác hay cảm xúc (Vedanànupassanà Satipatthàna).
- Tỉnh thức đối với ý thức (Cittànupasanà Satpatthànà).
- Tỉnh thức đối với các đối tượng của tâm (Dhammànunpasanà Satipatthàna).

See it as it is

 

The Omniscient Buddha pointed out that by being mindful of this dual process as it really is, we are able to rightly understand its really intrinsic nature. When we want to understand something as it really is, we should observe it, watch it, be mindful of it as it really occurs without analyzing it, without logical reasoning, without philosophical thinking and without pre-conceptions. We should be very attentive and mindful of it as it really is

 

For example - look at a watch. When we do not observe a watch attentively and carefully we cannot understand it as it is. When we observe it very attentively and closely, then we see its brand, its design and the figures on it. We come to understand that this is a watch; its brand name is Seiko; it has an international time chart etc. However if we do not observe it as it is, if our observation is combined with such preconceived ideas as, "I have seen such a watch before and its brand name is Omega", then, as soon as we see this watch, we will take it to be an Omega. Why? Because we do not observe it attentively and closely. We have used the preconceived idea when we saw it, so the preconceived ideas lead us to the wrong conclusion regarding the watch. If we put the preconceived idea aside and just observe it attentively and closely, we will understand it as it is - this is a Seiko, it is made in Japan, it also has an international time chart. We will understand it as it is because we had put aside our preconceived idea of "Omega" when we observed it.

 

In the same way, when we want to rightly understand the mind-body processes in their true nature or as they really are, we must not analyze them or think about them. We must not reason or use any intellectual knowledge, or any preconceived idea. We must leave them aside and pay bare attention to what is happening to the mind-body phenomena as they really are. The, we can see our mind-body processes as they really are. When our body feels hot, we should note that feeling of heat as heat. When the body feels cold, we should note it as cold. When we feel pain, we should note it as pain. When we feel happy, we should note that happiness. When we feel angry, we should note that anger as anger. When we feel sorrow, we should be mindful of it as sorrow. When we feel sad or disappointed, we should be aware of our emotional state of sadness or disappointment as it is.

 

Each and every mental and physical process must be observed as it really occurs so that we can rightly understand it in its true nature. That right understanding will lead us to remove ignorance. When ignorance has been removed, then we do not take the mind-body processes to be a person, a being, a soul or a self. If we take these mind-body processes to be just natural processes, then there will not arise any attachment. When the attachment has been destroyed, we are free from all kinds of suffering and have attained the cessation of suffering. So, mindfulness of mind-body processes in their nature is the way leading to the cessation of suffering. That is way the Omniscient Buddha delivered a discourse on "The Four Foundation of Mindfulness".

 

In this discourse, the Omniscient Buddha teaches us to be mindful of mental and physical phenomena as they really are. There are many ways by which we have to be mindful of the mind-body processes but they can be summarized as follows:

 

  1. Mindfulness of bodily process (Kayanupassana Satipatthana)
  2. Mindfulness of feeling or sensation (Vedananupassana Satipatthana)
  3. Mindfulness of Consciousness (Cittanupassana Satipatthana
  4. Mindfulness of mind-objects (Dhammanupassana Satipatthana) 

Sự nhận thức không chọn lựa

 

Khi chúng ta lưu tâm đến các quá trình thân-tâm, chúng ta không cần chọn bất kỳ một quá trình thân hay tâm nào làm đối tượng thiền. Tâm sẽ tự nó chọn đối tượng. Nếu chúng ta chọn bất kỳ một quá trình thân hay tâm nào làm đối tượng thiền thì có nghĩa là chúng ta đã bị dính mắc vào nó. Trong khi thiền, "tâm ghi nhận" hay "tâm quan sát" sẽ tự chọn đối tượng; có thể là một cảm giác hạnh phúc về sự thành công của chúng ta, hoặc cảm giác đau, hoặc chuyển động của bụng. Mặc dù chúng ta cố gắng chú tâm vào chuyển động của bụng, tâm sẽ không trụ ở đó nếu cái đau nổi bật hơn hoặc dễ nhận thấy hơn. “Tâm ghi nhận” sẽ đi đến cái đau và quan sát nó bởi vì cảm giác nổi bật hơn đã kéo mạnh tâm về phía nó. Vì thế chúng ta không cần chọn đối tượng nhưng chúng ta nên theo dõi đối tượng mà tâm chọn. Khi cái đau biến mất nhờ sự nhận biết kỹ lưỡng và tập trung, tâm sẽ chọn một đối tượng khác nổi bật hơn. Nếu cảm giác ngứa ở lưng nổi trội hơn hay rõ rệt hơn chuyển động ở bụng, tâm sẽ đi đến cảm giác ngứa và quan sát nó là "ngứa, ngứa, ngứa". Khi cảm giác ngứa biến mất nhờ định sâu và tỉnh thức cao, tâm sẽ chọn (ví dụ) chuyển động ở bụng làm đối tượng bởi vì nó dễ nhận thấy hơn các đối tượng khác. Nếu niềm hạnh phúc dễ nhận thấy hơn chuyển động ở bụng, tâm sẽ chọn cảm giác hạnh phúc làm đối tượng và theo dõi nó là "hạnh phúc, hạnh phúc, hạnh phúc". Do đó nguyên tắc của thiền Vipassanà hay thiền minh sátquan sát, nhìn, hay ý thức rõ ràng tất cả các hiện tượng thân hay tâm như chúng thực sự là. Thiền minh sát này không chỉ rất đơn giản và dễ mà còn rất hiệu quả để đạt được mục đích của chúng ta - chấm dứt khổ đau.

 

Khi chúng ta lấy thức ăn, chúng ta nên nhận thức rõ từng động tác, từng hành động liên quan đến việc ăn. Khi chúng ta duỗi cánh tay ra, chúng ta phải ý thức rõ chuyển động duỗi. Khi bàn tay chạm vào thìa hay cơm, cảm giác xúc chạm cần được theo dõi. Khi chúng ta cầm cái thìa, cảm giác cầm nắm cần phải được quan sát. Khi chúng ta nhúng thìa vào cari, chuyển động nhúng đó phải được quan sát. Khi chúng ta múc cari bằng thìa, chuyển động đó phải được quan sát. Theo cách này, mỗi một và tất cả hành động liên quan đến việc ăn phải được quan sát như thật bởi vì mỗi quá trình thân phải được nhận biết toàn diện để xoá bỏ vô minhnguyên nhân của quan niệm sai lầm. Cũng theo cách đó, trong khi chúng ta tắm; trong khi chúng ta làm việc ở nhà hay ở công sở, chúng ta phải nhận thức rõ ràng tất cả các hành động hay chuyển động liên quan. Khi kinh hành trong thiền viện, chuyển động của bàn chân như chuyển động nhấc, chuyển động bước và chuyển động đạp phải được quan sát tỉ mỉ và chính xác như chúng thật là.

Choiceless Awareness

 

When we are mindful of our mind-body process, we do not need to choose any mental or physical process as the object of our meditation. The mind will choose the object by itself. If we choose any mental or physical process as the object of meditation, it means we are attached to it. During meditation, the 'noting mind' or the 'observing mind' will choose the object by itself; perhaps a feeling of happiness for our success, or a painful sensation, or the abdominal movement. Though we try to focus the mind on the abdominal movement, the mind does not stay with it if the pain is more distinct or more prominent. The 'noting mind' will go to the pain and observe it because the more distinct feeling takes the mind toward it very strongly. So we need to choose the object but should observe the object that the mind chooses. When pain disappear through attentive and close awareness, the mind will choose another object which is more distinct. If the itchy sensation on the back is more distinct or more pronounced than the abdominal movement, the mind will go to the feeling of itchiness and observe it as 'itching', itching, itching'. When the itchy sensation has disappeared by means of strong mindfulness and deep concentration, the mind will choose (for example) the abdominal movement as its object because it is more distinct than the other objects. If happiness is more distinct than the abdominal object, the mind will choose happiness as its object and observe it as 'happy, happy, happy'. So the principle of Vipassana meditation or mindfulness meditation is to observe, to watch, or to be mindful of all mental or physical phenomena as they really are. This mindfulness meditation is not only very simple and easy, but also very effective in achieving our goal - the cessation of suffering.

 

When we are taking food, we should be aware of every action, every activity involved in the act of eating. When we stretch out our arm, we must be aware of the movement of stretching. When the hand touches the spoon or the rice, the touching sensation must be observed. When we hold the spoon, the sensation of holding must be observed. When we dip the spoon into the curry, that dipping movement must be observed. When we scoop curry with the spoon, that movement must be observed. In this way, each and every action involved in the act of eating must be observed as it is because every physical process must be thoroughly realized so as to remove ignorance which is the cause of false view. In the same way, when we are taking a bath; while we are working in the office or at home, we must be aware of all the actions or movements involved. When practising walking meditation in a retreat, the movements of the foot such as the lifting movement, the pushing movement and the dropping movement must be closely and precisely observed as they really are.


Đặt tên

 

Chúng ta có thể cần đặt tên hay gán cho nó một nhãn hiệu khi chúng ta ý thức về một đối tượng nào đó. Khi chúng ta nhấc bàn chân để đi, chúng ta có thể gọi hành động đó là "nhấc". Khi chúng ta bước về phía trước, chúng ta lại gán cho nó là "bước". Khi chúng ta đạp xuống, chúng ta gán cho nó là "đạp”. Cứ thế, ta gọi chúng là "nhấc, bước, đạp; nhấc, bước, đạp”. Việc gán cho hay việc đặt tên có thể dẫn tâm tiếp cận gần hơn và chính xác hơn đến đối tượng của thiền hành. Nó cũng rất hữu ích trong việc giúp thiền giả tập trung tâm vào đối tượng của thiền. Tuy nhiên, có thể có những thiền giả không cần đặt tên hay gán tên cho đối tượng của thiền. Họ chỉ cần quan sát sự chuyển động của bàn chân - từ khi mới bắt đầu chuyển động nhấc lên đến khi kết thúc chuyển động đạp xuống. Tâm phải theo dõi chuyển động của bàn chân rất kĩ lưỡng như nó là mà không suy nghĩ hay phân tích. Theo cách này, một người có thể phát triển định sâu hơn bao giờ hết.

 

Khi mới bắt đầu thực hành, tâm thường xuyên lăng xăng. Bất kỳ khi nào tâm lăng xăng, bạn nên theo tâm đó và quan sát nó. Nếu bạn đang suy nghĩ về công việc gia đình, suy nghĩ đó phải được quan sát như thật, tạo nên một ghi nhận của tâm, "nghĩ, nghĩ, nghĩ". Sau khi suy nghĩ ban đầu đã biến mất, bạn nên trở lại việc kinh hànhghi nhận như bình thường "nhấc, bước, đạp”.

Labelling

 

We may need labelling or naming when we are mindful of any object. When we lift our foot to walk, we should label it as 'lifting'. When we push it forward, we should label it as 'pushing'. When we drop it, we should label is 'dropping'. In this way 'lifting, pushing, dropping; lifting, pushing, dropping'. Labelling or naming can lead the mind to the object of the meditation closely and precisely. It is also very helpful for a meditator to focus his mind on the object of meditation. However, there may be some meditators who need not label or name the object of meditation. Instead, they just observe it. They should just observe the movement of the foot - from the very beginning of the lifting movement up to the end of the dropping movement. The mind must follow the movement of the foot very closely as it is, without thinking or analyzing. In this way, one can develop concentration more deeply that ever.

 

At the beginning of the practice, the mind wanders very often. Whenever the mind wanders, you should follow the mind and observe it. If you are thinking about your family affairs, that thought must be observed as it is, making a mental note, 'thinking, thinking, thinking'. After the initial thought has disappeared, you should resume your walking and noting as usual - 'lifting, pushing, dropping'.


Samatha và Vipassana (Thiền chỉthiền quán)

 

Ở đây, chúng ta nên phân biệt sự khác nhau giữa thiền Samatha và thiền Vipassana. Samatha có nghĩa là tập trung (định), bình yên, tĩnh lặng. Khi tâm được tập trung sâu vào đối tượng của thiền, tâm trở nên tĩnh lặng và bình an. Mục đích của thiền Samatha là đạt được định sâu của tâm vào một đối tượng đơn nhất. Do đó, kết quả của thiền Samatha là đạt được định sâu như trạng thái an chỉ định (appana-samadhi, jhana) hay trạng thái cận định (upacara-samadhi). Khi tâm được định sâu vào đối tượng của thiền, tất cả những nhiễm ô như tham sắc, tham ăn, thù hận, khát khao, ngã mạn, vô minh và những thứ tương tự bị xóa bỏ khỏi cái tâm vốn đang được thu hút tập trung vào đối tượng. Khi tâm được giải thoát khỏi mọi sự nhiễm ô hay trở ngại (triền cái), chúng ta cảm thấy tĩnh lặng, bình an, hạnh phúcthanh bình. Vì thế kết quả của thiền Samatha là một cấp độ nào đó của hạnh phúc nhờ đạt được định sâu như an chỉ định (appana-samadhi, jhana) hay cận định (yoacara-samadhi) nhưng nó không cho chúng ta khả năng hiểu được đúng hiện tượng thân và tâm như chúng đang thực sự là.

 

Một thiền giả thiền Samatha phải tạo ra một công cụ hay kasina nào đó để làm đối tượng của thiền. Ví dụ, theo lời chú giải Visuddhimagga (Thanh tịnh đạo), để làm một kasina màu sắc, anh ta phải làm một vòng tròn đỏ trên tường cách mặt đất khoảng 60 cm. Anh ta phải làm vòng tròn đỏ khoảng bằng kích cỡ của một cái đĩa và màu sắc phải là màu đỏ hoàn toàn, đều và nhẵn. Khi công cụ đã được làm xong, anh ta phải ngồi xuống sàn cách tường khoảng 60 cm, nhìn vào vòng tròn đỏ và tập trung vào nó. Nếu như tâm lăng xăng, anh ta không được theo tâm đó mà phải đưa nó trở về đối tượng của thiền, nghĩa là cái vòng tròn đỏ. Anh ta phải tập trung tâm vào vòng tròn đỏ và quán sát nó là "đỏ, đỏ, đỏ”. Đây là tóm tắt phương pháp thiền Samatha.

 

Đối với thiền Vipassana, mục đíchđạt được sự chấm dứt khổ đau nhờ hiểu biết đúng các quá trình thân và tâm theo bản chất thực sự của chúng. Để làm được điều này, chúng ta cần đạt được một trình độ định tâm nhất định. Định này có thể đạt được nhờ sự tỉnh thức luôn luôn không gián đoạn đối với quá trình thân tâm. Vì vậy, chúng ta có nhiều đối tượng khác nhau của thiền: hạnh phúc là một đối tượng của thiền và giận dữ, buồn, cảm giác đau, cứng, tê và những thứ tương tự cũng là đối tượng của thiền. Bất kỳ một quá trình thân hay tâm nào cũng có thể là đối tượng của thiền.

 

Mục đích và kết quả của thiền Samatha và thiền Vipassanà là khác nhau, phương pháp cũng khác nhau.

 

Chúng ta trở lại vấn đề mà tôi đã giảng lúc trước. Khi thiền hành, chúng ta theo dõi chuyển động của bàn chân - nhấc, bước, và đạp. Khi mới bắt đầu tập, tâm chúng ta không tập trung tốt vào bàn chân. Khi tâm lăng xăng, chúng ta nên theo nó và quan sátnhư thật cho đến khi tâm lăng xăng đó biến mất. Chỉ sau khi nó đã biến mất, chúng ta lại ghi nhận chuyển động của bàn chân như bình thường. Khi tâm trở nên tập trung tốt vào chuyển động của bàn chân, cái mà chúng ta ghi nhận là chuyển động nhấc, bước, đạp và chúng ta không cần phải ý thức về hình dáng của bàn chân hay của cơ thể trong khi thiền hành. Khi bàn chân được nhấc lên, tâm ghi nhận nó là nhấc, khi bàn chân được đẩy về phía trước, tâm ghi nhận nó là bước, khi bàn chân được đạp xuống, tâm ghi nhận nó là đạp. Khi chúng ta nhận thấy chúng là các quá trình chuyển động tự nhiên, chúng ta cũng nhận biết được cái tâm ghi nhận chúng. Chuyển động nhấc là một quá trình và cái tâm mà ghi nhận nó là một quá trình khác. Chuyển động bước là một quá trình và cái tâm ghi nhận nó là một quá trình khác. Theo cách này, chúng ta hoàn toàn nhận biết hai quá trình của các hiện tượng tâm và hiện tượng thân. Chúng ta hiểu biết một cách đúng đắn rằng quá trình kép này chỉ là các quá trình tự nhiên của các hiện tượng thân và tâm. Chúng ta không xem nó là một con người, một sinh vật, một "cái tôi" hay "anh". Do đó sẽ không nảy sinh một khái niệm sai lầm về cá tính, cá nhân, linh hồn, hay bản ngã. Khi khái niệm sai lầm này đã bị xoá bỏ, sẽ không nảy sinh bất kỳ một tham ái hay mong ước nào vốn là nguyên nhân của khổ (dukkha). Bởi vì tham ái không nảy sinh, nên sẽ không phát sinh một khổ quả nào của tham ái. Chúng ta đạt được chấm dứt khổ đau ngay tại thời điểm kinh nghiệm được quá trình chuyển động nhấc, bước, và đạp - chỉ như một quá trình tự nhiên.

 

Khi chúng ta tiếp tục thiền hành, sự tỉnh thức của chúng ta trở nên liên tục hơn, không gián đoạn và mạnh mẽ hơn. Khi sự tỉnh thức trở nên miên mật và mạnh mẽ, sức định sẽ trở nên sâu hơn và vững chắc hơn. Khi định trở nên sâu và kiên cố, sự nhận diện hay sự hồi quang phản tỉnh của chúng ta vào trong các quá trình diễn biến của tâm và thân trở nên rõ ràng. Từ đó, chúng ta tiến đến nhận diện hàng loạt các chuyển động nhấc phát sinh và chấm dứt, chuyển động này nối tiếp chuyển động kia, hàng loạt chuyển động bước, sinh diệt, cái này sau cái khác và hàng loạt chuyển động đạp, sinh và diệt, cái này sau cái khác. Trong khi kinh nghiệm như vậy, chúng ta tiến đến hiểu rằng không một phần nào của quá trình này là lâu dài hay vĩnh hằng. Mỗi quá trình chuyển động đều vô thường (anicca)- sinh và diệt rất nhanh, do đó nó không phải là một quá trình tốt; nó là xấu. Chúng ta tiến đến nhận biết một trong ba đặc tính của quá trình thân và tâm, nghĩa là khổ. Khi chúng ta nhận thấy bản chất vô thường và khổ của quá trình chuyển động của thân này, chúng ta sẽ không xem nó là một thực thể vĩnh hằng - một con người, một sinh vật, một linh hồn hay một cái ta. Đây là sự nhận thức về anatta, bản chất vô ngã, không có cái ta, không linh hồn của các quá trình thân và tâm. Vì thế chúng ta nhận biết được ba đặc tính của các hiện tượng thân và tâm, vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta).

Samatha and Vipassana

 

Here, we should know the difference between Samatha meditation and Vipassana meditation. Samantha means concentration , calmness, tranquility. When the mind is deeply concentrated on the object of meditation, the mind become calm and tranquil. The purpose of Samatha meditation is to attain deep concentration of the mind on a single object. So, the result of Samatha meditation is the attainment of deep concentration such as absorption (appana-samadhi, jhana) or access concentration (upacara-samadhi). When the mind is deeply concentrated on the object of meditation, all the defilements such as lust, greed, hatred, desire, conceit, ignorance and so on are kept away from the mind which is absorbed in the object. When the mind is free from all the defilements or hindrances, we feel calm, tranquil, happy and peaceful. The results of the Samatha meditation, therefore, is some degree of happiness through the attainment of deep concentration such as Absorption (appana-samadhi, Jhana) or access concentration (upacara-samadhi) but it does not enable us to rightly understand the mental and physical phenomena as they really are.

 

A Samatha meditator has to make some device or kasina as the object of meditation. For instance, to make a colour kasina, he has to make a red circle on the wall about two feet from the floor in accordance with the Visuddhimagga commentary. He must make the red circle about the size of a plate and the colour must be of pure red, even and smooth. When the device has been made, then he has to sit on the floor about two feet from the wall, look at the red circle and concentrate on it. Should the mind wander, he must not follow the mind but he must bring it to the object of meditation, i.e., the red circle. He must focus the mind on the red circle and and observe it as 'red, red, red'. This is the way of Samatha meditation in brief.

 

As for Vipassana meditation, the purpose is to attain the cessation of suffering through rightly understanding mental and physical processes in their true nature. For this, we need some degree of concentration. This concentration can be attained through constant and uninterrupted mindfulness of the mind-body process. Thus, we have a variety of objects of meditation: happiness is an object of meditation and so is anger, sorrow, painful sensation, stiffness, numbness and so on. Any mental or physical process can be the object of meditation.

 

The purpose and the results of Samatha and Vipassana meditation are different, as are the methods.

 

We should go back to what I explained earlier. When we walk, we observe the movement of the foot - the lifting, pushing and dropping. At the beginning of the practice, our mind is not well concentrated on the foot. When the mind wanders, we have to follow it and observe it as it is until that wandering mind has disappear. Only after it has disappear, do we note the movement of the foot as usual. When the mind becomes well concentrated on the movement of the foot, what we note is the movement of lifting, pushing and dropping and we must not be aware of the form of the foot or the form of the body during walking. When the foot is lifted, the mind notes it as lifting, when the foot is pushed forward, the mind notes it as pushing, when the foot is dropped, the mind notes it as dropping. When we come to realise them as natural processes of movement, we also come to realise the mind that notes them. The lifting movement is one process and and the mind that notes it is another process. The pushing movement is one process and the mind that notes it is another process. In this way, we thoroughly realise the two processes of mental phenomena and physical phenomena. We rightly understand this dual process as just natural processes of mental and physical phenomena. We do not take them to be a person, a 'being' and 'I' or 'you'. Then there will not arise any false concept of personality, individuality, soul or self. When this false concept has been destroyed, there will not arise any attachment or desire which is the cause of suffering (dukkha). So, because attachment does not arise, there will not arise any dukkha which is actually the results of the attachment. We attain the sensation of suffering at he moment of experiencing the process of the movement the lifting, pushing and dropping movement - as just a natural process.

 

As we proceed, our mindfulness becomes more constant, uninterrupted and powerful. As the mindfulness becomes constant and powerful, the concentration become deeper and stronger. When the concentration becomes deep and strong, then our realization or penetrating insight into mental processes and physical processes become clear. So we come to realise many series of lifting movements arising and passing away one after another. During such experience, we come to understand that no part of the process is permanent or everlasting. Every process of movement is subject to impermanence (anicca) - arising and passing away very swiftly, so it is not a good precess; it is bad. Then we come to realise one of the three characteristics of the mental and physical process, i.e. dukkha. When we realise the impermanent and suffering nature of this physical process of movement, then we do not take it to be an everlasting entity - a person, a being, a soul or a self. This is the realization of theanatta, no-soul, no-self, non-ego nature of bodily and mental processes. So we realise the three characteristics of mental and physical phenomena, Impermanence (anicca), suffering (dukkha) and no-soul or no-self (anatta).


Sự thực chứng Tứ Diệu Đế

 

Theo cách này, một thiền giả lần lượt đi qua tất cả các cấp độ hiểu biết sâu sắc các quá trình thân và tâm (các cấp độ của tuệ minh sát). Sau khi đạt đến giai đoạn cuối cùng, anh ta sẽ đạt được sự giác ngộ Quả vị thứ nhất, Sotàpatti-magga. Tại thời điểm đạt được quả vị thứ nhất, thiền giả thực chứng được Tứ Diệu Đế:

 

Dukkha-sacca: Khổ Đế
Samudaya-sacca: Tập Đế
Nirodha-sacca: Diệt Đế
Magga-sacca: Đạo Đế

 

Khi thiền giả nhận biết được từng hiện tượng đổi dời của thân và tâm, có nghĩa là anh ta đã nhận thức được Khổ đế. Kết quả là, tham ái, mà là nguyên nhân của khổ, bị xoá bỏ và thiền giả tiến đến một giai đoạn mà ở đó khổ đau không còn tồn tại.

Bát chính đạo

 

Tại thời điểm đó thiền giả đã phát triển hoàn toàn bát chánh đạo:

 

Samma-ditthi - Chính kiến
Samma-sankappa - Chính tư duy
Samma-vaca - Chính ngữ
Samma-kammanta - Chính nghiệp
Samma-ajiva - Chính mạng
Samma-vayama - Chính tinh tiến
Samma-sati - Chính niệm
Samma-samadhi - Chính định

 

Từ khi thiền giả có thể định tâm ở mức độ cao trên đối tượng thiền minh sát, tức là các quá trình thân-tâm, anh ta đang phát triển Bát chánh đạo (mặc dù chưa phải là hoàn toàn). Nghĩa là thế nào? Khi anh ta tập trung tâm vào chuyển động của bàn chân, anh ta phải nỗ lực tâm; nỗ lực tâm đó là "Chính tinh tiến" (Samma-vayama). Nhờ nỗ lực tâm đó, anh ta có thể tập trung tâm để anh ta có thể tỉnh thức đối với chuyển động của bàn chân. Sự tỉnh thức đó là "Chính niệm" (Samma-sati) bởi vì nó dẫn anh ta đến sự hiểu biết đúng đắn, chân thực các quá trình thân và tâm. Khi tâm anh ta được tập trung vào chuyển động của bàn chân, nó được định vào bàn chân trong giây lát nhưng khi định này trở nên liên tục và không dứt, mạnh hơn và sâu hơn, sự định tâm đó là "Chính định” (Samma-samadhi). Khi mới bắt đầu tập thì tâm lăng xăng là điều tự nhiên. Mặc cho thiền giả nỗ lực bao nhiêu, lúc đầu tâm cũng không chú ý vào chuyển động của bàn chân. Sau đó một trong những trạng thái của tâm phát sinh cùng với sự tỉnh thức chính niệm đối với chuyển động của bàn chân sẽ dẫn tâm hướng đến đối tượng của thiền, có nghĩa là chuyển động của bàn chân. Trạng thái tâm mà dẫn tâm đến đối tượng của thiền là "Chính tư duy" (Sammà-sankappa). Đặc tính của “Chính tư duy” là hướng tâm đến đối tượng của thiền. Cứ thế, tâm trở nên tập trung tốt hơn vào đối tượng của thiền - chuyển động của bàn chân. Sau đó, nó thâm hiểu bản chất thực của quá trình chuyển động thuộc về thân - biết nó như là một quá trình tự nhiên. Cái biết hay cái hiểu đó về chuyển động của thân như là một quá trình tự nhiên là "Chính kiến"(Sammà-ditthi). Do đó chúng ta đã phát triển năm yếu tố thuộc tâm của Bát chính đạo khi chúng ta tỉnh thức đối với chuyển động của bàn chân. Chúng là:

 

Samma-vayama - Chính tinh tiến
Samma-sati - Chính niệm
Samma-samadhi - Chính định
Samma-sankappa - Chính tư duy
Samma-ditthi - Chính kiến

 

Năm yếu tố thuộc tâm này được bao hàm trong sự ý thức rõ ràng các quá trình thân-tâm như chúng là. Trong khi thực hành thiền tỉnh thức, chúng ta kiềm chế được tà ngữ, tà nghiệptà mạng. Sự tiết chế tà ngữ có nghĩa là "Chính ngữ" (Samma-vaca), tiết chế tà nghiệp có nghĩa là "Chính nghiệp" (Samma-kammanta); tiết chế tà mạng là "Chính mạng" (Samma-ajiva). Vì thế chúng ta có tất cả tám yếu tố thuộc tâm của Bát chính đạo trong khi chúng ta ý thức rõ ràng bất kỳ một quá trình thân hay tâm nào. Khi chúng ta phát triển Bát Chính Đạo, chúng ta có thể xóa bỏ được những quan niệm sai lầm (sakkàya-ditthi hay atta-ditthi) nhờ sức mạnh của Chính kiến (Samma-ditthi), một trong những yếu tố của Bát Chính Đạo. Do đó, khi một thiền giả bước vào Con Đường Thứ Nhất, Sotapatti-magga, anh ta đã phát triển hoàn toàn Bát Chính ĐạoMagga-sacca, con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau. Đây là phương pháp anh ta nhận biết Tứ Diệu Đế bằng cách nuôi dưỡng sự tỉnh thức chính niệm đối với các quá trình thân và tâm theo đúng bản chất thực sự của chúng.

Realization of the Noble Truths

 

At that moment he has completely developed the Noble Eightfold Path:

  1. Samma-ditthi (Right Understanding) 
  2. Samma-sankappa (Right Thought)
  3. Samma-vaca (Right Speech)
  4. Samma-kammanta (Right Action)
  5. Samma-ajiva (Right Livelihood)
  6. Samma-vayama ( Right Effort)
  7. Samma-sati (Right Mindfulness)
  8. Samma-samadhi (Right Concentration)

From the time he can concentrate the mind to a large extent on the object of meditation, i.e., mental-physical process, he is developing this Noble Eightfold Path (though not completely). How? When he focuses the mind on the movement of the foot, he has to make a mental effort; that mental effort is 'Right Effort' (Samma-vayama). Because of that mental effort, he can focus his mind on the movement of the foot. That mindfulness is 'Right Mindfulness' (Samma-sati) because it leads him to the right understanding of the mental and physical processes. When his mind is focused on the movement of the foot, it is concentrated on it for a moment but when the concentration become continuous and constant/ stronger and deeper, that concentration is 'Right Concentration' (Samma-samadhi). It is natural for the mind to wander in the beginning of the practice. However much effort a meditator makes, the mind does not stay with the movement of the foot at first. Then, one of the mental states which arises together with the mindfulness of the movement of the foot leads the mind to the object of meditation, i.e. the movement of the foot. That mental state which leads the mind to the object of meditation is 'Right Thought' (Samma-sankappa). The characteristic of 'Right Thought' is the directing of the mind to the object of meditation. In this way, the mind becomes well concentrated on the object of meditation, the movement of the foot. Then, it penetrates into the true nature of the physical process of the movement - knowing it as a natural process. That knowing or that understanding of it as a natural process is 'Right Understanding' (Samma-ditthi). Thus, we have developed five mental factors of the Noble Eightfold Path when we are mindful of the movement of the foot. These are:-

 

  1. Samma-vayama (Right Effort) 
  2. Samma-sati (Right Mindfulness)
  3. Samma-samadhi (Right Concentration)
  4. Samma-sankappa (Right Thought)
  5. Samma-ditthi (Right Understanding)

These five mental factors are included in mindfulness of the mind-body processes as they are. While engaged in mindfulness meditation, we abstain from wrong speech, wrong action and wrong livelihood. Abstention from wrong speech means 'Right Speech' (Samma-vacca); abstention from wrong action means 'Right Action' (Samma-kammanta); abstention from wrong livelihood means 'Right Livelihood' (Samma-ajiva). So we have altogether the eight mental factors of the Noble Eightfold Path while we are being mindful of any mental or physical process. As we develop the Noble Eightfold Path, we can remove false view (sakkaya-ditthi or atta-ditthi) by the power of Right Understanding (Samma-ditthi), one of the factors of the Noble Eightfold Path. So when a meditator enters into the first path, Sotapatti-magga, he has completely developed the Noble Eightfold Path - Magga-sacca, the way leading to the cessation of the suffering. This is how he has the Four Noble Truths by means of cultivating mindfulness of mental and physical processes in their true nature.

__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 385)
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 656)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 785)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 663)
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 75)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 86)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
27 Tháng Ba 20203:30 CH(Xem: 99)
TRÌNH BÀY TÓM LƯỢC 4 CÕI - Trong 4 loại ấy, gọi là 4 cõi. Tức là cõi khổ, cõi vui, Dục-giới, Sắc-giới, cõi Vô-sắc-giới. NÓI VỀ 4 CÕI KHỔ - Trong nhóm 4 cõi ấy, cõi khổ cũng có 4 là: địa ngục, Bàng sanh, Ngạ quỉ và Atula. NÓI VỀ 7 CÕI VUI DỤC GIỚI -
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 143)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
24 Tháng Ba 20202:32 CH(Xem: 147)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Đức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận - Khināsava, bậc đã đoạn trừ mọi lậu hoặc. Chính vì thế, người đi tìm chân lý cần phải hiểu rõ những lậu hoặc này là gì, và làm cách nào để loại trừ được nó.
23 Tháng Ba 20203:56 CH(Xem: 183)
Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chímục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được
22 Tháng Ba 20209:08 CH(Xem: 140)
Everyone is aware of the benefits of physical training. However, we are not merely bodies, we also possess a mind which needs training. Mind training or meditation is the key to self-mastery and to that contentment which brings happiness. Of all forces the force of the mind is the most potent. It is a power by itself. To understand the real nature
21 Tháng Ba 20209:58 CH(Xem: 167)
Chúng ta lấy làm phấn khởi mà nhận thấy rằng hiện nay càng ngày người ta càng thích thú quan tâm đến pháp hành thiền, nhất là trong giới người Tây phương, và pháp môn nầy đang phát triễn mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học khuyên
20 Tháng Ba 20208:30 CH(Xem: 149)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc
17 Tháng Ba 20205:51 CH(Xem: 276)
Mindfulness with Breathing is a meditation technique anchored In our breathing, it is an exquisite tool for exploring life through subtle awareness and active investigation of the breathing and life. The breath is life, to stop breathing is to die. The breath is vital, natural, soothing, revealing. It is our constant companion. Wherever we go,
16 Tháng Ba 20204:16 CH(Xem: 283)
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thởđời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện.
15 Tháng Ba 202012:00 CH(Xem: 222)
Phật giáođạo Phật là những giáo lý và sự tu tập để dẫn tới mục tiêu rốt ráo của nó là giác ngộgiải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, (a) mọi người thế tục đều đang sống trong các cộng đồng dân cư, trong các tập thể, đoàn thể, và trong xã hội; và (b) những người xuất gia dù đã bỏ tục đi tu nhưng họ vẫn đang sống tu
13 Tháng Ba 20209:16 CH(Xem: 195)
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số người xem thiền như là một thứ có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem nó như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh,
12 Tháng Ba 20209:36 SA(Xem: 311)
Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipaṭṭhāna được xem là bài kinh quan trọng nhất trên phương diện thực hành thiền Phật giáo. Các thiền phái Minh Sát, dù khác nhau về đối tượng quán niệm, vẫn không xa khỏi bốn lĩnh vực: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp mà Đức Phật
10 Tháng Ba 20202:09 CH(Xem: 292)
Giới học thiền ở nước ta mấy thập niên gần đây đã bắt đầu làm quen với thiền Vipassanā. Số lượng sách báo về chuyên đề này được dịch và viết tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta đã thấy tính chất phong phú đa dạng của Thiền Minh Sát hay còn gọi là Thiền Tuệ hoặc Thiền Quán này. Thiền Vipassanā luôn có một nguyên tắc nhất quán
10 Tháng Ba 202010:20 SA(Xem: 282)
Trong tất cả các thiền sư cận đại, bà Achaan Naeb là một thiền sư đặc biệt hơn cả. Bà là một nữ cư sĩ đã từng dạy thiền, dạy đạo cho các bậc cao tăng, trong đó có cả ngài Hộ Tông, Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cũng đã từng theo học thiền với bà một thời gian. Năm 44 tuổi, Bà đã bắt đầu dạy thiền
08 Tháng Ba 202011:08 SA(Xem: 233)
A.B.: Đầu tiên, khi họ hỏi Sư: “Sư có muốn nhận giải thưởng này không?” và Sư đã đồng ý. Nhưng phản ứng đầu tiên ngay sau đó là: “Tại sao Sư lại muốn nhận giải thưởng này? Sư là một nhà Sư Phật Giáo, đây là việc một nhà Sư (cần phải) làm. Là một nhà Sư, chúng ta đi truyền giáo, đi phục vụ, và chúng ta không nhất thiết phải đòi hỏi
07 Tháng Ba 20205:16 CH(Xem: 302)
Biên tập từ các bài pháp thoại của ngài Thiền sư Ajahn Brahmavamso trong khóa thiền tích cực 9 ngày, vào tháng 12-1997, tại North Perth, Tây Úc. Nguyên tác Anh ngữ được ấn tống lần đầu tiên năm 1998, đến năm 2003 đã được tái bản 7 lần, tổng cộng 60 ngàn quyển. Ngoài ra, tập sách này cũng đã được dịch sang tiếng Sinhala
06 Tháng Ba 20209:21 SA(Xem: 311)
Trước khi nói về phương pháplợi ích của thiền Minh Sát Tuệ, chúng ta cần điểm qua một số vấn đề liên quan đến "pháp môn thiền định" Phật giáo. Gần đây, dường như pháp môn thiền của Phật giáo bị lãng quên và không còn đóng vai trò quan trọng
05 Tháng Ba 20209:48 CH(Xem: 317)
Thiền sư Goenka nói: “Giải thoát chỉ có thể đạt được bằng sự tu tập, chứ không phải bằng việc bàn luận suông”. Một khóa thiền Vipassana là cơ hội để bước đi những bước chắc chắn tiến đến giải thoát. Trong một khóa tu như thế, người tham dự sẽ học được cách làm cho tâm hết căng thẳng và xóa tan các thành kiến sai lầm
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 677)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2275)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3666)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 75)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 86)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 143)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 317)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 485)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 482)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 680)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 843)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 5971)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;