Chương 3 - Chapter 3

16 Tháng Hai 20203:14 CH(Xem: 200)
Chương 3 - Chapter 3

Thiền Vipassana, Những Bài Giảng Về Thiền Minh Sát
Vipassana Meditation, Lectures On Insight Meditation
Venerable Chanmyay Sayadaw U Janakabhivamsa
Diệu Tâm Phan Minh Nguyệt dịch Việt
Nguồn: myanmarnet.net, abhidhamma.com, budsas.org
 
____________________
VipassanaMeditation_A

__________________

 MỤC LỤC CHƯƠNG 3 - CONTENTS OF CHAPTER 3 

Chương 3. Bảy lợi ích của thiền minh sát

1) Khía cạnh cầu nguyện

2) Phương diện đạo đức

3) Phương diện phẩm hạnh

4) Phương diện thực hành

5) Bảy lợi ích của thiền

Chapter 3 - Seven Benefits Of Mindfulness Meditation

1 - Devotional Aspect

2 - Ethical Aspect

3 - Moral Aspect

4 - Practical Aspect

5 - Seven Benefits Of Meditation


 CHƯƠNG 3 - CHAPTER 3

CHƯƠNG 3. BẢY LỢI ÍCH CỦA THIỀN MINH SÁT

 

Bảy lợi ích của thiền minh sát do Đức Phật giảng được ghi lại trong kinh Maha Satipatthana Sutta - Đại kinh Tứ niệm xứ. Nhưng trước khi bàn đến chúng, tôi muốn giải thích một cách ngắn gọn về bốn phương diện của Đạo Phật. Bốn khía cạnh này là:

 

Khía cạnh cầu nguyện của Đạo Phật
Khía cạnh đạo đức của Đạo Phật
Khía cạnh giới hạnh của Đạo Phật
Khía cạnh thực tiễn của Đạo Phật (bao gồm khía cạnh kinh nghiệm)

CHAPTER 3: SEVEN BENEFITS OF MINDFULNESS MEDITATION

 

      Seven benefits of Mindfulness meditation as taught by the Buddha are recorded in the Maha Satipatthana Sutta - the Discourse on the Four Foundations of Mindfulness. But before I deal with them, I want to explain to you briefly the four aspects of Buddhism. These four aspects are

  1. Devotional aspect of Buddhism,
  2. Ethical aspect of Buddhism,
  3. Moral aspect of Buddhism,
  4. Practical aspect of Buddhism (including the experiential aspect).

Khía cạnh cầu nguyện

 

Khía cạnh cầu nguyện của Đạo Phật có nghĩa là "lễ nghi, nghi thức", việc tụng các bài suttas và parittas, dâng hương hoa cũng như là cúng dường thức ăny phục. Khi chúng ta làm những việc thiện như vậy, chúng ta làm với Sraddha (tiếng Sankrit) hay Saddhà (tiếng Pali). Từ saddha khó dịch sang tiếng Anh. Không có từ tiếng Anh nào tương đương với từ saddha trong tiếng Pali. Nếu chúng ta dịch saddhà là "faith" (đức tin) từ “faith” không bao quát hết nghĩa thực, và nếu chúng ta dịch nó là "confidence" (lòng tin), từ này cũng không bao quát hết nghĩa thực của từ "saddha". Chúng ta không thể tìm được một từ đơn lẻ trong tiếng Anh mà có thể chuyển tải hết nghĩa của từ saddha. Theo tôi, saddha có thể dịch là lòng tin nhờ hiểu đúng pháp (belief through right understanding of the Dhamma).

 

Khi chúng ta thực hiện các buổi lễ tôn giáo chúng ta làm với lòng tin nơi Tam Bảo (Tiratana). Chúng ta tin nơi Đức Phật, nơi Pháp ( lời dạy của Ngài) và nơi Tăng (đoàn thể tăng sĩ). Chúng ta tin tưởng rằng Đức Phật đã xoá sạch mọi ô nhiễm nhờ sự giác ngộ siêu việt của Ngài, do đó Ngài xứng đáng được tôn kính (một vị Alahán). Ngài là một vị Phật bởi Ngài đã cố gắngtự giác ngộ, không phải vì Ngài đã học Pháp từ bất kỳ vị thầy nào. Chúng ta tin tưởng Đức Phật theo cách này. Đức Phật dạy chúng ta sống hạnh phúcbình an và Ngài dạy chúng ta con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau. Chúng ta tin rằng nếu chúng ta theo lời Ngài hay con đường của Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ sống hạnh phúcbình an và thoát mọi khổ đau. Vì lý do này, chúng ta tin vào Pháp. Cũng theo cách như vậy, chúng ta tin vào Tăng (Sangha). Khi chúng ta nói Sangha chủ yếu có nghĩa là Ariya-sangha, những vị Thánh tăng đã đạt được một trong bốn Đạo quả (magga). Nhưng theo nghĩa chung thì nó cũng đề cập đến cả các vị Sammuti-sangha (những người vẫn đang cố gắng để xóa bỏ mọi nhiễm ô). Vì vậy chúng ta tỏ lòng tôn kính đối với Tam bảo - Phật, Pháp, Tăng. Chúng ta cũng tin rằng bằng cách tụng suttas (kinh) và parittas (kinh bảo vệ) do Đức Phật dạy, chúng ta thực hiện những hành động công đức sẽ đưa ta tới chỗ chấm dứt khổ đau. Việc thực hiện những việc làm công đức này tạo nên khía cạnh sùng kính của Đạo Phật. Tuy nhiên chúng ta không nên chỉ dừng lại khía cạnh cầu nguyện này nếu chúng ta muốn thưởng thức hương vị thật của Đạo Phậtgiải thoát khỏi mọi khổ đau. Vì thế chúng ta phải tiếp tục thực hành những khía cạnh cao hơn.

 

Devotional Aspect

 

      The devotional aspect of Buddhism means 'rites and rituals', chanting of suttas and parittas, offering of flowers and incense as well as offering of food and robes. When we perform such good deeds, we do so with sraddha (in Sanskrit) or saddha (in Pali).

 

      The word saddha is difficult to translate into English. There is no English equivalent for the Pali word 'saddha' If we translate saddha to be faith, the word 'faith' does not cover the real sense, and if we translate it as 'confidence', it also does not cover the real sense of 'saddha'. We cannot find a single word in English which can give a complete meaning of saddha To me, saddha can be taken to mean belief through right understanding of the Dhamma.

 

      When we perform religious ceremonies we do it with a belief in the Triple Gem (Tiratana). We believe in the Buddha, the Dhamma (his teachings) and the Sangha (the Order of Buddhist monks). We hold the view that the Buddha has eradicated all defilements through his supreme enlightenment, so he is worthy of respect (an Arahant). He was Buddha because he had strived and was enlightened by himself, not because he learned the Dhamma from any teacher. We believe in the Buddha in this way. The Buddha taught us to live happily and peacefully and he taught us the way leading to the cessation of all kinds of sufferings. We believe that if we follow his teaching or his way, we are sure to live happily and peacefully and to get rid of suffering. For this reason, we believe in the Dhamma. In the same way, we believe in the Sangha. When we say Sangha, it mainly means theAriya-sangha, the Noble Sangha who have attained any one of the four stages of the Path (magga). But in the general sense, it also refers to the Sammuti sangha (those who are still striving to eradicate the defilements). Thus we pay homage to the Triple Gem (Tiratana) - the Buddha. Dhamma and Sangha. We also believe that by chanting suttas and parittas as taught by the Buddha, we perform meritorious deeds which will be conducive to the cessation of suffering. Performing these meritorious deeds forms the devotional aspect of Buddhism. However, we should not be content with this devotional aspect if we want to enjoy the essence of Buddhism and be free from all kinds of suffering. Therefore, we must proceed to practise the higher aspects.


Phương diện đạo đức

 

Phương diện thứ hai của đạo Phậtphương diện đạo đức. Đây là sự tiếp tục những lời dạy của Đức Phật về việc làm thanh tịnh thân khẩu ý của chúng ta. Có rất nhiều học thuyết liên quan đến phương diện đạo đức của đạo Phật.

 

Bằng cách tuân theo những giáo lý này, chúng ta có thể sống cuộc đời hạnh phúc trong đời này cũng như đời sau nhưng chúng ta không thể hoàn toàn thoát khỏi đau khổ. Phương diện đạo đức của đạo Phật là:

 

Không làm tất cả các việc ác.
Làm tất cả các việc lành.
Thanh tịnh tâm ý.

 

Đây là ba phần của khía cạnh đạo đứcĐức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy chúng ta và là lời tán dương của tất cả các Đức Phật. Nếu chúng ta tuân theo những điều này, chúng ta có thể sống một đời sống hạnh phúcbình an bởi vì đạo Phật được xây dựng trên nền tảng Luật nhân quả. Nếu chúng ta không làm tất cả các việc ác, chúng ta sẽ không phải thọ nhận bất kỳ một kết quả xấu nào.

 

Để thanh tịnh tâm ý thoát khỏi mọi ô nhiễm, chúng ta phải thực hành thiền Samatha (thiền định) cũng như thiền Vipassana (thiền quán). Với thiền Samatha tâm chúng ta có thể thanh tịnh chỉ trong khi nó gắn với việc hành thiền, nhưng khi không tập, các sự ô nhiễm sẽ lại tấn công chúng ta. Nếu chúng ta thanh tịnh tâm ý bằng cách nhận biết các quá trình thân - tâm theo bản chất thực của chúng, thì các ô nhiễm sẽ không quay trở lại nữa. Sự nhận biết hay sự thấu hiểu các hiện tượng thân và tâm được gọi là Vipassana-nana (tuệ minh sát). Nó vượt qua một số phương diện của sự nhiễm ô và giảm các nhiễm ô như tham, sân, ảo tưởng và những thứ tương tự. Những ô nhiễm nào đã bị phá bỏ bởi phương tiện của Vipassana-nana (hiểu biết sâu sắc) sẽ không có khả năng tấn công lại chúng ta. Nói cách khác, khi chúng ta đã kinh nghiệm được tuệ minh sát, kinh nghiệm đó sẽ không biến mất hay rời khỏi chúng ta. Khi chúng ta suy ngẫm về kinh nghiệm chúng ta đã có trong khi thiền, sự hiểu biếtchúng ta đã đạt được sẽ quay lại với chúng ta, và với trí tuệ này, một số những ô nhiễm đã bị trí tuệ loại bỏ sẽ không phát sinh lại nữa. Vì thế, chúng ta có thể thanh tịnh tâm khỏi một số phiền não. Nhưng nếu chúng ta có đủ saddha, chúng ta sẽ nỗ lực hết sức trong việc thực tậpđạt được quả thánh thứ tư, quả vị Alahán. Chúng ta sẽ xoá bỏ được mọi ô nhiễm. Khi mọi ô nhiễm đã hoàn toàn bị diệt trừ và tâm đã hoàn toàn thanh tịnh sẽ không còn một nỗi khổ nào hay dukkha nào. Khổ đau chấm dứt. Sự thanh tịnh tâm ý, thoát khỏi mọi nhiễm ô liên quan đến phương diện thực hành của Đạo Phật trong khi hai điểm nêu trên (không làm tất cả những điều ác và làm tất cả những việc lành) liên quan đến khía cạnh đạo đức của Đạo Phật.

 

Trong bài kinh Phúc đức (Mangala Sutta, Sutta-nipàta, câu 258-269) có 38 loại cầu nguyện. Trong bài kinh có nhiều nguyên tắc đạo đức để tuân theo, giúp chúng ta có thể sống hạnh phúcbình an như:

 

Con nên sống ở một nơi thích hợp nơi con có thể thuận lợi về mọi mặt, làm được những việc tốt trong quá khứ.

 

Hiện tại con cũng nên làm nhiều việc thiện, càng nhiều càng tốt.

 

Con nên cẩn trọng giữ gìn ba nghiệp thân khẩu ý.

 

Điều đó có nghĩa là chúng ta nên giữ thân khẩu ý thanh tịnh. Theo cách này chúng ta có nhiều khía cạnh đạo đức để tuân theo để chúng ta có thể sống hạnh phúcbình an.

 

Tôi muốn nhắc bạn nhớ tới bài kinh Amabalatthika Rahulovadasutta số 61 (Majjhima-nikaya, Sutta No.61) có thể rất quen thuộc với bạn. Trong bài kinh đó, Đức Phật khuyến khích con trai Ngài, La Hầu La, mới chỉ là một sa di (samanera) 7 tuổi, ngoan ngoãn, vui tươibình an. Đức Phật dạy La Hầu La dừng lại và suy ngẫm mỗi khi mình có ý định làm một việc gì.

 

La Hầu La, con phải ý thức rõ ràng điều con định sẽ làm và cân nhắc xem liệu điều đó có làm hại bản thân con hay người khác không. Bằng cách cân nhắc như vậy, nếu con thấy rằng việc làm này sẽ tổn hại đến bản thân con hay người khác, con không được làm việc đó. Nhưng nếu hành động này không làm hại bản thân con hay người khác, con có thể làm nó.

 

Theo cách này, Đức Phật hướng dẫn La Hầu La cân nhắc việc gì sẽ được làm, ý thức rõ ràng việc gì đang được làm và suy ngẫm về việc đã được làm. Vì thế khía cạnh đạo đức này là cách tốt nhất để chúng ta sống một cách hạnh phúcbình an trong đời sống hàng ngày. Không thể đếm hết được những khía cạnh đạo đức đưa chúng ta đến một đời sống hạnh phúcbình an. Nếu chúng ta cố gắng hiểu những mặt đạo đức này và tuân theo chúng, chúng ta chắc chắn sống một cuộc đời hạnh phúcbình an mặc dù chúng ta không thể thoát khỏi mọi khổ đau.

Ethical Aspect

 

      The second aspect of Buddhism is the ethical aspect. This is following the Buddha's teaching regarding our actions, speech and mental purification. There are many doctrines concerned with the ethical aspect of Buddhism.

 

      By following these doctrines, we can lead a happy life in this existence as well as the next but we cannot yet be rid of suffering totally. The ethical aspects of Buddhism are:

  1. Refraining from all kinds of evil deeds,
  2. Performing meritorious or good deeds,
  3. Purifying the mind from all kinds of defilements.

      These are the three parts of the ethical aspect of what the Omniscient Buddha has taught us and they are the exhortations of all the Buddhas. If we follow these doctrines, we can lead a happy and peaceful life because Buddhism is founded on the Law of Cause and Effect. If we refrain from all kinds of evil deeds, we will not suffer any bad results.

 

      As to the purification of mind from defilements, we have to practise Samatha meditation as well as Vipassana meditation. With Samatha meditation our mind can be purified only while it is engaged in the meditative practice, but when it is not, defilements will attack us again. If we purify our minds through the realization of the mind-body processes in their true nature, the defilements will not return. Realization or insight into mental and physical phenomena is known as Vipassana-nana (insight knowledge). It overcomes some aspects of defilements and reduces defilements such as greed, anger, delusion and so on. Certain defilements which have been destroyed by means of Vipassana-nana (penetrative insight) will not be able to attack us again. In other words, when we have experienced insight knowledge, that experience will not disappear or go away from us. When we reflect on the experience we have had during meditation, the insight that we attained comes to us again, and with this insight, some aspects of defilements abandoned by insight will not arise again. Thus, we can purify our minds from some defilements. But if we have enough saddha, we will put forth greater effort in our practice and attain the Fourth Path, Arahantship. Then we can exterminate every defilement.. When the defilements have been totally destroyed and the mind completely purified there will not arise any dukkha or suffering. Suffering ceases to exist. This purification of the mind from defilements is concerned with the practical aspect of Buddhism whereas the former two points are concerned with the ethical aspect of Buddhism.

 

      There is also the Mangala Sutta (Sutta-nipata, verses 258-269) with 38 kinds of blessings. In the suttas are many ethics to follow which enable us to live happily and peacefully such as:

 

  • You should live in a suitable place where you can be prosperous in every aspect, having done meritorious deeds in the past.
  • You should do meritorious deeds as much as possible at present too.
  • You must watch your deeds, speech and mind properly. 

      
That means, we should keep our deeds, speech and thoughts free from defilements. In this way, we have many aspects of ethics to follow so that we can live happily and peacefully.

 

      I want to remind you of the Ambalatthika Rahulovadasutta (Majjhima-nikaya, Sutta No.61) which may be familiar to you. In that sutta, the Buddha encouraged his son, Rahula, who was a seven year old samanera, to live properly, happily and peacefully. The Buddha taught Rahula to stop and reflect whenever he had the intention of doing something.

 

      Rahula, you must be mindful of what you are going to do and consider whether this deed will be harmful to yourself or to others. By considering thus, if you find that this deed will be harmful to yourself or to others, you must not do it. But if this deed will not be harmful to yourself or to others, you may do it.

 

      In this way, the Buddha instructed Rahula to consider what is to be done, to be aware of what is being done and to reflect on what has been done. So this ethic too is the best way for living happily and peacefully in our daily life. There are innumerable aspects of ethics conducive to a happy and peaceful life. If we try to understand these ethics and follow them, we are sure to live a happy and peaceful life although we cannot yet get rid of all our suffering.


Phương diện phẩm hạnh

 

Mặc dù những giá trị đạo đức này rất có ích cho một đời sống hạnh phúcbình an, chúng ta không nên chỉ dừng lại ở đây. Chúng ta nên tiến lên bình diện cao hơn của Đạo Phật, phương diện thứ ba - phương diện phẩm hạnh. Trong phương diện phẩm hạnh, bạn phải tuân thủ các giới luật hoặc năm, tám hay mười. Mười giới giành cho Sa di (sàmaneras) trong khi 227 giới là giành cho Tỷ khiêu (bhikkhus). Trong đời sống hàng ngày chúng ta nên tuân giữ ít nhấtnăm giới. Khi chúng ta có thể giữ năm giới một cách hoàn hảo, giới hạnh của chúng ta thanh tịnh. Khi giới hạnh thanh tịnh, một thiền giả có thể dễ dàng thực tập thiền dù là thiền Samatha hay thiền Vipassanà. Dựa trên sự thanh tịnh của giới hạnh, một thiền giả có thể dễ dàng tập trung vào đối tượng của thiền và đạt được định sâu, nhờ đó mà tâm được trong sáng, thanh thảnhạnh phúc.

Moral Aspect

 

      Though these ethics are very conducive to a happy and peaceful life, we should not be contented merely with the second aspect of Buddhism. We should proceed to the higher aspects of Buddhism, the third aspect- the moral aspect. In the moral aspect, you must observe precepts, either five, eight or ten. The ten precepts are for novices (samaneras) while the 227 rules are for monks (bhikkhus). In daily life, we must observe at least the five precepts. When we can observe the five precepts perfectly, our morality is purified. When moral conduct is purified, a meditator can easily practise meditation, either Samatha or Vipassana meditation. Based on purification of moral conduct, a meditator can easily concentrate on the object of meditation and gain deep concentration, whereby the mind is clear, serene and happy.


Phương diện thực hành

 

Tiếp theophương diện thứ tư, tức là phương diện thực hành của Đạo Phật. Chúng ta phải tập thiền để chúng ta có thể tẩy sạch mọi nhiễm ô và kết quả là chấm dứt khổ đau. Ở đây chúng ta tập hai loại thiền vốn làm nên khía cạnh thực hành của Đạo Phật - một loại cho phép chúng ta đạt được định sâu, và loại kia cho phép chúng ta chấm dứt khổ đau bằng cách nhận ra hiện tượng thân và tâm theo đúng bản chất của chúng. Đức Phật nhấn mạnh vào loại thiền thứ hai - Vipassana. Khi chúng ta tập thiền Vipassana, chúng ta phải theo bài Maha Satipatthana Sutta, tức là Tứ Niệm Xứ. Nếu chúng ta ý thức rõ ràng tất cả các tiến trình thân - tâm của chúng ta, chúng ta chắc chắn sẽ đạt được sự chấm dứt khổ đau. Đức Phật đã nói về Tứ Niệm Xứ khi Ngài giảng bài pháp Maha Satipatthana Sutta ở tỉnh Kuru.

 

Practical Aspect

 

      Next, we have the fourth aspect, i.e. the practical aspect of Buddhism. We must practise meditation so that we can deliver ourselves from defilements and, as a result, attain the cessation of all kinds of suffering. Here, we practise two kinds of meditation which make up the practical aspect of Buddhism - one to enable us to attain deep concentration, and the other to enable us to attain the cessation of suffering through the realization of mentality and physicality in their true nature. The Buddha stressed the second type of meditation - Vipassana-meditation. When we practise Vipassana meditation, we have to follow the Maha Satipatthana Sutta, the discourse on the Four Foundations of Mindfulness. If we apply mindfulness to all our mind-body processes,

 

      we are sure to attain the cessation of suffering. The Buddha described the four Foundations of Mindfulness when he gave the discourse on Maha Satipatthana Sutta in Kuru province.


Bảy lợi ích của Thiền

 

Trong đoạn giới thiệu của kinh (sutta) đó, Đức Phật đã giảng về bảy lợi ích mà thiền giả có thể đạt được nhờ tự mình thực hành Phật Pháp.

 

Lợi ích thứ nhất là sự thanh tịnh. Khi một người tập tỉnh thức, anh ta có thể làm trong sạch mình thoát khỏi mọi ô nhiễm. Từ Pali "kilesa" có thể quen thuộc với bạn. Các học giả Đạo Phật dịch từ kilesa là sự ô nhiễmKilesa có 10 loại chính: Lobha, Vicikiccha, Dosa, Thina-middha, Moha, Uddhacca-kukkucca, Ditthi, Ahirika, Mana, Anottappa.

 

1) Lobha không chỉ có nghĩa là tham ăn mà còn là dục vọng, tham sắc, tham tiền, dính mắc và tham ái. Khi một trong những trạng thái tâm này nảy sinh trong chúng ta, tâm chúng ta trở nên nhiễm ô. Vì thế những thứ này được gọi là ô nhiễm.

 

2) Dosa là hận thù, giận dữ, ác độc hay ác cảm.

 

3) Moha là ảo tưởng hay vô minh.

 

4) Ditthi là tà kiến hay quan niệm sai lầm.

 

5) Màna là kiêu căng.

 

6) Vicikicchà là nghi ngờ.

 

7) Thina-middha là lười biếng, giải đãihôn trầm. Ngủ cũng thuộc về giãi đãi và hôn trầm. Giải đãihôn trầm là ‘những người bạn cũ’ của thiền giả và của những người nghe Pháp.

 

Ngày nay, trong khi trình pháp, tất cả các thiền sinh đều trình bày một kinh nghiệm: "Tôi cảm thấy mệt mỏi và buồn ngủ". Khi mới bắt đầu tập, chúng ta phải đấu tranh vì chúng ta vẫn chưa quen với việc thực hành thiền minh sát. Đây là giai đoạn khá khó khăn của thiền, nhưng nó sẽ không kéo dài lâu. Nó có thể kéo dài hai hay ba ngày. Sau ba ngày, tất cả các thiền sinh sẽ cảm thấy ổn. Họ sẽ không cảm thấy quá khó khăn để vượt quá những người “bạn cũ” cản trở họ phát triển khả năng định tâmtrí tuệ.

 

8) Uddhacca kukkucca có nghĩa là trạo cửhối quá.

 

9) Ahirika có nghĩa là vô tàm. Đó là người không biết hổ thẹn vì những việc làm, lời nóisuy nghĩ xấu ác của mình.

 

10) Anottappa có nghĩa là vô quí - đó là người không biết sợ hãi, e ngại những việc làm, lời nói hay suy nghĩ xấu ác. Vô quí là một thứ nhiễm ô.

 

Đây là mười thứ ô nhiễm cần phải loại bỏ khỏi tâm chúng ta nhờ thiền Minh sát. Đức Phật nói:

 

Nếu một người thực hành thiền minh sát, người đó có thể trừ sạch mọi ô nhiễm.

 

Điều đó có nghĩa là anh ta có thể đạt được quả vị Alahán khi anh ta đã hoàn toàn trừ sạch mọi ô nhiễm. Đây là lợi ích thứ nhất.

 

Lợi ích thứ hai của sự tỉnh thức là vượt được qua buồn rầulo lắng. Bạn sẽ không lo lắng về sự thất bại, hay cảm thấy buồn tiếc vì cái chết của người thân, hay việc bị mất việc. Bạn sẽ không cảm thấy hối tiếc vì bất kỳ điều gì nếu bạn thực hành thiền minh sát. Mặc dù bạn chưa đạt được đến Đạo hay Quả vị nào (magga và phala), nhưng bạn vẫn có thể vượt qua buồn phiềnlo lắng ở một mức độ nào đó bởi vì khi buồn phiềnlo lắng nảy sinh bạn sẽ tỉnh thức thấy chúng như chúng đang là. Khi sự tỉnh thức trở nên mạnh mẽ, buồn phiềnlo lắng đó sẽ dừng lại và biến mất. Khi bạn đã hoàn toàn phát triển thiền minh sát, bạn chắc chắn đạt được quả vị Alahán, và do đó vĩnh viễn thoát khỏi buồn phiền, lo lắng. Theo cách này, lo lắngbuồn phiền có thể vượt qua bằng thiền minh sát.

 

Lợi ích thứ ba là vượt qua được những đau thương mất mát. Mặc dù cha mẹ, con cái hay họ hàng bạn mất, bạn sẽ không than khóc vì họ bởi lẽ bạn hoàn toàn nhận thấy rằng các quá trình thân và tâm tạo nên những gì được gọi là "con" hay "cha mẹ". Theo cách này, sự xót xa than khóc có thể vượt qua nhờ thiền minh sát. Đề cập đến lợi ích thứ ba này, kinh Maha Satipatthana Sutta (Tứ niệm xứ) đã kể câu chuyện sau:

 

Một người phụ nữ tên là Patacara, chồng, hai con trai, cha mẹ và những người anh trai của cô đã chết trong vòng một hay hai ngày, do đó cô đã phát điên vì buồn đau, lo lắng và than khóc. Cô đã bị nhận chìm bởi đau buồn do cái chết của những người cô yêu quí.

 

Bài luận kể câu chuyện này để chứng minh là một người có thể vượt qua được buồn phiền, lo lắngđau xót nhờ tu tập thiền minh sát.

 

Một ngày, Đức Phật giảng một bài pháp ở tu viện Jetavana gần Savatthi. Người phụ nữ điên đang đi lang thang này đã bước vào tịnh xá và nhìn các thính giả đang nghe pháp. Cô tiến về phía những thính giả. Một người đàn ông già- người rất tốt với người nghèo, đã cởi áo khoác trên và đưa cho cô gái và nói với cô: "Này con gái, hãy lấy chiếc áo này mà che thân." Cùng lúc đó, Đức Phật nói với cô: “Này em gái, hãy tỉnh thức". Nhờ giọng nói dịu dàng của Đức Phật, cô gái điên đã tỉnh trí lại. Sau đó cô ngồi bên cạnh các thính giả và lắng nghe bài pháp. Đức Phật biết rằng cô gái đã tỉnh lại nên nhắm bài thuyết pháp vào cô. Nghe Đức Phật thuyết pháp, trí óc cô dần dần tiếp thu được ý nghĩa kinh thú. Khi tâm cô đã đến lúc sẵn sàng để nhận ra Pháp, Đức Phật trình bày Tứ Diệu Đế:

 

Dukkha-sacca - Khổ đế
Samudaya-sacca - Tập đế
Nirodha-sacca - Diệt đế
Magga-sacca - Đạo đế

 

Tứ Diệu Đế bao gồm những lời pháp làm thế nào để ý thức rõ ràng bất kỳ điều gì nảy sinh trong thân và tâm bạn như nó thực sự là.

 

Patacara tỉnh lại, hiểu đúng phương pháp chính niệm tỉnh thứcáp dụng đối với bất kỳ điều gì nảy sinh trong các quá trình thân-tâm và bất kỳ điều gì cô nghe thấy. Khi sự tỉnh thức của cô đã có đà, định của cô càng trở nên sâu và mạnh hơn. Vì định của cô trở nên sâu, sự thâm hiểu của cô đối với các quá trình thân-tâm trở nên mạnh mẽ, và cô dần nhận ra các đặc tính riêng và các đặc tính chung của các hiện tượng thân và tâm. Do đó, cô từng bước kinh nghiệm qua tất cả các cấp độ của tuệ minh sát trong khi nghe giảng Pháp, và đạt được Đạo quả đầu tiên, Sotapatti-magga. Thông qua kinh nghiệm về Pháp của bản thân cô nhờ việc thực hành thiền minh sát, tất cả những nỗi buồn, lo lắng, tiếc thương mà cô đã có giờ biến mất hết, và cô trở thành một con người mới. Cô đã vượt qua được những lo lắng, buồn phiềnsầu bi bằng cách thực hành thiền minh sát. Vì thế, luận về Maha Satipatthana Sutta đã kể lại câu chuyện này. Không chỉ những người sống ở thời Đức Phật, mà cả những người sống ở thời đại ngày nay đều có thể vượt qua được buồn phiềnlo lắng nếu như họ thực tập thiền minh sát để đạt được cấp độ cao hơn của tuệ. Bạn cũng ở trong số những người có thể vượt qua được buồn phiềnlo lắng bằng phương tiện của thiền minh sát.

 

Lợi ích thứ tư là hết khổ về thân.

 

Lợi ích thứ năm là hết khổ về tâm.

 

Bạn có thể vượt qua khổ về thân như đau, căng cứng, ngứa, tê cóng và những thứ tương tự nhờ chính niệm trong khi chuyên tu thiền cũng như trong đời sống hàng ngày. Khi bạn có kinh nghiệm nào đó trong thực tập thiền, bạn có thể vượt được qua nỗi khổ về thân và tâm ở mức độ cao. Nếu bạn nỗ lực và đầu tư đủ thời gian, bạn có thể xoá bỏ vĩnh viễn cả khổ về thân và tâm khi bạn đạt được qủa vị Alahán. Nhưng trong khi thiền bạn có thể vượt qua cái đau, căng cứng, tê cóng , ngứa và tất cả các cảm giác khó chịu của thân nhờ quan sát chúng rất chăm chú và tỉ mỉ. Vì thế bạn không cần e ngại cái đau, căng cứng hay tê cóng bởi vì đó là những người bạn tốt có thể giúp bạn chấm dứt khổ đau. Nếu bạn quan sát cái đau một cách mạnh mẽ, chính xác và kĩ lưỡng, nó có thể dường như nghiêm trọng hơn vì bạn biết nó nhiều hơn và rõ ràng hơn. Khi bạn đã hiểu sự khó chịu của cảm giác đau này, bạn sẽ không đồng nhất nó với bản thân bạn bởi vì cảm giác này được hiểu chỉ như là một quá trình tự nhiên của các hiện tượng tâm. Bạn không bám víu vào cảm giác đau xem nó là "Tôi" hay "của tôi" hay "cho tôi", hay một con người hoặc một "sinh vật". Theo cách này, bạn có thể dẹp bỏ quan niệm sai lầm về một linh hồn, một bản ngã, một con người, một sinh vật, một "cái tôi" hay một cái "anh".

 

Khi gốc rễ của mọi nhiễm ô, có nghĩa là quan niệm sai lầm về một bản ngã, về một linh hồn...(sakkaya-ditthi hay atta-ditthi) đã bị diệt trừ bạn chắc chắn sẽ đạt được Đạo quả thứ nhất, Sotapatti-magga (Dự lưu). Sau đó bạn có thể tiếp tục việc thực tập để đạt được ba cấp bậc cao hơn của Đạo Quả. Đó là lý do tại sao tôi nói là cảm giác khó chịu về thân như đau, căng cứng và tê cóng là "những người bạn tốt" của bạn- có thể giúp bạn đạt được diệt đế. Nói cách khác, cảm giác tê cóng hay bất kỳ cảm giác đau nào là chìa khoá vào cánh cửa Niết bàn (nibbana). Khi bạn cảm thấy đau, bạn thật là may mắn. Đau là một đối tượng rất có giá trị của thiền vì nó thu hút "tâm ghi nhận" ở lại chỗ đau trong một khoảng thời gian rất dài. Tâm ghi nhận có thể tập trung rất sâu bị thu hút vào nó. Khi tâm đã hoàn toàn bị thu hút vào cảm giác đau, bạn sẽ không còn ý thức về hình dáng của thân thể bạn hay bản thân bạn. Điều đó có nghĩa là bạn đang nhận ra sabhava-lakkhana của cái đau hay các đặc tính riêng có của cảm giác đau (dukkha-vedana). Tiếp tục thực hành bạn sẽ có thể nhận ra các đặc tính chung của các hiện tượng thân và tâm là bản chất vô thường, khổ, vô ngã. Điều đó sẽ dẫn bạn đến sự chấm dứt khổ đau. Vì thế bạn thật may mắn nếu bạn bị đau.

 

Ở Miến Điện, có một vài thiền giả đã qua cấp độ thứ ba của tuệ minh sát (sammasana-nana), gần như đã hoàn toàn vượt qua được tất cả các cảm giác đau, nhưng không thoả mãn với sự thực hành của họ bởi vì họ không có cái đau để ghi nhận. Vì thế họ gập chân lại và ấn chúng để họ có thể cảm thấy đau. Họ đang tìm kiếm "người bạn tốt" có thể dẫn họ đến chấm dứt khổ đau.

 

Khi bạn cảm thấy bất hạnh, bạn hãy quán sát nỗi bất hạnh đó một cách liên tục, chăm chú, và kĩ lưỡng là "bất hạnh, bất hạnh". Nếu bạn cảm thấy tuyệt vọng, sự tuyệt vọng đó phải được quan sát rất chăm chú và kiên trì. Khi sự tỉnh thức của bạn trở nên mạnh mẽ, sự bất hạnhtuyệt vọng sẽ không còn tồn tại nữa. Vì thế vượt qua được những đau khổ về tâm là lợi ích thứ năm của thiền minh sát.

 

Lợi ích thứ sáu là giác ngộ - Đạo và Quả (magga và phala). Khi bạn dành đủ thời giannỗ lực cho thiền minh sát, ít nhất bạn sẽ đạt được Quả Thánh thứ nhất, Sotapatti-magga. Đây là lợi ích thứ sáu của thiền minh sát.

 

Lợi ích thứ bảy là bạn chắc chắn sẽ đạt được Niết bànđược giải thoát nhờ thực hành thiền minh sát.

 

Tóm lại, bảy loại lợi ích của thiền minh sát mà một hành giả thiền Vipassanà có thể có được nhờ những kinh nghiệm của bản thân mình về Pháp là:

 

1) Thanh tịnh tâm ý, thoát khỏi mọi ô nhiễm.
2) Vượt qua được buồn phiềnlo lắng.
3) Vượt qua được sự đau buồn than tiếc.
4) Chấm dứt mọi nỗi khổ về thân.
5) Chấm dứt mọi nỗi khổ về tâm.
6) Giác ngộ.
7) Đạt đến Niết bàn.

 

Đức Phật đã bắt đầu bài Maha Satipatthana (Đại kinh Niệm xứ) với bảy lợi ích này của thiền minh sát. Bạn chắc chắn sẽ đạt được bảy lợi ích này nếu bạn nỗ lực tích cực trong thực hành.

 

Chúng ta hạnh phúcchúng ta tin tưởng Đức Phật - đấng giác ngộ và người dạy chúng ta con đường chân thật để chấm dứt khổ đau. Nhưng chúng ta không được tự mãn. Trong các tạng kinh bằng tiếng Pàli có một câu chuyện ngụ ngôn:

 

Có một cái ao to với đầy nước trong và nhiều hoa sen trong đó. Đôi tay của một người du lịch thì bẩn. Anh ta biết rằng nếu anh ta rửa tay trong ao thì tay sẽ sạch. Nhưng mặc dù biết thế anh ta vẫn không đi đến cái ao và rửa tay, tay anh ta vẫn bẩn. Thế là anh ta đi qua cái ao và tiếp tục cuộc hành trình của mình.

 

Câu hỏi mà bài kinh đặt ra là: "Nếu tay người đàn ông đó vẫn bẩn thì ai là người có lỗi, cái ao hay người du hành?". Rõ ràng đó là lỗi của người du hành. Mặc dù anh ta biết rằng anh ta có thể rửa sạch tay ở cái ao đó nhưng anh ta đã không làm thế. Vì thế người du hành mới là người có lỗi. Đức Phật dạy chúng ta con đường để tỉnh thức. Nếu chúng ta biết cách nhưng chúng ta không thực hành sự tỉnh thức, chúng ta sẽ không thoát khỏi đau khổ. Nếu chúng ta không thoát khỏi đau khổ, ai là người có lỗi? Rõ ràng chúng ta là người đáng trách. Nếu bạn thực hành thiền minh sát với nỗ lực tích cực, bạn sẽ thanh tịnh mình thoát khỏi mọi nhiễm ôthoát khỏi mọi khổ đau nhờ đạt được bảy lợi ích này của thiền minh sát.

 

Seven Benefits of Meditation

 

      In the introductory passage of that sutta, the Buddha explained the seven benefits which a meditator can gain through his own experience of Dhamma.

 

      The First Benefits purification. When a person practises mindfulness, he can purify his being from all defilements. The Pali word 'kilesa' may be familiar to you. The word 'kilesa' is translated as defilements by Buddhist scholars. The kilesa are of ten main kinds:

 

  1. Lobha
  2. Dosa
  3. Moha
  4. Ditthi
  5. Mana
  6. Vicikiccha
  7. Thina-middha
  8. Uddhacca kukkucca
  9. Ahirika
  10. Anottappa

      Lobha means not only greed but also desire, lust, craving, attachment and love. When one of these mental states arises in us, our mind gets defiled. So these are known as defilements.

 

  • Dosa is hatred, anger, ill-will or aversion.
  • Moha is delusion or ignorance.
  • Ditthi is wrong view or false view.
  • Mana is conceit.
  • Vicikiccha is sceptical doubt.
  • Thina-middha is sloth and torpor. Sleepiness also comes under sloth and torpor. Sloth and torpor are 'old friends' of meditators and also those who listen to the Dhamma.


      Today, during interview, all the meditators reported the experience: 'I am tired, 1 feel sleepy'. At the beginning of the practice, we have to struggle because we have not yet become accustomed to the task of mindfulness meditation. This is a critical stage of meditation, but it will not last long. It may last for two or three days. After three days, all meditators will be all right. They will not find it too difficult to overcome these 'old friends' which are obstructing their progress in concentration as well as insight.

 

      Uddhaaca kukkucca means restlessness and remorse.

 

      Ahirika means moral shamelessness. One who is not ashamed of evil deeds in speech, thought and action.

 

      Anottappa means moral fearlessness - that is one is not afraid of evil deeds in speech, thought and action. This moral fearlessness is one of the defilements.

 

      These are the ten kinds of defilements which must be abandoned or removed from our minds by means of Vipassana meditation. The Buddha says: If one practises mindfulness meditation, one can be purified from all defilements.

 

      That means, he can attain Arahantship when he is completely purified from all kinds of defilements. This is the first benefit.

 

      The Second Benefit of mindfulness is the overcoming of sorrow and worry.

 

      You will not be worried about failure, or be sorry about the death of your relatives, or about the loss of your work. You will not be sorry about anything if you practise this mindfulness meditation. Although you have not attained any Path and Fruition (magga and phala ), you can overcome sorrow and worry to some extent, because when sorrow or worry arises, you will be mindful of it as it is. When mindfulness becomes powerful, that worry or sorrow will stop and disappear. When you have completely developed mindfulness meditation, you are sure to attain Arahantship, and hence be free from worry and sorrow permanently. In this way, worry and sorrow can be overcome by mindfulness meditation.

 

      The Third Benefit is that of overcoming lamentation. Although your parents, children or relatives die, you will not have any lamentation for them because you have fully realized that mental and physical processes constitute the so-called 'child' or the so-called 'parents'. In this way, lamentation can be overcome by mindfulness meditation. Regarding the third benefit, the commentary on the Maha Satipatthana Sutta mentions a story: A woman, named Patacara, whose husband, two sons, parents and brothers had died within a day or two, went mad due to sorrow, worry and lamentation. She was overwhelmed by sorrow over the death of the people she loved.

 

      The commentary mentions this story as proof that one can overcome sorrow, worry and lamentation by means of mindfulness meditation.

 

      One day, the Buddha was giving a discourse to an audience at Jetavana monastery near Savatthi. Then this mad woman, who was going for a stroll, went into the monastery and saw the audience listening to the discourse. She approached the audience. An old man, who was very kind to the poor, took off his upper robe threw it to the woman and said to her. "Dear daughter, please use my robe to cover your body." At the same time the Buddha said to her, "Dear sister, be mindful." Because of the soothing voice of the Buddha, the mad woman come to her senses. She then sat at the edge of the audience and listened to the discourse. The Buddha, knowing that she had come to her senses, aimed his discourse at her. Listening to the discourse given by the Buddha, the woman's mind gradually absorbed the essence of the doctrine. When her mind was well prepared to realise the Dhamma, the Buddha expounded the Four Noble Truths:-

 

  1. Dukkha-sacca (The Truth of Suffering) 
  2. Samudaya-sacca (The Truth of the Cause of Suffering)
  3. Nirodha-sacca (The Truth of the Cessation of Suffering)
  4. Magga-sacca (The Truth of the Way Leading to the Cessation of Suffering)

      The Fourth Noble Truth includes advice on how to be mindful of whatever arises in our mind and body as it really is.

 

      Patacara, having come to her senses, rightly understood the technique of mindfulness, applied it to whatever arose in the mind-body processes and to whatever she heard. As her mindfulness gained momentum, her concentration became deeper and stronger. Because her concentration became deep, her insight and penetrating knowledge of the mind - body processes became powerful, and she gradually realized both the specific characteristics and common characteristics of mental and physical phenomena. Thus she progressively experienced all the stages of insight knowledge while listening to the discourse, and attained the First Path, Sotapatti-magga. Through her own personal experience of the Dhamma by means of mindfulness meditation, the sorrow, worries and lamentation she had had, totally disappeared from her mind, and she became a 'new woman'. Thus she overcome her worry, sorrow and lamentation by means of mindfulness meditation. So the commentary on the Maha Satipatthana Sutta mentioned not only the people during the time of the Buddha, but also people nowadays can overcome sorrow and worry if they practise this mindfulness meditation to attain some higher stages of insight. You are also included in those people who can overcome sorrow and worry by means of mindfulness meditation.

 

      The Fourth Benefit is the cessation of physical suffering.

 

      The Fifth Benefit is the cessation of mental suffering.

 

      Physical suffering such as pain, stiffness, itchiness, numbness and so on can be overcome by this mindfulness in meditation retreats as well as in daily life. When you have some experience in the meditation practice, you can overcome your mental and physical suffering to a large extent. If you invest enough effort and time you can exterminate both mental and physical suffering permanently when you have attained Arahantship. But during meditation, you can overcome pain, stiffness, numbness, itchiness and all kinds of unpleasant physical sensations by observing them very attentively and closely. Therefore, you need not be afraid of pain, stiffness or numbness because these are your 'good friends' who can help you to attain the cessation of suffering. If you observe the pain energetically, precisely and closely, it may seem more severe because you know it more and more clearly. When you have comprehended the unpleasantness of this painful sensation, you will not identify it with yourself because the sensation is perceived as just a natural process of mental phenomena. You are not attached to the painful sensation as 'I' or 'mine' or 'me', or a 'person' or a 'being'. In this way, you can eradicate the wrong view of a soul, a self, a person, a being, an 'I' or a 'you'.

 

      When the root of all kinds of defilements, i.e. sakkaya-ditthi or atta-ditthi has been destroyed you are sure to attain the First Path, Sotapatti-magga. Then you can proceed with your practice to attain the three higher stages of the Path and Fruition. That is why I say that unpleasant physical sensations such as pain, stiffness and numbness are your 'good friends' who can help you to attain the cessation of suffering. In other words, this numbness or any painful sensation is the key to the door of nibbana. When you feel pain, you are lucky. Pain is the most valuable object of meditation because it attracts the 'noting mind' to stay with it for a very long time. The 'noting mind' can concentrate on it deeply and be absorbed in it. When the mind is completely absorbed in the painful sensation, you will no longer be aware of your bodily form or yourself. It means you are realizing the sabhava-lakkhana of the pain or the individual characteristic of the painful sensation (dukkha-vedana). Proceeding with the practice you will be able to realise the common characteristics of impermanence, suffering and no-soul or no-self nature of mental and physical phenomena. Then that will lead you to the cessation of all kinds of sufferings. So you are lucky if you have pain.

 

      In Burma, some meditators, having passed the third stage of insight knowledge (sammasana-nana), almost completely overcame all painful sensations, but were dissatisfied with their practice because they had no pain to note. So they folded their legs under themselves and pressed them so that they could get pain. They were looking for their 'good friend' who could lead them to the cessation of suffering.

 

      When you feel unhappy, please observe that unhappiness insistently, attentively and very closely as 'unhappy, unhappy'. If you feel depressed, that depression must be observed very attentively and perseveringly. When your mindfulness becomes powerful, the unhappiness and depression will cease to exist. So the overcoming of mental suffering is the fifth benefit of mindfulness meditation

 

      The Sixth Benefit is the attainment of enlightenment, the Path and Fruition (magga and phala). When you devote enough time and effort to your mindfulness meditation, you will attain at least the First Path, Sotapatti-magga. This is the sixth benefit of mindfulness meditation.

 

      The Seventh Benefit is that you are sure to attain nibbana, deliverance, emancipation through mindfulness meditation.

 

      The seven kinds of benefits of mindfulness meditation which the Vipassana meditator can gain through personal experience of Dhamma:

 

  1. Purification from all kinds of defilements. 
  2. Overcoming sorrow and worry.
  3. Overcoming lamentation.
  4. Cessation of all kinds of physical suffering.
  5. Cessation of all kinds of mental suffering.
  6. Attainment of enlightenment.
  7. Attainment ofnibbana.

      The Buddha began the Maha Satipatthana Sutta with these seven benefits of mindfulness meditation. So you are sure to acquire these seven benefits if you put strenuous effort into your practice.

 

      We are lucky because we believe in the Buddha who is enlightened and who teaches the right way which leads to the cessation of suffering. But we should not be complacent. In the Pali texts, there is a simile:

 

      There is a great pond full of clear water with many lotus flowers in it. A travellers hands are dirty. He knows that if he washes them in the pond, they will be clean. But though he knows it, he does not go to the pond to wash his hands, his hands are still dirty. In this way, he passes the pond and continues his journey.

 

      Then the question was asked in the text: "If the man remains dirty, who is to be blamed, the pond or the traveller?" Obviously, the traveller. Though he knew he could wash the dirt away in the pond, he did not do it. Therefore, the traveller is to be blamed. The Buddha teaches us the way of mindfulness. If we know the way but do not practise this mindfulness meditation, we will not get rid of suffering. If we do not get rid of suffering, who should be blamed? The Buddha, the way of mindfulness, or us? Yes, we should be blamed. If you practise this mindfulness meditation with strenuous effort, you will purify yourself from all defilements and get rid of suffering by obtaining these seven kinds of benefit., of mindfulness meditation.

__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 424)
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 697)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 826)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 694)
03 Tháng Tư 202011:37 CH(Xem: 134)
Có thể nói, sự hiểu biết quan trọng nhất trong cuộc sống là sự hiểu biết về bản chất thực của hiện hữu, một sự hiểu biết có thể trả lời được những câu hỏi sau một cách hợp lý: - Tại sao chúng ta sanh ra? - Chúng ta đi vào hiện hữu hiện nay như thế nào? - Điều quan trọng nhất phải làm trong cuộc đời này là gì? - Thế nào là chết?
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 197)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 220)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 190)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
27 Tháng Ba 20203:30 CH(Xem: 176)
TRÌNH BÀY TÓM LƯỢC 4 CÕI - Trong 4 loại ấy, gọi là 4 cõi. Tức là cõi khổ, cõi vui, Dục-giới, Sắc-giới, cõi Vô-sắc-giới. NÓI VỀ 4 CÕI KHỔ - Trong nhóm 4 cõi ấy, cõi khổ cũng có 4 là: địa ngục, Bàng sanh, Ngạ quỉ và Atula. NÓI VỀ 7 CÕI VUI DỤC GIỚI -
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 227)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
24 Tháng Ba 20202:32 CH(Xem: 220)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Đức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận - Khināsava, bậc đã đoạn trừ mọi lậu hoặc. Chính vì thế, người đi tìm chân lý cần phải hiểu rõ những lậu hoặc này là gì, và làm cách nào để loại trừ được nó.
23 Tháng Ba 20203:56 CH(Xem: 245)
Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chímục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được
22 Tháng Ba 20209:08 CH(Xem: 213)
Everyone is aware of the benefits of physical training. However, we are not merely bodies, we also possess a mind which needs training. Mind training or meditation is the key to self-mastery and to that contentment which brings happiness. Of all forces the force of the mind is the most potent. It is a power by itself. To understand the real nature
21 Tháng Ba 20209:58 CH(Xem: 238)
Chúng ta lấy làm phấn khởi mà nhận thấy rằng hiện nay càng ngày người ta càng thích thú quan tâm đến pháp hành thiền, nhất là trong giới người Tây phương, và pháp môn nầy đang phát triễn mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học khuyên
20 Tháng Ba 20208:30 CH(Xem: 211)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc
17 Tháng Ba 20205:51 CH(Xem: 337)
Mindfulness with Breathing is a meditation technique anchored In our breathing, it is an exquisite tool for exploring life through subtle awareness and active investigation of the breathing and life. The breath is life, to stop breathing is to die. The breath is vital, natural, soothing, revealing. It is our constant companion. Wherever we go,
16 Tháng Ba 20204:16 CH(Xem: 324)
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thởđời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện.
15 Tháng Ba 202012:00 CH(Xem: 264)
Phật giáođạo Phật là những giáo lý và sự tu tập để dẫn tới mục tiêu rốt ráo của nó là giác ngộgiải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, (a) mọi người thế tục đều đang sống trong các cộng đồng dân cư, trong các tập thể, đoàn thể, và trong xã hội; và (b) những người xuất gia dù đã bỏ tục đi tu nhưng họ vẫn đang sống tu
13 Tháng Ba 20209:16 CH(Xem: 248)
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số người xem thiền như là một thứ có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem nó như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh,
12 Tháng Ba 20209:36 SA(Xem: 370)
Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipaṭṭhāna được xem là bài kinh quan trọng nhất trên phương diện thực hành thiền Phật giáo. Các thiền phái Minh Sát, dù khác nhau về đối tượng quán niệm, vẫn không xa khỏi bốn lĩnh vực: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp mà Đức Phật
10 Tháng Ba 20202:09 CH(Xem: 334)
Giới học thiền ở nước ta mấy thập niên gần đây đã bắt đầu làm quen với thiền Vipassanā. Số lượng sách báo về chuyên đề này được dịch và viết tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta đã thấy tính chất phong phú đa dạng của Thiền Minh Sát hay còn gọi là Thiền Tuệ hoặc Thiền Quán này. Thiền Vipassanā luôn có một nguyên tắc nhất quán
10 Tháng Ba 202010:20 SA(Xem: 324)
Trong tất cả các thiền sư cận đại, bà Achaan Naeb là một thiền sư đặc biệt hơn cả. Bà là một nữ cư sĩ đã từng dạy thiền, dạy đạo cho các bậc cao tăng, trong đó có cả ngài Hộ Tông, Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cũng đã từng theo học thiền với bà một thời gian. Năm 44 tuổi, Bà đã bắt đầu dạy thiền
08 Tháng Ba 202011:08 SA(Xem: 278)
A.B.: Đầu tiên, khi họ hỏi Sư: “Sư có muốn nhận giải thưởng này không?” và Sư đã đồng ý. Nhưng phản ứng đầu tiên ngay sau đó là: “Tại sao Sư lại muốn nhận giải thưởng này? Sư là một nhà Sư Phật Giáo, đây là việc một nhà Sư (cần phải) làm. Là một nhà Sư, chúng ta đi truyền giáo, đi phục vụ, và chúng ta không nhất thiết phải đòi hỏi
07 Tháng Ba 20205:16 CH(Xem: 352)
Biên tập từ các bài pháp thoại của ngài Thiền sư Ajahn Brahmavamso trong khóa thiền tích cực 9 ngày, vào tháng 12-1997, tại North Perth, Tây Úc. Nguyên tác Anh ngữ được ấn tống lần đầu tiên năm 1998, đến năm 2003 đã được tái bản 7 lần, tổng cộng 60 ngàn quyển. Ngoài ra, tập sách này cũng đã được dịch sang tiếng Sinhala
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 721)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2302)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3697)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
03 Tháng Tư 202011:37 CH(Xem: 134)
Có thể nói, sự hiểu biết quan trọng nhất trong cuộc sống là sự hiểu biết về bản chất thực của hiện hữu, một sự hiểu biết có thể trả lời được những câu hỏi sau một cách hợp lý: - Tại sao chúng ta sanh ra? - Chúng ta đi vào hiện hữu hiện nay như thế nào? - Điều quan trọng nhất phải làm trong cuộc đời này là gì? - Thế nào là chết?
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 197)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 220)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 368)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 537)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 522)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 733)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 908)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 6044)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;