Chương 3 - Chapter 3

16 Tháng Hai 20203:14 CH(Xem: 3243)
Chương 3 - Chapter 3

Thiền Vipassana, Những Bài Giảng Về Thiền Minh Sát
Vipassana Meditation, Lectures On Insight Meditation
Venerable Chanmyay Sayadaw U Janakabhivamsa
Diệu Tâm Phan Minh Nguyệt dịch Việt
Nguồn: myanmarnet.net, abhidhamma.com, budsas.org
 
____________________
VipassanaMeditation_A

__________________

 MỤC LỤC CHƯƠNG 3 - CONTENTS OF CHAPTER 3 

Chương 3. Bảy lợi ích của thiền minh sát

1) Khía cạnh cầu nguyện

2) Phương diện đạo đức

3) Phương diện phẩm hạnh

4) Phương diện thực hành

5) Bảy lợi ích của thiền

Chapter 3 - Seven Benefits Of Mindfulness Meditation

1 - Devotional Aspect

2 - Ethical Aspect

3 - Moral Aspect

4 - Practical Aspect

5 - Seven Benefits Of Meditation


 CHƯƠNG 3 - CHAPTER 3

CHƯƠNG 3. BẢY LỢI ÍCH CỦA THIỀN MINH SÁT

 

Bảy lợi ích của thiền minh sát do Đức Phật giảng được ghi lại trong kinh Maha Satipatthana Sutta - Đại kinh Tứ niệm xứ. Nhưng trước khi bàn đến chúng, tôi muốn giải thích một cách ngắn gọn về bốn phương diện của Đạo Phật. Bốn khía cạnh này là:

 

Khía cạnh cầu nguyện của Đạo Phật
Khía cạnh đạo đức của Đạo Phật
Khía cạnh giới hạnh của Đạo Phật
Khía cạnh thực tiễn của Đạo Phật (bao gồm khía cạnh kinh nghiệm)

CHAPTER 3: SEVEN BENEFITS OF MINDFULNESS MEDITATION

 

      Seven benefits of Mindfulness meditation as taught by the Buddha are recorded in the Maha Satipatthana Sutta - the Discourse on the Four Foundations of Mindfulness. But before I deal with them, I want to explain to you briefly the four aspects of Buddhism. These four aspects are

  1. Devotional aspect of Buddhism,
  2. Ethical aspect of Buddhism,
  3. Moral aspect of Buddhism,
  4. Practical aspect of Buddhism (including the experiential aspect).

Khía cạnh cầu nguyện

 

Khía cạnh cầu nguyện của Đạo Phật có nghĩa là "lễ nghi, nghi thức", việc tụng các bài suttas và parittas, dâng hương hoa cũng như là cúng dường thức ăny phục. Khi chúng ta làm những việc thiện như vậy, chúng ta làm với Sraddha (tiếng Sankrit) hay Saddhà (tiếng Pali). Từ saddha khó dịch sang tiếng Anh. Không có từ tiếng Anh nào tương đương với từ saddha trong tiếng Pali. Nếu chúng ta dịch saddhà là "faith" (đức tin) từ “faith” không bao quát hết nghĩa thực, và nếu chúng ta dịch nó là "confidence" (lòng tin), từ này cũng không bao quát hết nghĩa thực của từ "saddha". Chúng ta không thể tìm được một từ đơn lẻ trong tiếng Anh mà có thể chuyển tải hết nghĩa của từ saddha. Theo tôi, saddha có thể dịch là lòng tin nhờ hiểu đúng pháp (belief through right understanding of the Dhamma).

 

Khi chúng ta thực hiện các buổi lễ tôn giáo chúng ta làm với lòng tin nơi Tam Bảo (Tiratana). Chúng ta tin nơi Đức Phật, nơi Pháp ( lời dạy của Ngài) và nơi Tăng (đoàn thể tăng sĩ). Chúng ta tin tưởng rằng Đức Phật đã xoá sạch mọi ô nhiễm nhờ sự giác ngộ siêu việt của Ngài, do đó Ngài xứng đáng được tôn kính (một vị Alahán). Ngài là một vị Phật bởi Ngài đã cố gắngtự giác ngộ, không phải vì Ngài đã học Pháp từ bất kỳ vị thầy nào. Chúng ta tin tưởng Đức Phật theo cách này. Đức Phật dạy chúng ta sống hạnh phúcbình an và Ngài dạy chúng ta con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau. Chúng ta tin rằng nếu chúng ta theo lời Ngài hay con đường của Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ sống hạnh phúcbình an và thoát mọi khổ đau. Vì lý do này, chúng ta tin vào Pháp. Cũng theo cách như vậy, chúng ta tin vào Tăng (Sangha). Khi chúng ta nói Sangha chủ yếu có nghĩa là Ariya-sangha, những vị Thánh tăng đã đạt được một trong bốn Đạo quả (magga). Nhưng theo nghĩa chung thì nó cũng đề cập đến cả các vị Sammuti-sangha (những người vẫn đang cố gắng để xóa bỏ mọi nhiễm ô). Vì vậy chúng ta tỏ lòng tôn kính đối với Tam bảo - Phật, Pháp, Tăng. Chúng ta cũng tin rằng bằng cách tụng suttas (kinh) và parittas (kinh bảo vệ) do Đức Phật dạy, chúng ta thực hiện những hành động công đức sẽ đưa ta tới chỗ chấm dứt khổ đau. Việc thực hiện những việc làm công đức này tạo nên khía cạnh sùng kính của Đạo Phật. Tuy nhiên chúng ta không nên chỉ dừng lại khía cạnh cầu nguyện này nếu chúng ta muốn thưởng thức hương vị thật của Đạo Phậtgiải thoát khỏi mọi khổ đau. Vì thế chúng ta phải tiếp tục thực hành những khía cạnh cao hơn.

 

Devotional Aspect

 

      The devotional aspect of Buddhism means 'rites and rituals', chanting of suttas and parittas, offering of flowers and incense as well as offering of food and robes. When we perform such good deeds, we do so with sraddha (in Sanskrit) or saddha (in Pali).

 

      The word saddha is difficult to translate into English. There is no English equivalent for the Pali word 'saddha' If we translate saddha to be faith, the word 'faith' does not cover the real sense, and if we translate it as 'confidence', it also does not cover the real sense of 'saddha'. We cannot find a single word in English which can give a complete meaning of saddha To me, saddha can be taken to mean belief through right understanding of the Dhamma.

 

      When we perform religious ceremonies we do it with a belief in the Triple Gem (Tiratana). We believe in the Buddha, the Dhamma (his teachings) and the Sangha (the Order of Buddhist monks). We hold the view that the Buddha has eradicated all defilements through his supreme enlightenment, so he is worthy of respect (an Arahant). He was Buddha because he had strived and was enlightened by himself, not because he learned the Dhamma from any teacher. We believe in the Buddha in this way. The Buddha taught us to live happily and peacefully and he taught us the way leading to the cessation of all kinds of sufferings. We believe that if we follow his teaching or his way, we are sure to live happily and peacefully and to get rid of suffering. For this reason, we believe in the Dhamma. In the same way, we believe in the Sangha. When we say Sangha, it mainly means theAriya-sangha, the Noble Sangha who have attained any one of the four stages of the Path (magga). But in the general sense, it also refers to the Sammuti sangha (those who are still striving to eradicate the defilements). Thus we pay homage to the Triple Gem (Tiratana) - the Buddha. Dhamma and Sangha. We also believe that by chanting suttas and parittas as taught by the Buddha, we perform meritorious deeds which will be conducive to the cessation of suffering. Performing these meritorious deeds forms the devotional aspect of Buddhism. However, we should not be content with this devotional aspect if we want to enjoy the essence of Buddhism and be free from all kinds of suffering. Therefore, we must proceed to practise the higher aspects.


Phương diện đạo đức

 

Phương diện thứ hai của đạo Phậtphương diện đạo đức. Đây là sự tiếp tục những lời dạy của Đức Phật về việc làm thanh tịnh thân khẩu ý của chúng ta. Có rất nhiều học thuyết liên quan đến phương diện đạo đức của đạo Phật.

 

Bằng cách tuân theo những giáo lý này, chúng ta có thể sống cuộc đời hạnh phúc trong đời này cũng như đời sau nhưng chúng ta không thể hoàn toàn thoát khỏi đau khổ. Phương diện đạo đức của đạo Phật là:

 

Không làm tất cả các việc ác.
Làm tất cả các việc lành.
Thanh tịnh tâm ý.

 

Đây là ba phần của khía cạnh đạo đứcĐức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy chúng ta và là lời tán dương của tất cả các Đức Phật. Nếu chúng ta tuân theo những điều này, chúng ta có thể sống một đời sống hạnh phúcbình an bởi vì đạo Phật được xây dựng trên nền tảng Luật nhân quả. Nếu chúng ta không làm tất cả các việc ác, chúng ta sẽ không phải thọ nhận bất kỳ một kết quả xấu nào.

 

Để thanh tịnh tâm ý thoát khỏi mọi ô nhiễm, chúng ta phải thực hành thiền Samatha (thiền định) cũng như thiền Vipassana (thiền quán). Với thiền Samatha tâm chúng ta có thể thanh tịnh chỉ trong khi nó gắn với việc hành thiền, nhưng khi không tập, các sự ô nhiễm sẽ lại tấn công chúng ta. Nếu chúng ta thanh tịnh tâm ý bằng cách nhận biết các quá trình thân - tâm theo bản chất thực của chúng, thì các ô nhiễm sẽ không quay trở lại nữa. Sự nhận biết hay sự thấu hiểu các hiện tượng thân và tâm được gọi là Vipassana-nana (tuệ minh sát). Nó vượt qua một số phương diện của sự nhiễm ô và giảm các nhiễm ô như tham, sân, ảo tưởng và những thứ tương tự. Những ô nhiễm nào đã bị phá bỏ bởi phương tiện của Vipassana-nana (hiểu biết sâu sắc) sẽ không có khả năng tấn công lại chúng ta. Nói cách khác, khi chúng ta đã kinh nghiệm được tuệ minh sát, kinh nghiệm đó sẽ không biến mất hay rời khỏi chúng ta. Khi chúng ta suy ngẫm về kinh nghiệm chúng ta đã có trong khi thiền, sự hiểu biếtchúng ta đã đạt được sẽ quay lại với chúng ta, và với trí tuệ này, một số những ô nhiễm đã bị trí tuệ loại bỏ sẽ không phát sinh lại nữa. Vì thế, chúng ta có thể thanh tịnh tâm khỏi một số phiền não. Nhưng nếu chúng ta có đủ saddha, chúng ta sẽ nỗ lực hết sức trong việc thực tậpđạt được quả thánh thứ tư, quả vị Alahán. Chúng ta sẽ xoá bỏ được mọi ô nhiễm. Khi mọi ô nhiễm đã hoàn toàn bị diệt trừ và tâm đã hoàn toàn thanh tịnh sẽ không còn một nỗi khổ nào hay dukkha nào. Khổ đau chấm dứt. Sự thanh tịnh tâm ý, thoát khỏi mọi nhiễm ô liên quan đến phương diện thực hành của Đạo Phật trong khi hai điểm nêu trên (không làm tất cả những điều ác và làm tất cả những việc lành) liên quan đến khía cạnh đạo đức của Đạo Phật.

 

Trong bài kinh Phúc đức (Mangala Sutta, Sutta-nipàta, câu 258-269) có 38 loại cầu nguyện. Trong bài kinh có nhiều nguyên tắc đạo đức để tuân theo, giúp chúng ta có thể sống hạnh phúcbình an như:

 

Con nên sống ở một nơi thích hợp nơi con có thể thuận lợi về mọi mặt, làm được những việc tốt trong quá khứ.

 

Hiện tại con cũng nên làm nhiều việc thiện, càng nhiều càng tốt.

 

Con nên cẩn trọng giữ gìn ba nghiệp thân khẩu ý.

 

Điều đó có nghĩa là chúng ta nên giữ thân khẩu ý thanh tịnh. Theo cách này chúng ta có nhiều khía cạnh đạo đức để tuân theo để chúng ta có thể sống hạnh phúcbình an.

 

Tôi muốn nhắc bạn nhớ tới bài kinh Amabalatthika Rahulovadasutta số 61 (Majjhima-nikaya, Sutta No.61) có thể rất quen thuộc với bạn. Trong bài kinh đó, Đức Phật khuyến khích con trai Ngài, La Hầu La, mới chỉ là một sa di (samanera) 7 tuổi, ngoan ngoãn, vui tươibình an. Đức Phật dạy La Hầu La dừng lại và suy ngẫm mỗi khi mình có ý định làm một việc gì.

 

La Hầu La, con phải ý thức rõ ràng điều con định sẽ làm và cân nhắc xem liệu điều đó có làm hại bản thân con hay người khác không. Bằng cách cân nhắc như vậy, nếu con thấy rằng việc làm này sẽ tổn hại đến bản thân con hay người khác, con không được làm việc đó. Nhưng nếu hành động này không làm hại bản thân con hay người khác, con có thể làm nó.

 

Theo cách này, Đức Phật hướng dẫn La Hầu La cân nhắc việc gì sẽ được làm, ý thức rõ ràng việc gì đang được làm và suy ngẫm về việc đã được làm. Vì thế khía cạnh đạo đức này là cách tốt nhất để chúng ta sống một cách hạnh phúcbình an trong đời sống hàng ngày. Không thể đếm hết được những khía cạnh đạo đức đưa chúng ta đến một đời sống hạnh phúcbình an. Nếu chúng ta cố gắng hiểu những mặt đạo đức này và tuân theo chúng, chúng ta chắc chắn sống một cuộc đời hạnh phúcbình an mặc dù chúng ta không thể thoát khỏi mọi khổ đau.

Ethical Aspect

 

      The second aspect of Buddhism is the ethical aspect. This is following the Buddha's teaching regarding our actions, speech and mental purification. There are many doctrines concerned with the ethical aspect of Buddhism.

 

      By following these doctrines, we can lead a happy life in this existence as well as the next but we cannot yet be rid of suffering totally. The ethical aspects of Buddhism are:

  1. Refraining from all kinds of evil deeds,
  2. Performing meritorious or good deeds,
  3. Purifying the mind from all kinds of defilements.

      These are the three parts of the ethical aspect of what the Omniscient Buddha has taught us and they are the exhortations of all the Buddhas. If we follow these doctrines, we can lead a happy and peaceful life because Buddhism is founded on the Law of Cause and Effect. If we refrain from all kinds of evil deeds, we will not suffer any bad results.

 

      As to the purification of mind from defilements, we have to practise Samatha meditation as well as Vipassana meditation. With Samatha meditation our mind can be purified only while it is engaged in the meditative practice, but when it is not, defilements will attack us again. If we purify our minds through the realization of the mind-body processes in their true nature, the defilements will not return. Realization or insight into mental and physical phenomena is known as Vipassana-nana (insight knowledge). It overcomes some aspects of defilements and reduces defilements such as greed, anger, delusion and so on. Certain defilements which have been destroyed by means of Vipassana-nana (penetrative insight) will not be able to attack us again. In other words, when we have experienced insight knowledge, that experience will not disappear or go away from us. When we reflect on the experience we have had during meditation, the insight that we attained comes to us again, and with this insight, some aspects of defilements abandoned by insight will not arise again. Thus, we can purify our minds from some defilements. But if we have enough saddha, we will put forth greater effort in our practice and attain the Fourth Path, Arahantship. Then we can exterminate every defilement.. When the defilements have been totally destroyed and the mind completely purified there will not arise any dukkha or suffering. Suffering ceases to exist. This purification of the mind from defilements is concerned with the practical aspect of Buddhism whereas the former two points are concerned with the ethical aspect of Buddhism.

 

      There is also the Mangala Sutta (Sutta-nipata, verses 258-269) with 38 kinds of blessings. In the suttas are many ethics to follow which enable us to live happily and peacefully such as:

 

  • You should live in a suitable place where you can be prosperous in every aspect, having done meritorious deeds in the past.
  • You should do meritorious deeds as much as possible at present too.
  • You must watch your deeds, speech and mind properly. 

      
That means, we should keep our deeds, speech and thoughts free from defilements. In this way, we have many aspects of ethics to follow so that we can live happily and peacefully.

 

      I want to remind you of the Ambalatthika Rahulovadasutta (Majjhima-nikaya, Sutta No.61) which may be familiar to you. In that sutta, the Buddha encouraged his son, Rahula, who was a seven year old samanera, to live properly, happily and peacefully. The Buddha taught Rahula to stop and reflect whenever he had the intention of doing something.

 

      Rahula, you must be mindful of what you are going to do and consider whether this deed will be harmful to yourself or to others. By considering thus, if you find that this deed will be harmful to yourself or to others, you must not do it. But if this deed will not be harmful to yourself or to others, you may do it.

 

      In this way, the Buddha instructed Rahula to consider what is to be done, to be aware of what is being done and to reflect on what has been done. So this ethic too is the best way for living happily and peacefully in our daily life. There are innumerable aspects of ethics conducive to a happy and peaceful life. If we try to understand these ethics and follow them, we are sure to live a happy and peaceful life although we cannot yet get rid of all our suffering.


Phương diện phẩm hạnh

 

Mặc dù những giá trị đạo đức này rất có ích cho một đời sống hạnh phúcbình an, chúng ta không nên chỉ dừng lại ở đây. Chúng ta nên tiến lên bình diện cao hơn của Đạo Phật, phương diện thứ ba - phương diện phẩm hạnh. Trong phương diện phẩm hạnh, bạn phải tuân thủ các giới luật hoặc năm, tám hay mười. Mười giới giành cho Sa di (sàmaneras) trong khi 227 giới là giành cho Tỷ khiêu (bhikkhus). Trong đời sống hàng ngày chúng ta nên tuân giữ ít nhấtnăm giới. Khi chúng ta có thể giữ năm giới một cách hoàn hảo, giới hạnh của chúng ta thanh tịnh. Khi giới hạnh thanh tịnh, một thiền giả có thể dễ dàng thực tập thiền dù là thiền Samatha hay thiền Vipassanà. Dựa trên sự thanh tịnh của giới hạnh, một thiền giả có thể dễ dàng tập trung vào đối tượng của thiền và đạt được định sâu, nhờ đó mà tâm được trong sáng, thanh thảnhạnh phúc.

Moral Aspect

 

      Though these ethics are very conducive to a happy and peaceful life, we should not be contented merely with the second aspect of Buddhism. We should proceed to the higher aspects of Buddhism, the third aspect- the moral aspect. In the moral aspect, you must observe precepts, either five, eight or ten. The ten precepts are for novices (samaneras) while the 227 rules are for monks (bhikkhus). In daily life, we must observe at least the five precepts. When we can observe the five precepts perfectly, our morality is purified. When moral conduct is purified, a meditator can easily practise meditation, either Samatha or Vipassana meditation. Based on purification of moral conduct, a meditator can easily concentrate on the object of meditation and gain deep concentration, whereby the mind is clear, serene and happy.


Phương diện thực hành

 

Tiếp theophương diện thứ tư, tức là phương diện thực hành của Đạo Phật. Chúng ta phải tập thiền để chúng ta có thể tẩy sạch mọi nhiễm ô và kết quả là chấm dứt khổ đau. Ở đây chúng ta tập hai loại thiền vốn làm nên khía cạnh thực hành của Đạo Phật - một loại cho phép chúng ta đạt được định sâu, và loại kia cho phép chúng ta chấm dứt khổ đau bằng cách nhận ra hiện tượng thân và tâm theo đúng bản chất của chúng. Đức Phật nhấn mạnh vào loại thiền thứ hai - Vipassana. Khi chúng ta tập thiền Vipassana, chúng ta phải theo bài Maha Satipatthana Sutta, tức là Tứ Niệm Xứ. Nếu chúng ta ý thức rõ ràng tất cả các tiến trình thân - tâm của chúng ta, chúng ta chắc chắn sẽ đạt được sự chấm dứt khổ đau. Đức Phật đã nói về Tứ Niệm Xứ khi Ngài giảng bài pháp Maha Satipatthana Sutta ở tỉnh Kuru.

 

Practical Aspect

 

      Next, we have the fourth aspect, i.e. the practical aspect of Buddhism. We must practise meditation so that we can deliver ourselves from defilements and, as a result, attain the cessation of all kinds of suffering. Here, we practise two kinds of meditation which make up the practical aspect of Buddhism - one to enable us to attain deep concentration, and the other to enable us to attain the cessation of suffering through the realization of mentality and physicality in their true nature. The Buddha stressed the second type of meditation - Vipassana-meditation. When we practise Vipassana meditation, we have to follow the Maha Satipatthana Sutta, the discourse on the Four Foundations of Mindfulness. If we apply mindfulness to all our mind-body processes,

 

      we are sure to attain the cessation of suffering. The Buddha described the four Foundations of Mindfulness when he gave the discourse on Maha Satipatthana Sutta in Kuru province.


Bảy lợi ích của Thiền

 

Trong đoạn giới thiệu của kinh (sutta) đó, Đức Phật đã giảng về bảy lợi ích mà thiền giả có thể đạt được nhờ tự mình thực hành Phật Pháp.

 

Lợi ích thứ nhất là sự thanh tịnh. Khi một người tập tỉnh thức, anh ta có thể làm trong sạch mình thoát khỏi mọi ô nhiễm. Từ Pali "kilesa" có thể quen thuộc với bạn. Các học giả Đạo Phật dịch từ kilesa là sự ô nhiễmKilesa có 10 loại chính: Lobha, Vicikiccha, Dosa, Thina-middha, Moha, Uddhacca-kukkucca, Ditthi, Ahirika, Mana, Anottappa.

 

1) Lobha không chỉ có nghĩa là tham ăn mà còn là dục vọng, tham sắc, tham tiền, dính mắc và tham ái. Khi một trong những trạng thái tâm này nảy sinh trong chúng ta, tâm chúng ta trở nên nhiễm ô. Vì thế những thứ này được gọi là ô nhiễm.

 

2) Dosa là hận thù, giận dữ, ác độc hay ác cảm.

 

3) Moha là ảo tưởng hay vô minh.

 

4) Ditthi là tà kiến hay quan niệm sai lầm.

 

5) Màna là kiêu căng.

 

6) Vicikicchà là nghi ngờ.

 

7) Thina-middha là lười biếng, giải đãihôn trầm. Ngủ cũng thuộc về giãi đãi và hôn trầm. Giải đãihôn trầm là ‘những người bạn cũ’ của thiền giả và của những người nghe Pháp.

 

Ngày nay, trong khi trình pháp, tất cả các thiền sinh đều trình bày một kinh nghiệm: "Tôi cảm thấy mệt mỏi và buồn ngủ". Khi mới bắt đầu tập, chúng ta phải đấu tranh vì chúng ta vẫn chưa quen với việc thực hành thiền minh sát. Đây là giai đoạn khá khó khăn của thiền, nhưng nó sẽ không kéo dài lâu. Nó có thể kéo dài hai hay ba ngày. Sau ba ngày, tất cả các thiền sinh sẽ cảm thấy ổn. Họ sẽ không cảm thấy quá khó khăn để vượt quá những người “bạn cũ” cản trở họ phát triển khả năng định tâmtrí tuệ.

 

8) Uddhacca kukkucca có nghĩa là trạo cửhối quá.

 

9) Ahirika có nghĩa là vô tàm. Đó là người không biết hổ thẹn vì những việc làm, lời nóisuy nghĩ xấu ác của mình.

 

10) Anottappa có nghĩa là vô quí - đó là người không biết sợ hãi, e ngại những việc làm, lời nói hay suy nghĩ xấu ác. Vô quí là một thứ nhiễm ô.

 

Đây là mười thứ ô nhiễm cần phải loại bỏ khỏi tâm chúng ta nhờ thiền Minh sát. Đức Phật nói:

 

Nếu một người thực hành thiền minh sát, người đó có thể trừ sạch mọi ô nhiễm.

 

Điều đó có nghĩa là anh ta có thể đạt được quả vị Alahán khi anh ta đã hoàn toàn trừ sạch mọi ô nhiễm. Đây là lợi ích thứ nhất.

 

Lợi ích thứ hai của sự tỉnh thức là vượt được qua buồn rầulo lắng. Bạn sẽ không lo lắng về sự thất bại, hay cảm thấy buồn tiếc vì cái chết của người thân, hay việc bị mất việc. Bạn sẽ không cảm thấy hối tiếc vì bất kỳ điều gì nếu bạn thực hành thiền minh sát. Mặc dù bạn chưa đạt được đến Đạo hay Quả vị nào (magga và phala), nhưng bạn vẫn có thể vượt qua buồn phiềnlo lắng ở một mức độ nào đó bởi vì khi buồn phiềnlo lắng nảy sinh bạn sẽ tỉnh thức thấy chúng như chúng đang là. Khi sự tỉnh thức trở nên mạnh mẽ, buồn phiềnlo lắng đó sẽ dừng lại và biến mất. Khi bạn đã hoàn toàn phát triển thiền minh sát, bạn chắc chắn đạt được quả vị Alahán, và do đó vĩnh viễn thoát khỏi buồn phiền, lo lắng. Theo cách này, lo lắngbuồn phiền có thể vượt qua bằng thiền minh sát.

 

Lợi ích thứ ba là vượt qua được những đau thương mất mát. Mặc dù cha mẹ, con cái hay họ hàng bạn mất, bạn sẽ không than khóc vì họ bởi lẽ bạn hoàn toàn nhận thấy rằng các quá trình thân và tâm tạo nên những gì được gọi là "con" hay "cha mẹ". Theo cách này, sự xót xa than khóc có thể vượt qua nhờ thiền minh sát. Đề cập đến lợi ích thứ ba này, kinh Maha Satipatthana Sutta (Tứ niệm xứ) đã kể câu chuyện sau:

 

Một người phụ nữ tên là Patacara, chồng, hai con trai, cha mẹ và những người anh trai của cô đã chết trong vòng một hay hai ngày, do đó cô đã phát điên vì buồn đau, lo lắng và than khóc. Cô đã bị nhận chìm bởi đau buồn do cái chết của những người cô yêu quí.

 

Bài luận kể câu chuyện này để chứng minh là một người có thể vượt qua được buồn phiền, lo lắngđau xót nhờ tu tập thiền minh sát.

 

Một ngày, Đức Phật giảng một bài pháp ở tu viện Jetavana gần Savatthi. Người phụ nữ điên đang đi lang thang này đã bước vào tịnh xá và nhìn các thính giả đang nghe pháp. Cô tiến về phía những thính giả. Một người đàn ông già- người rất tốt với người nghèo, đã cởi áo khoác trên và đưa cho cô gái và nói với cô: "Này con gái, hãy lấy chiếc áo này mà che thân." Cùng lúc đó, Đức Phật nói với cô: “Này em gái, hãy tỉnh thức". Nhờ giọng nói dịu dàng của Đức Phật, cô gái điên đã tỉnh trí lại. Sau đó cô ngồi bên cạnh các thính giả và lắng nghe bài pháp. Đức Phật biết rằng cô gái đã tỉnh lại nên nhắm bài thuyết pháp vào cô. Nghe Đức Phật thuyết pháp, trí óc cô dần dần tiếp thu được ý nghĩa kinh thú. Khi tâm cô đã đến lúc sẵn sàng để nhận ra Pháp, Đức Phật trình bày Tứ Diệu Đế:

 

Dukkha-sacca - Khổ đế
Samudaya-sacca - Tập đế
Nirodha-sacca - Diệt đế
Magga-sacca - Đạo đế

 

Tứ Diệu Đế bao gồm những lời pháp làm thế nào để ý thức rõ ràng bất kỳ điều gì nảy sinh trong thân và tâm bạn như nó thực sự là.

 

Patacara tỉnh lại, hiểu đúng phương pháp chính niệm tỉnh thứcáp dụng đối với bất kỳ điều gì nảy sinh trong các quá trình thân-tâm và bất kỳ điều gì cô nghe thấy. Khi sự tỉnh thức của cô đã có đà, định của cô càng trở nên sâu và mạnh hơn. Vì định của cô trở nên sâu, sự thâm hiểu của cô đối với các quá trình thân-tâm trở nên mạnh mẽ, và cô dần nhận ra các đặc tính riêng và các đặc tính chung của các hiện tượng thân và tâm. Do đó, cô từng bước kinh nghiệm qua tất cả các cấp độ của tuệ minh sát trong khi nghe giảng Pháp, và đạt được Đạo quả đầu tiên, Sotapatti-magga. Thông qua kinh nghiệm về Pháp của bản thân cô nhờ việc thực hành thiền minh sát, tất cả những nỗi buồn, lo lắng, tiếc thương mà cô đã có giờ biến mất hết, và cô trở thành một con người mới. Cô đã vượt qua được những lo lắng, buồn phiềnsầu bi bằng cách thực hành thiền minh sát. Vì thế, luận về Maha Satipatthana Sutta đã kể lại câu chuyện này. Không chỉ những người sống ở thời Đức Phật, mà cả những người sống ở thời đại ngày nay đều có thể vượt qua được buồn phiềnlo lắng nếu như họ thực tập thiền minh sát để đạt được cấp độ cao hơn của tuệ. Bạn cũng ở trong số những người có thể vượt qua được buồn phiềnlo lắng bằng phương tiện của thiền minh sát.

 

Lợi ích thứ tư là hết khổ về thân.

 

Lợi ích thứ năm là hết khổ về tâm.

 

Bạn có thể vượt qua khổ về thân như đau, căng cứng, ngứa, tê cóng và những thứ tương tự nhờ chính niệm trong khi chuyên tu thiền cũng như trong đời sống hàng ngày. Khi bạn có kinh nghiệm nào đó trong thực tập thiền, bạn có thể vượt được qua nỗi khổ về thân và tâm ở mức độ cao. Nếu bạn nỗ lực và đầu tư đủ thời gian, bạn có thể xoá bỏ vĩnh viễn cả khổ về thân và tâm khi bạn đạt được qủa vị Alahán. Nhưng trong khi thiền bạn có thể vượt qua cái đau, căng cứng, tê cóng , ngứa và tất cả các cảm giác khó chịu của thân nhờ quan sát chúng rất chăm chú và tỉ mỉ. Vì thế bạn không cần e ngại cái đau, căng cứng hay tê cóng bởi vì đó là những người bạn tốt có thể giúp bạn chấm dứt khổ đau. Nếu bạn quan sát cái đau một cách mạnh mẽ, chính xác và kĩ lưỡng, nó có thể dường như nghiêm trọng hơn vì bạn biết nó nhiều hơn và rõ ràng hơn. Khi bạn đã hiểu sự khó chịu của cảm giác đau này, bạn sẽ không đồng nhất nó với bản thân bạn bởi vì cảm giác này được hiểu chỉ như là một quá trình tự nhiên của các hiện tượng tâm. Bạn không bám víu vào cảm giác đau xem nó là "Tôi" hay "của tôi" hay "cho tôi", hay một con người hoặc một "sinh vật". Theo cách này, bạn có thể dẹp bỏ quan niệm sai lầm về một linh hồn, một bản ngã, một con người, một sinh vật, một "cái tôi" hay một cái "anh".

 

Khi gốc rễ của mọi nhiễm ô, có nghĩa là quan niệm sai lầm về một bản ngã, về một linh hồn...(sakkaya-ditthi hay atta-ditthi) đã bị diệt trừ bạn chắc chắn sẽ đạt được Đạo quả thứ nhất, Sotapatti-magga (Dự lưu). Sau đó bạn có thể tiếp tục việc thực tập để đạt được ba cấp bậc cao hơn của Đạo Quả. Đó là lý do tại sao tôi nói là cảm giác khó chịu về thân như đau, căng cứng và tê cóng là "những người bạn tốt" của bạn- có thể giúp bạn đạt được diệt đế. Nói cách khác, cảm giác tê cóng hay bất kỳ cảm giác đau nào là chìa khoá vào cánh cửa Niết bàn (nibbana). Khi bạn cảm thấy đau, bạn thật là may mắn. Đau là một đối tượng rất có giá trị của thiền vì nó thu hút "tâm ghi nhận" ở lại chỗ đau trong một khoảng thời gian rất dài. Tâm ghi nhận có thể tập trung rất sâu bị thu hút vào nó. Khi tâm đã hoàn toàn bị thu hút vào cảm giác đau, bạn sẽ không còn ý thức về hình dáng của thân thể bạn hay bản thân bạn. Điều đó có nghĩa là bạn đang nhận ra sabhava-lakkhana của cái đau hay các đặc tính riêng có của cảm giác đau (dukkha-vedana). Tiếp tục thực hành bạn sẽ có thể nhận ra các đặc tính chung của các hiện tượng thân và tâm là bản chất vô thường, khổ, vô ngã. Điều đó sẽ dẫn bạn đến sự chấm dứt khổ đau. Vì thế bạn thật may mắn nếu bạn bị đau.

 

Ở Miến Điện, có một vài thiền giả đã qua cấp độ thứ ba của tuệ minh sát (sammasana-nana), gần như đã hoàn toàn vượt qua được tất cả các cảm giác đau, nhưng không thoả mãn với sự thực hành của họ bởi vì họ không có cái đau để ghi nhận. Vì thế họ gập chân lại và ấn chúng để họ có thể cảm thấy đau. Họ đang tìm kiếm "người bạn tốt" có thể dẫn họ đến chấm dứt khổ đau.

 

Khi bạn cảm thấy bất hạnh, bạn hãy quán sát nỗi bất hạnh đó một cách liên tục, chăm chú, và kĩ lưỡng là "bất hạnh, bất hạnh". Nếu bạn cảm thấy tuyệt vọng, sự tuyệt vọng đó phải được quan sát rất chăm chú và kiên trì. Khi sự tỉnh thức của bạn trở nên mạnh mẽ, sự bất hạnhtuyệt vọng sẽ không còn tồn tại nữa. Vì thế vượt qua được những đau khổ về tâm là lợi ích thứ năm của thiền minh sát.

 

Lợi ích thứ sáu là giác ngộ - Đạo và Quả (magga và phala). Khi bạn dành đủ thời giannỗ lực cho thiền minh sát, ít nhất bạn sẽ đạt được Quả Thánh thứ nhất, Sotapatti-magga. Đây là lợi ích thứ sáu của thiền minh sát.

 

Lợi ích thứ bảy là bạn chắc chắn sẽ đạt được Niết bànđược giải thoát nhờ thực hành thiền minh sát.

 

Tóm lại, bảy loại lợi ích của thiền minh sát mà một hành giả thiền Vipassanà có thể có được nhờ những kinh nghiệm của bản thân mình về Pháp là:

 

1) Thanh tịnh tâm ý, thoát khỏi mọi ô nhiễm.
2) Vượt qua được buồn phiềnlo lắng.
3) Vượt qua được sự đau buồn than tiếc.
4) Chấm dứt mọi nỗi khổ về thân.
5) Chấm dứt mọi nỗi khổ về tâm.
6) Giác ngộ.
7) Đạt đến Niết bàn.

 

Đức Phật đã bắt đầu bài Maha Satipatthana (Đại kinh Niệm xứ) với bảy lợi ích này của thiền minh sát. Bạn chắc chắn sẽ đạt được bảy lợi ích này nếu bạn nỗ lực tích cực trong thực hành.

 

Chúng ta hạnh phúcchúng ta tin tưởng Đức Phật - đấng giác ngộ và người dạy chúng ta con đường chân thật để chấm dứt khổ đau. Nhưng chúng ta không được tự mãn. Trong các tạng kinh bằng tiếng Pàli có một câu chuyện ngụ ngôn:

 

Có một cái ao to với đầy nước trong và nhiều hoa sen trong đó. Đôi tay của một người du lịch thì bẩn. Anh ta biết rằng nếu anh ta rửa tay trong ao thì tay sẽ sạch. Nhưng mặc dù biết thế anh ta vẫn không đi đến cái ao và rửa tay, tay anh ta vẫn bẩn. Thế là anh ta đi qua cái ao và tiếp tục cuộc hành trình của mình.

 

Câu hỏi mà bài kinh đặt ra là: "Nếu tay người đàn ông đó vẫn bẩn thì ai là người có lỗi, cái ao hay người du hành?". Rõ ràng đó là lỗi của người du hành. Mặc dù anh ta biết rằng anh ta có thể rửa sạch tay ở cái ao đó nhưng anh ta đã không làm thế. Vì thế người du hành mới là người có lỗi. Đức Phật dạy chúng ta con đường để tỉnh thức. Nếu chúng ta biết cách nhưng chúng ta không thực hành sự tỉnh thức, chúng ta sẽ không thoát khỏi đau khổ. Nếu chúng ta không thoát khỏi đau khổ, ai là người có lỗi? Rõ ràng chúng ta là người đáng trách. Nếu bạn thực hành thiền minh sát với nỗ lực tích cực, bạn sẽ thanh tịnh mình thoát khỏi mọi nhiễm ôthoát khỏi mọi khổ đau nhờ đạt được bảy lợi ích này của thiền minh sát.

 

Seven Benefits of Meditation

 

      In the introductory passage of that sutta, the Buddha explained the seven benefits which a meditator can gain through his own experience of Dhamma.

 

      The First Benefits purification. When a person practises mindfulness, he can purify his being from all defilements. The Pali word 'kilesa' may be familiar to you. The word 'kilesa' is translated as defilements by Buddhist scholars. The kilesa are of ten main kinds:

 

  1. Lobha
  2. Dosa
  3. Moha
  4. Ditthi
  5. Mana
  6. Vicikiccha
  7. Thina-middha
  8. Uddhacca kukkucca
  9. Ahirika
  10. Anottappa

      Lobha means not only greed but also desire, lust, craving, attachment and love. When one of these mental states arises in us, our mind gets defiled. So these are known as defilements.

 

  • Dosa is hatred, anger, ill-will or aversion.
  • Moha is delusion or ignorance.
  • Ditthi is wrong view or false view.
  • Mana is conceit.
  • Vicikiccha is sceptical doubt.
  • Thina-middha is sloth and torpor. Sleepiness also comes under sloth and torpor. Sloth and torpor are 'old friends' of meditators and also those who listen to the Dhamma.


      Today, during interview, all the meditators reported the experience: 'I am tired, 1 feel sleepy'. At the beginning of the practice, we have to struggle because we have not yet become accustomed to the task of mindfulness meditation. This is a critical stage of meditation, but it will not last long. It may last for two or three days. After three days, all meditators will be all right. They will not find it too difficult to overcome these 'old friends' which are obstructing their progress in concentration as well as insight.

 

      Uddhaaca kukkucca means restlessness and remorse.

 

      Ahirika means moral shamelessness. One who is not ashamed of evil deeds in speech, thought and action.

 

      Anottappa means moral fearlessness - that is one is not afraid of evil deeds in speech, thought and action. This moral fearlessness is one of the defilements.

 

      These are the ten kinds of defilements which must be abandoned or removed from our minds by means of Vipassana meditation. The Buddha says: If one practises mindfulness meditation, one can be purified from all defilements.

 

      That means, he can attain Arahantship when he is completely purified from all kinds of defilements. This is the first benefit.

 

      The Second Benefit of mindfulness is the overcoming of sorrow and worry.

 

      You will not be worried about failure, or be sorry about the death of your relatives, or about the loss of your work. You will not be sorry about anything if you practise this mindfulness meditation. Although you have not attained any Path and Fruition (magga and phala ), you can overcome sorrow and worry to some extent, because when sorrow or worry arises, you will be mindful of it as it is. When mindfulness becomes powerful, that worry or sorrow will stop and disappear. When you have completely developed mindfulness meditation, you are sure to attain Arahantship, and hence be free from worry and sorrow permanently. In this way, worry and sorrow can be overcome by mindfulness meditation.

 

      The Third Benefit is that of overcoming lamentation. Although your parents, children or relatives die, you will not have any lamentation for them because you have fully realized that mental and physical processes constitute the so-called 'child' or the so-called 'parents'. In this way, lamentation can be overcome by mindfulness meditation. Regarding the third benefit, the commentary on the Maha Satipatthana Sutta mentions a story: A woman, named Patacara, whose husband, two sons, parents and brothers had died within a day or two, went mad due to sorrow, worry and lamentation. She was overwhelmed by sorrow over the death of the people she loved.

 

      The commentary mentions this story as proof that one can overcome sorrow, worry and lamentation by means of mindfulness meditation.

 

      One day, the Buddha was giving a discourse to an audience at Jetavana monastery near Savatthi. Then this mad woman, who was going for a stroll, went into the monastery and saw the audience listening to the discourse. She approached the audience. An old man, who was very kind to the poor, took off his upper robe threw it to the woman and said to her. "Dear daughter, please use my robe to cover your body." At the same time the Buddha said to her, "Dear sister, be mindful." Because of the soothing voice of the Buddha, the mad woman come to her senses. She then sat at the edge of the audience and listened to the discourse. The Buddha, knowing that she had come to her senses, aimed his discourse at her. Listening to the discourse given by the Buddha, the woman's mind gradually absorbed the essence of the doctrine. When her mind was well prepared to realise the Dhamma, the Buddha expounded the Four Noble Truths:-

 

  1. Dukkha-sacca (The Truth of Suffering) 
  2. Samudaya-sacca (The Truth of the Cause of Suffering)
  3. Nirodha-sacca (The Truth of the Cessation of Suffering)
  4. Magga-sacca (The Truth of the Way Leading to the Cessation of Suffering)

      The Fourth Noble Truth includes advice on how to be mindful of whatever arises in our mind and body as it really is.

 

      Patacara, having come to her senses, rightly understood the technique of mindfulness, applied it to whatever arose in the mind-body processes and to whatever she heard. As her mindfulness gained momentum, her concentration became deeper and stronger. Because her concentration became deep, her insight and penetrating knowledge of the mind - body processes became powerful, and she gradually realized both the specific characteristics and common characteristics of mental and physical phenomena. Thus she progressively experienced all the stages of insight knowledge while listening to the discourse, and attained the First Path, Sotapatti-magga. Through her own personal experience of the Dhamma by means of mindfulness meditation, the sorrow, worries and lamentation she had had, totally disappeared from her mind, and she became a 'new woman'. Thus she overcome her worry, sorrow and lamentation by means of mindfulness meditation. So the commentary on the Maha Satipatthana Sutta mentioned not only the people during the time of the Buddha, but also people nowadays can overcome sorrow and worry if they practise this mindfulness meditation to attain some higher stages of insight. You are also included in those people who can overcome sorrow and worry by means of mindfulness meditation.

 

      The Fourth Benefit is the cessation of physical suffering.

 

      The Fifth Benefit is the cessation of mental suffering.

 

      Physical suffering such as pain, stiffness, itchiness, numbness and so on can be overcome by this mindfulness in meditation retreats as well as in daily life. When you have some experience in the meditation practice, you can overcome your mental and physical suffering to a large extent. If you invest enough effort and time you can exterminate both mental and physical suffering permanently when you have attained Arahantship. But during meditation, you can overcome pain, stiffness, numbness, itchiness and all kinds of unpleasant physical sensations by observing them very attentively and closely. Therefore, you need not be afraid of pain, stiffness or numbness because these are your 'good friends' who can help you to attain the cessation of suffering. If you observe the pain energetically, precisely and closely, it may seem more severe because you know it more and more clearly. When you have comprehended the unpleasantness of this painful sensation, you will not identify it with yourself because the sensation is perceived as just a natural process of mental phenomena. You are not attached to the painful sensation as 'I' or 'mine' or 'me', or a 'person' or a 'being'. In this way, you can eradicate the wrong view of a soul, a self, a person, a being, an 'I' or a 'you'.

 

      When the root of all kinds of defilements, i.e. sakkaya-ditthi or atta-ditthi has been destroyed you are sure to attain the First Path, Sotapatti-magga. Then you can proceed with your practice to attain the three higher stages of the Path and Fruition. That is why I say that unpleasant physical sensations such as pain, stiffness and numbness are your 'good friends' who can help you to attain the cessation of suffering. In other words, this numbness or any painful sensation is the key to the door of nibbana. When you feel pain, you are lucky. Pain is the most valuable object of meditation because it attracts the 'noting mind' to stay with it for a very long time. The 'noting mind' can concentrate on it deeply and be absorbed in it. When the mind is completely absorbed in the painful sensation, you will no longer be aware of your bodily form or yourself. It means you are realizing the sabhava-lakkhana of the pain or the individual characteristic of the painful sensation (dukkha-vedana). Proceeding with the practice you will be able to realise the common characteristics of impermanence, suffering and no-soul or no-self nature of mental and physical phenomena. Then that will lead you to the cessation of all kinds of sufferings. So you are lucky if you have pain.

 

      In Burma, some meditators, having passed the third stage of insight knowledge (sammasana-nana), almost completely overcame all painful sensations, but were dissatisfied with their practice because they had no pain to note. So they folded their legs under themselves and pressed them so that they could get pain. They were looking for their 'good friend' who could lead them to the cessation of suffering.

 

      When you feel unhappy, please observe that unhappiness insistently, attentively and very closely as 'unhappy, unhappy'. If you feel depressed, that depression must be observed very attentively and perseveringly. When your mindfulness becomes powerful, the unhappiness and depression will cease to exist. So the overcoming of mental suffering is the fifth benefit of mindfulness meditation

 

      The Sixth Benefit is the attainment of enlightenment, the Path and Fruition (magga and phala). When you devote enough time and effort to your mindfulness meditation, you will attain at least the First Path, Sotapatti-magga. This is the sixth benefit of mindfulness meditation.

 

      The Seventh Benefit is that you are sure to attain nibbana, deliverance, emancipation through mindfulness meditation.

 

      The seven kinds of benefits of mindfulness meditation which the Vipassana meditator can gain through personal experience of Dhamma:

 

  1. Purification from all kinds of defilements. 
  2. Overcoming sorrow and worry.
  3. Overcoming lamentation.
  4. Cessation of all kinds of physical suffering.
  5. Cessation of all kinds of mental suffering.
  6. Attainment of enlightenment.
  7. Attainment ofnibbana.

      The Buddha began the Maha Satipatthana Sutta with these seven benefits of mindfulness meditation. So you are sure to acquire these seven benefits if you put strenuous effort into your practice.

 

      We are lucky because we believe in the Buddha who is enlightened and who teaches the right way which leads to the cessation of suffering. But we should not be complacent. In the Pali texts, there is a simile:

 

      There is a great pond full of clear water with many lotus flowers in it. A travellers hands are dirty. He knows that if he washes them in the pond, they will be clean. But though he knows it, he does not go to the pond to wash his hands, his hands are still dirty. In this way, he passes the pond and continues his journey.

 

      Then the question was asked in the text: "If the man remains dirty, who is to be blamed, the pond or the traveller?" Obviously, the traveller. Though he knew he could wash the dirt away in the pond, he did not do it. Therefore, the traveller is to be blamed. The Buddha teaches us the way of mindfulness. If we know the way but do not practise this mindfulness meditation, we will not get rid of suffering. If we do not get rid of suffering, who should be blamed? The Buddha, the way of mindfulness, or us? Yes, we should be blamed. If you practise this mindfulness meditation with strenuous effort, you will purify yourself from all defilements and get rid of suffering by obtaining these seven kinds of benefit., of mindfulness meditation.

__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 11084)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 5211)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 6108)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 4972)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 4368)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 5001)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 5168)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 4338)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 4506)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 4654)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 4338)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 4902)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 4392)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 4803)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 4817)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 4603)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 5276)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 4655)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 4413)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 4114)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 4375)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 4213)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 4139)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 4438)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 4232)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 4809)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 6559)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 8428)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 5218)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 5227)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 4368)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 5394)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 11084)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 4139)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 4060)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 6816)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 6447)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng