Chương 4 - Chapter 4

16 Tháng Hai 20203:14 CH(Xem: 2230)
Chương 4 - Chapter 4

Thiền Vipassana, Những Bài Giảng Về Thiền Minh Sát
Vipassana Meditation, Lectures On Insight Meditation
Venerable Chanmyay Sayadaw U Janakabhivamsa
Diệu Tâm Phan Minh Nguyệt dịch Việt
Nguồn: myanmarnet.net, abhidhamma.com, budsas.org
 
____________________
VipassanaMeditation_A

__________________

 MỤC LỤC CHƯƠNG 4 - CONTENTS OF CHAPTER 4 

Chương 4. Tứ niệm xứ

1) Chuỗi nhân quả

2) Nhận diện các cảm thọ (quán thọ trên thọ)

3) Nhận diện ‎ý thức (quán tâm trên tâm)

4) Nhận diện các Pháp (quán pháp trên pháp)

Chapter 4 - The Four Foundations Of Mindfulness

1 - Chain Of Cause And Effect

2 - Mindfulness Of Feeling

3 - Mindfulness Of Consciousness

4 - Mindfulness Of Dhamma


 CHƯƠNG 4 - CHAPTER 4

CHƯƠNG 4. TỨ NIỆM XỨ

 

Khi Đức Phật đã giảng xong bảy lợi ích của thiền minh sát, Ngài tiếp tục giảng về Tứ Niệm Xứ:

 

Kayanupassana Satipatthana (quán thân trên thân)
Vedananupassana Satipatthana (quán thọ trên thọ)
Cittanupassana Satipatthana (quán tâm trên tâm)
Dhammanupassana Satipatthana (quán pháp trên pháp)

 

Kayanupassana Satipatthana có nghĩa là quán sát thân hay là tỉnh thức đối với bất kỳ một quá trình nào của thân ngay khi nó xuất hiệnVedananupassana Satipatthana có nghĩa là sự tập trung vào các cảm giác hay cảm thọ. Cảm giác hay cảm thọ này có ba loại:

 

Cảm giác hay cảm thọ vui (lạc thọ)
Cảm giác hay cảm thọ khổ (khổ thọ)
Cảm giác hay cảm thọ không khổ không vui (si thọ)

 

Cảm giác vui hay cảm thọ vui được gọi là sukha-vedana (sukha có nghĩa là vui, hài lòngvedana là cảm giác hay cảm thọ). Cảm giác hay cảm thọ không vui được gọi là dukkha-vedana trong tiếng Pali (dukkha ở đây có nghĩa là không vui, không hài lòng). Si thọ được gọi là upekkha-vedana (upekkha có nghĩa là trung lập - không vui cũng không khổ). Khi lạc thọ, khổ thọ hay si thọ nảy sinh, một thiền giả phải ý thứcrõ ràng như nó là. Một vài thiền giả cho rằng không cần phải quan sát khổ thọ vì nó là khổ là khó chịu. Thực ra thì tất cả các cảm thọ phải được ghi nhận một cách chăm chú như chúng đang thực sự xuất hiện. Nếu chúng ta không quan sát hay ghi nhận cảm thọ vui hay khổ, chúng ta chắc chắn sẽ bị dính mắc vào nó hay bị nó đánh bại. Sự dính mắc hay tanhà đó phát sinh phụ thuộc vào cảm giác hay cảm thọ. Trong trường hợp này, cảm giác vui là nhân và tham ái là quả.

 

Nếu một thiền giả thực hành tích cựckiên trì, định của anh ta sẽ trở nên sâu và mạnh. Khi định của thiền giả trở nên sâu và mạnh, anh ta cảm thấy hạnh phúckinh nghiệm được sự sung sướng vô ngần vì tại thời điểm đó tâm trí anh ta hoàn toàn thoát khỏi tất cả các nhiễm ô như tham lam, căm ghét, ảo tưởng, kiêu mạn và những thứ tương tự như thế. Và vị thiền giả kiên trì này đạt đến một giai đoạn phát triển tuệ giác khá cao bởi vì tâm anh ta lúc này tĩnh lặng, bình anthanh thản. Nhưng nếu thiền giả thích thú trạng thái này và thoả mãn với những gì mình đang kinh nghiệm thì có nghĩa là anh ta bị dính mắc vào nó, và do đó anh ta không thể tiến lên những cấp độ cao hơn của tuệ. Kinh nghiệm đó có thể đạt được vào bước đầu của tuệ thứ tư. Nếu anh ta hiểu được điều đó, anh ta chỉ nên quan sát kinh nghiệm mà mình đạt được trong giai đoạn này. Dù anh ta đang kinh nghiệm được bất kỳ điều gì trong giai đoạn này, anh ta sẽ không dính mắc vào nó nếu anh ta quan sát kinh nghiệm của mính một cách chăm chú và mạnh mẽ. Khi thiền giả ghi nhận nó một cách chăm chú và kiên nhẫn, niềm hạnh phúc, bình an hay thanh thản đó sẽ không được biểu lộ trong tâm anh ta một cách rõ ràng. Cái mà anh ta nhận thấy tại thời điểm đó chỉ là cảm thọ sinh và diệt. Sau đó cảm thọ khác sinh và diệt. Anh ta không thể phân biệt cảm thọ khổ và vui, do đó, anh ta không bị dính mắc vào kinh nghiệm của mình và tiếp tục tiến lên thực hành cấp độ cao hơn của tuệ. Chỉ sau đó anh ta mới có thể vượt được qua tuệ này.

 

Nếu một thiền giả bước đi trong chính niệm, ghi nhận sáu phần của một bước chân:

 

Nhấc bàn chân,
Nâng các ngón chân,
Đưa bàn chân về phía trước,
Đạp bàn chân xuống,
Tiếp đất,
Và nhấn chân xuống,

 

Kết quả là sức tập trung trở nên tốt hơn, sâu và mạnh, anh ta sẽ không ý thức về hình thái của bàn chân. Anh ta cũng không ý thức về cơ thể hay hình thái của cơ thể. Cái mà anh ta biết chỉ là chuyển động của bàn chân. Cảm giác về chuyển động có thể nhẹ nhàng; anh ta có thể cảm thấy như thể anh ta đang bước đi trong không khí. Anh ta có thể cảm thấy như là anh ta đang được nhấc bổng lên không. Ở giai đoạn này, anh ta đang trải qua những kinh nghiệm thiền định tuyệt vời. Nếu anh ta không quan sát những kinh nghiệm này trong sự tỉnh thức, anh ta sẽ thích chúng và có thể mong ước chúng nhiều hơn nữa. Anh ta có thể rất thoả mãn với sự thực hành của mình và nghĩ rằng đây là Niết bàn bởi lẽ đây là kinh nghiệm tuyệt vời nhất mà anh ta từng có. Tất cả những điều này xảy ra vì anh ta không quan sát những kinh nghiệm dễ chịu của mình, và bị dính mắc vào chúng. Sự dính mắc này phát sinh phụ thuộc vào cảm giác hay cảm thọ dễ chịu, hài lòng về những kinh nghiệm tốt của anh ta.

 

Nếu một thiền giả thích thú với cảm giác hay cảm thọ dễ chịu do kinh nghiệm tốt của mình đem lại mà không ý thức rõ ràng chúng, anh ta chắc chắn sẽ dính mắc vào chúng. Vì thế anh ta nên quán sátý thức rõ ràng bất kỳ một kinh nghiệm nào mà anh ta gặp phải trong giai đoạn này. Anh ta không được phân tích nó hay nghĩ về nó mà phải nhận thức kinh nghiệm này như nó thực sự đang xuất hiện để nhận ra rằng kinh nghiệm này về quá trình tâm hay trạng thái tâm là vô thường. Bất cứ khi nào ghi nhận anh ta sẽ nhận thấy rằng kinh nghiệm này không tồn tại mãi mãi. Khi tâm ghi nhận trở nên liên tiếp, được duy trì và mạnh mẽ, nó sẽ nhìn thấu suốt bản chất kinh nghiệm của anh ta, có nghĩa là trạng thái tâm. Tâm ý bắt đầu nhận ra rằng kinh nghiệm đó đã biến mất. Bất kỳ khi nào cảm thọ đó phát sinh, tâm sẽ ghi nhận nó và nó lại biến mất. Anh ta cuối cùng kết luận rằng cảm giác dễ chịu này cùng với kinh nghiệm của anh ta là vô thường (anicca) bởi vì anh ta đã hiểu được bản chất vô thường nhờ kinh nghiệm của cá nhân mình về Pháp (Dhamma). Ở đây Dhamma có nghĩa là các quá trình về tâm cũng như về thân. Vì anh ta đã nhận ra rằng cảm giác hay cảm thọ dễ chịu cùng với kinh nghiệm tốt là vô thường nên anh ta sẽ không bị dính mắc vào nó. Sự dính mắc sẽ không nảy sinh nếu thiền giả hiểu đúng bản chất thật của các trạng thái tâm hay một kinh nghiệm dễ chịu.

CHAPTER FOUR: THE FOUR FOUNDATIONS OF MINDFULNESS

 

      When the Buddha had explained the seven benefits of mindfulness, he continued to explain the Four Foundations of Mindfulness:

 

  1. Kayanupassana Satipatthana 
  2. Vedananupassana Satipatthana
  3. Cittanupassana Satipatthana
  4. Dhammanupassana Satipatthana

      Kayanupassana Satipatthana means contemplation of the body or mindfulness of any bodily process as it occurs. Vedananupassana Satipatthana means contemplation of feeling or sensation. This feeling or sensation is of three types:

 

      (a) Pleasant feeling or sensation,

 

      (b) Unpleasant feeling or sensation,

 

      (c) Neutral feeling or sensation.

 

      Pleasant feeling or pleasant sensation is called sukha-vedana (sukha means pleasant, vedana is feeling or sensation). Unpleasant sensation or unpleasant feeling is called dukkha-vedana in Pali (dukkha here means unpleasant). Neutral feeling or neutral sensation is called upekkha-vedana (upekkha means neutral - neither pleasant nor unpleasant). When pleasant feeling, unpleasant feeling or neutral feeling arises, a meditator must be mindful of it as it is. Some meditators think that unpleasant feeling should not be observed because it is unpleasant. Actually, all kinds of feeling must be noted very attentively as they really occur. If we do not observe or note the pleasant or unpleasant feeling or sensation, we are sure to become attached to it or repulsed by it. When we like a particular feeling or sensation, we become attached to it. That attachment or tanha arises depending on the feeling or sensation. In this case, the pleasant feeling is the cause and attachment is the effect.

 

      If a meditator practises strenuously and perseveringly, his concentration will become deep and strong. When the meditator's concentration becomes deep and strong, he feels happy and experiences rapture because his mind is, at that moment, quite free from all defilements such as greed, hatred, delusion, conceit and so on. The persevering meditator has attained a very good stage of insight because his mind is now calm, tranquil and serene. If the meditator enjoys it and is satisfied with what he is experiencing, it means he is attached to it, and thus he cannot progress to the higher stages of insight. Such an experience can be attained in the first part of the fourth stage of insight. If he understands that, he should just observe the experience he has attained at this stage. Whatever he is experiencing at this stage, he will not become attached to it if he observes his experience very attentively and energetically. When the meditator notes it attentively and persistently, that happiness, tranquility or serenity will not be manifested in his mind very distinctly.

 

      What he realises at that moment is just feeling that arises and passes away. Then another feeling arises and passes away. He cannot differentiate between pleasant and unpleasant feelings, thereby, he becomes detached from his experience and proceeds to practise for a higher stage of insight. Only then can he go beyond this stage of insight.

 

      If a meditator walks very mindfully, noting the six parts of the step: lifting of the foot, raising of the toes, pushing the foot forward, dropping it down, touching, and pressing, and as a result, his concentration is good, deep and strong, he will not be aware of the form of the foot. Nor is he aware of the body or bodily form. What he knows is just movement of the foot. The movement may also feel light; he may feel as if he is walking in the air. He may feel as if he is lifted in the sky. At this stage, he is experiencing excellent meditation experiences. If he does not observe these experiences mindfully, he will like them and may desire more of them. He may become very satisfied with his practice and he may think this is nibbana (the cessation of all kinds of suffering) because this is the best experience he has ever had. All this happens because he does not observe his pleasant experiences, and so is attached to them. This attachment arises depending on the pleasant feeling or pleasant sensation about his good experience.

 

      If a meditator enjoys this pleasant feeling or sensation about his good experience without being mindful of it he is sure to become attached to it. So, he should observe and be aware and mindful of whatever experience he has encountered at this stage. He must not analyse it or think about it, but must be aware of the experience as it really occurs, in order to realise that this experience of the mental process or mental state is subject to impermanence. Whenever he notes, he finds that the experience is not everlasting. When the 'noting mind' becomes constant, sustained and powerful, it penetrates into the nature of his experience, i.e. the mental state. The mind begins to realise that the experience has disappeared. Whenever it arises, the mind notes it, and again it disappears. He then concludes that this pleasant feeling together with his experience is impermanent (anicca), because he has comprehended the nature of impermanence through his personal experience of the Dhamma. Here, Dhamma means mental as well as physical processes. Because he has realised that the pleasant feeling or sensation together with the good experience is impermanent, he will not be attached to it. Attachment will not arise when the meditator rightly understands the true nature of good mental states or a good experience.


Chuỗi nhân quả

 

Khi không ái thì tham chấp (ngã chấp) hay upadana cũng sẽ không phát sinh. Khi ngã chấp không nảy sinh thì sẽ không có bất kỳ một nghiệp thân, khẩu, ý thiện hay ác nào. Nghiệp tạo ra bởi ngã chấp được gọi là kàmma-bhava. Nó có thể là nghiệp lành hoặc dữ. Nghiệp lành của thân được gọi là kusala kaya-kamma. Nghiệp ác của thân là akusala kaya-kamma. Nghiệp khẩu thiện là kusala vaci-kamma. Nghiệp ác của khẩu là akusala vaci-kamma. Nghiệp ý thiện là kusala mano-kamma. Nghiệp ý ác là akusala mano-kamma. Những nghiệp hay kamma này phát sinh bởi ngã chấp hay tham chấp này là kết quả của sự dính mắc đối với cảc cảm thọ dễ chịu hay không dễ chịu.

 

Khi bất kỳ một hành động nào của thân, khẩu hay ý được thực hiện, nó trở thành một nhân. Nhân này trổ quả ở đời này hoặc những đời sau. Vì thế theo cách này một sinh vật được tái sinh bởi nghiệp lành hay dữ của mình. Nghiệp đó được tạo ra bởi tham chấp, ngã chấp, thủ chấp mà gốc rễ là ái, là sự dính mắc. Ái lại được tạo ra bởi cảm giác hay cảm thọvedana. Theo cách này, một người phải tái sinh trong kiếp sau để phải trải qua những nỗi khổ khác nhau bởi vì anh ta đã không quan sát các cảm thọ dễ chịu cùng với kinh nghiệp của mình.

 

Vì thế nếu một thiền giả cho rằng không cần quan sát các cảm thọ thì anh ta sẽ bị dắt dẫn đi theo Vòng nhân duyên (paticcasamuppada) để tái sinh trong kiếp sau và chịu mọi nỗi khổ. Đó là lý do tại sao Đức Phật dạy chúng ta tỉnh thức đối với bất kỳ một cảm giác hay cảm thọ nào dù là lạc thọ, khổ thọ hay si thọ.

 

Chain of Cause and Effect

 

      When attachment does not arise, grasping or upadana will not arise. When grasping does not arise, there will not be any wholesome or unwholesome actions, verbal, physical or mental. The action that is caused by grasping is known as kamma-bhava. This may be wholesome or unwholesome. Wholesome bodily action is kusala kaya-kamma. Unwholesome bodily action is akusala kaya-kamma. Wholesome verbal action is kusala vaci-kamma. Unwholesome verbal action akusala vaci-kamma. Wholesome mental action is kusala mano-kamma. Unwholesome mental action is akusala mano-kamma. These actions or kamma arise through the grasping which is the result of attachment to pleasant or unpleasant feeling or sensation.

 

      When any bodily, verbal or mental action is carried out, it becomes a cause. This cause has its result which may occur in this life, or future lives. So in this way, a being is reborn again through his wholesome or unwholesome action. That action is caused by the grasping which has attachment as its root. Attachment, in turn, is conditioned through reeling or sensation, vedana In this way, a being has to be reborn in the next existence to experience a variety of suffering because he does not observe his pleasant feelings together with his experience.

 

      Therefore, if a meditator thinks that feelings should not be observed, he will be carried away along the Chain of Dependent Origination (paticcasamuppada) to be reborn in the next existence and suffer from a variety of dukkha. That is why the Buddha teaches us to be mindful of any kind of feeling or sensation whether pleasant, unpleasant or neutral.


Nhận diện các cảm thọ (quán thọ trên thọ)

 

Tỉnh thức đối với các cảm thọ hay quán sát các cảm giác được gọi là Vedananupassana satipatthana. Thường khi mới bắt đầu tập, thiền giả cảm thấy khó chịu về thân cũng như tâm. Ở đây chúng tôi cần giảng lại một lần nữa về hai loại cảm thọ:

 

Kayika-vedana
Cetasika-vedana.

 

Nếu cảm giác hay cảm thọ nảy sinh phụ thuộc vào các quá trình vật chất, nó được gọi là kayika-vedana. Chúng ta có thể dịch nó là cảm giác hay cảm thọ vật lý hoặc cảm giác hay cảm thọ của thân. Nếu cảm giác hay cảm thọ nảy sinh phụ thuộc vào các quá trình tâm, nó được gọi là cetasika-vedana. Chúng ta có thể dịch nó là cảm giác hay cảm thọ thuộc tâm. Thực ra thì mỗi cảm thọ hay mỗi cảm giác đều là một quá trình tâm, không phải là một quá trình vật chất. Tuy nhiên, đôi khi cảm giác hay cảm thọ phát sinh phụ thuộc vào quá trình không thoải mái của thân. Khi một thiền giả cảm thấy không thoải mái trong cơ thể thì sau đó cảm giác khó chịu sẽ xuất hiện. Cảm giác khó chịu đó được gọi là kayika-vedana bởi vì nó phát sinh phụ thuộc vào các quá trình thuộc thân.

 

Khi mới bắt đầu tu tập, thiền giả thường phải thọ nhận toàn những cảm giác khó chịu về thân và tâm. Nhưng dù anh ta kinh nghiệm bất kỳ cảm giác nào anh ta phải quan sát nó chăm chú, mạnh mẽ và chính xác để có thể nhận ra bản chất thật của cảm giác hay cảm thọ đó. Các đặc tính riêng và chung của cảm thọ đó phải được nhận diện hoàn toàn để anh ta không bị dính mắc vào nó hay bị nó đánh bại. Đây là Vedanaupassana Satipatthàna - sự tỉnh thức đối với các cảm giác hay cảm thọ. Bất kỳ khi nào cảm thọ sinh khởi nó phải được quan sátghi nhận như nó thực sự đang xuất hiện.

 

Một thiền giả e ngại cảm giác khó chịu về thân mà anh ta trải qua trong quá trình hành thiền là điều tự nhiên, nhưng cảm giác đau không phải là điều đáng lo ngại, và sợ hãi. Đau là một tiến trình tự nhiên cần phải được hiểu thấu đáo nhờ nhận thức nó như nó đang là. Khi một thiền giả có thể quan sát cái đau thành công với những nỗ lực không ngừng, anh ta sẽ có thể nhận ra bản chất thật của chúng - bản chất chung và riêng của cái đau. Sự hiểu biết sâu sắc, thấu đáo bản chất thật của cái đau hay cảm giác khó chịu đó sẽ dẫn thiền giả đến những cấp độ cao hơn của tuệ. Và cuối cùng, anh ta có thể đạt được giác ngộ nhờ nhận diện cảm thọ đau này.

Mindfulness of Feeling

 

      Mindfulness of sensation or contemplation of sensation is known as Vedananupassana Satipatthana. Usually at the beginning of the practice, the meditator feels the unpleasant physical sensations as well as mental sensations. Here we need to explain again the two kinds of sensation:

 

  • 1. Kayika-vedana
  • 2. Cetasika-vedana


      If the feeling or sensation arises depending on physical processes, it is known as Kayika-vedana We may translate it as physical feeling or sensation, or bodily feeling or sensation. If the reeling or sensation arises depending on mental processes, it is called cetasika-vedana. We may render it as mental feeling or mental sensation. Actually, every feeling, every sensation is a mental process, not a physical process. However, sometimes feeling or sensation arises depending on the physical process of discomfort. When a meditator feels discomfort in his body, then unpleasant sensation arises. That unpleasant sensation is called k~yika vedan~ because it arises depending on physical processes.

 

      In the beginning of the practice, a meditator generally experiences mostly unpleasant mental and physical sensations. But whatever sensation he may experience, he must observe it very attentively, energetically and precisely so that he can realise the true nature of that feeling or sensation. The specific and the general characteristics or the reeling must be thoroughly realised so that he will not be attached to it or repulsed by it. This is Vedananupassana Satipatthana - mindfulness of feelings or sensations. Whenever feeling arises, it must be observed and noted as it really occurs.

 

      It is natural for a meditator to be afraid of unpleasant physical sensation which he experiences in his meditation practice, but painful sensation is not a process that should be feared. Pain is a natural process that should be thoroughly understood by being aware of it as it really occurs. When a meditator can observe pain successfully with persistent effort, then he can realise its true nature - the specific and general nature of pain. Then the penetrating insight into the true nature of that pain or unpleasant sensation will lead the meditator to the higher stages of insight. Eventually, he could attain enlightenment by means of this painful sensation.


Nhận diện ý thức (quán tâm trên tâm)

 

Nội dung thứ ba của Tứ Niệm Xứ là Cittanupassana Satipatthana có nghĩa là tỉnh thức đối với ý thức và các trạng thái (cetasika, tâm sở) nảy sinh cùng với ý thức. Theo luận Abhidhamma (Vi diệu pháp), mỗi "tâm" được tạo nên bởi ý thức và các thứ đi cùng nó (concomitants, tâm sở). Concomitants ở đây có nghĩa là các nhân duyên. Ý thức không bao giờ nảy sinh một cách riêng lẻ mà nó sinh khởi cùng với các nhân duyên của nó. Tóm lại, bất kỳ ý thức nào hoặc "tâm" hay trạng thái tâm nào xuất hiện đều phải được tỉnh thức ghi nhận hay quan sát như nó đang thực sự xuất hiện. Đây là Cittanupassana Satipatthana. Các trạng thái của tâm có thể tốt, và các trạng thái cảm xúc có thể dễ chịu hơn. Dù như thế nào, nó cũng phải được ghi nhận như nó thực sự đang là. Vì thế, khi bạn nảy ý tham lam và dính mắc, bạn phải tỉnh thức nhận diện nó như nó đang là. Nếu bạn nảy ý sân hận, bạn phải ghi nhận nó là sân hận. Lòng sân hận có thể được ghi nhận là "sân hận" hay "sự sân hận" theo kinh Maha Satipatthàna Sutta. Khi sức tỉnh thức chính niệm trở nên mạnh mẽ, sự sân hận sẽ biến mất. Thiền giả sẽ nhận ra là sự sân hận không tồn tại mãi mãi - nó sinh và diệt. Thiền giả có hai lợi ích nhờ việc quan sát sự sân hận:

 

1) Vượt qua được sự sân hận.

2) Nhận ra bản chất thực của sân hận (tính chất sinh diệt của sân hận hay bản chất vô thường của sân hận).

 

Sân hận là một trong những trạng thái của tâm có thể dẫn thiền giả đến chấm dứt khổ đau nếu biết ghi nhận nó với sự tỉnh thức.

 

Mindfulness of Consciousness

 

      The third Foundation of Mindfulness is Cittanupassana Satipatthana which means mindfulness of consciousness and the states (cetasika) that arises with consciousness. According to the Abhidhamma, every 'mind', so to say, is composed of consciousness and its concomitants. Concomitants here means its associates. Consciousness never arises independently. It arises together with its associates. In short, whatever consciousness or whatever 'mind' or mental state arises, must be mindfully noted or observed as it really occurs. This is Cittanupassana Satipatthana. The mental states may be good, the emotional states may be better. Whatever it may be, it must be noted as it really occurs. Therefore, when you have consciousness with lust or attachment, you must be mindful of it as it really is. If you have consciousness with anger, you must note it as consciousness with anger. Consciousness with anger can be noted as 'angry' or 'anger' in accordance with the Maha Satipatthana Sutta. When mindfulness is powerful, the anger will disappear. The meditator will then realise that anger is not everlasting - it arises and passes away. By observing anger, a meditator has two kinds of benefit:

 

      1. The overcoming of anger.

 

       2. Realisation of the true nature of anger (the arising and passing away of anger or the anicca nature of anger).

 

      Anger is one of the mental states that can lead the meditator to the cessation of suffering if he notes it with mindfulness.


Nhận diện các Pháp (quán pháp trên pháp)

 

Nội dung thứ tư của Tứ Niệm Xứ là Dhammanupassana Satipatthana có nghĩa là quán chiếu các Pháp hay sự tỉnh thức đối với Pháp (dhamma). Ở đây dhamma bao gồm nhiều phạm trù về các quá trình của thân và tâm. Phạm trù đầu tiên là năm nivarana (ngũ cái):

 

1) Kamacchanda: Tham - tham sắc, thanh, hương, vị, xúc (tham).

 

2) Vyapada: Sân hận hay ác ý (sân).

 

3) Thina-middha: Giải đãihôn trầm - ngủ gục, lờ đờ, chậm chạp uể oải chán nản (thuỵ miên).

 

4) Uddhacca-kukkucca: Hối hận, lo lắng hay không vui vì những hành động đã qua. Không vui vì không làm được những việc nên làm trong quá khứ là khía cạnh đầu tiên. Khía cạnh thứ hai là không vui vì việc mình đã làm mà đáng ra không nên làm, có nghĩa là một hành động không trong sạch sẽ mang lại kết quả xấu ( trạo hối)

 

5) Vicikiccha: Nghi ngờ.

 

Một khi tâm còn nhiễm ô thì thiền giả không thể nhận ra bất kỳ một tiến trình thân hay tâm nào. Chỉ khi nào tâm tập trung tốt vào đối tượng của thiền (các quá trình thân hoặc tâm), nó mới thoát khỏi mọi nhiễm ô hay chướng ngại. Do đó tâm trở nên trong sáng và sâu sắc; nó sâu sắc đến mức độ có thể nhận ra bản chất thực của các tiến trình thân và tâm như chúng thực sự là. Vì vậy, bất cứ khi nào một trong năm triền cái nảy sinh trong tâm thiền giả, anh ta phải nhận diện chúng một cách rõ ràng.

 

Ví dụ, khi một thiền giả nghe thấy một bài hát ngọt ngào từ bên ngoài và không ghi nhận nó, anh ta có thể mong ước được nghe bài hát đó. Anh ta muốn nghe đi nghe lại bài hát này và trở nên say mê nó. Mong ước được nghe bài hát này chính là sự tham đắm lục trầnKamacchanda. Vì vậy, khi anh ta nghe bất kỳ bài hát ngọt ngào nào, anh ta phải ghi nhận là "đang nghe, đang nghe”. Mặc dù thế anh ta vẫn có thể bị chìm đắm trong bài hát nếu sự tỉnh thức của anh ta không đủ mạnh. Nếu anh ta biết quán xét rằng sự tham đắm bài hát của các căn có thể dẫn anh ta đến những sự việc không mong muốn hay những tai nạn, hoặc nó có thể là trở ngại cho sự tiến bộ trong hành thiền của anh ta, anh ta sẽ ghi nhận nó là "mong ước, mong ước" cho đến khi nó bị diệt bỏ nhờ sự tỉnh thức mạnh mẽ. Khi sự tỉnh thức trở nên liên tục và mạnh mẽ, mong ước đó có thể biến mất. Lòng tham đắm này biến mất bởi vì nó đã được quan sát một cách chăm chú và mạnh mẽ. Khi một thiền giả quan sát như thật hay nhận diện được sự ham muốn của giác quan, dùng tâm ghi nhận "mong ước, mong ước" có nghĩa là anh ta đang thực hành một cách nghiêm túc những điều Đức Phật dạy trong Maha Satipatthana Sutta (Tứ Niệm Xứ). Tỉnh thức theo cách này là Dhammanupassana Satipatthana - sự quán sát các đối tượng của tâm, tức là quán chiếu các triền cái (nivaranas).

 

Thina-midda, lười biếng và uể oải, thực ra có nghĩa là thụy miên. Lười biếng và uể oải là người bạn rất đỗi quen thuộc của các thiền giả. Khi một thiền giả cảm thấy buồn ngủ anh ta thích thú nó. Nếu một cảm giác dễ chịu nào đến anh ta có thể quan sát nó nhưng nếu cơn buồn ngủ đến anh ta không có khả năng nhận thứcrõ ràng vì anh ta thích nó. Đó là lý do tại sao lười biếng và uể oải hay trầm thụy là người bạn cũ của thiền giả. Nó khiến anh ta ở mãi trong vòng luân hồi. Nếu anh ta không có khả năng quan sát sự buồn ngủ, anh ta sẽ không thể vượt qua nó. Nếu anh ta không nhận ra bản chất thật của giải đãiuể oải hay buồn ngủ, anh ta sẽ dính mắc vào nó và thích thú nó.

 

Khi chúng ta cảm thấy buồn ngủ chúng ta phải nỗ lực tích cực hơn trong thực hành; điều đó có nghĩa là chúng ta phải quan sát chăm chú hơn, mạnh mẽ hơn và chính xác hơn để chúng ta có thể làm tâm năng độngcảnh giác hơn. Khi tâm trở nên năng độngcảnh giác hơn, nó sẽ thoát khỏi sự buồn ngủ. Thiền giả sẽ vượt được qua cơn buồn ngủ.

 

Uddhacca-kukucca là chướng ngại thứ tư. Uddhacca là bồn chồn hay tán loạnkukucca là hối hận. Ở đây uddhacca có nghĩa là sự tán loạn của tâm, sự bồn chồn không yên của tâm, tâm lăng xăng. Thay vào việc ghi nhận đối tượng của thiền, tâm lại lăng xăng hay nghĩ về một điều gì khác thì đó là tán loạn (uddhacca). Khi tâm của bạn lăng xăng, bạn phải ý thứcrõ ràng như nó thực sự là. Khi mới bắt đầu tập, một thiền giả có thể không quán sát được nó. Thậm chí anh ta không biết rằng tâm đang lăng xăng. Anh ta cứ nghĩ là tâm đang chú vào đối tượng của thiền, tức là sự chuyển động của bụng hay sự thở. Khi anh ta ý thức rằng tâm đã lăng xăng, anh ta phải ghi nhận “đăng lăng xăng, đang lăng xăng” hay “đang nghĩ, đang nghĩ”. Như thế có nghĩa là uddhacca-kukkucca đang được quan sát.

 

Chướng ngại thứ năm là Cicikiccha hay nghi ngờ. Bạn có thể nghi ngờ Phật, Pháp, Tăng hay về phương pháp thiền. Bất kỳ mối nghi nào khởi lên đều phải được quán sát chăm chú, bạn phải nhận diệnrõ ràng như nó đang thực sự là.

 

Đây là Dhammanupassana Satipatthana - tỉnh thức về Pháp. Như vậy, trên đây đã trình bày bốn nội dung của Tứ Niệm Xứ:

 

Kayanupassana Satipatthanaquán sát thân hay các hiện tượng vật lý.
Vedananupassana Satipatthanaquán sát cảm thọ.
Cittanupassana Satipatthanaquán sát ý thức cùng những vọng tưởng.
Dhammanupassana Satipatthana: quán chiếu các pháp (dhamma) hay đối tượng của tâm.

Mindfulness of Dhamma

 

      The fourth Foundation of Mindfulness is Dhammanupassana Satipatthana which means contemplation of dhamma or mindfulness of dhamma. Here dhamma includes many categories of mental or physical processes. The first category is the five nivarana (hindrances):

 

      1. Kamacchanda. Sense desire - desire for visible objects, sounds, odours, tastes and tangible objects.

 

      2. Vyapada. Anger or ill-will.

 

      3. Thina-middha. Sloth and torpor - sleepiness, mental dullness, heaviness.

 

      4. Uddhacca-kukkucca. Remorse, worry or unhappiness about past deeds. Unhappiness at the failure to do what should have been done in the past is the first aspect. The second aspect is unhappiness about a deed which you did though you should not have done it, i.e., an unwholesome deed which would produce a bad result.

 

       5. Vicikiccha. Doubts.

 

      So long as the mind is defiled, a meditator cannot realise any mental process or physical process. Only when the mind is well concentrated on the object of meditation (either mental or physical processes), is it free from all kinds of defilements or hindrances. Thus the mind becomes clear and penetrative; so penetrative that it realises the true nature of mental and physical processes as they really are. So whenever any one of the five hindrances arises in a meditator's mind, he must be aware of it. For example, when a meditator hears a sweet song from outside and does not note it, he may have a desire to listen to the song. He likes to hear this song repeatedly and he indulges in it. That desire to listen to the song is sense desire - kamacchanda. So, when he hears any sweet song, he must note 'hearing, hearing'. Still, he may be overwhelmed by the song if his mindfulness is not powerful enough. If he knows that this sense desire for the song can lead him to undesirable events' or accidents, or can be an obstacle to his progress in meditation, he will note it as 'desire, desire' until it has been destroyed by strong mindfulness. When the mindfulness becomes constant and strong, that desire will disappear. The desire disappears because it has been observed very attentively and energetically. When a meditator observes or is mindful of his sense desire as it really is, making a mental note, 'desire, desire', he is following strictly what the Buddha taught in the Maha Satipatthana Sutta. Being mindful in this manner is Dhammanupassana-Satipatthana or the contemplation of mind objects, i.e. contemplation of the hindrances (nivaranas).

 

      Thina-middha, sloth and torpor, actually means sleepiness. Sloth and torpor is a very 'old friend' of meditators. When a meditator feels sleepy, he enjoys it. If any other pleasant sensation arises in him, he is able to observe it. But when sleepiness arises in him, he is unable to be aware of it because he likes it. That is why sloth and torpor or sleepiness is an 'old friend' of a meditator. It makes him stay longer in the cycle of rebirth. If he is unable to observe sleepiness, he cannot overcome it. Unless he has realised the true nature of sloth and torpor or sleepiness, he will be attached to it and enjoy it.

 

      When we are sleepy, we should make more strenuous effort in our practice; that means we must observe more attentively, energetically and precisely so that we can make our mind more active and alert. When the mind becomes active and alert, it will be free from sleepiness. Then the meditator can overcome sleepiness.

 

      Uddhacca-kukucca is the fourth of the hindrances. Uddhacca is restlessness or distraction, kukucca is remorse. Here uddhacca means distraction of the mind, restlessness of the mind, wandering of the mind. When the mind wanders or thinks about something else instead of noting the object of meditation, it is uddhacca. When your mind wanders, you must be aware of it as it really is. At the beginning of the practice a meditator may not be able to observe it. He does not even know that the mind is wandering. He thinks the mind is staying with the object of meditation, i.e. the abdominal movements or respiration. When he is aware that the mind has wandered, he must note 'wandering, wandering' or 'thinking. thinking'. That means uddhacca-kukkucca is observed.

 

      The fifth hindrance is vicikiccha or doubt. You may have doubt about the Buddhathe Dhamma, the Sangha, or about the technique of meditation. Whatever doubt arises, it must be very attentively observed, you must be mindful of it as it really is. This is known as Dhammanupassana Satipatthana - mindfulness of dhamma. So these are the four Foundations of Mindfulness:

 

  1. 1. Kayanupassana Satipatthana- contemplation of the body or physical phenomena.
  2. 2. Vedananupassana Satipatthana - contemplation of feeling or sensation. 
  3. 3. Cittanupassana Satipatthana - contemplation of consciousness together with its concomitants or associates. 
  4. 4. Dhammanupassana Satipatthana - contemplation of dhamma or mind objects.
__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 7449)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 3192)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 3840)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 2996)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 2553)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 1712)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 1734)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 1348)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 1547)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 1593)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 1470)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 1626)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 1512)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 1798)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 2046)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 1735)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 2151)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 1651)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 1670)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 1510)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 1617)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 1654)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 1583)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 1558)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 1383)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 3241)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5017)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6679)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 2167)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 2145)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 1988)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1945)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 7449)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1716)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1800)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 4698)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 3664)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng