Chương 5 - Chapter 5

16 Tháng Hai 20203:14 CH(Xem: 1159)
Chương 5 - Chapter 5

Thiền Vipassana, Những Bài Giảng Về Thiền Minh Sát
Vipassana Meditation, Lectures On Insight Meditation
Venerable Chanmyay Sayadaw U Janakabhivamsa
Diệu Tâm Phan Minh Nguyệt dịch Việt
Nguồn: myanmarnet.net, abhidhamma.com, budsas.org
 
____________________
VipassanaMeditation_A

__________________

 MỤC LỤC CHƯƠNG 5 - CONTENTS OF CHAPTER 5 

Chương 5. Bảy bước thanh tịnh

1) Thanh tịnh giới

2) Thanh tịnh tâm

3) Thanh tịnh tri kiến

4) Sự thanh tịnh nhờ vượt qua được sự nghi ngờ

5) Làm trong sạch cái hiểu và cái thấy về Đạo và Không phải Đạo

Thanh tịnh cái thấy và cái biết về phương pháp

6) Trí tuệ khi chín muồi

7) Làm thanh tịnh cái thấy và quan điểm

Chapter 5 - The Seven Stages Of Purification

1 - Purification Of Moral Conduct

2 - Purification Of Mind

3 - Purification Of View

4 - Purification By Overcoming Doubt

5 - Purification Of Knowledge And Vision Of Path And Non-Path

- Purification Of Knowledge And Vision Of The Course

6 - Knowledge Of Maturity

7 - Purification Of Knowledge And Vision


 CHƯƠNG 5 - CHAPTER 5

CHƯƠNG 5. BẢY BƯỚC THANH TỊNH

 

Để đạt được giác ngộ chúng ta phải đi qua bảy giai đoạn để thanh tịnh (visuddhi).

CHAPTER FIVE: THE SEVEN STAGES OF PURIFICATION

 

      To attain enlightenment we must go through seven stages of purification (visuddhi).


1) Thanh tịnh giới

 

Đầu tiên là sila-visuddhi, thanh tịnh giới. Nếu không giữ được tám giới thì ít nhất thiền giả phải giữ được năm giới để có thể đạt được thanh tịnh giới. Giới thứ ba trong năm giới là không tà dâm, trong khi đó giới thứ ba trong tám giới là không dâm dục. Nếu một thiền giả không tránh dâm dục tâm trí anh ta sẽ bị nhiễm ô bởi chướng ngại do sự tham đắm sắc dục (kamacchanda-nivarana). Chỉ khi nào tâm thoát khỏi mọi chướng ngại thì thiền giả mới có thể nhận ra các tiến trình của thân và tâm theo bản chất thực sự của chúng.

 

Tất nhiên nếu thiền giả giữ được tám giới thì tốt hơn. Nếu họ không giữ tám giới họ có thể tham muốn thức ăn, ham đắm sắc, thanh, hương, vị, xúc - năm món sắc dục của giác quan (kàmmaccahanda) trong tâm họ. Nhờ tuân giữ tám giới, một người có thể thanh tịnh lời nói và hành động của mình có nghĩa là thanh tịnh giới (sìla-visuddhi). Khi giới được thanh tịnh, ở một mức độ nào đấy, tâm cũng được thanh tịnh.

 

Khi tâm thanh tịnh, nó trở nên tĩnh lặng, bình an, thanh thản, hạnh phúc và có thể tập trung vào đối tượng của thiền. Thiền giả sẽ đạt được Tâm thanh tịnh, có nghĩa là Citta-visuddhi - giai đoạn thứ hai của sự thanh tịnh.

 

Khi Đại đức Uttiya - một trong những đệ tử của Đức Phật bị ốm, Đức Phật đã đến thăm Ngài và hỏi về tình trạng sức khoẻ của Ngài. Đại đức Uttiya bạch Phật về bệnh tình của mình:

 

Bạch Đức Thế Tôn, bệnh của con không giảm mà đang nặng lên. Con không biết liệu con có thể sống nốt hôm nay hay ngày mai. Vì thế con muốn hành thiền để phá sạch các nhiễm ô, đạt đến giai đoạn giác ngộ thứ tư - quả vị Alahán trước khi con chết. Xin Đức Thế Tôn cho con một lời chỉ dẫn ngắn gọn có thể giúp con phát triển thiền định đạt tới quả vị Alahán.

 

Đức Phật dạy:

 

Uttiya, con nên làm sạch căn nguyên. Nếu nguyên nhân đã được làm thanh tịnh thì con sẽ đạt được quả vị Alahán.

 

Đức Phật lại hỏi “Cái gì là căn nguyên?". Và Ngài tự trả lời: "Ở đây căn nguyên là giới (hay sila) được thanh tịnhchính kiến (Samma-ditthi). Chính kiến có nghĩa là hiểu và tin tưởng vào Luật Nhân Quả (báo ứng của nghiệp) hay Luật Kamma". Đức Phật nói tiếp:

 

Uttiya, con nên thanh tịnh giớichính kiến. Sau đó, dựa trên giới đức thanh tịnh, con nên phát triển Tứ Niệm Xứ. Thực hành như vậy con sẽ đạt được diệt đế.

 

Đức Phật Thích Ca nhấn mạnh vào sự thanh tịnh giới hay sìla bởi vì nó là yêu cầu cơ bản để phát triển định cũng như tuệ. Khi giới thanh tịnh thì tâm trở nên tĩnh lặng, bình anhạnh phúc. Nếu nuôi dưỡng sự tỉnh thức, anh ta sẽ dễ dàng tập trung vào bất kỳ đối tượng nào của các tiến trình thân và tâm. Vì vậy giới đức thanh tịnhđiều kiện tiên quyết để một thiền giả đạt tiến bộ.

 

Purification of Moral Conduct

 

      The first is sila-visuddhi, Purification of Moral Conduct. Meditators have to observe at least five precepts, if not eight, so that they can attain purification of sila. The third of the five precepts is abstention from sexual misconduct, whereas the third of the eight precepts is abstention from all kinds of sexual contact. If a meditator does not abstain from sexual contact, his mind will be defiled by the hindrance of sense desire kamacchanda nivarana). Only when the mind is purified from all hindrances can meditators realise mental and physical processes in their true nature.

 

      Of course it is better if meditators can observe the eight precepts. If they do not, they may have desires for taste, food, visible things, audible things, odours and tangible things - five kinds of sense desire (kammacchanda) in their mind. By observing eight precepts, one can purify one's deeds and speech which is purification of moral conduct (Citta-visuddhi). When moral conduct is purified, the mind is also purified to some extent.

 

      When the mind becomes purified, it becomes calm, serene, tranquil and happy and can concentrate on the object of meditation. Then the meditator attains Purification of Mind, i.e. Citta-visuddhi the second stage of purification.

 

      When Venerable Uttiya, one of the disciples of the Buddha was sick in bed, the Buddha visited him and asked about his health. Venerable Uttiya told the Buddha about his sickness:

 

      Venerable sir, my sickness is not decreasing but increasing. I do not know whether I can or cannot live out today or tomorrow. So I want to meditate to destroy all kinds of defilements through to the fourth stage of enlightenment, arahantship, before I die. Please give a short instruction which will enable me to develop my meditation practice to attain Arahantship.

 

      Then the Buddha said:

 

      Uttiya, you should cleanse the beginning. If the beginning is purified, then you will be all right, i.e. able to attain Arahantship.

 

      The Omniscient Buddha asked the question, "What is the beginning?" He himself replied, "Herein the beginning is purified moral conduct or sTia and right view (Samma-ditthi). Right view means the acceptance of and belief in the Law of Cause and Effect (action reaction) or the Law of Kamma." The Omniscient Buddha continued:

 

      Uttiya, you should cleanse your moral conduct and right view. Then, based on the purified moral conduct or Sila, you should develop the Four Foundations of Mindfulness. Practising thus, you will attain the cessation of suffering.

 

      The Omniscient Buddha lays stress on the purification of sila or moral conduct because it is a basic requirement for progress in concentration as well as insight. When moral conduct is purified, the mind becomes calm, serene and happy. If he cultivates mindfulness, then he can easily concentrate on any object of the mental and physical processes. So purity of moral conduct is a pre-requirement for a meditator to make progress.


2) Thanh tịnh tâm

 

Bước thanh tịnh thứ hai là thanh tịnh tâm (Citta-visuddhi). Nếu bạn muốn đạt được tuệ minh sát, tâm bạn phải trong sạch thoát khỏi mọi nhiễm ô. Khi tâm tập trung tốt vào bất cứ một hiện tượng thân hay tâm nào, nó thoát khỏi mọi chướng ngại. Điều này được gọi là làm thanh tịnh tâmCitta-visuddhi. Với sự thanh tịnh này, tâm có thể hiểu thấu các tiến trình thân và tâm theo bản chất thực của chúng. Đầu tiên anh ta phân biệt được đâu là tiến trình thân đâu là tiến trình tâm (nama và rupa) nhờ kinh nghiệm của bản thân. Điều đó được gọi là Namarupapariccheda-nana - hiểu biết về sự khác nhau giữa trạng thái tâm lývật chất.

Purification of Mind

 

      The second purification is Purification of Mind (Citta-visuddhi). If we want to attain insight knowledges, the mind must be purified from all kinds of defilements. When the mind is well concentrated on any mental or physical phenomena, it is free from all these hindrances. This is known as purification of mind - Citta-visuddhi. With this purification, the mind can penetrate into the mental and physical processes in their true nature. First of all, he distinguishes between mental process and physical process (nama and rupa) through his own experience. That is known as Namarupapariccheda-nana - knowledge of the difference between mentality and physicality.


3) Thanh tịnh tri kiến

 

Thứ ba là Thanh tịnh tri kiến (Ditthi-visuddhi). Khi một thiền giả hiểu thấu bản chất thực của các tiến trình thân và tâm, anh ta không xem chúng là một con người hay một sinh vật, một linh hồn hay một bản ngã. Anh ta đã thanh tịnh tri kiến của mình, anh ta đã đạt được Ditthi-visuddhi.

Purification of View

 

      The third is Purification of View (Ditthi-Visuddhi). When a meditator penetrates into the true nature of mental and physical processes, he does not take them to be a person or a being, a soul or a self. Then he has purified his view, he has attained Ditthi-visuddhi.


4) Sự thanh tịnh nhờ vượt qua được sự nghi ngờ

 

Thứ tư là làm thanh tịnh nhờ vượt qua được nghi ngờ (Kankhavitarana-visuddhi). "Kankha" có nghĩa là nghi ngờ"visuddhi" có nghĩa là làm thanh tịnh nhờ vượt qua được nghi ngờ. Khi một thiền giả đạt đến cấp độ thứ hai của tuệ minh sát - Tuệ Nhân Quả (Paccayapariggaha-nana), anh ta không bao giờ còn nghi ngờ về kiếp trước của mình. Do đó anh ta vượt qua được nghi ngờ. Đây là làm trong sạch nhờ vượt qua được nghi ngờ.

 

Để đạt được tuệ này anh ta phải quan sát tất cả mọi ý định, ao ước hay mong muốn trước mỗi hành động hay cử động. Mọi hành động đều có ý định, ao ước hay mong muốn đi trước. Đó là lý do tại sao ta phải tỉnh thức đối với mỗi ý định trước mỗi hành động hay chuyển động. Khi chúng taý định nhấc bàn chân lên, chúng ta nên ghi nhận nó là "đang có ý định, đang có ý định”, sau đó “nhấc, nhấc”. Khi chúng taý định gập cánh tay lại, chúng ta phải ghi nhận là "đang có ý định, đang có ý định” sau đó là "gập, gập". Khi chúng ta đang ăn, chúng taý định mở miệng để ăn thì đầu tiên chúng ta phải ghi nhận "đang có ý định, đang có ý định”, sau đó “mở, mở”. Trong hành động mở miệng, ý địnhnguyên nhân, và mở miệng là kết quả.

 

Nếu khôngao ước hay mong muốn đến đây, bạn có thể đến đây không? Vậy thì cái gì là nguyên nhân cái gì là kết quả? Hành động đến là kết quả, ý địnhnguyên nhân. Và tại sao bạn lại ngồi trên cái ghế? Rõ ràng là chính do ý định đã khiến bạn ngồi vào cái ghế. Có một người ngồi ở đó không? Nếu bạn nghĩ rằng có một con người ngồi ở cái ghế đó thì chúng ta nên mang một xác chết ở bệnh viện đến đặt vào cái ghế. Xác chết đó không thể ngồi bởi vì nó không có ý định. Chỉ có ý định - một tiến trình tâm mới là nguyên nhân của hành động hay chuyển động. Vậy thì tư thế ngồi đó là một người đàn ông hay một người đàn bà, một sa di (samanera) hay một tỳ khiêu (bhikkhu)? Nó không là gì trong những thứ này. Trong tư thế ngồi có một tiến trình thân được nâng đỡ bởi phong đại (vayo-dhatu - yếu tố gió trong và ngoài cơ thể). Ngồi là một tiến trình thân.

 

Vì vậy nếu chúng ta muốn ngồi, đầu tiên chúng ta phải ghi nhận "đang có ý định, đang có ý định” sau đó “ngồi, ngồi, ngồi”. Tất cả các cử động ngồi phải được quan sát sau khi chúng ta đã ghi nhận ý định. Khi chúng ta gập cánh tay lại, đầu tiên chúng ta phải ghi nhận ý định sau đó là cử động gập cánh tay lại. Khi chúng ta duỗi cánh tay ra, đầu tiên chúng ta phải ghi nhận ý định sau đó là cử động duỗi là "duỗi, duỗi, duỗi". Khi định của chúng ta đủ sâu, nhờ ý thức rõ ràng ý định và những hành động đi theo nó, chúng ta sẽ nhận ra là không có cái gì sinh khởi mà không có nguyên nhân. Mọi thứ sinh khởi đều phụ thuộc vào nguyên nhân.

 

Vì thế, cái gọi là con người, đàn ông hay đàn bà chỉ là một tiến trình nhân và quả. Không có một người hành động, một người làm bất kỳ điều gì. Nếu chúng ta tin rằng có một con người thực hiện hành động ngồi, nó được gọi là Sakkaya-ditthi hay Atta-ditthi (quan niệm sai lầm cho rằng có một con người hành động). Nếu chúng ta quán chiếu một cách thấu triệt mối quan hệ nhân và quả, cái chúng ta nhận biết chỉ là một tiến trình tự nhiên. Sẽ không có một "con người" nào trở thành tổng thống, không một "con người" nào trở thành ông vua. Thế thì cái gì đã tồn tại trong quá khứ? Trong quá khứ chỉ tồn tại tiến trình nhân và quả. Chúng ta sẽ không nghi ngờ gì về tiền kiếp của chúng ta. Theo cách này chúng ta có thể vượt qua được nghi ngờ về tiền kiếp của chúng ta, điều này được gọi là làm thanh tịnh nhờ vượt qua được nghi ngờ (Kankhàvitarana-visuddhi).

 

Một số thiền giả thấy khó theo dõi ý định của mình trước mỗi hành động bởi vì họ không đủ kiên nhẫn. Để quan sát ý định, chúng ta phải kiên nhẫn với những hành động hay cử động của mình để có thể theo dõi ý định trước mỗi hành động hay cử động. Khi chúng ta quan sát ý định trước khi nhấc chân, chúng ta sẽ nhận ra mối liên quan giữa ý định và hành động nhấc bàn chân. Và lại như thế, khi chúng ta quan sát ý định trước khi bước chân, chúng ta sẽ nhận ra mối liên hệ giữa ý địnhcử động bước chân. Khi chúng ta quan sát ý định trước khi đạp chân, chúng ta cũng sẽ nhận ra mối liên hệ giữa ý địnhcử động đạp của bàn chân và những cử động tương tự. Khi chúng ta nhận ra được mối liên hệ nhân quả này, chúng ta gần như đã hoàn toàn nhận ra Luật Nhân và Quả. Nhờ sự nhận biết này chúng ta vượt qua được nghi ngờ là liệu có một cá nhân hay một thực thể tồn tại mãi mãi trong chúng ta hay không. Và cái thực sự tồn tại chỉ là tiến trình nhân và quả.

Purification by Overcoming Doubt

 

      The fourth is Purification by Overcoming Doubt (Kankhavitarana visuddhi). 'Kankha' means doubt, 'visuddhi' means purification by overcoming doubt. When a meditator has attained the second stage of insight knowledge - Knowledge of Cause and Effect (Paccayapariggaha-nana), he no longer has doubts about his past existence. Thus, he overcomes doubt. This is purification by overcoming doubt.

 

      To attain this knowledge he has to observe every intention, wish or want before every action or movement. All actions are preceded by intention, wishing or wanting. That is why we have to be mindful of every intention before every action or movement. When we have an intention to lift our foot, we should note it as 'intending, intending', then 'lifting, lifting'. When we have an intention to bend our arm, we should note 'intending, intending', then 'bending, bending'. While we are eating, we have an intention to open our mouth to take food, then first of all, we should note 'intending, intending', then 'opening, opening'. In the act of opening the mouth, the intention is the cause, and the opening of the mouth is the effect.

 

      Without wishing or wanting to come here, could you come here? Then what is the cause and what the effect? The act of coming is the effect, the intention is the cause. Then why do you sit on the chair? Yes, it is the intention that makes you sit on the chair. Is there any sitter? If you think there is a person who sits on the chair, then we should bring a corpse from the hospital and make it sit on the chair.

 

      It cannot sit because there is no intention. It is only intention, the mental process, that causes an action or movement. So is the sitting posture a man or a woman, a samanera or a bhikkhu? It is none of these. In the sitting posture, there is a physical process supported by the wind element (vayyo-dhatu - the internal and external wind element). Sitting is a physical process.

 

      So if we want to sit, first of all, we have to note 'intending, intending', then 'sitting, sitting, sitting'. All the sitting movements must be observed after we have noted intention. When we bend our arm, we must first of all note the intention, then the movements of bending the arm. When we stretch out our arm, first of all, we must note intention, then the movements of stretching as stretching, stretching, stretching'. When our concentration is deep enough, by being aware of intention and the actions that follow it, we come to realise that nothing arises without a cause. Everything arises depending on a cause.

 

      Therefore, a so-called person, a man or a woman is just the process of cause and effect. There is no doer, no one that does anything. If we believe that there is a person who does the sitting, it is called Sakkaya-ditthi or Atta-di!tht (wrong view of a doer). If we thoroughly realise the cause and effect relationship, what we realise is just a natural process. Then there is no 'person' that became a president, there is no 'person' that became a king. Then what existed in the past? In the past. there existed only the process of cause and effect. Then we have no doubt about our past existence. In this way, we can overcome doubts about our past existence - so, this is known as purification by overcoming doubt (Kankhavitarana-visuddhi).

 

      Some meditators find it difficult to observe intention before every action because they are not patient enough. To observe, we must be patient with our actions or movements so that we can observe the intention before every action or movement. When we observe intention before lifting our foot. we will come to realise how the intention is related to the lifting of the foot. Then again, when we observe intention before the pushing of the foot, we will come to realise how intention is related to the pushing movement of the foot. When we observe the intention before the dropping of the foot, we will also come to realise how the intention is related to the dropping movement of the foot and so on. When we come to realise this relationship of cause and effect, we have almost completely realised the Law of Cause and Effect. By this realisation we overcome doubt as to whether there is any personality or entity which is everlasting in us. Then what really exists is just the process of cause and effect.


5) Làm trong sạch cái hiểu và cái thấy về Đạo và Không phải Đạo

 

Visuddhi thứ năm là làm thanh tịnh cái thấy và cái hiểu về Đạo và Không-đạo (Maggamagga-nanadassana-visuddhi). Ở cấp độ này của tuệ, bạn có được những kinh nghiệm rất tốt, khinh an, hạnh phúc, tĩnh lặng, bình an.... Đôi khi bạn cảm thấy thân thể bạn trở nên nhẹ nhàng như thể nó được nhấc bổng lên hay như là nó đang bay trên bầu trời. Bạn luôn giữ được chính niệm, nỗ lực đều đặn, không uể oải cũng không hăng hái hay cứng nhắc mà vừa phải, đều đặnvững chắc. Định của bạn sâu vì thế bạn kinh nghiệm được sự thanh bình, bình tĩnh, thanh thản, hạnh phúcsung sướng tột đỉnh.... Đây là một giai đoạn rất tốt mà thiền giả phải đi qua. Thiền giả có thể trải qua giai đoạn này trong khoảng hai tuần nếu hành thiền tích cực, nhưng có một vài thiền giả đi qua giai đoạn này trong vòng một tuần. Với những kinh nghiệm tốt như vậy, thiền giả có thể nghĩ rằng "Đây hẳn là niết bàn - thật là tuyệt diệu, tôi chưa bao giờ trải qua nó, nó còn hay hơn là có một triệu đô la - bây giờ tôi đã đạt được đến niết bàn. Anh ta không thể tiến xa hơn vì anh ta đang bị dính mẵc vào nó. Anh ta nghĩ là nếu anh ta đi xa hơn anh ta sẽ vược qua khỏi niết bàn. Nếu thiền giả chấp rằng đây là niết bàn, thì đây là con đường sai lầm. Vì thế anh ta phải tiếp tục hành thiền và thực tập một cách tích cực. Đây chỉ là một kinh nghiệm nhỏ tầm thường và anh ta không nên thoả mãn với nó mà phải tiếp tục hành thiền.

 

- Thanh tịnh cái thấy và cái biết về phương pháp

 

Visuddhi thứ sáu là Patipada-nanadassana-visuddhi"Patipada" có nghĩa là phương pháp thực hành"nana" có nghĩa là kiến thức (cái biết), "dassana" có nghĩa là quan điểm (cái thấy). "Nana" và "dassana" ở đây được đề cập đến với cùng một nghĩa. Để nhấn mạnh vào tuệ minh sát, bài giảng này dùng hai từ đồng nghĩa - knowledge và vision (cái biết và cái thấy). Vì thế Patipada-nanadassana-visuddhi có nghĩa là làm thanh tịnh quan điểm về phương pháp thực hành. Nó có nghĩa là khi chúng ta đã vượt qua sự thanh tịnh cái thấy và cái hiểu về đạo và không phải đạo (Maggamagga-nanadassana-visuddhi), chúng ta đang đi đúng con đường dẫn đến quả vị Alahán hay đến chấm dứt khổ đau.

 

Nếu chúng ta đi sai đường, chúng ta sẽ dừng lại ở Maggamagga-nanadassana-visuddhi. Vì chúng ta đi đúng đường, chúng ta phải đi qua chín cấp độ của tuệ giác và đang tiến tới đích, vì thế chúng ta có thể đánh giáphương pháp của chúng ta là đúng. Chúng ta sẽ không nghi ngờ gì về phương pháp hành thiền. Nghi ngờ đã bị phá bỏ nhờ hiểu biết về phương pháp thực hành. Do đó ta có sự thanh tịnh trong cái hiểu và cái biết của mình về phương pháp thực hành chân chínhPatipada-nanadassana-visudhi. Khi bạn tiến đến cấp độ đó, bạn đã đạt được Anuloma-nàna (cái biết của sự thích ứng) bởi vì kinh nghiệm của bạn phù hợp với cấp độ thấp nhất cũng như những cấp độ cao hơn của tuệ giác.

 

Purification of Knowledge and Vision of Path and Non-Path

 

      The fifth visuddhi is Purification of Knowledge and Vision of Path and Non. Path visuddhi). In this stage of insight, you get very good experiences; lightness, happiness, tranquility, serenity etc. Sometimes you may feel your body has become light, as if it has been lifted, or as if you were flying in the sky. Your mindfulness is very keen. Your effort is steady; neither slack nor vigorous, nor rigid. Your effort is moderate, steady and firm. Your concentration is deep, so you experience peace, calmness, serenity, tranquility, happiness, rapture and so on. This is a very good stage that meditators must go through. This stage may be experienced in about two weeks if meditators practise strenuously, but some meditators go through this stage within a week. With such good experiences, meditators may think 'This must be nibbana- this is great, I have never experienced it before, it is better than having a million dollars - now I have attained nibbana Thus, he does not go further because he is clinging to it. He thinks that if he goes further, he will go beyond nibbana. If a meditator holds that this stage is nibbana, this is the wrong path. Therefore, he must continue to meditate and practise strenuously. This is only a very minor and trivial experience and he should not be content with it, but must go ahead with his practice.


Purification of Knowledge and Vision of the Course

 

      The sixth Visuddhi is Patipada-nanadassana-visuddhi. 'Patipada'means the course of practice, 'nana' means knowledge, 'dassana' means vision. 'Nina' and 'dassana' are here referred to in the same sense. In order to lay emphasis on penetration, the text used the two words in the same sense-knowledge and vision. So Patipada-nanadassana-visuddhi means Purification of Knowledge and Vision of the Course of Practice. It means that when we have passed Maggamaggananadassana-visuddhi, we are on the right path which leads to Arahantship or the cessation of suffering.

 

      If we were on the wrong path, we would stop at Maggamagga-nanadassana-visuddhi. Because we are on the right path, we have to go through the nine stages of insight and are approaching the goal, so we can judge that our course of practice is right. Then we do not have any doubt about the course of practice. That doubt has been destroyed by knowledge and vision of the course of practice. Then there is purification of knowledge and vision of the right course of practice - patipada-nanadassana-visuddhi. When you reach that stage, you have attained Anuloma-nana (knowledge of adaptation) because your experience is in conformity with the lower stages of insight knowledge and with the higher stages of insight.


6) Trí tuệ khi chín muồi

 

Nếu chúng ta tiếp tục thực hành, chúng ta sẽ đến ‘ranh giới’ trong một thời gian ngắn. Trong hai hay ba giây suy nghĩ chúng ta sẽ tiến đến ‘ranh giới’ và đứng ở đó. ‘Ranh giới’ ở đây có nghĩa là ranh giới giữa phàm phu (puthujjana) và Thánh Nhân (ariya). Khi bạn ở trên ranh giới, bạn muốn tiến lên tiếp hay muốn quay trở lại? Nếu bạn muốn quay trở lại, sự chú tâm của bạn sẽ hướng về quá khứ, nếu bạn muốn tiến lên, sự chú tâm của bạn sẽ hướng về trước. Phía trước là chấm dứt những thứ giả hợp, tức là chấm dứt tất cả các trạng thái tâm lý (nama) và vật lý (rupa) (trạng thái thân tâm). Nếu bạn muốn tiến lên thì khi đứng trên ranh giới bạn nhìn về phía trước cũng như về phía sau. Và bạn sẽ biết rằng "Nếu tôi đi lên phía trước, tất cả khổ đau sẽ chấm dứt. Vậy thì tôi có nên đi lên phía trước không?" Bạn sẽ nghĩ về điều đó. Câu trả lời là có, bởi vì bạn đã chịu đau khổ trong bao nhiêu thời kiếp (kappas) rồi. Từ "kappa" có nghĩa là số kiếp sống không thể tính đếm. Khi chúng ta ở trên ranh giới chúng ta sẽ suy ngẫm về các kinh nghiệm đã qua "Tôi đã trải qua một số thân không thể tính đếm trong vòng đau khổ. Tôi đã nếm quá đủ và tôi phải chấm dứt chuỗi đau khổ này".

 

Bạn sẽ chú tâm vào sự chấm dứt khổ đau. Tuệ ranh giới được gọi là Gotrabhu-nana (Tuệ Chuyển tính). "Gotra" có nghĩa là Puthujjana (phàm phu) hay hậu thân. Ở tại ranh giới này, sẽ hoàn toàn không còn hậu thân phàm phu nữa. Sẽ không còn Puthujjana (thân phàm phu) nào nữa. Một khi bạn đã vượt qua ranh giới, bạn trở thành một vị Thánh (ariya) bởi vì bạn đã cắt đứt nhân làm thân phàm phu (Puthujjana). Đại đức Nyanaponika Thera dịch nó là tuệ chín muồi (maturity knowledge hay knowledge of maturity) bởi vì trí tuệ của thiền giả đã đủ chín muồi để đạt đạo. Thực ra thì chúng ta có thể dịch từng chữ là tuệ mà đã trừ bỏ hậu thân phàm phu. Khi hậu thân phàm phu đã bị trừ bỏ, thiền giả đạt được Sotapatti-magga-nana (Tuệ đạo dự lưu) - anh ta đã trở thành một vị Thánh, một Ariya.

 

Tuệ Đạo

 

Ngay sau tuệ chín muồi là Tuệ Đạo (Magga-nana) - nhận chân Tứ Diệu Đế:

 

Dukkha-sacca - khổ đế
Samudaya-sacca - tập đế
Nirodha-sacca - diệt đế
Magga-sacca - đạo đế

Knowledge of Maturity

 

      If we continue with our practice, we will come to the borderline in a short time. In two or three thought moments we have reached the line and stand on it. The border here means the border between an ordinary person (puthujjana) and a Noble One (ariya). When you are on the boundary, do you want to go ahead or go back? If you want to go back, your attentions towards the past, but if you want to go ahead your attention is ahead. Ahead is the cessation of compounded things, i.e. the cessation of all kinds of mentality (nama) and physicality (rupa). If you want to proceed, standing on the boundary or border, you look ahead as well as behind. Then you will know, "If I go ahead, all kinds of suffering will cease to exist. So should I go ahead?" You will think about it. The answer is yes, because you have been suffering for many aeons (kappas). The word 'kappa' means countless numbers of existences. When you are at the boundary, you will reflect on your past experiences, "I have been suffering for countless existences in this cycle of dukkha. I've had enough of this I must put an end to this suffering."

 

      Your attention is then towards the cessation of suffering. That borderline knowledge is known as Gotrabhu-nana. 'Gotra' means Puthujjana or descendants. On this border, descendants of a Puthujjana are cut off totally. Then there is no more Puthujjana. Once you pass that borderline, you become a Noble One (Ariya) because you have cut off the Puthujjana lineage. Venerable Nyanaponika Thera translates it as maturity knowledge or knowledge of maturity because the meditator's knowledge is mature enough to attain the path. Actually, we can translate it literally as the knowledge which has cut off the Puthujjana lineage. When the Puthujjana lineage has been cut off, the meditator has attained Sotapatti-magga nana - he becomes a Noble One, an Ariya.

 

      Immediately after the borderline knowledge of maturity, there is Path Knowledge (Magga-nana) which realises the Four Noble Truths thoroughly:

 

  1. Dukkha-sacca The Truth of Suffering
  2. Samudaya-sacca The Truth of the Cause of Sufferin 
  3. Nirodha-sacca The Truth of the Cessation of Suffering
  4. Magga-saccaThe Truth of the Way Leading to the Cessation of Suffering

7) Làm thanh tịnh cái thấy và quan điểm

 

Bởi vì hành giả đã nhận chân được Tứ Diệu Đế, nên cái thấy biết của anh ta được làm thanh tịnh. Vì thế tuệ minh sát này được gọi là Nanadassana-visuddhi, làm thanh tịnh cái thấy biết.

 

Visuddhi thứ bảy đề cập đến Sotàpatti-nàna, tuệ đầu tiên về Đạo - Nanadassana-visuddhi"Nana" là kiến thức"dassana" là tầm nhìn, quan điểm"visuddhi" là làm trong sạch.

 

Khi bạn đã đạt được sự thanh tịnh (visuddhi) thứ bảy này bạn đã trở thành một Sotapanna (bậc Dự lưu). "Sota" có nghĩa là dòng suối; "apanna" có nghĩa là người tham dự"Sotapanna" có nghĩa là Dự lưu. Khi bạn đã đạt được Sotapatti-nana, bạn đã đi vào dòng chảy của Bát chính đạo, chỉ sau khi bạn đã đạt được Nanadasana-visuddhi - làm trong sạch cái thấy biết.

Purification of Knowledge and Vision

 

      Because he realises these Four Noble Truths, his knowledge and vision of the Truths is purified. So this insight knowledge is known as Nanadassana-visuddhi, Purification of Knowledge and Vision.

 

      The seventh visuddhi refers to Sotapatti-nana, the first knowledge of the Path - Nanadassana-visuddhi. 'Nana' is knowledge, 'dassana' is vision, 'visuddhi' is purification.

 

      When you have attained the seventh visuddhi you have become a Sotapanna 'Sota' means stream; 'apanna' means enterer. 'Sotapannameans stream-enterer. When you have attained Sotapatti-nana, you have entered into the current of the Noble Eightfold Path. Only then have you attained Nanadassana-visuddhi - purification of knowledge and vision.

__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 4864)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1397)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1430)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1301)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1022)
27 Tháng Mười 20209:49 CH(Xem: 64)
Những ngày qua con có nhiều thời gian hơn để thực hành, hiếm khi nào mà sự thu thúc, độc cư lại được hợp thức hóa như vậy, thật là thuận lợi. Con có dịp xem xét lại quá trình thực hành của mình từ đầu đến nay, ghi lại những điểm căn bản trong từng lá thư của Thầy, và tiếp tục thực hành những bài tập đó. Con thấy những điều đó
26 Tháng Mười 202010:55 CH(Xem: 114)
Cuộc đời con tới hôm nay là một thanh niên hơn hai mươi nhưng con đã gặp không biết bao bất hạnh từ nhỏ cho đến lớn, từ thể xác đến tinh thần có nhiều lúc tưởng như muốn tự kết liễu cuộc sống. Thực ra bấy lâu nay dù nghe pháp sư ông con vẫn quay về cảm nhận nhưng con vẫn bức xúc khổ đau vì những tổn thương bất hạnh
25 Tháng Mười 202010:40 SA(Xem: 180)
Kỳ thi ra trường của tôi ở Đại học Cambridge năm 1972 là về đề tài vật lý lý thuyết. Đó là quãng thời gian khó nhọc. Toàn bộ sự nghiệp ăn học ở đại học dồn lại thành một loạt những bài-thi khảo sát. Một là đậu hai là rớt. Kỳ thi của tôi bao gồm một bài thi viết luận ba tiếng đồng hồ liên tục vào buổi sáng và một bài thi sát hạch ba tiếng đồng hồ
24 Tháng Mười 20209:58 CH(Xem: 165)
Tối nay tôi sẽ nói về đề tài “quán hay suy ngẫm, chiêm nghiệm” (contemplation) trong Phật giáo. Làm thế nào để quán chiếu, để chiêm nghiệm, để suy ngẫm về Pháp và làm thế nào để áp dụng những điều này trong sự thực hành. Một trong những lý do tôi muốn nói về điều này là vì mọi người hay hỏi tôi làm sao quán và quán như thế nào
23 Tháng Mười 202010:04 CH(Xem: 198)
Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 8, năm 1965, sau khi học xong khóa hè, tôi chuẩn bị sẽ đi California từ New York bằng xe hơi. Ngày ấy tôi mới 20 tuổi và sang tháng 9 tôi sẽ vào học Đại học Brooklyn. Tôi muốn đến thăm một người bạn. Anh ấy đang ở San Francisco mùa hè ấy. Tôi đã thu xếp để cùng đi với mấy người bạn học. Chúng tôi
22 Tháng Mười 20208:57 CH(Xem: 227)
Bài Kinh ĐẠI NIỆM XỨ (Trường bộ kinh Nikaya) là bài kinh quan trọng cho mọi Phật tử như trong phần mở đầu của bài Kinh, Đức Phật đã dạy: “Này chư tỳ kheo, đây là con đường độc nhất để đem lại sự thanh bình cho chúng sanh, vượt thoát sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh tríchứng ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ”.
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4864)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 228)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 243)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
19 Tháng Mười 20209:45 CH(Xem: 232)
Cúng vong linh và cúng cô hồn là tập tục, tín niệm dân gian có từ lâu đời, phổ biến trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt. Cúng vong linh thường thực hiện vào những ngày kỵ giỗ, con cháu soạn mâm cỗ dâng cúng ông bà cha mẹ và những người thân đã mất. Cúng cô hồntrai chủ phát tâm sắm sửa cơm nước lễ vật
18 Tháng Mười 202012:11 CH(Xem: 275)
Các lời trích dẫn giáo lý của Đức Phật cùng các danh nhân khác thường thấy trên mạng, báo chí và tạp chí đủ loại tại các nước Tây phương. Dường như trong cuộc sống dồn dập tại các nơi này, một số người đôi khi cũng thích đọc một vài câu ngắn gọn nhưng sâu sắc, giúp mình suy nghĩ về xã hội, con người và sự sống nói chung.
17 Tháng Mười 20206:19 CH(Xem: 306)
Với người hành thiền mong muốn có được tri kiến đúng đắn về năm uẩn qua việc thực hành Pháp Duyên Sanh, cuốn sách này chắc chắn sẽ là một tác phẩm đáng chú ý nhất. Nó cũng là một sự bổ sung rất ý nghĩa cho việc hiểu Pháp Duyên Sanh. U Than Daing, tác giả của cuốn sách, đã hoàn thành một sự giải thích rất rõ ràng và thấu đáo
16 Tháng Mười 20207:35 CH(Xem: 267)
Đúng, khi người tu thấy ra sự sinh diệt, vị ngọt và sự nguy hại của các pháp hữu vi sẽ không còn ham muốn chấp trước bất kỳ điều gì ở đời. Như Bồ-tát Siddhattha xuất gia không bao lâu đã chứng đắc vị ngọt của tất cả thiền định hữu vi hữu ngã nhưng khi đã thấy ra định này chỉ tạo sự dính mắc trong sắc ái, vô sắc ái ngài liền từ bỏ.
15 Tháng Mười 20204:39 CH(Xem: 268)
Thầy đã nhận được thư con và đọc nhiều lần lá thư ấy. Thầy rất thương con! Con cũng giống như thầy ngày xưa khi mới bỡ ngỡ bước chân đi tìm đạo, thật cô đơn và bơ vơ, không biết phải đi về đâu nữa. Khổ nhất là cái cảnh nửa đời nửa đạo như thế. Đời thì vừa chán vừa sợ, mà sợ nhất là những đam mê của nó cùng với phiền não
14 Tháng Mười 20203:07 CH(Xem: 329)
Nhiều Phật tử đã suy tưởng quá nhiều về Phật pháp nhưng lại thực hành quá ít. Rõ ràng là, vì thiếu kinh nghiệm trong việc hành trì giữ giới, cũng như thiếu những kết quả của công phu thiền tập, họ đã làm sai lệch giáo pháp với những mộng tưởng của chính họ. Bất hạnh thay, trong số những Phật tử này là những vị giáo thọ.
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2597)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
14 Tháng Mười 20209:01 SA(Xem: 2064)
Nhiều Phật tử suy nghĩ về giáo pháp quá nhiều mà thực hành rất ít. Thiếu những trải nghiệm như thế nào là giữ giới, và thiếu dữ liệu từ những tầng thiền định sâu (Thiền Na- Jhana), vô tình họ đã bóp méo giáo pháp bằng những mơ tưởng viển vông của chính họ. Bài kinh Udana (Ud1.10), ghi lại lời Phật dạy cho Bāhiya, là một bài kinh ngắn
13 Tháng Mười 20209:53 CH(Xem: 316)
Khi tôi chết, tôi không muốn có những nghi lễ phô trương. Tôi đã viết di chúc dặn dò nếu tôi chết trong vòng năm mươi dặm của Trung tâm Thiền quán Bhavana (West Virginia, Hoa Kỳ), những người trong đạo tràng nên thu xếp hỏa táng thân xác tôi và sau đó, tùy ý xử lý tro cốt. Tôi không quan tâm. Nếu tôi chết ở nơi khác, họ có thể thu xếp
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2848)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
12 Tháng Mười 202010:53 CH(Xem: 346)
Bài học quý ở đây là: thực sự thực hành + nghe pháp để đối chiếu. Chúng ta chưa bao giờ hiểu đúng cả. Chúng ta chưa bao giờ thực hành đúng cả. Chúng ta chỉ đang tiệm cận dần đến cái đúng. Vì vậy đừng chủ quan. Đừng coi nhẹ những hướng dẫn cơ bản. Thỉnh thoảng cần nghe lại và tìm ra lối thoát cho vấn đề của mình trong đó.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1980)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3658)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5207)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4864)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2848)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
08 Tháng Mười 202011:06 SA(Xem: 4263)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4864)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 228)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 243)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2597)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1705)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1610)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.