Chương 6 - Chapter 6

16 Tháng Hai 20203:14 CH(Xem: 187)
Chương 6 - Chapter 6

Thiền Vipassana, Những Bài Giảng Về Thiền Minh Sát
Vipassana Meditation, Lectures On Insight Meditation
Venerable Chanmyay Sayadaw U Janakabhivamsa
Diệu Tâm Phan Minh Nguyệt dịch Việt
Nguồn: myanmarnet.net, abhidhamma.com, budsas.org
 
____________________
VipassanaMeditation_A

__________________

 MỤC LỤC CHƯƠNG 6 - CONTENTS OF CHAPTER 6 

Chương 6. Chín cách để mài sắc tâm căn

1) Cân bằng các tâm căn

Chapter 6 - Nine Ways To Sharpen The Mental Faculties

1 - Balancing The Mental Faculties


 CHƯƠNG 6 - CHAPTER 6

CHƯƠNG 6. CHÍN CÁCH ĐỂ MÀI SẮC TÂM CĂN

 

Năm tâm căn của một thiền giả là saddha, viriya, sati, samadhi, và panna. Năm tâm căn này được gọi là Pancindriya (ngũ cănpanca có nghĩa là năm, indriya có nghĩa là khả năng) hay cũng gọi là Pancabala (năm sức mạnh của tâm, ngũ lực).

 

Saddha có nghĩa là lòng tin nhờ chính kiến (tín căn)
Viriya có nghĩa là nỗ lực tích cực (tấn căn).
Sati có nghĩa là tỉnh thức liên tục, vững chắc (niệm căn).
Samadhi có nghĩa là định sâu (định căn).
Panna có nghĩa là trí tuệ, tuệ giác hay giác ngộ (tuệ căn).

 

Đối với thiền thì năm tâm căn này phải hùng mạnh và cân bằng như được nhắc đến trong luận về Visuddhimagga (Thanh tịnh đạo). Saddha - tín căn - phải vững chắc, không dao động và sati - tấn căn - phải mạnh mẽ, samadhi phải sâu và panna phải là sự thể nhập.

CHAPTER SIX: NINE WAYS TO SHARPEN THE MENTAL FACULTIES

 

      The Five Mental Faculties of a meditator are saddha, viriya, sati, samadhi, and panna: These five are known as Pancindriya (panca means five, indriya means faculties) as well as Pancabala (Five Mental Powers).

  1. Saddha means faith with right understanding or through right understanding.
  2. Viriya means strenuous effort or energy.
  3. Sati means mindfulness or sustained, constant mindfulness.
  4. Samadhi means deep concentration.
  5. Panna means wisdom, insight or enlightenment.

      For meditation, these Five Mental Faculties must be strong, powerful and balanced as stated in the commentary on the Visuddhimagg a.. Saddha must be firm and unwavering, and sati must be powerful and strong samadhi must be deep and panna must be penetrating.


Cân bằng các tâm căn

 

Để cho năm tâm căn được mạnh mẽ, hùng cường và cân bằng, một thiền giả phải tuân theo chín lời chỉ dẫn. Nếu năm tâm căn mạnh mẽ nhưng không cân bằng, một thiền giả không thể đạt được tuệ và không giác ngộ được diệt đế. Tín (Saddha) phải cân bằng với tuệ (panna) và định (samàdhi) phải cân bằng với tấn (viriya). Yếu tố chủ yếu của tâm - sự tỉnh thức (chính niệm), không cần phải cân bằng với bất kỳ tâm căn nào; nó phải thường hằng, mạnh mẽ, vững chắc và không gián đoạn.

 

Nếu tín yếu và tuệ mạnh, một thiền giả có thể sẽ phân tích kinh nghiệm của anh ta theo phương pháp thiền. Trong khi kinh nghiệm một tiến trình nào đó của thân hay tâm anh ta sẽ phân tích nó, đặc biệt nếu anh ta có một kiến thức rộng về (pháp) Dhamma. Khi anh ta phân tích kinh nghiệm của mình, kiến thức phân tích đó cản trở sự định tâm của anh ta. Và thế là định của anh ta sẽ bị phá vỡ hay bị yếu đi. Ở đây không có chỗ cho lập luận lôgích hay tư duy triết học hay phân tích vốn không phải là sự hiểu biết đúng đắn về tiến trình tự nhiên của các hiện tượng thân và tâm. Nếu một pháp không được hiểu đúng, không được nhận thức đúng, một thiền giả có thể thuyên giảm lòng tin hay đánh mất lòng tin nơi Phật pháp do lối tư duy lý luận về pháp hay kinh nghiệm của anh ta. Chỉ sau khi anh ta đã hoàn thành việc hành thiền và kinh nghiệm được sự giác ngộ, anh ta mới có thể phân tích nó theo bất kỳ cách nào. Anh ta sẽ có lòng tin không lay chuyển vào Phật, Pháp, Tăng nhờ trí tuệ đã được qua kinh nghiệm của anh ta.

 

Nếu một thiền giả tin vào Đức Phật hay giáo lý của Đức Phật thì trí tuệ hay tuệ giác của anh ta sẽ cân bằng với đức tin vững chắc của anh ta (saddha). Anh ta có thể tiến bộ trong hành thiền mà không bị trở ngại bởi kiến thức phân tích hay suy luận hoặc tư duy triết học. Một vài thiền giả muốn thể hiện kiến thức của họ về Đạo Phật hay Pháp, vì thế đôi khi họ phân tích điều họ trải qua trong khi hành thiền và nói về điều gì đó mâu thuẫn với sự thật. Theo luận về Visuddhimagga, đức tin phải cân bằng với trí tuệ, tuệ giác (panna) và ngược lại.

 

Lần đầu tiên khi tôi tập thiền minh sát mục đích của tôi là kiểm tra xem liệu phương pháp có đúng không. Trước khi tập thiền minh sát, tôi đã đọc hết hai quyển “Thiền Vipassana” của Đại Đức Mahasi Sayadaw. Lúc đó tôi vẫn chưa được gặp riêng Đại Đức (Sayadaw). Tuy nhiên, việc tập trung vào chuyển động ở bụng là rất dễ làm đối với những người đã học phương pháp thiền qua sách. Tôi thừa nhận phương pháp thiền đó là chân thựcđúng đắn bởi vì tôi biết rằng chuyển động ở bụng là phong đại (vayo-dhatu), và chuyển động ở bụng cũng bao gồm ba đại khác là: hoả đại (tejo-dhatu), thuỷ đại (apo-dhatu) và địa đại (pathava-dhatu). Vì chúng ta có thể quán sát bốn đại, phương pháp này hẳn là đúng đắn.

 

Thông thường, chúng ta có khuynh hướng thích phương pháp thiền quán sát hơi thở (anapanasati). Tôi thực hành anapanasati khi tôi là một samanera (sa di) từ lúc 17 tuổi đến khi 24 tuổi. Mặc dù giờ đây tôi chắc rằng phương pháp của Ngài Mahasi Sayadaw là đúng đắn, nhưng trước kia tôi không thấy phương pháp đó là thoả đáng bởi vì tôi đã bị dính mắc vào phương pháp quán sát hơi thở truyền thống đó. Đấy là lý do tại sao tôi lại muốn kiểm tra phương pháp của Ngài Mahasi được bắt đầu bằng việc quán sát chuyển động ở bụng. Cho dù tôi cũng đã đến trung tâm thiền Mahasi và bắt đầu thực hành phương pháp này nhưng trong lòng rất đỗi nghi ngờ khi thực hành. Đó là năm 1953, tôi đã ở đó 4 tháng trong thời gian vassa (kiết hạ) để tham gia một khoá thiền. Lúc đó tôi đã là một giảng viên của trường Đại học Phật giáoMandalay. Tôi thực hành dưới sự hướng dẫn của Đại Đức U Nandavamsa. Ngài dạy tôi:

 

U Janaka, con đã vượt qua những kỳ thi cấp cao và bây giờ là giảng viên đại học. Con hãy gác lại một bên những kiến thức về Pháp trong sách vở nếu con muốn đạt được một điều gì đó trong hành thiền.

 

Vâng theo lời khuyên của Ngài, tôi đã gác lại một bên kiến thức của mình và thực hành theo lời hướng dẫn của thầy tôi. Như thế, đức tin của tôi cân bằng với tuệ bởi vì tôi không phân tích kinh nghiệm hay phương pháp dựa trên những định kiến hay kiến thức mà tôi học được trong sách.

 

Nếu panna (trí tuệ) yếu và saddha (đức tin) mạnh, một thiền giả có thể nhẹ dạ. Chúng tôi nói là anh ta nhẹ dạ bởi vì anh ta tin mà không có hiểu biết, không có trí tuệ hay sự thông minh và có khuynh hướng tin một cách dễ dàng vào bất kỳ một học thuyết hay giáo lý nào. Nếu một thiền giả nhẹ dạ, anh ta có thể rơi vào một học thuyết hay giáo lý dẫn anh ta đi sai đường. Do đó đức tin (saddha) phải cân bằng với panna, trí hay trí tuệ. Theo cách này, Saddhindriya và Pannindriya phải cân bằng.

 

Samadhi (định) và viriya (tinh tấn) cũng lại phải cân bằng với nhau. Nếu tinh tấn (viriya) mạnh hơn định (samadhi) bạn sẽ không thể tập trung tốt vào đối tượng của thiền. Luận nói:

 

Nếu viriya mạnh hơn samàdhi, tâm của thiền giả có thể trở nên tán loạnđiên cuồng (uddhacca).

 

Khi mới tập thiền thì định tâm của thiền giả thường yếu và tâm thường lăng xăng. Vì thế, anh ta nên theo dõi tâm và nhận diện nó như nó đang là. Nếu một thiền giả hăng hái tích cực để đạt được tuệ, anh ta có thể nỗ lực quá nhiều trong việc thực hành và khiến cho tâm trở nên tán loạnđiên cuồng. Tấn lực phải được giữ cân bằng với định (samàdhi). Để làm được điều này, anh ta phải giảm nỗ lực và giữ cho tâm ổn định, vững chắc, đều đặn, ghi nhận bất kỳ cái gì nảy sinh trong tâm và thân một cách chăm chú nhưng không qúa tốn sức. Anh ta sẽ dần dần đạt được một cấp độ nào đó của định. Nhờ định này, nỗ lực của anh ta sẽ vững chắc và ổn định, không quá mạnh hay quá yếu.

 

Trong một vài trường hợp khi thiền giả đã tập thiền hai hay ba tuần, anh ta định rất sâu và mạnh, tâm ghi nhận tự động ghi nhận đối tượng thiền mà không cần nỗ lực. Tuy nhiên, nếu thiền giả không nỗ lực đúng mức, tâm ghi nhận sẽ dần trở nên lờ đờ và nặng nề. Vì thế định đó biến thành sự lười biếng, uể oải và ngủ gục. Luận nói:

 

Nếu định quá mạnh và tấn quá yếu thì định đó sẽ biến thành giải đãiuể oải hay hôn trầm (thina-middha).

 

Vì vậy định phải được giữ cân bằng với tấn (viriya). Tư thế ngồi thụ động sẽ chỉ làm tâm tập trung hơn vào đối tượng và khi mà càng ngày càng ít cần đến nỗ lực thì tâm sẽ càng ngày càng trở nên lờ đờ. Để giữ cho định cân bằng với tấn, thiền giả nên đi kinh hành lâu hơn là ngồi thiền. Tuy nhiên chỉ có rất ít thiền giả có định mạnh hơn tấn. Và cũng có một vài thiền giả có tấn lực vượt định. Định phải giữ cân bằng với tấn tuỳ thuộc vào mỗi trường hợp.

 

Theo Luận thì chúng ta không bao giờ có thể nói sati (tỉnh thức, chính niệm) là quá mạnh hay quá yếu bởi vì cách tốt nhất là bạn nên tỉnh thức từng sát na đối với từng hoạt động của tâm và thân. Sự tỉnh thức sẽ trở nên thường trực, vững bền, không gián đoạnliên tục, do đó sẽ khiến định được sâu. Khi định sâu, tuệ minh sát sẽ được khai mở một cách tự nhiên và bạn sẽ có khả năng nhận ra các tiến trình thân và tâm (nama và rupa). Vì thế chúng ta có thể nói rằng sự tỉnh thức không bao giờ là quá mạnh.

 

Theo Visuddhimagga, một thiền giả phải thực hiện chín cách để mài sắc năm tâm căn này.

 

Cách thứ nhất là thiền giả phải ghi nhớ rằng anh ta sẽ nhận ra sự biến mất của tiến trình thân và tâm hay những thứ giả hợp khi anh ta nhận diện hay quan sát chúng như chúng đang thực sự là. Một thiền giả nên có thái độ như vậy. Đôi khi thiền giả không tin là tất cả các tiến trình thân và tâm là vô thường, là tuỳ thuộc vào sự sinh và diệt (anicca). Do thành kiến này anh ta có thể không có khả năng nhận ra bản chất thực của các tiến trình thân-tâm. Mặc dù anh ta có thể đạt được một mức độ định nào đó, nó chỉ khiến anh ta đạt được sự thanh bìnhhạnh phúc ở một mức độ giới hạn. Luận viết:

 

Một thiền giả phải ghi nhớ rằng anh ta sẽ nhận ra tính vô thường của sự vật tồn tại hay của các tiến trình thân-tâm khi anh ta quan sát chúng.

 

Cách thứ hai là anh ta phải coi trọng việc thực hành chính niệm, có nghĩa là anh ta phải thực hành thiền tỉnh thức một cách nghiêm túc. Nếu anh ta thiếu tôn trọng phương pháp hay mục đích của thiền anh ta sẽ không nỗ lực đầy đủ trong việc thực hành. Hậu quả là anh ta không thể định tâm vào đối tượng của thiền. Và anh ta không thể nhận ra bản chất chân thật của các tiến trình thân và tâm (nama và rupa).

 

Cách thứ ba là sự tỉnh thức của anh ta đối với các tiến trình thân và tâm phải thường hằng, được duy trì, liên tục và không gián đoạn. Chỉ sau đó anh ta mới đạt được định sâu, dựa vào nó anh ta có thể xây dựng tuệ minh sát hiểu thấu bản chất thật của các tiến trình thân và tâm. Đây là một điểm rất quan trọng mà tất cả các thiền giả đều phải tuân theo. Khi bạn thức, bạn phải thường xuyên, liên tục ý thức rõ ràng bất cứ cái gì sinh khởi trong tâm và thân bạn. Hãy tỉnh thức cả ngày không một phút ngơi nghỉ. Khi tôi nói "sati", nó có nghĩa là sự tỉnh thức thường xuyên, được duy trì và không gián đoạn chứ không phải là sự tỉnh thức tầm thường.

 

Cách thứ tư là bảy thứ tiện nghi (bảy thứ thích hợp) mà một thiền giả phải phụ thuộc: một nơi thích hợp để tập thiền, thức ăn, thời tiết, v.v. Dù các điều kiệnphù hợp hay không bạn vẫn phải nỗ lực trong hành thiền. Đôi khi thiền giả rất dính mắc vào cái quạt bởi vì trời nóng. Anh ta muốn ngồi dưới cái quạt. Thực ra thì thiền giả phải thờ ơ với việc trời nóng hay ấm hay lạnh; anh ta không được lựa chọn.

 

Tỉnh thức thực sự là nguồn gốc của mọi sự thành công. Nhờ tỉnh thức anh ta có thể thay đổi một “kẻ thù" thành mọt "người bạn". Nếu anh ta cảm thấy nóng, anh ta nên nhận diện nó. Nếu anh ta làm như vậy, cái nóng dần dần sẽ trở thành một "người bạn". Với cái đau cũng như vậy. Khi anh ta theo dõi nó, định trở nên mạnh hơn và cái đau dường như dữ dội hơn. Thực ra thì nó không trở nên dữ dội hơn; đó chỉ là do tâm ý, với định sâu, đã trở nên nhạy cảm hơn. Vì thế nó biết cái đau ngày càng rõ hơn làm cho cái đau có vẻ nghiêm trọng hơn. Nhưng khi anh ta nhận ra rằng cái đau chỉ là cảm giác khó chịu thuộc tiến trình tâm, anh ta sẽ không bao giờ để ý đến bản thân hay hình thái cơ thể anh ta. Cái mà anh ta nhận ra tại thời điểm đó chỉ là cảm giác đau và tâm ghi nhận nó. Anh ta có thể phân biệt cảm giác này và tâm ghi nhận nó. Anh ta không đồng nhất cái đau với bản thân anh ta vì thế cái đau không gây phiền toái cho định tâm của anh ta. Nó giống như một “người bạn”. Tỉnh thức là nguồn gốc của mọi thành công. Mặc dù bạn biết nó trên lý thuyết, bạn cũng nên biết nó trên phương diện thực hành. Nhờ tỉnh thức bạn có thể biến một "kẻ thù" thành một "người bạn". Một hành giả thiền minh sát không có một kẻ thù nào trên khắp thế giới. Tất cả các hiện tượng đều là "bạn" bởi vì chúng đều có ích cho việc đạt được tuệ giác hay giác ngộ - sự chấm dứt khổ đau.

 

Cách thứ năm là một thiền giả phải ghi nhớ cách mà anh ta đạt được định sâu. Anh ta phải ghi nhớ cách đó và thực hành đi thực hành lại bằng cách sử dụng kỹ năng đã đạt được để giúp anh ta đạt được định sâu.

 

Cách thứ sáu là một thiền giả phải phát triển thất bồ đề phần (bojjhanga). Bạn phải phát triển bảy giác chi (bojjhanga) vì và khi ta cần đến chúng, đó là: niệm, trạch pháp, tinh tiến, hỷ, khinh an, định và xả.

 

Cách thứ bảy là bạn không được lo về thân bạn hay đời sống của bạn. Đôi khi một thiền giả phấn đấu rất tích cực trong hành thiền từ bốn giờ sáng đến chín hay mười giờ đêm không nghỉ sẽ lo ngại rằng mình sẽ bị yếu. Anh ta lo lắng và nghĩ rằng nếu anh ta tiếp tục ráng sức theo cách đó trong vòng một tháng anh ta có thể chết vì mệt mỏi hay một căn bệnh nào đó. Do đó anh ta sẽ không nỗ lực đầy đủ trong việc hành thiền và anh ta sẽ không tỉnh thức thường xuyên, liên tục. Khi sự tỉnh thức bị gián đoạn thì không thể có định sâu. Khi định yếu, trí tuệ nhận biết bản chất thật của các tiến trình thân và tâm sẽ không được khai mở. Đó là lý do tại sao bài giảng này lại nói là để mài sắc năm năng lực này của tâm (năm tâm căn), bạn không được lo lắng về thân và sức khỏe của mình. Hãy phấn đấu hết mình, thực hành tích cực suốt ngày không nghỉ và không lo lắng gì cho thân mình.

 

Cách thứ tám là bất cứ khi nào cái đau về thân hoặc tâm nảy sinh bạn phải cố gắng ghi nhận nó bằng cách nỗ lực hơn trong thực hành. Khi cái đau xuất hiện, bạn sẽ có xu hướng hay mong muốn thay đổi vị trí để cái đau biến mất bởi vì bạn không sẵn sàng ghi nhận nó. Thay vì làm như vậy, bạn phải nỗ lực thực hành hơn để vượt qua cái đau bằng cách ý thức nó một cách chăm chú, mạnh mẽ và chính xác hơn. Cái đau sẽ trở thành "bạn" của bạn bởi vì nó khiến bạn đạt được định sâu và tuệ sáng.

 

Cách thứ chín là bạn không được dừng lại nửa đường. Điều này có nghĩa là bạn không được dừng tập thiền minh sát cho đến khi bạn đạt được quả vị Alahán. Vì bạn háo hức đạt được quả vị Alahán, bạn sẽ nỗ lực đúng mức trong thực hành, nhờ thế bạn sẽ làm cho Năm tâm căn trở nên mạnh mẽ.

 

Tóm lại, có chín cách để mài sắc Năm Tâm Căn:

 

1. Luôn ghi nhớ mục đích của hành thiền là nhằm nhận ra tính chất vô thường của tiến trình thân-tâm.

 

2. Thực hành Pháp với sự tôn trọng và nghiêm túc.

 

3. Duy trì sự tỉnh thức thường xuyên, liên tục, không gián đoạn bằng cách ý thức những hoạt động hàng ngày từng giây từng phút không ngơi nghỉ.

 

4. Tuân thủ bảy loại tiện nghi (bảy thứ thích hợp).

 

5. Hằng nhớ không quên cách đạt được sức định như đã từng đạt được trước đó.

 

6. Phát triển bảy giác chi.

 

7. Không lo lắng về sức khoẻ thân thểđời sống trong thời gian hàn h thiền.

 

8. Vượt qua cái đau về thân - dukkha-vedana nhờ nỗ lực tích cực trong thực hành.

 

9. Không dừng lại nửa chừng. Điều đó có nghĩa là bạn phải luôn luôn phấn đấu chừng nào bạn chưa đạt được quả vị Alahán.

Balancing the Mental Faculties

 

      To make these five faculties strong, powerful and balanced, there are nine guidelines which a meditator must follow. If these faculties are strong but they are not in balance, a meditator cannot attain insight and enlightenment of the cessation of suffering. Suddha (faith) must be in balance with panna (wisdom), and samadhi (concentration) must be in balance with viriya (effort). The main mental factor - mindfulness, need not be in balance with any faculties; it must be constant, powerful, sustained and uninterrupted.

 

      If saddh is weak and panna is powerrul, a meditator may analyse his experience in the course of meditation. While experiencing a mental or physical process, he will analyse it, especially ifhe has a wide knowledge of the Dhamma. When he analyses his experience, that analytical knowledge impedes his concentration. Then his concentration will be broken or weakened. There is no room for logical reasoning or philosophical thinking or analysing which are not right understanding of the natural process of mental and physical phenomena. When a dhamma is not rightly penetrated, comprehended or realised, a meditator may have less faith or a disbelief in the doctrine as a result of his analytical knowledge of the dhamma or experience. Only after he has completed the practice of meditation and experienced enlightenment, can he analyse it in any way. Then he will have unwavering confidence in the Buddha, Dhamma and Sangha because of his experiential knowledge.

 

      If a meditator believes in the Buddha or the Buddha's doctrine, then his wisdom or insight knowledge is in balance with firm faith (saddha). He can then proceed with his practice without any disturbance by analytical knowledge or reasoning, or philosophical thinking. Some meditators want to display their knowledge of Buddhism or Dhamma, so they sometimes analyse what they experience in their meditation and talk about something which is contrary to reality. According to the commentary on the Visuddhimagga, faith must be in balance with panna (wisdom, insight knowledge) and vice versa.

 

      When I first started mindfulness meditation, my purpose was to test the technique to see if it was right. Before I began mindfulness meditation, I went through two volumes of 'Vipassana Meditation' written by the Venerable Mahasi Sayadaw. At that time I had not met the Venerable Saydaw personally.

 

      However, the contemplation of the abdominal movement is very straightforward to those who have learnt the meditation technique from the book. I accepted the technique as true and correct because I knew that the abdominal movement is vayo-dhatu, and the other three element.: fire element (tejo-dh&tzs), water element (apo-dhatu) and earth element (pathavi-dhatu) are also included in the abdominal movement. As we can contemplate the four elements, this technique must be correct.

 

      Traditionally we tend to favour the method of meditation on respiration or breathing meditation (anapanasati). I practised anapanasati in my days as a samanera when I was 17 to 24 years old. Though I now hold that the Mahasi Sayadaw's technique is correct, I could not accept it as satisfactory then because I was clinging to the traditional method of mindfulness of respiration. That was why I wanted to test the Mahasi Sayadaw's technique which begins with the contemplation of the abdominal movement. Although I went to the Mahasi Meditation Centre and began to practise the technique, I did it with much doubt. That was in 1953 when I spent my vassa (rains) there for four months doing an intensive course of meditation. At that time, I was a lecturer at a Buddhist University in Mandalay. I practised under Venerable U Nandavamsa. He told me: U Janaka, you have gone through higher examinations and you are now a lecturer in the University. You must put aside your knowledge of the Dhamma from books if you want to achieve something out of this meditation.

 

      Having accepted his advice, I put aside my knowledge and practised as advised by my teacher. As such, my faith was in balance with my wisdom because I did not analyse the experience or the technique based on my preconceptions or the knowledge that I had learnt from books.

 

      If panna (wisdom) is weak and saddha (faith) is strong, then a meditator may be credulous. We say he is credulous because he has faith without knowledge, wisdom or intelligence, and tends to believe easily any theory or doctrine. If a meditator is credulous, he may fall into a doctrine or theory which leads to the wrong path. Therefore, saddha must be in balance with pana, knowledge or wisdom. In this way, Saddhindriya and Pannindriya must be in balance.

 

      Then again, samadhi (concentration) and viriya (energy) must be in balance. If viriya is more powerful and stronger than samadhi, you cannot concentrate well on the object of meditation. The commentary says: If virzya is stronger or more powerful than samadhi, a meditator's mind will become distracted and restless (uddhacca).

 

      In the beginning of the practice his concentration is usually weak and often wanders. So, he should follow the mind and watch it as it is. If a meditator is enthusiastic for the achievement of insight, he may put too much effort in his practice, thereby causing the mind to become distracted and restless. Effort must be kept in balance with samadhi. To do this, he must reduce his effort, keeping his mind stable and steady, noting whatever arises in his mind and body attentively, but not too energetically. Then he will gradually attain some degree of concentration. Because of this concentration, his effort will become steady and firm, neither too strong nor too lax.

 

      In some cases when a meditator has practised meditation for two or three weeks, his concentration becomes very deep and strong, the noting mind notes the object by itself, automatically and effortlessly. If, however, insufficient effort is put in, the noting mind will gradually become dull and heavy. Hence, that concentration changes into sloth and torpor or sleepiness. The commentary says: -

 

      If concentration is too strong and effort is too weak, then that concentration changes into sloth and torpor or sleepiness (thina-middha).

 

      So concentration must be kept in balance with effort (viriya). The passive posture of sitting will only make his mind more concentrated on the object and, as less and less effort is required, the mind will become more and more dull. To keep his concentration in balance with effort, he should practise walking meditation longer than sitting. However, only very few meditators experience concentration that exceeds effort. There are also some meditators whose effort exceeds their concentration. Therefore, concentration must be kept in balance with effort, depending on circumstances.

 

      According to the commentary, we can never say that sati is too strong or powerful because it is best for you to be mindful of each and every activity of mind and body from moment to moment. Then mindfulness becomes constant, sustained, uninterrupted and continuous, thereby giving rise to deep concentration. When concentration is deep, insight will unfold naturally and you will be able to realise the mind and body processes (nama and rupa). So, we can say that mindfulness is never too strong or powerful.

 

      According to the Visuddhimagga, there are nine ways to sharpen these five faculties which a meditator must follow.

 

      The First Way is that the meditator must keep in mind that he will realise the disappearance of mental and physical processes or compounded things when he sees them or when he observes them as they really are. That should be the attitude of a meditator. Sometimes a meditator does not believe that every mental and physical process is Impermanent, subject to arising and passing away (anicca).. Because of this preconception he may not be able to realise the true nature of the mind-body processes. Though he may gain some concentration, it would only enable him to attain peace and happiness to a limited extent. The commentary says: A meditator must keep in mind that he is going to realise the Impermanence of existence or mind- body processes if he observes them.

 

      The Second Way is, he must treat the practise of mindfulness with respect, i.e. he must practise mindfulness meditation seriously. If he lacks respect for the technique or the result of meditation, then he will not put enough effort into his practice. Consequently, he cannot concentrate his' mind well on the object of meditation. Then he will not be able to realise the true nature of nama and rupa.

 

      The Third Way is, his mindfulness of mental and physical processes must be constant, sustained, uninterrupted and continuous. Only then can he attain the deep concentration upon which he can build up the insight knowledge which penetrates into the true nature of mental and physical processes. This is a very important point which every meditator must follow. While you are awake, you must constantly and continuously be aware of whatever arises in your mind and body as it really is. Be mindful for the whole day without a break. When I say 'sati', it means the constant, sustained and uninterrupted mindfulness and not the ordinary mindfulness.

 

      The Fourth Way is the seven kinds of suitability which a meditator depends upon: a suitable meditation hall, food, weather, etc. Whether or not the conditions are suitable you should make effort in your practice. Sometimes a meditator is very attached to the fan because of the hot weather. He wants to sit under the fan. Actually a meditator must be indifferent to whether it is cold, warm or hot; he must not choose.

 

      Mindfulness is actually the source of every achievement. By means of mindfulness, he can change an 'enemy' into a 'friend'. If he feels hot, he should be mindful of it. If he does so, the heat will gradually become a 'friend'. Likewise with pain. When he observes it, the concentration becomes stronger and the pain may then seem to be more severe. Actually it does not become more severe; it is just that the mind, with deep concentration, become more sensitive. So it knows the pain more and more clearly, making it, seem more severe. But when he comes to realise that pain is just a mental process of unpleasant feeling, he will no longer be aware of himself or his bodily form. What he realises at that moment is just the painful sensation and the mind that notes it. He can differentiate between the sensation and the mind that notes it. He does not identify the pain with himself, so the pain does not disturb his concentration. It is like a 'friend'. Therefore, mindfulness is everything, the source of every achievement. Though you know it theoretically, you should also know it practically. By means of mindfulness, you can turn an 'enemy' into a 'friend'. A mindful meditator has no enemies at all in the world. All phenomena are 'friends' because they are conducive to the attainment of insight or enlightenment - the cessation of all suffering.

 

      The Fifth Way is that a meditator must remember the way in which he attained deep concentration. He must remember that way and practise it repeatedly using that acquired skill to enable him to attain deep concentration.

 

      The Sixth Way is that a meditator must develop the seven Factors of Enlightenment (bojihanga). You must develop the seven bojjhangas, as and when they are needed, they are: mindfulness, investigation of states, energy, happiness, tranquility, concentration and equanimity

 

      The Seventh Way is that you must not be worried about your body or your Life. Sometimes a meditator who strives very hard in this meditation from four in the morning till nine or ten at right without rest, fears he may become weak. He worries and thinks that if he continues to exert in that way for a month, he may die of fatigue or some illness. Thus he will not make sufficient effort in his practice and his mindfulness will not be constant, continuous and sustained. When mindfulness is interrupted, it cannot cause deep concentration to arise. When concentration is weak, insight knowledge of the true nature of bodily and mental processes will not unfold. That is why the text says that to sharpen these Five Mental Faculties, you must not be concerned about your body and health. Strive to the utmost, practise strenuously for the whole day without taking a rest or a break, without concern for the body.

 

      The Eighth Way is that whenever mental or physical pain arises, you should strive to note it by putting more effort into your practice. When pain arises, there is a tendency or desire to change position so that it will disapper because you are reluctant to note it. Instead, you must put more effort into your practice to overcome the pain by being aware of it more energetically, attentively and precisely. Then the pain will become your 'friend' because it enables you to attain deep concentration and clear insight.

 

      The Ninth Way is that you must not stop half-way to your goal. It means that you must not stop your practice of mindfulness meditation until you achieve Arahantship. Because of your eagerness to achieve Arahantship, you will put proper effort in the practice thereby making these Five Mental Faculties strong and powerful.

 

      To summarize, these are the nine ways to sharpen the Five Mental Faculties of a meditator:

  1. Keep in mind the aim to realise the impermanence of the mental-physical process. 
  2. Practice the Dhamma seriously and with respect. 
  3. Maintain constant, uninterrupted and continuous mindfulness by being aware of all daily activities, moment to moment without a break for the whole day.
  4. Seven kinds of suitability must be followed or observed 
  5. Remember how to achieve the concentration that was attained previously.
  6. Develop the seven Factors of Enlightenment.
  7. Do not worry about your bodily health and life during meditation.
  8. Overcome physical pain - dukkha vedana through strenuous effort in your practice.
  9. Do not stop half-way to your goal. That means you must always be striving as long as you have not attained Arahantship.
__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 405)
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 683)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 798)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 677)
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 161)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 180)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 159)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
27 Tháng Ba 20203:30 CH(Xem: 123)
TRÌNH BÀY TÓM LƯỢC 4 CÕI - Trong 4 loại ấy, gọi là 4 cõi. Tức là cõi khổ, cõi vui, Dục-giới, Sắc-giới, cõi Vô-sắc-giới. NÓI VỀ 4 CÕI KHỔ - Trong nhóm 4 cõi ấy, cõi khổ cũng có 4 là: địa ngục, Bàng sanh, Ngạ quỉ và Atula. NÓI VỀ 7 CÕI VUI DỤC GIỚI -
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 178)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
24 Tháng Ba 20202:32 CH(Xem: 190)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Đức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận - Khināsava, bậc đã đoạn trừ mọi lậu hoặc. Chính vì thế, người đi tìm chân lý cần phải hiểu rõ những lậu hoặc này là gì, và làm cách nào để loại trừ được nó.
23 Tháng Ba 20203:56 CH(Xem: 219)
Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chímục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được
22 Tháng Ba 20209:08 CH(Xem: 177)
Everyone is aware of the benefits of physical training. However, we are not merely bodies, we also possess a mind which needs training. Mind training or meditation is the key to self-mastery and to that contentment which brings happiness. Of all forces the force of the mind is the most potent. It is a power by itself. To understand the real nature
21 Tháng Ba 20209:58 CH(Xem: 214)
Chúng ta lấy làm phấn khởi mà nhận thấy rằng hiện nay càng ngày người ta càng thích thú quan tâm đến pháp hành thiền, nhất là trong giới người Tây phương, và pháp môn nầy đang phát triễn mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học khuyên
20 Tháng Ba 20208:30 CH(Xem: 190)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc
17 Tháng Ba 20205:51 CH(Xem: 314)
Mindfulness with Breathing is a meditation technique anchored In our breathing, it is an exquisite tool for exploring life through subtle awareness and active investigation of the breathing and life. The breath is life, to stop breathing is to die. The breath is vital, natural, soothing, revealing. It is our constant companion. Wherever we go,
16 Tháng Ba 20204:16 CH(Xem: 304)
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thởđời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện.
15 Tháng Ba 202012:00 CH(Xem: 251)
Phật giáođạo Phật là những giáo lý và sự tu tập để dẫn tới mục tiêu rốt ráo của nó là giác ngộgiải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, (a) mọi người thế tục đều đang sống trong các cộng đồng dân cư, trong các tập thể, đoàn thể, và trong xã hội; và (b) những người xuất gia dù đã bỏ tục đi tu nhưng họ vẫn đang sống tu
13 Tháng Ba 20209:16 CH(Xem: 227)
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số người xem thiền như là một thứ có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem nó như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh,
12 Tháng Ba 20209:36 SA(Xem: 348)
Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipaṭṭhāna được xem là bài kinh quan trọng nhất trên phương diện thực hành thiền Phật giáo. Các thiền phái Minh Sát, dù khác nhau về đối tượng quán niệm, vẫn không xa khỏi bốn lĩnh vực: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp mà Đức Phật
10 Tháng Ba 20202:09 CH(Xem: 321)
Giới học thiền ở nước ta mấy thập niên gần đây đã bắt đầu làm quen với thiền Vipassanā. Số lượng sách báo về chuyên đề này được dịch và viết tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta đã thấy tính chất phong phú đa dạng của Thiền Minh Sát hay còn gọi là Thiền Tuệ hoặc Thiền Quán này. Thiền Vipassanā luôn có một nguyên tắc nhất quán
10 Tháng Ba 202010:20 SA(Xem: 305)
Trong tất cả các thiền sư cận đại, bà Achaan Naeb là một thiền sư đặc biệt hơn cả. Bà là một nữ cư sĩ đã từng dạy thiền, dạy đạo cho các bậc cao tăng, trong đó có cả ngài Hộ Tông, Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cũng đã từng theo học thiền với bà một thời gian. Năm 44 tuổi, Bà đã bắt đầu dạy thiền
08 Tháng Ba 202011:08 SA(Xem: 259)
A.B.: Đầu tiên, khi họ hỏi Sư: “Sư có muốn nhận giải thưởng này không?” và Sư đã đồng ý. Nhưng phản ứng đầu tiên ngay sau đó là: “Tại sao Sư lại muốn nhận giải thưởng này? Sư là một nhà Sư Phật Giáo, đây là việc một nhà Sư (cần phải) làm. Là một nhà Sư, chúng ta đi truyền giáo, đi phục vụ, và chúng ta không nhất thiết phải đòi hỏi
07 Tháng Ba 20205:16 CH(Xem: 332)
Biên tập từ các bài pháp thoại của ngài Thiền sư Ajahn Brahmavamso trong khóa thiền tích cực 9 ngày, vào tháng 12-1997, tại North Perth, Tây Úc. Nguyên tác Anh ngữ được ấn tống lần đầu tiên năm 1998, đến năm 2003 đã được tái bản 7 lần, tổng cộng 60 ngàn quyển. Ngoài ra, tập sách này cũng đã được dịch sang tiếng Sinhala
06 Tháng Ba 20209:21 SA(Xem: 333)
Trước khi nói về phương pháplợi ích của thiền Minh Sát Tuệ, chúng ta cần điểm qua một số vấn đề liên quan đến "pháp môn thiền định" Phật giáo. Gần đây, dường như pháp môn thiền của Phật giáo bị lãng quên và không còn đóng vai trò quan trọng
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 699)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2290)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3682)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 161)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 180)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 159)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 352)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 522)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 507)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 711)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 883)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 6015)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;