Chương 7 - Chapter 7

16 Tháng Hai 20203:14 CH(Xem: 812)
Chương 7 - Chapter 7

Thiền Vipassana, Những Bài Giảng Về Thiền Minh Sát
Vipassana Meditation, Lectures On Insight Meditation
Venerable Chanmyay Sayadaw U Janakabhivamsa
Diệu Tâm Phan Minh Nguyệt dịch Việt
Nguồn: myanmarnet.net, abhidhamma.com, budsas.org
 
____________________
VipassanaMeditation_A

__________________

 MỤC LỤC CHƯƠNG 7 - CONTENTS OF CHAPTER 7 

Chương 7. Năm yêu cầu đối với một thiền giả

1) Atta trong đạo Bà la môn

2) Atta trong đạo Phật

Chapter 7 - The Five Factors Of A Meditator

1 - Atta In Brahmanism

2 - Attta In Buddhism


 CHƯƠNG 7 - CHAPTER 7

CHƯƠNG 7. NĂM YÊU CẦU ĐỐI VỚI MỘT THIỀN GIẢ

 

Để một thiền giả có thể đạt được tiến bộ trong thiền minh sát, anh ta phải thoả mãn năm yêu cầu.

 

Yêu cầu thứ nhất là đức tin. Một thiền giả phải có lòng tin mạnh mẽ và vững chắc vào Phật, Pháp và Tăng, đặc biệt là tin vào Pháp bao gồm phương pháp thiền mà anh ta đang thực hành.

 

Yêu cầu thứ hai là anh ta phải khoẻ mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần. Nếu anh ta bị đau đầu, cảm thấy chóng mặt hay có những vấn đề về đường ruột hay dạ dày hay bất kỳ một căn bệnh nào khác không có nghĩa là anh ta không khoẻ. Anh ta được xem là khoẻ ở chỗ anh ta có thể quan sát bất kỳ một tiến trình thân hay tâm nào. Thức ăn anh ta ăn phải tiêu hoá được (có nghĩa là thức ăn không gây ra những rối loạn trong dạ dày) bởi vì nếu anh ta khó tiêu thì anh ta không thể thực hành tốt được.

 

Yêu cầu thứ ba là anh ta phải trung thựcthẳng thắn, tức là anh ta không được nói dối thầy của mình hay các bạn đồng tu. Trung thực là cách xử sự tốt nhất.

 

Yêu cầu thứ tư là nghị lực (viriya) - không phải là nghị lực tầm thường mà là nghị lực vững chắc mạnh mẽ, không lay chuyển (padhàna). Một thiền giả phải có nhân tố này để thành công trong nỗ lực đạt giải thoát. Anh ta không bao giờ được để viriya hay nỗ lực suy giảm, mà nên tinh tiến không ngừng. Khi viriya hay padhàna tăng lên, sự tỉnh thức sẽ trở nên liên tục, thường xuyên và không gián đoạn. Khi sự tỉnh thức trở nên liên tục, thường xuyên và không gián đoạn, định sẽ trở nên sâu và mạnh. Tuệ minh sát sẽ trở nên sắc bén và sâu sắc đưa đến sự hiểu biết rõ ràng trong sáng về các tiến trình thân và tâm theo đúng bản chất thật của chúng.

 

Yêu cầu thứ năm là pannà hay trí tuệ. Mặc dù chúng ta sử dụng từ pannà, nó không phải là pannà tầm thường hay kiến thức. Nó là trí tuệ hiểu biết sâu sắc về sự sinh và diệt của các tiến trình thân (nama) và tâm (rupa) (udayabbaya-nana), là cấp độ thứ tư của tuệ minh sát. Cấp độ thứ nhất là Namarupa-pariccheda-nana (trí tuệ biết phân biệt sự khác nhau giữa tâm lývật chất). Cấp độ thứ hai là Paccayapariggaha-nana (hiểu biết về Luật nhân quả). Tuệ thứ ba là trí tuệ hiểu biết đúng như thậtSamma-sana-nana. Trí tuệ hiểu biết đúng như thật là sự hiểu thấu suốt và nhận ra ba đặc tính của các tiến trình thân và tâm là anicca, dukkha và anatta (vô thường, khổ, vô ngã). Tuệ thứ tư là trí tuệ hiểu biết về sự sinh diệt của các hiện tượng thân và tâm - Udayabbaya-nana.

 

Vì thế Đức Phật nói rằng ở đây panna đề cập đến tuệ minh sát thứ tư là tuệ thấu suốt sự sinh diệt của các trạng thái tâm và vật chất. Một thiền giả cần phải thoả mãn các yêu cầu này. Khi mới bắt đầu thiền giả có thể không có tuệ sinh diệt này nhưng anh ta phải cố gắng với padhàna (viriya hay sự nỗ lực, tinh tiến mạnh mẽ và vững chắc) để tập trung vào các tiến trình thân và tâm nhằm đạt được tuệ thứ tư, tức là Udayabbaya-nàna, tuệ sinh diệt. Nếu một thiền giả có trí tuệ anh ta chắc chắn sẽ tiến bộ cho đến khi anh ta ít nhất đạt được quả vị thấp nhất - Sotapatti-magga-nàna. Đó là lý do tại sao Đức Phật nói rằng một thiền giả phải có trí tuệ nhận ra sự sinh diệt của các hiện tượng thân và tâm. Đây là năm nhân tố mà một thiền giả phải có.

 

Khi một thiền giả đã đạt được quả Dự lưu (Sotàpatti-magga-nàna), bậc thứ nhất của giác ngộ, anh ta đã nhổ tận gốc rễ khái niệm về một linh hồn hay một bản ngã, cá tính hay con người cá nhân (sakkàya-ditthi) và cả sự nghi ngờ (vicikicchà) đối với Tam Bảo. Khi một thiền giả đã thanh tịnh tâm ý, tâm anh ta trở nên đủ sắc bén để hiểu thấu bản chất thật của các tiến trình thân-tâm. Anh ta sẽ phân biệt được sự khác nhau giữa các tiến trình thân và tâm và nhận ra các đặc tính riêng có của các hiện tượng thân và tâm. Đây là cấp độ thứ nhất của tuệ minh sát. Khi anh ta có thể nhận ra các đặc tính riêng có của các hiện tượng thân và tâm và có thể phân biệt sự khác nhau giữa nàma và rùpa, anh ta có thể phá vỡ sakkaya-ditthi và atta-ditthi. Ở cấp độ này của tuệ, anh ta đã nhổ tận gốc rễ sakkaya-ditthi và atta-ditthi. Khi anh ta chưa kinh nghiệm được tuệ này, sakkaya-ditthi và atta-ditthi sẽ còn quay trở lại dù không mạnh lắm. Sakkaya-ditthi chỉ có thể bị nhổ tận gốc rễ nhờ đạt được cấp độ đầu của giác ngộSotapatti-magga-nana.

CHAPTER SEVEN: THE FIVE FACTORS OF A MEDITATOR

 

      In order that a meditator can make progress in his insight meditation, he must have five factors.

 

      The First Factor is faith. A meditator must have a firm and strong faith in the Buddha, Dhamma and Sangha, especially in the Dhamma which includes the technique of meditation he is practising.

 

      The Second Factor is, he must be healthy both mentally and physically. If he suffers from headaches, reels dizzy or has stomach trouble, gastric or any other illness, it does not mean he is not healthy. He is considered to be healthy to the extent that he can observe any mental or physical process. The food he takes must be digestible (i.e. food which does not cause stomach disorders) because if he suffers from indigestion, he will not be able to practise very well.

 

      The Third Factor is he must be honest and straight forward. That means he must not tell lies to his teacher or to his fellow meditators. Honesty is the best policy.

 

      The Fourth Factor is energy (uiriya) - not ordinary energy but unwavering, strong and firm energy (padhana). A meditator must have this factor for his success in striving for emancipation. He should never let his uiriya or effort decrease, but should be perpetually improving or increasing it. When viriya or padhana is increasing, then mindfulness will become continuous, constant and uninterrupted. When mindfulness becomes continuous, constant and uninterrupted, concentration will become deep and strong. Insight will become sharp and penetrative, resulting in the clear comprehension of the mental and physical processes in their true nature.

 

      The Fifth Factor is pannaor wisdom. Though we use the word pannait does not refer to ordinary pannaor knowledge. It refers to insight knowledge of the arising and passing away of nama and rupa (udayabbaya-nana) which is the fourth stage of insight knowledge. The first stage is Namarupa-pariccheda-nana (knowledge of the difference between mentality and physicality). The second stage is Paccayapariggaha-nana(knowledge of causality or knowledge of the Law of Cause and Effect). The third is knowledge of comprehension - Samma-sana-nana. Know ledge of comprehension means knowledge which penetrates and comprehends all the three characteristics of mental and physical processes, namely, anicca, dukkha and anatta. The fourth stage is Udayabbaya-nana knowledge of arising and passing away of mental and physical phenomena.

 

      So the Buddha said that panna here refers to that fourth stage of insight knowledge which penetrates into the appearance and disappearance of mentality and physicality. A meditator is expected to possess this factor. In the beginning, a meditator may not possess this insight knowledge of arising and passing away. but he must strive with padhana (strong and firm viriya or effort) to meditate on mental and physical processes to attain the fourth stage of insight knowledge, i.e. Udayabbaya-nana, knowledge of arising and passing away. If a meditator possesses wisdom he is sure to make progress until he attains at least the lowest Path Knowledge - Sotapatti-magga-nana. That is why the Buddha said that a meditator must possess wisdom which realises the appearance and disappearance of mental and physical phenomena. So these are the five factors which a meditator must have.

 

      When a meditator has attained Sotapatti-magga-nana, the first stage of enlightenment, he has uprooted both the concept of a soul or a self, personality or individuality (sakkaya-ditthi) and doubt (vicikiccha) about the Triple Gem. When a meditator has attained purification of mind, his mind becomes sharp enough to penetrate into the true nature of the mind-body processes. Then he distinguishes between the mental and physical processes and realises the specific characteristics of mental and physical phenomena. This is the first stage of insight. When he can realise the specific characteristics of mental and physical phenomena and can distinguish between nama and rupa, he can destroy sakkaya-ditthi and atta-ditthi for the time being. At this stage of insight, he has uprooted sakkaya-ditthi and atta-ditthi. When he is not experiencing this insight, sakkaya ditthi and atta-ditthi will come back to him, although not strongly. Sakkaya-ditthi is only uprooted or exterminated by attaining the first stage of enlightenment, Sotapatti-magga- nana.


Atta trong đạo Bà la môn

 

Trước hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm về sakkaya-ditthi và atta-ditthi (khái niệm về một linh hồn hay bản ngã) theo quan điểm của đạo Hin-đu.

 

Theo đạo Hin-đu hay đạo Bà la môn, toàn bộ thế giới được tạo bởi Mahàbrahma (Đại Phạm thiên)Mahabrahma có rất nhiều tên như Isvara, Paramatma và Prajapati"Pati" có nghĩa là đấng sáng tạo hay chúa tể. "Praja" có nghĩa là sinh vật sống. Vì thế Mahabrahma là chúa tể của mọi sinh vật sống bởi vì ông ta sáng tạo ra chúng. Paramatma là một thuật ngữ bằng tiếng Hinđu hay tiếng Sanskrit (tiếng Phạn). Trong tiếng Pali nó là Paramatta (Đại ngã). Khi chúng ta chia từ Paramatma thành hai từ nó sẽ là Parama và atma. Ở đây "parama" có nghĩa là thánh thiện nhất, linh thiêng nhất; "atma" có nghĩa là linh hồn hay bản ngã. Vì thế "paramatma" có nghĩa là linh hồn linh thiêng nhất. Một vài người dịch từ này là đại ngã hay linh hồn vĩ đại. Linh hồn này đủ lớn để sáng tạo ra thế giới và sinh vật sống. Khi điều kiện trên thế giới đủ tốt để sinh vật sống, ông ta tạo ra tất cả các sinh vật sống - con người, trời (deva), Phạm thiên (Brahma) và loài vật. Ông ta thậm chí đã tạo ra cả hổ, sư tửrắn độc là mối nguy hiểm cho con người. Khi Mahabrahma hay Paramatma lần đầu tiên tạo ra sinh vật sống, chúng giống như những xác chết; chúng không thể chuyển động, ngồi hay đứng. Sau đó Mahabrahma muốn làm cho những sinh vật này sống. Vì thế Mahabrahma thổi linh hồn vào mỗi sinh vật. Thế là tất cả các sinh vật thức dậy và chuyển động, đứng, ngồi v.v...Theo đạo Bà la môn thì theo cách này linh hồn nhỏ bé hay tiểu ngã đó đã tồn tại ở tất cả các sinh vật sống. Thậm chí một con côn trùng cũng có một linh hồn nhỏ trong nó. Linh hồn đó được gọi là Jiva-atta (tiểu ngã). Nó bất tử và không thể phá hoại, nó không thể bị diệt phá bởi bất kỳ phương tiện nào dù là một quả bom nguyên tử bởi vì nó được nâng đỡ bởi Mahabrahma hay Prajapati. Nhưng khi cơ thể này sắp tan rã, linh hồn đó biết rằng cơ thể sắp tan rã và nó phải chuẩn bị rời cơ thể đó và tái sinh trong một cơ thể khác. Nó phải tái sinh trong một cảnh giới thấp hơn hay cao hơn tuỳ thuộc vào nghiệp (kamma) của nó trong đời này. Nếu linh hồn đó làm những việc thiện trong đời này, những việc thiện đó là nghiệp tốt dẫn linh hồn đến một cảnh giới cao hơn. Khi linh hồn tái sinh trong một cơ thể khác, chúng ta gọi nó là hậu thân. Nhưng linh hồn bất diệt đó, jiva-atta hay bản ngã đó cũng không thể bị phá huỷ trong kiếp sống sau. Vì thế vòng tái sinh tiếp tục. Đây là điều mà đạo Bà la môn tin tưởng về linh hồn. Tóm lại, theo Bà la môn giáo, có một thực thể tồn tại mãi mãi trong chúng ta, nó được gọi là tôi, linh hồn hay bản ngã.

 

Sự tin tưởng hay khái niệm về một thực thể, linh hồn hay bản ngã bất diệt được gọi là Atta-ditthi đó là do không nhận ra bản chất thật của các tiến trình tự nhiên.

Atta in Brahmanism

 

      We should understand the concepts of sakkaya-ditthi and atta-ditthi from the point of view of Hinduism.

 

      According to Hinduism or Brahmanism, the whole world was created by Mahabrahma. This Mahabrahmahas many names such as, Isvara, Paramatmaand Prajapati. 'Pati' means creator or master. Prajameans creatures or living beings. So he is the master of living beings because he created them.

 

      Paramatma is a Sanskrit or Hindu term. In Pali it is Paramatta. When wedivide this Paramatma into two words, it is Parama and atma. Here parama means the noblest, the holiest; 'atma' means soul or self. So Paramatma means the holiest soul. Some translate this word as the big self or big soul. This soul is big enough to create the world and living beings. When the condition of the world was good enough for living beings to live in, he created all living beings- men, decas, Brahmas,and animals. He even created tigers, lions and poisonous snakes, which are a great danger to man. When Mahabrahma or Paramatma first created living beings, they were like corpses; they could not move, sit or stand. Then Mahabrahma wanted to make these creatures come to life. So he put a soul into each creature or living being. Then all the creatures got up and moved, stood, sat and so on. In this way, that small soul or self existed in every living being according to Brahmanism. Even an insect has a small soul in it. That soul is called Jiva-atta. It is everlasting and indestructible and cannot he destroyed by any means, even an atomic bomb, because it is supported by Mahabrahma or Prajapati. But when this body is about to disintegrate, that soul knows that the body is about to disintegrate - so it has to be prepared to leave that body and reincarnate into another body. It has to take existence either in a lower or higher world, depending on its kamma in this life. If that soul performs meritorious deeds in this life, these meritorious deeds are good kamma so they lead the soul to a higher level of existence. When the soul reincarnates into another body, we call it reincarnation. But that everlasting soul, jiva-atta or self cannot be destroyed in the next existence either. So the cycle of reincarnation continues.. This is what Brahmanism believes about soul. In short. according to Brahmanism, there is an everlasting entity in us, the so-called self, soul or ego.

 

      That belief or concept of an everlasting entity, soul, self or ego, known as Atta-ditthi, is due to the non-realisation of the true nature of the natural processes.


Atta trong đạo Phật

 

Chúng ta không phải là người Hindu nhưng chúng ta cũng có khái niệm về một linh hồn mặc dù khái niệm này không quá mạnh bởi vì chúng ta đi theo giáo lý của Đức Phật. Chúng ta hiểu về mặt lý thuyết là không có một linh hồn hay bản ngã hay không có một thực thể bất diệt song chúng ta tin rằng khi một người chết, thần thức anh ta sẽ rời khỏi cơ thể và quanh quẩn ở nhà hay xác hoặc quan tài của anh ta. Người ta tin rằng nếu chúng ta không cúng dường các vị tăng (bhikkhus) và không hồi hướng công đức của mình cho những người đã quá cố, thần thức đó sẽ phải sống chung quanh chúng ta.

 

Mặc dù chúng ta tin vào giáo lý của đức Phật, trong chúng ta vẫn còn tồn tại khái niệm này về atta-ditthi, và dựa trên khái niệm này chúng ta có một khái niệm khác về cá nhân, cá thể, một sinh vật, một người đàn ông hay một người đàn bà - sakkaya-ditthi (sakkaya ở đây có nghĩa là nama và rupaditthi có nghĩa là quan điểm sai lầm). Chúng ta có khái niệm này bởi vì chúng ta không hiểu các đặc tính chung và riêng của các tiến trình thân-tâm; chúng ta xem chúng là tồn tại mãi mãi.

 

Nếu bạn tự hỏi mình là "Ngày mai tôi sẽ chết à?" - bạn sẽ không dám trả lời câu hỏi này. Nếu tôi nói với bạn là ngày mại bạn sẽ chết, bạn sẽ nổi giận với tôi bởi bạn giữ quan niệm về tính lâu dài của các tiến trình thân và tâm. Bạn nghĩ rằng các tiến trình thân-tâm của bạn là lâu dài; ít nhấtcho đến ngày mai. Đúng thế, đó là ý tưởng về tính vĩnh cửu. Bạn nắm giữ nó bởi vì bạn không nhận ra sự sinh diệt của quá trình của các hiện tượng thân và tâm. Nếu bạn nhìn thấy sự sinh diệt nhanh chóng và thường xuyên của các hiện tượng thân và tâm, bạn sẽ không tin chúng là vĩnh cửu.

 

Theo giáo lý của Đức Phật thì bạn có thể hiểu về mặt lý thuyết là không có một tiến trình thân và tâm nào kéo dài đến một giây, nhưng về mặt thực hành thì bạn không tin nó bởi vì bạn không nhận ra tính chất vô thường của chúng. Chỉ khi bạn có kinh nghiệm cá nhân về Pháp, bạn mới kết luận nó là vô thường. Sau đó bạn có thể chấp nhận là "Tôi có thể không sống đến ngày mai. Tôi có thể chết ngay giây phút này bởi vì tất cả các hiện tượng đều phụ thuộc vào tính vô thường". Thực ra thì khi con người không nhận ra sự sinh diệt của các hiện tượng thân và tâm, anh ta coi chúng là thường còn. Ý niệm về một con người cá nhân được dựa trên sự tin tưởng vào một thực thể trường tồn trong chúng ta. Vì thế atta-ditthi và sakkaya-ditthi là giống nhau.

 

Nếu chúng ta nói là "Bây giờ tôi đang nhấc bàn tay lên" bạn sẽ hỏi tôi là ai đang nhấc bàn tay lên. Tôi sẽ nói là "Tôi đang nhấc bàn tay lên". Ai là "tôi"? Một tỳ khiêu (bhikkhu), một con người hay một sinh vật đang sống? Nếu chúng ta không tin vào tính chất trường tồn của các tiến trình thân-tâm, chúng ta sẽ không xem chúng là một sinh vật. Thực ra thì quá trình kép của trạng thái tâm và thân mà tạo nên cái gọi là một con người này phụ thuộc vào sự thay đổi, sinh và diệt nhưng chúng ta không nhận ra nó. Chúng ta xem quá trình kép này là một con người, một sinh vật, một con chó hay một con vật. Quan điểm này được gọi là sakkaya-ditthi. Nếu chúng ta không hiểu đúng các tiến trình thân và tâm này theo bản chất thật của chúng thì chúng ta không thể vượt qua hay phá vỡ được quan điểm sai lầm này.

 

Đó là lý do tại sao Đức Phật dạy chúng ta tỉnh thức đối với bất kỳ hoạt động nào của tâm và thân hay các tiến trình thân và tâm như chúng thực sự là để chúng ta có thể nhận ra hai tiến trình này là các tiến trình tự nhiên. Tuệ này được gọi là tuệ Sabhava-lakkhana (hiểu biết đúng về các đặc tính riêng có của các hiện tượng thân và tâm). Tuệ minh sát này phá vỡ khái niệm sai lầm về một linh hồn hay một bản ngã, một con người hay một sinh vật là nguyên nhân chính của các nhiễm ô (kilesas) như tham, sân, ảo tưởng, kiêu mạn và những thứ tương tự như thế. Do đó, chúng ta có thể nói rằng khái niệm về một linh hồn hay bản ngã này là hạt giống của tất cả các nhiễm ô. Khi chúng ta đã diệt trừ được hạt giống (chủng tử) này thì sẽ không có nhiễm ô nào sinh khởichúng ta thoát khỏi khổ đau. Đó là: Sakkaya-ditthi pahanaya sato bhikkhu paribbaje.

 

"Sakkaya-ditthi pahanaya" có nghĩa là vượt qua quan điểm sai lầm về một linh hồn, bản ngã hay một con người; "sato" có nghĩa là tỉnh thứcbhikkhu có nghĩa là tăng. Một vị tăng tỉnh thức đối với các hiện tượng phải phấn đấu hay thực hành để vượt qua quan điểm sai lầm này. Khi anh ta có khả năng phá vỡ được sakkaya-ditthi đó, anh ta chắc chắn sẽ thoát khỏi mọi khổ đau. Sakkaya-ditthi là nguyên nhân của mọi ô nhiễm hay là hạt giống của mọi phiền não. Vì thế chúng ta phải cố gắng phá bỏ nó nhờ sự hiểu biết đúng về các tiến trình thân và tâm bằng phương tiện của thiền minh sát.

 

Chúc các bạn thực hành thiền minh sát tích cựcđạt đến chỗ chấm dứt khổ đau.

 

Sadhu! Sadhu! Sadhu!

Attta in Buddhism

 

      We are not Hindus but we have the concept of a soul, though the concept is not so strong because we follow the doctrine of the Buddha. We understand theoretically that there is no soul or self or that there is no everlasting entity, yet we believe that when a person dies, the soul comes out of the body and stays near his house or his corpse or his coffin. It Is a common belief that if we do not make offerings to the monks (bhikkhu ) and have not shared our meritorious deeds with the departed ones, the soul has to live around us.

 

      Though we believe the doctrine of the Buddha, we still have this concept of atta-ditthi, and based on this concept we have another concept of personality, individuality, a being, a man or a woman -sakkaya-ditthi (sakkaya here means nama and rupa, ditthi means wrong or false view). We have this concept because we do not comprehend the specific and common characteristics of the mind-body processes; we take them to be everlasting.

 

      If you ask yourself, "Will I die tomorrow?" - you dare not answer the question. If I say you are going to die tomorrow, you will get angry with me because you have the idea of permanency of mental and physical processes. You think your mind-body processes are permanent; at least until tomorrow. Yes, that is the idea of permanency. You hold it because you have not realised the appearance and disappearance of the process of mental and physical phenomena. If you see the constant, instant appearance and disappearance of mental and physical phenomena, you will not believe them to be permanent.

 

      Theoretically you understand that none of the mental and physical processes last even a second according to the doctrine of the Lord Buddha, but practically you do not believe it because you have not realised their impermanent nature. Only if you have personal experience of the Dhamma, do you conclude that it is impermanent. You can then accept, "I may not even live until tomorrow. I may die this very second because every phenomena is subject to impermanence Actually, when a man has not realised the arising and passing away of mental arid physical phenomena, he takes them to be permanent. The idea of personality is based on the belief in a permanent entity within us. So atta-ditthi and sakkaya-ditthi are the same.

 

      If we say, "Now I am lifting my hand", then you ask me who is lifting the hand. I will say, "I am lifting the hand." Who is that 'I'? A bhikkhu, a man, or a being who is living? If we do not believe in the permanent nature of mind-body processes, we do not take them to be a being. But actually, the dual process of mentality and physicality which constitutes a so-called person is subject to change, arising and passing away but we do not realise it. We take this dual process to be a person, a being, a dog or an animal. This view is called sakkaya-ditthi. Unless we can rightly comprehend these mind and body processes in their true nature we are unable to overcome or destroy this false view.

 

      That is why the Buddha teaches us to be mindful of any activity of mind and body, or any mental and physical processes as they really are, so that we can realise the two processes as natural processes. This insight is called knowledge of Sabhava-lakkhana (right understanding of the specific characteristics or individual characteristics of mental and physical phenomena). This insight knowledge destroys the concept of soul or self, person or being which is the main cause of defilements (kilesas) such as greed, anger, delusion and conceit and so on. So we can say that this concept of a soul or a self is the seed of all defilements. When we have exterminated the seed there will not arise any defilements and we have got rid of suffering. That is:

 

      Sakkaya-ditthi pahanaya sato bhikkhu paribbaje.

 

      'Sakkaya-ditthi pahanaya' means to overcome this false view of a soul, a self or a person; 'sato' means mindful; bhikkhu means monk. A bhikkhu who is mindful of phenomena must strive or practise to overcome the false view. When he is able to destroy that sakkaya-ditthi, he is sure to deliver himself from all kinds of suffering. This sakkaya-ditthi is the cause of all kinds of defilements or the seed of all defilements. So we have to try to exterminate it through right understanding of mental and physical processes by means of mindfulness meditation.

 

      May all of you practise this mindfulness meditation strenuously and attain the cessation of suffering.

 

Sadhu! .....Sadhu!.....Sadhu!

__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 911)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 808)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 656)
17 Tháng Chín 20207:54 CH(Xem: 22)
HỎI: Làm phước cách nào mới gọi là đại thí? - ĐÁP: Không hẳn bỏ ra nhiều mới là đại thí, mà đại thí ở đây có nghĩa là: 1. Tâm mình lúc bỏ ra hoàn toàn không có sự nuối tiếc. 2. Đối tượng nhận sự cúng dường, sự bố thí đó nếu là đối tượng cá nhân phải là đức độ, hoặc là đối tượng tập thể. 3. Tác dụng của vật thí đó, thí dụ như mình
16 Tháng Chín 20208:41 CH(Xem: 54)
Từ năm 1951 Ngài Thiền Sư U Pandita đã dạy hằng ngàn thiền sinh và châu du hoằng pháp, hướng dẫn những khóa thiền trong nhiều quốc gia Á Đông cũng như ở Âu châu, Úc châu và Hoa Kỳ. Hiện nay Ngài là Tăng Trưởng Thiền Viện Panditarama tại Rangoon, Miến Điện, nơi đây Ngài dạy những bậc xuất gia và hàng tại gia cư sĩ.
14 Tháng Chín 202010:04 CH(Xem: 103)
As regards the Abhidhamma, this is an exposition of all realities in detail. 'Abhi' literally means 'higher', thus 'Abhidhamma' means 'higher dhamma'. The form of this part of the Tipitaka is different, but the aim is the same: the eradication of wrong view and eventually of all defilements. Thus, when we study the many enumerations of realities,
12 Tháng Chín 20207:06 CH(Xem: 121)
Theo truyền thống của Phật giáo Nguyên thủy thì Tạng Vi Diệu Pháp (A tỳ Đàm) được Đức Phật thuyết vào hạ thứ bảy tại cung trời Đạo lợi (Tàvatimsa) với tác ý trả hiếu cho thân mẫu. Ngày nay chúng ta đến hành hươngẤn độ để chiêm bái bốn chỗ Động tâm: Đản sanh, Thành đạo, Chuyển pháp luân và nơi Phật nhập diệt.
11 Tháng Chín 20207:52 SA(Xem: 120)
Toàn bộ mục đích của việc nghiên cứu Phật Pháp là để tìm con đường giải thoát khổ, đạt đến hạnh phúcbình an. Dù chúng ta nghiên cứu các hiện tượng thân hay tâm, tâm vương (citta) hay tâm sở (cetasikā), chỉ khi lấy sự giải thoát khổ làm mục đích cuối cùng thì chúng ta mới ở trên con đường chánh – không gì khác. Khổ có mặt là
10 Tháng Chín 20208:43 CH(Xem: 141)
Các bạn, những người đi tìm kiếm thiện pháp, tụ hội ở đây ngày hôm nay, xin hãy lắng nghe với sự bình an. Nghe pháp với sự bình an là lắng nghe với sự tập trung, chú ý tới những gì bạn nghe và rồi buông bỏ. Nghe pháplợi ích vô cùng. Khi nghe pháp, chúng ta an trú thân tâm mình trong sự định tĩnh, bởi vì đây cũng chính là
09 Tháng Chín 202010:56 CH(Xem: 137)
Bạn đừng quên rằng việc thực tập không dễ dàng chút nào. Uốn nắn thứ gì khác thật không mấy khó khăn, đôi khi còn dễ dàng nữa là khác, nhưng uốn nắn tâm con người quả thật là thiên nan vạn nan. Đức Thế Tôn đã điều phục tâm của mình một cách viên mãn. Tâm là quan trọng nhất. Mọi bộ phận trong hệ thống thân tâm này
08 Tháng Chín 20205:26 CH(Xem: 197)
Hôm nay đề tài mà tôi muốn nói với các bạn là tỉnh giác hay hiểu biết sáng suốt trong khi ăn. Cơ thể chúng ta cần thức ăn mỗi ngày, bởi vậy hàng ngày chúng ta cần phải ăn để sống. Thức ăn trở thành một nhu cầu thiết yếu và lớn lao của cuộc sống. Chúng ta phải bỏ ra nhiều thì giờ để ăn, nghĩa là phải tốn thì giờ để kiếm thức ăn,
06 Tháng Chín 20207:02 CH(Xem: 241)
Chùa rất đơn sơ, đúng như tinh thần tri-túc-tiện-túc nhưng lại có một bảo vật vô giá mà nơi cất giữ chỉ Sư và bẩy đệ tử biết thôi. Đó là một xâu chuỗi mà tương truyền là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng đeo. Một ngày kia, sau thời công phu tối, Sư vừa băn khoăn, vừa buồn rầu nói với các đệ tử: - Xâu chuỗi không còn đó! Trong các con,
05 Tháng Chín 20209:47 CH(Xem: 293)
Tôi có một đệ tử xuất gia, người tây phương. Hễ mỗi khi thấy các sư hay tập sự người Thái xả y hoàn tục, anh liền nói: “Ồ, thật là xấu hổ làm sao! Tại sao họ lại làm thế chứ? Tại sao có quá nhiều sư và tập sự Thái hoàn tục như thế?” Anh ta cảm thấy sốc. Anh ta buồn khi thấy các sư và tập sự Thái hoàn tục bởi vì anh chỉ mới đến tiếp xúc
04 Tháng Chín 20202:19 CH(Xem: 425)
Ngày 25-9-2019 chùa chúng ta xẩy ra một sự cố, sự cố lớn – đấy là chuyện "có một ông sư" đã cuổm hết tiền của quỹ Tam Bảo, quỹ xây dựng, quỹ sinh hoạt, quỹ du học… để đi đánh bạc (có lẽ) thua sạch. Thế rồi chúng ta phải còng lưng trả những món nợ bên ngoài. Chuyện ấy cũng cần nói rõ ràng ra không cần phải giấu diếm nữa.
03 Tháng Chín 20209:05 CH(Xem: 383)
Một hôm, Đức Phật ngồi trò chuyện cùng các môn đồ của mình. Ngài kể cho họ về chuyện một người đàn ông muốn qua sông song lại bị kẹt lại ở trên bờ. Ở bờ bên này đang có một hiểm nguy lớn đang chờ ông ta. Ở bờ sông bên kia thì rất an toàn. Nhưng chẳng có cây cầu hay chiếc phà nào để qua sông. Vậy phải làm sao?
02 Tháng Chín 20209:24 CH(Xem: 512)
Đây là cuốn sách sọan dịch từ những bài pháp ngắn mà Hòa thượng Sīlānanda đã giảng trong những khóa thiền ngắn ngày, và dài ngày ở nhiều nơi trên thế giới rất hữu ích cho những người mới hành thiền cũng như đã hành thiền lâu ngày. Người mới hành thiền biết hành thiền đúng theo những lời dạy của Đức Phật. Người hành thiền
01 Tháng Chín 20206:32 CH(Xem: 536)
Từ những ngày đầu bước chân vào con đường tu học Phật, tôi đã cảm thấy mạnh mẽ rằng thế nào tôi cũng sẽ tìm được cho mình một lối sống chân thậtan lạc. Vào thời ấy, cuộc sống của tôi bị chi phối bởi nhiều rối rensợ hãi. Tôi cảm thấy xa lạ với tất cả mọi người, với thế giới chung quanh, và ngay cả với những kinh nghiệm
31 Tháng Tám 20209:43 CH(Xem: 431)
Thiền Quán, Con Đường Hạnh Phúc (It's Easier Than You Think) là một quyển sách vui tươi và rất dễ đọc. Tác giả trình bày giáo lý của đức Phậtphương pháp tu tập, bằng các mẩu chuyện về những kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Bà Sylvia Boorstein là một nhà tâm lý trị liệu (psychotherapist) và cũng là một giáo thọ
30 Tháng Tám 202011:15 CH(Xem: 370)
Khi bàn luận một vấn đề cần giải quyết: * Không trách móc phiền hà. * Tuyệt đối không nêu khuyết điểm của người. * Chỉ nêu cái khó chung để cùng giải quyết. * Lắng nghe ý người. Khuyến khích, thừa nhận ý kiến đóng góp của người. * Hướng đến việc giải quyết vấn đề, trước mắt, không nhắc việc bất đồng đã qua. * Để người nói nhiều
29 Tháng Tám 202011:05 SA(Xem: 538)
Tình cờ một quyển sách nằm trong tầm tay. A Glimpse of Nothingness – chợt nhận, thoáng nhận ra Không tính – tên tác giả lạ hoắc, không phải hàng Sư tổ của thiền. Chính vì chỗ này mà cách diễn tả gần gũi. Một tục gia cư sĩ, thương gia người Hà Lan, đi theo con đường của chính mình, tự tìm ra câu giải đáp, cùng với các bạn
28 Tháng Tám 20209:03 CH(Xem: 407)
Thời đức Phật, có ngài Kassapa, mẹ của ngài là một Tỳ-kheo ni. Do bà đi nghe phápphát tâm đi tu. Chồng của bà cũng hoan hỷ để bà đi. Sau khi được nhập vào ni đoàn, thì bụng của bà ngày một lớn lên. Mọi người họp nhau lại và định đuổi bà ra khỏi hội chúng. Bà cảm thấy mình bị oan ức nên mới đến kêu cứu với Phật.
27 Tháng Tám 20202:53 CH(Xem: 518)
Chúng ta tưởng rằng Thiền là một cảnh giới cao siêu khó hiểu, Thiền sư là những bậc đạt đạo thượng thừa, không thể đến gần. Là một người hành thiền ở thế kỷ XX, thiền sư Shunryu Suzuki đã dùng lối nói chuyện giản dị, khai mở phương pháp tu tập hết sức gần gũi, dễ chịu. Ngài đã truyền niềm tin tưởng chắc thật rằng mỗi chúng ta
26 Tháng Tám 202011:09 SA(Xem: 488)
Kiếp người. Đến tay không, đi tay không, nhân thiên là vậy. Khi sinh ra, bạn từ đâu đến? Khi chết rồi, bạn đi đâu. Sinh, xuất hiện như đám mây nổi. Tử, biến đi cũng như mây. Đám mây trôi nổi kia, tự bản chất cũng không hiện hữu. Sinh-tử, đến-đi cũng như vậy. Nhưng có một điều rõ rệt - thanh tịnhtrong sáng, không lệ thuộc tử sinh.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1699)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3375)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4903)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
02 Tháng Chín 20209:24 CH(Xem: 512)
Đây là cuốn sách sọan dịch từ những bài pháp ngắn mà Hòa thượng Sīlānanda đã giảng trong những khóa thiền ngắn ngày, và dài ngày ở nhiều nơi trên thế giới rất hữu ích cho những người mới hành thiền cũng như đã hành thiền lâu ngày. Người mới hành thiền biết hành thiền đúng theo những lời dạy của Đức Phật. Người hành thiền
01 Tháng Chín 20206:32 CH(Xem: 536)
Từ những ngày đầu bước chân vào con đường tu học Phật, tôi đã cảm thấy mạnh mẽ rằng thế nào tôi cũng sẽ tìm được cho mình một lối sống chân thậtan lạc. Vào thời ấy, cuộc sống của tôi bị chi phối bởi nhiều rối rensợ hãi. Tôi cảm thấy xa lạ với tất cả mọi người, với thế giới chung quanh, và ngay cả với những kinh nghiệm
31 Tháng Tám 20209:43 CH(Xem: 431)
Thiền Quán, Con Đường Hạnh Phúc (It's Easier Than You Think) là một quyển sách vui tươi và rất dễ đọc. Tác giả trình bày giáo lý của đức Phậtphương pháp tu tập, bằng các mẩu chuyện về những kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Bà Sylvia Boorstein là một nhà tâm lý trị liệu (psychotherapist) và cũng là một giáo thọ
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1325)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1255)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 1410)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1661)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1868)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1712)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.