00. Lời người dịch - Lời nói đầu - Những điều cần lưu ý khi đọc văn bản

06 Tháng Ba 20209:41 SA(Xem: 1137)
00. Lời người dịch - Lời nói đầu - Những điều cần lưu ý khi đọc văn bản

KhoaMuoiNgay_ANhững Bài Giảng Cương Yếu Của 
Khóa Mười Ngày Tu Tập Thiền Minh Sát Tuệ
The Discourse Summaries of S. N. Goenka (1994)
S.N. Goenka -Tóm Lược: William Hart 
Thích Minh Diệu dịch
Source-Nguồn: saraniya.com, budsas.org, dieungu.org
____________________
-----------------------------

 

 

LỜI NGƯỜI DỊCH

 

Trước khi nói về phương pháplợi ích của thiền Minh Sát Tuệ, chúng ta cần điểm qua một số vấn đề liên quan đến "pháp môn thiền định" Phật giáo. Gần đây, dường như pháp môn thiền của Phật giáo bị lãng quên và không còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tu tập của tu sĩ. Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho Phật giáo bị biến dạng và mất đi sức mạnh nội tại. Điều đáng buồn nhất là một số tín đồ cũng như tu sĩ Phật giáo không biết gì về pháp môn thiền định Phật giáo lại phát biểu võ đoán và sai lầm rằng: "Tu thiền sẽ bị điên hoặc tẩu hoả nhập ma". Ở đây người dịch xin xác quyết rằng, tu tập đúng phương pháp thiền Phật giáo, hành giả không bao giờ bị những điều tai hại như vậy. Nếu ai tu thiền bị điên hoặc tẩu hoả nhập ma, chắc chắn người đó đã tu lạc pháp hoặc tu theo thiền định của ngoại đạo chứ không phải của Phật giáo, vì tu tập thiền Phật giáo, sớm hay muộn người đó sẽ loại trừ được tâm loạn động, vô minh. Nhiều thống kê hiện nay cho biếtpháp môn thiền Minh Sát Tuệ của Phật giáo đã giúp rất nhiều người giải toả những tâm bệnh căng thẳng, đạt được tâm bình thản và an lạc trong cuộc sống. Ngoài ra, thiền Minh Sát Tuệ còn mang lại nhiều lợi ích khác cho người hành thiền và tha nhân.

 

Ở đây, người dịch đứng trên lập trường giáo lý của đạo Phật xin trình bày một vài nhận thức cá nhân về giáo lý thiền của Phật giáo, đặc biệtthiền Minh Sát Tuệ.

 

Không ai từ chối sự thậtđức Phật Thích-ca đã chứng quả chánh đẳng chánh giác dưới cội Bồ-đề nhờ tu tập thiền quán. Và chứng tích rõ ràng hơn là kinh điển được ghi lại trong cả hai truyền thống: Phật giáo Nguyên thuỷ dựa vào năm bộ Nikāya (Pañca-nikāyā) và Phật giáo Phát triển dựa vào bốn bộ A-hàm (Āgama) và số Kinh Đại Thừa kết tập sau này đều nhấn mạnh thiền định là pháp tu căn bản nhất để loại trừ mọi tập khí phiền não của thân và tâm. Cụ thể hơn nữa, khi đọc vào những bản kinh, chúng ta thấy chư vị đệ tử của đức Phật thành tựu thánh quả từ quả Tu-đà-hoàn đến quả A-la-hán hầu như đều nhờ vào việc tu tập thiền định.

 

Thiền định mang lại kết quả an lạc, hạnh phúc ở nhiều mức độ khác nhau ngay trong hiện tại chứ không phải mong cầu kết quả viễn vong ở tương lai. Điều cốt yếu nhất của thiền định Phật giáotu tập nơi thân và tâm chúng ta. Thân và tâm này là đầu mối của luân hồi đau khổ và cũng là công cụ để giải thoát khổ đau. Không ai hoặc quyền lực nào đủ khả năngthẩm quyền can thiệp vào đau khổ cũng như giải thoát của chúng ta. Chính chúng ta làm chúng ta đau khổ và cũng chính chúng ta tu tập để giải thoát.

 

Tu tập thiền Minh Sát Tuệ dựa vào nền tảng tu tập của Giới, Định và Tuệ. Tuy nhiên, nét đặc trưng của thiền Minh Sát Tuệ là duy trì tâm tỉnh giác và bình thản để quán sát những cảm thọ sinh khởi trên thân mà không phản ứng lại. Nhờ quán sát như vậy, hành giả sẽ loại trừ dần các tập khí quá khứhiện tại đồng thời chứng nghiệm thực tại vô thường, khổ và vô ngã của các hiện tượng trong thân và tâm. Chỉ có thực nghiệm này mới có thể giúp hành giả đoạn trừ tập khí phiền nãođạt được giải thoát.

 

Hiện nay, Phật giáoẤn Độ chỉ là một tôn giáo thiểu số so với Ấn Độ giáo, tuy nhiên điều đáng mừng nhất là phương pháp thiền Minh Sát Tuệ được áp dụng phổ biến tại quốc gia này. Ngay cả các trường huấn luyện cảnh sát, các nhà tù lớn và những bệnh viện tâm thần cũng thường xuyên tổ chức các khoá tu tập thiền Minh Sát Tuệ định kỳ cho các cán bộ, tù nhân và bệnh nhân. Hơn thế nữa, các trung tâm thiền Minh Sát Tuệ đã và đang phát triển rộng rãi không những ở các nước Châu Á như Thái Lan, Miến Điện, Nhật Bản mà còn phát triển ở các nước thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Úc. Rất nhiều người tham gia những khoá tu thiền Minh Sát Tuệ và một số người sau khoá tu đã ở lại trung tâm để phục vụ cũng như tiếp tục tu tập. Nhiều trung tâm thiền Minh Sát Tuệ do người ngoại quốc trực tiếp hướng dẫn.

 

Điều này cho thấy rằng thiền Minh Sát Tuệ không phải là pháp môn chỉ dành riêng cho giới tu sĩ Phật giáo mà đây cũng là pháp môn phổ cập cho mọi người. Ở nước ta, phương pháp tu tập thiền định của Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay dường như chỉ giới hạn cho giới xuất gia và bị ảnh hưởng phương pháp thiền Trung QuốcNhật Bản hay còn gọi là Tổ Sư thiền. Phương pháp thiền Nguyên Thuỷ hay Như Lai thiền không còn được quan tâmhành trì nhiều. Khuyết điểm lớn là giới Phật tử Việt Nam không được khuyến khích tu tập thiền định và không có những trung tâm để cho Phật tử cũng như bất cứ ai từ bất cứ tôn giáo nào muốn tham dự đều có thể tham dự được. Một điều làm chúng tôi luôn thao thức, trăn trở, đó là làm thế nào để hình thành những trung tâm tu tập thiền Minh Sát Tuệ trên đất nước Việt Nam của chúng ta. Phật giáo Việt Nam được xem có nguồn gốc gần 2000 năm lịch sử, có hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương, có nhiều Tăng NiPhật tử, thiết nghĩ chúng ta nên cố gắng tập trung mở rộng truyền bá thiền Minh Sát Tuệ vì hạnh phúcan lạc vô cùng tận cho bản thân, gia đìnhxã hội.

 

Bản nguyên tác tiếng Anh "The Discourse Summaries" được dịch sang tiếng Việt là "Những Bài Giảng Cương Yếu" do Thiền sư Goenka thuyết giảng trong thời gian Ngài hướng dẫn Thiền sinh tu tập thiền Minh Sát Tuệ khóa mười ngày. Tuy nhiên, để tựa đề tiếng Việt được rõ ràngdễ hiểu hơn, chúng tôi tạm dịch: "Những Bài Giảng Cương Yếu của Khóa Mười Ngày Tu Tập Thiền Minh Sát Tuệ". Nhìn qua họa đồ giảng dạy của khoá tu mười ngày, chúng ta thấy hành giả được hướng dẫn tu tập từng bước. Nội qui và thời khóa biểu thực hành mỗi ngày, đặc biệt nhất là phải giữ im lặng (tịnh khẩu) tối đa trong chín ngày cùng với việc thọ trì tam quy, ngũ giới được xem như là nền tảng của giới cho khóa tu. Mỗi ngày ngồi thiền mười giờ, trong ba ngày rưỡi đầu hành giả chủ yếu thực tập phương pháp tịnh chỉ tâm thức (phương pháp định tâm) qua việc theo dõi hơi thở ra vào, giúp hành giả dừng lại vọng niệmđồng thời tập nhận ra cảm thọ quanh vùng mũi. Sáu ngày rưỡi còn lại là thời gian hành trì thiền Minh Sát Tuệ (Vipassana), thực tập tuệ quán các cảm thọ sanh khởi trên toàn thân với tâm chánh niệm và xả ly. Tập sách mỏng bao gồm mười một bài pháp giảng giải những khúc mắc cho hành giả trong suốt khoá tu được xem như là cẩm nang quý báu. Nhận thấy sự cần thiết và hữu ích của tập sách, chúng tôi đã cố gắng chuyển sang Việt ngữ để giúp cho những vị đang tìm hiểu hoặc đã tiếp cận với pháp môn thiền định Phật giáo đặc biệt thiền Minh Sát Tuệ xác định đúng đắn và vững tin vào con đường tu tập của mình.

 

Trong khi phiên dịch tập sách này, chúng tôi có cơ hội ôn lại và hiểu thêm về phương pháp hành trì thiền Minh Sát Tuệ. Chúng tôi dịch trung thành với nội dung của mười một bài giảng và ghi chú cần thiết những phần trích dẫn liên quan đến Kinh, Luật và Luận nếu có trong mười một bài giảng. Ngoài ra có những đoạn trong nguyên bản quá cô đọng hoặc một số thuật từ khó hiểu, chúng tôigiải thích bổ sung thêm phần trong ngoặc để người đọc tham khảo thêm. Khi bắt tay vào dịch tập sách này, người dịch nhắm đến mục đích chủ yếu là giới thiệu cho chư vị Phật tử cũng như những ai muốn tìm hiểu pháp môn thiền định Phật giáo, một phương cách sống tự điều phục tâm, một lối sống mang lại lợi ích thực sự cho bản thân cũng như mọi người . Bản thân người dịch và một số vị Tăng, Ni đồng tu học ở đây (Ấn Độ) đã tham gia vài khóa tu mười ngày thiền Minh Sát Tuệ (Vipassana). Sau những ngày nỗ lực tu tập, tất cả chúng tôi đều cảm nhận được sự an lạcgiải thoát khỏi những căng thẳng của thân cũng như tâm. Nhận thấygiá trị đích thực của pháp môn tu tập thiền Minh Sát Tuệ, chúng tôi mong mỏi mọi người nên tham gia các khoá tu hoặc ngắn ngày hoặc dài ngày nếu tại địa phương có các trung tâm thiền Minh Sát Tuệ. Dù đứng trước thời đại khoa học văn minh, vật chất phát triển, đạo đức con người đang biến chuyển theo đà suy thoái, người biết thực hành thiền định vẫn không bị mất đi tính tự chủ, đời sống tinh thần cũng như vật chất của gia đình vẫn luôn ổn định, và sống, xây dựng một xã hội hòa bình, hạnh phúcan lạc.

 

Nhờ sự khuyến khích và giúp đỡ tận tình của quí huynh đệ đồng tu học trong việc sửa bản thảo, bản dịch mới được tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên, dù cố gắng hết mình vẫn không tránh khỏi sai sót trong lúc phiên dịch, chúng tôi xin hoan hỷ đón nhận mọi góp ý của quí độc giả.

 

Mọi công đức phiên dịch này xin hồi hướng đến vạn loại chúng sanh được an lạchạnh phúc, sớm quay về chân lý giác ngộgiải thoát.

 

Trường Đại Học Pune - Ấn Độ, 1-05- 2002.
Tỳ Kheo Thích Minh Diệu cẩn chí

 


 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Thiền sư S.N. Goenka đã phát biểu rằng: "Giải thoát chỉ có thể đạt được qua tu tập chứ không phải qua bàn luận." Tham dự khóa tu thiền Minh Sát Tuệ là một cơ hội để thực hiện những bước tiến cụ thể hướng đến giải thoát. Người tham gia một khoá tu như vậy sẽ học được cách giải tỏa tâm căng thẳng và những thành kiến sai lầm khuấy nhiễu sự yên tĩnh trong đời sống. Nhờ việc tu tập này, chúng ta bắt đầu khám phá ra một lối sống bình an, sáng tạo, hạnh phúc trong mỗi sát naĐồng thời chúng ta cũng thăng tiến đến mục đích tối thượng, mục đích mà nhân loại luôn khao khát đạt đến: đó là tâm an tĩnh, giải thoát mọi triền phược khổ đau và giác ngộ viên mãn.

 

Nếu chỉ tư duy hoặc cầu mong, chúng ta không thể nào đạt được thiền định này. Chúng ta cần phải tu tập từng bước để đạt đến mục đích cao thượng. Vì lý do này, mỗi khóa tu thiền Minh Sát Tuệ luôn đề cập đến phương pháp hành trì thực tiễn. Tu tập Minh Sát Tuệ không chấp nhận hành giả bàn luận về triết lý hay tranh luận trên lý thuyết, cũng như những vấn đề không liên quan đến kinh nghiệm bản thân. Hành giả được khuyến khích để tìm ra giải đáp về những thắc mắc của mình càng nhiều càng tốt. Trong khi tu tập, vị thầy hướng dẫn những gì cần thiết, nhưng sự chỉ dẫn này còn tùy thuộc vào việc thực hành của mỗi người: chúng ta phải tự chiến đấu với bản thân và tự giải thoát.

 

Ngoài yếu tố quan trọng đã được trình bày, vẫn còn có một số vấn đề cần được giảng giải để hỗ trợ cho khoá tu. Thế nên mỗi buổi tối của khoá tu, Ngài Goenka đều giảng một bài pháp để giúp quý vị hiểu rõ những kinh nghiệm thực tập của ngày hôm đó, và làm sáng tỏ phương pháp tu tập dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Ngài khuyên rằng không được xem những bài giảng này như để tiêu khiển về mặt tri thức hoặc tình cảm. Mục đích của những bài giảng này cốt yếu giúp hành giả hiểu những gì cần phải thực hành và tại sao phải thực hành như vậy, để có thể thực hành đúng theo hướng dẫn và sẽ thành tựu kết quả tốt. Đó chính là mục đích của việc trình bày các bài giảng này trong hình thức cô đọng.

 

Mười một bài giảng này giúp chúng ta có cái nhìn bao quát về lời dạy của đức Phật. Tuy nhiên, việc tiếp cận lời dạy không mang tính học thuật hay phân tích. Thay vào đó, những bài giảng được trình bày như một động lực, một tổng thể nối kết với nhau để tháo gỡ những khó khăn và khúc mắc cho hành giả. Tất cả những khía cạnh khác của các bài giảng mà chúng ta đã thấy, nói lên một sự nhất quán cơ bản: đó là thể nghiệm thiền định. Thể nghiệm này là tia sáng bên trong dẫn đến một đời sống chân thật và làm giá trị của giáo pháp rực sáng.

 

Không có kinh nghiệm này chúng ta không thể nắm bắt được ý nghĩa trọn vẹn của các bài thuyết giảng, hay giáo pháp của đức Phật dạy điều gì. Tuy thếđiều này không có nghĩa là giáo pháp không thể được đánh giá trên phương diện tri thức. Hiểu biết trên lãnh vực tri thứcgiá trị như một nhân tố trợ giúp cho việc thực tập thiền định, mặc dù tự thân thiền định là một tiến trình vượt qua những giới hạn của tri thức.

 

lý do trên, những bài tóm tắt này được soạn, trình bày những điểm tinh yếu ngắn gọn của mỗi bài giảng. Ngài Goenka giảng những bài pháp này mục đích chính yếu là tạo ra nguồn cảm hứng cũng như hướng dẫn cho các hành giả đang thực tập phương pháp thiền Minh Sát Tuệ. Đối với những người tình cờ đọc những bài giảng này, hy vọng rằng chúng sẽ là niềm khuyến khích họ tham gia một khóa thiền Minh Sát Tuệ và để kinh nghiệm những gì đã được trình bày ở đây.

 

Những bài giảng này không nên xem như một cẩm nang tự thực hành thiền Minh Sát Tuệ, một hướng dẫn thay thế cho khóa thiền 10 ngày. Thiền định là một vấn đề rất hệ trọngđặc biệt phương pháp thiền Minh Sát Tuệ, nó liên quan đến những cấp độ sâu thẳm của tâm thức. Thiền Minh Sát Tuệ không thể được thành tựu một cách dễ dàng hay ngẫu nhiên. Muốn học đúng phương pháp thiền Minh Sát Tuệ duy chỉ có cách tham gia một khóa tu chính thức, ở đó có môi trường thích hợp và có người hướng dẫn đầy đủ kinh nghiệm giúp đỡ cho người hành thiền. Nếu ai đó không để ý đến lời khuyến nhắc này và cố gắng tự mình thực hành thiền Minh Sát Tuệ qua việc tự đọc sách, bản thân người ấy phải chịu lấy hoàn toàn mọi sự không may, nguy hiểm.

 

Thật may mắn, hiện nay, những khóa thiền Minh Sát Tuệ theo sự hướng dẫn của Ngài Goenka được tổ chức định kỳ ở nhiều nơi trên thế giới. Chương trình tu học của các khoá thiền Minh Sát Tuệ đều có thể liên hệ đến bất cứ trung tâm nào được ghi vào danh sách ở trang cuối của tập sách này.

 

Những bài giảng tóm tắt này chủ yếu dựa vào các bài giảng của Ngài Goenka tại Trung Tâm Thiền Minh Sát Tuệ, bang Massachusetts thuộc Mỹ Quốc trong suốt tháng 8 năm 1983. Ngoại trừ bài giảng ngày thứ 10 là dựa vào bài giảng cũng tại Trung tâm này vào tháng 8 năm 1984.

 

Trong thời gian Ngài Goenka xem qua và đồng ý cho tài liệu này xuất bản, Ngài không có thì giờ để kiểm tra văn bản kỹ lưỡng, vì vậy, có thể người đọc gặp một vài lỗi và khiếm khuyết. Những sơ sót này không phải do vị Thầy, cũng không phải của giáo pháp, mà là trách nhiệm của chính tôi. Tôi rất vui lòng đón nhận sự phê bìnhđiều này giúp tôi chỉnh lại những thiếu sót trong văn bản.

 

Cầu mong tác phẩm này giúp ích nhiều người trong tu tập giáo pháp.
Nguyện cầu tất cả chúng sanh 
đều hạnh phúc.

 

William Hart

 


 

NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI ĐỌC VĂN BẢN

 

Những bài pháp của đức Phật và chư đệ tử của đức Phật mà Ngài Goenka trích dẫn ở đây đều được rút từ Luật Tạng (Vinaya-pitaka) và Kinh Tạng (Sutta-pitaka) thuộc kinh điển Pāli. (Mặc dầu trong vài trường hợp, một số trích dẫn có mặt trong cả hai Tạng, nhưng ở đây chỉ trình bày những tham khảo thuộc Kinh Tạng). Ngoài ra, một vài trích dẫn khác được rút ra từ hậu văn học kinh điển Pāli (post-canonical Pāli literature). Trong những bài thuyết giảng này, Ngài Goenka giải thích các đoạn kinh phần lớn chú trọng đến việc lý giải hơn việc phiên dịch từng thuật ngữ theo văn bản Pāli. Mục đích là nhằm trình bày phần cốt lõi của mỗi đoạn trích trong ngôn ngữ bình dị, nhấn mạnh mối quan hệ của nó đến sự hành trì thiền Minh Sát Tuệ.

 

Những chỗ có đoạn trích Pāli xuất hiện trong hình thức tóm tắt, Ngài Goenka sử dụng đoạn văn ngắn gọn này để giải thích cho bài pháp. Phần sau của tập sách là những đoạn Pāli đã được dịch ra tiếng Anh, nhằm bổ sung cho các đoạn trích được chính xác hơn và vẫn chú trọng đến quan điểm của thiền giả.

 

Trong các bài giảng tóm tắt, việc sử dụng các thuật ngữ Pāli đều được giữ nguyên hình thức số ít. Khi nào những thuật ngữ này cần phải sử dụng theo hình thức số nhiều thì chúng được viết theo phong cách số nhiều của Pāli; ví dụ: số nhiều của sankhāra là sankhārā, của kalāpa là kalāpā, của parama là paramā.

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5343)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1681)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1835)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1594)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1284)
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 78)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 136)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 147)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 160)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 152)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 182)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 174)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 216)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 209)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 235)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 216)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 302)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 242)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 269)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 280)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 264)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 265)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 583)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 301)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 369)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2203)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3903)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5530)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 302)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 369)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 403)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 216)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5343)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 463)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 466)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2991)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2002)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng