04. Bài giảng ngày thứ tư

06 Tháng Ba 20209:41 SA(Xem: 480)
04. Bài giảng ngày thứ tư

KhoaMuoiNgay_ANhững Bài Giảng Cương Yếu Của 
Khóa Mười Ngày Tu Tập Thiền Minh Sát Tuệ
The Discourse Summaries of S. N. Goenka (1994)
S.N. Goenka -Tóm Lược: William Hart 
Thích Minh Diệu dịch
Source-Nguồn: saraniya.com, budsas.org, dieungu.org
____________________
-----------------------------


 

BÀI GIẢNG NGÀY THỨ TƯ

 

- Những câu hỏi liên quan đến phương cách thực hành thiền Minh Sát Tuệ
- Qui luật nghiệp báo
- Tầm quan trọng của hành động thuộc về tâm
- Bốn chức năng phối hợp của tâm: ý thức, tưởng tri, cảm thọphản ứng
- Duy trì tâm tỉnh thức và xả ly là con đường thoát khỏi khổ đau

 

Ngày thứ tư là ngày rất quan trọng. Quý vị bắt đầu thâm nhập vào suối nguồn chánh pháp (Ganges of Dhamma) [1], và đang khám phá sự thật ở nơi quý vị qua những cảm thọ trên thân. Trong quá khứ, vì vô minh, những cảm thọ này là những nguyên nhân gây ra vô số khổ đau cho quý vị, nhưng chúng cũng có thể là những công cụ để đoạn trừ khổ đau. Quý vị đã thực tập bước đầu tiên của lộ trình giải thoát đó là quán sát những cảm thọ trên thân và giữ tâm xả ly.

 

Sau đây là một số vấn đề thuộc về kỹ thuật hành trì thiền Minh Sát Tuệ thường được hỏi đến trong khi tu tập:

 

Tại sao di chuyển sự quán sát trên toàn thân phải theo một trình tự nhất định và vì sao phải tuân theo trình tự này?

 

Có thể di chuyển sự quán sát trên thân thể với bất cứ trình tự nào, nhưng chỉ nên hành trì theo một trình tự cần thiết. Mặt khác, quý vị sẽ mắc phải nhược điểm là xao lãng không quán sát một số nơi trên thân thể, và những nơi này cảm thọ không rõ ràng và trống rỗng. Dĩ nhiên, cảm thọ có mặt khắp thân thể, và trong phương pháp tu tập này, yếu tố quan trọng là phát triển khả năng cảm nhận các cảm thọ trên toàn thân. Vì lý do này, sự di chuyển quán sát các cảm thọ trên thân theo một trình tự sẽ rất có lợi.

 

Nếu phần nào của thân thể không có cảm thọ, quý vị có thể duy trì sự chú tâm ở đó khoảng một phút. Thực tế, cảm thọ đang có mặt ở đó như những bộ phận khác của thân thể, nhưng nó thuộc dạng vi tế khiến cho tâm của quý vị không thể nhận ra, và vì vậy nơi này dường như khôngcảm thọ. Duy trì khoảng một phút, theo dõi một cách yên tĩnh, lặng lẽ và xả ly. Đừng mù quáng sinh tâm tham đắm hoặc có ác cảm với bất cứ cảm thọ nào. Nếu quý vị làm như vậy, quý vị sẽ đánh mất tâm xả ly, và tâm mất bình tĩnh không còn sáng suốt; chắc chắn quý vị không thể cảm nhận những cảm thọ vi tế hơn. Nhưng nếu giữ tâm bình tĩnh, nó sẽ nhạy cảm hơn và có khả năng khám phá các cảm thọ vi tế. Hãy quán sát từng phần trên thân thể trong niệm xả ly không quá một phút. Nếu trong vòng một phút, quý vị không thấy cảm thọ khởi lên, lúc đó mỉm cười và hãy dời quán sát đi nơi khác. Vòng quán sát kế tiếp, quý vị lại duy trì quán sát một phút nữa; sớm muộn gì quý vị cũng sẽ nhận ra những cảm thọ ở đó và khắp thân thể. Nếu quý vị duy trì đã một phút nhưng vẫn không nhận ra cảm thọ, khi đó hãy cố gắng nhận ra cảm thọ của thân thể xúc chạm với quần áo nếu chỗ ấy là nơi được phủ kín, hoặc sự tiếp xúc của thân thể với môi trường nếu chỗ ấy là nơi không phủ kín. Hãy bắt đầu quán sát những cảm thọ thô này, rồi tuần tự quý vị cũng sẽ nhận ra những cảm thọ khác.

 

Nếu sự quán sát đã được đặt định trên một phần nào của thân thể và có một cảm thọ vừa sinh khởi ở một nơi khác, chúng ta có nên quay trở lại hoặc hướng đến để quán sát cảm thọ vừa sinh khởi này không?

 

Không nên làm như vậy; hãy tiếp tục di chuyển sự quán sát cảm thọ theo trình tự đã đặt địnhĐừng tìm cách ngăn cản không cho những cảm thọ sinh ra ở những nơi khác của thân thể - quý vị không thể dập tắt cảm thọ theo ý muốn được- nhưng cũng đừng quá chú trọng đến chúng. Chỉ quán sát từng cảm thọ khi quý vị tuần tự hướng tâm đến nó. Nếu không, quý vị sẽ di chuyển sự quán sát cảm thọ theo kiểu nhảy vọt từ nơi này đến nơi khác, bỏ sót không quán sát nhiều phần trên cơ thể và chỉ quán sát những cảm thọ thô. Quý vị phải tự huấn luyện chính mình để quán sát tất cả những cảm thọ khác nhau trong mỗi phần của thân thể, thô hoặc tế, lạc hoặc bất lạc, dễ nhận hoặc khó nhận. Vì vậy đừng bao giờ thực hành theo lối quán sát nhảy vọt từ chỗ này đến chỗ khác.

 

Chúng ta phải mất bao nhiêu thời gian trong việc duy trì sự quán sát cảm thọ từ đầu đến chân?

 

Thời gian quán sát cảm thọ không giống nhau tùy theo tình huống mà chúng ta đang thực hành. Sự yêu cầu ở đây là hãy dán sự chú tâm của quý vị lên một khu vực xác định, và ngay lúc quý vị nhận ra cảm thọ ở đó hãy tiếp tục di chuyển đến khu vực khác. Nếu tâm quý vị có nhạy cảm tốt thì cảm thọ sẽ nhận rõ ngay lúc tâm vừa chú ý đến, và quý vị có thể tiếp tục di chuyển sự quán sát ngay. Nếu trường hợp này xảy ra khắp thân thể, thì tiến trình di chuyển sự quán sát từ đầu đến chân trong vòng 10 phút; nhưng không được di chuyển sự quán sát cảm thọ nhanh hơn khoảng thời gian vừa nói. Tuy nhiên, nếu tâm thức không bén nhạy, có thể nhiều khu vực cần phải chờ khoảng một phút để cho cảm thọ sinh khởi. Trong trường hợp này, có thể mất khoảng 30 phút hoặc một giờ để di chuyển sự quán sát từ đầu đến chân. Thời gian cần thiết để quán sát cảm thọ khắp thân thể không quan trọng. Chỉ hành trì một cách nhẫn nại và kiên trì; chắc chắn quý vị sẽ thành tựu.

 

Vùng quán sát cảm thọ rộng khoảng bao nhiêu để có thể dán tâm vào đó?

 

Hãy chú tâm vào một phần của thân thể có chiều rộng khoảng hai hoặc ba inch (1 inch = 2.54 cm); kế đó di chuyển sự quán sát đến khu vực khác cũng trong khoảng 2 hoặc 3 inch. Nếu tâm thức chưa nhạy bén, hãy quán sát theo kích thước rộng hơn, ví dụ như toàn bộ khuôn mặt, hoặc toàn bộ phần trên của cánh tay; rồi từ từ cố gắng thu nhỏ vùng quán sát lại. Cuối cùng quý vị có thể cảm nhận các cảm thọ ở mỗi phần của thân thể, nhưng trong giai đoạn này, mỗi vùng quán sát có kích thước khoảng hai hoặc ba inch là đủ.

 

Chúng ta chỉ nên cảm nhận những cảm thọ trên bề mặt của thân thể hay cũng phải cảm nhận những cảm thọ ở bên trong thân thể nữa?

 

Thỉnh thoảng có thiền giả cảm nhận những cảm thọ bên trong ngay lúc vị ấy bắt đầu hành trì thiền Minh Sát Tuệ; đôi khi ban đầu vị ấy cảm nhận những cảm thọ chỉ trên bề mặt. Quán sát cảm thọ trên cả hai phương diện ngoại tại hoặc nội tại đều tốt cả. Nếu cảm thọ chỉ xuất hiện trên bề mặt, theo dõi chúng qua nhiều lần cho đến khi quý vị nhận ra cảm thọmọi nơi trên bề mặt của thân thể, sau đó quý vị tiếp tục quán sát những cảm thọ bên trong. Dần dần tâm thức sẽ phát triển khả năng cảm nhận các cảm thọ khắp mọi nơi, cả bên trong lẫn bên ngoài, tại mỗi phần của thân thể. Nhưng lúc mới bắt đầu, hãy quán sát những cảm thọ bên ngoài là đủ rồi.

 

Lộ trình tu tập để đạt đến thực tại tuyệt đối vượt qua kinh nghiệm giác quan cần phải tu tập quán sát toàn bộ cảm thọ của các giác quan. Nếu quý vị tiếp tục thanh lọc tâm với sự hỗ trợ của cảm thọ, chắc chắn quý vị sẽ đạt đến giai đoạn tối hậu.

 

Khi tâm còn vô minh, chính các cảm thọ là những nhân tố làm tăng trưởng phiền não trong chúng ta, vì chúng ta phản ứng lại các cảm thọ bằng tham ái hoặc sân hận. Ngay tức khắc, khổ đau và căng thẳng thuộc về thân phát sinh, vì vậy, ngay ở cấp độ này chúng ta phải luyện tập để loại trừ chúng, và cũng để chuyển đổi thói quen của tâm thức. Chúng ta phải huân tập tâm tỉnh giác đối với các cảm thọ khác nhau mà không hề phản ứng lại, chấp nhận sự thay đổi và bản chất khách quan của chúng. Bằng cách thực hành này, chúng ta từ bỏ những thói quen phản ứng thiếu ý thức để tự giải thoát ra khỏi khổ đau.

 

Cảm thọ là gì?

 

Bất cứ điều gì mà chúng ta cảm nhận trên thân thì đó là một cảm thọ - bất cứ cảm thọ thông thường và tự nhiên nào thuộc về thân, như cảm thọ lạc hoặc khổ, thô hoặc vi tế, mạnh hoặc yếu. Đừng bao giờ bỏ qua một cảm thọ nào dù nó phát sinh từ điều kiện môi trường, hoặc phát sinh do ngồi quá lâu, hoặc do một chứng bệnh từ trước. Vấn đề là dù trong điều kiện nào quý vị đều phải nhận ra cảm thọ. Trước đây quý vị có thói quen từ chối những cảm thọ khổ và thích thú với những cảm thọ lạc. Bây giờ quý vị chỉ quán sát nó một cách khách quan nhưng không đồng nhất với chúng.

 

Đây là một sự quán sát bình đẳng, đừng bao giờ cố lựa chọn những cảm thọ; thay vào đó, quý vị hãy chấp nhận bất cứ cảm thọ sinh khởi một cách tự nhiên. Nếu quý vị có ý tìm kiếm cảm thọ nổi bật hoặc cảm thọ đặc biệt, quý vị sẽ tự tạo trở ngại cho chính mình, và sẽ không thể tiếp tục tu tập theo phương pháp này được. Phương pháp hành trì cốt yếu để giữ tâm xả ly đối với bất kỳ cảm thọ nào chứ không phải để cảm nhận các cảm thọ đặc biệt. Lúc trước, quý vị đã có những cảm thọ về thân tương tự như vậy, nhưng quý vị không tỉnh giác và đã phản ứng lại những cảm thọ này. Bây giờ quý vị đang tập luyện để tỉnh giác và không phản ứng lại, cảm nhận những gì đang diễn ra trên thân và giữ tâm bình thản.

 

Nếu thực hành theo cách này, dần dần quý vị sẽ nhận rõ toàn bộ qui luật của tự nhiên. Giáo pháp này có ý nghĩa: bản chất tự nhiên, qui luật, chân lý. Để hiểu chân lý trên bình diện thể nghiệm, chúng ta phải khảo sát nó trong phạm vi cấu trúc của thân thể. Sự khảo sát này đã được Thái tử Sidddhattha Gotama tu tập trở thành một vị Phật. Và bất cứ ai thực hành như Ngài cũng sẽ thấu đạt chân lý một cách rõ ràng, chân lý có mặt khắp vũ trụ, có mặt ở trong và ngoài thân thể: đó là vạn vật luôn chuyển dịch. Không có gì đoạn diệt hoàn toàn; mọi vật được liên kết theo tiến trình sinh thành (bhava). Và một thực tại khác hiển bày rõ ràng: đó là không có điều gì xảy ra một cách ngẫu nhiên. Mỗi sự chuyển đổi đều có một nguyên nhân, nguyên nhân đó tạo ra một kết quả, và rồi kết quả lần lược trở thành nguyên nhân cho sự chuyển đổi khác, tạo thành một chuỗi nhân - quả không đầu mối. Và một qui luật nữa cũng hiển bày rõ ràng: đó là nguyên nhân như thế nào thì kết quả sẽ như thế ấy; hột giống như thế nào thì hoa trái sẽ như thế ấy.

 

Trên cùng một mảnh đất chúng ta gieo hai loại hạt giống, một loại mía và một loại "neem"- một loại cây nhiệt đới rất đắng. Giống mía phát triển thành cây mía có vị ngọt từng sớ mía, giống neem thành cây neem và có vị đắng trong từng sớ neem. Chúng ta có thể hỏi tại sao thiên nhiên lại tử tế đối với cây này và lại bạc đãi với cây khác. Thực tế, thiên nhiên không tử tế cũng chẳng phải bạc đãi; thiên nhiên làm việc theo qui luật đã đặt định. Thiên nhiên chỉ giúp mỗi loại giống hiển bày tính chất của nó. Nếu chúng ta gieo trồng những hạt giống ngọt, thu họach sẽ là trái ngọt. Nếu chúng ta gieo trồng hạt giống đắng thì kết quả sẽ là trái đắng. Khi hạt giống như thế nào thì kết quả như thế ấy; khi những hành động như thế nào thì kết quả sẽ tương xứng như thế ấy.

 

Vấn đề là chúng ta rất tỉnh táo khi gặt hái kết quả, muốn nhận quả ngọt, nhưng trong suốt thời vụ gieo trồng chúng ta lại không tỉnh táo và đã trồng giống đắng. Nếu chúng ta muốn quả ngọt chúng ta nên trồng những loại giống tuơng xứng. Cầu nguyện hoặc mong ước một phép màu chỉ tự lừa dối mình; chúng ta phải hiểu và sống theo qui luật tự nhiên. Chúng ta phải cẩn trọng về những việc làm của chúng ta, vì những việc làm này là hạt giống liên quan đến tính chất của các hành động mà chúng ta sẽ đón nhận kết quả ngọt hoặc đắng.

 

Có ba loại hành động: đó là hành động của thân, của lời nói và của ý nghĩ. Trong quá trình tu tập quán sát tự thân, chúng ta nhận ra ngay rằng hành động thuộc về tâm thức là quan trọng nhất, vì đây là hạt giống sẽ dẫn đến kết quả. Các hành động của thân và lời nói chỉ là: những hình chiếu của hành động thuộc về tâm, những thước đo để trắc đạt cường độ của tâm hành. Chúng phát sinh từ hành động thuộc về tâm, và kết quả của hành động này biểu hiện qua hành động của thân hoặc lời nói. Vì vậy đức Phật đã dạy:

 

Tâm dẫn đầu mọi hành động
Tâm làm chủ, tâm tạo
Nếu với tâm ô nhiễm
Nói lên hoặc hành động,
Khổ não sẽ theo sau
Như bánh xe theo chân vật kéo 
[2] .

 

Nếu với tâm thanh tịnh
Nói lên hoặc hành động
Hạnh phúc sẽ theo sau
Như bóng không rời hình 
[3].

 

Nếu đúng như thế, chúng ta cần biết tâm là gì và nó hoạt động như thế nào. Quý vị đã bắt đầu khảo sát hoạt động của tâm qua việc tu tập của chính mình. Khi hành trì, quý vị sẽ thấy có bốn yếu tố chính hoặc bốn chức năng phối hợp của tâm.

 

Chức năng thứ nhất gọi là Viññāna, có thể được dịch là ý thức (consciouness). Các cơ quan cảm giác sẽ không hoạt động nếu "ý thức" không có mặt ngay lúc các giác quan tiếp xúc với đối tượng. Ví dụ, nếu mắt chúng ta đang bị một vẻ đẹp cuốn hút, cùng lúc đó có một âm thanh phát ra nhưng có thể chúng ta sẽ không nghe được, vì tất cả ý thức của chúng ta đang tập trung ở mắt. Tâm thức trong chức năng này là để nhận thứchiểu biết, không có sự phân biệt. Khi tai nghe âm thanhý thức chỉ lưu ý đến âm thanh đang hiện hữu.

 

Sau đó chức năng kế tiếp của tâm bắt đầu làm việc: tức saññā có nghĩa là tưởng tri (perception). Một âm thanh phát ra, chúng ta nhận ra nó là nhờ trí nhớkinh nghiệm quá khứ: âm thanh của lời nói, …những tiếng khen … tốt; hoặc ngược lại, một âm thanh của lời chê bai, … lời nói xấu. Chúng ta đánh giá tốt hoặc xấu, theo kinh nghiệm quá khứ của chúng ta.

 

Ngay khi đó, chức năng thứ ba của tâm thức bắt đầu làm việc: đó là vedanā, có nghĩa là cảm thọ. Ngay khi âm thanh phát ra, có một cảm thọ xuất hiện trên thân thể, nhưng khi tưởng tri nhận ra âm thanh và đánh giá về âm thanh, cảm thọ lạc hoặc khổ tuỳ theo sự đánh giá này. Ví dụ như âm thanh của lời ca ngợitốt đẹp, và chúng ta cảm nhận một cảm thọ lạc tỏa khắp thân thể. Hoặc ngược lại; âm thanh của những lời chê bai,… xấu xa, chúng ta cảm nhận một cảm thọ bất lạc tỏa khắp thân thể. Những cảm thọ sinh khởi trên thân và được tâm cảm nhận; chức năng này gọi là vedanā.

 

Sau đó chức năng thứ tư của tâm thức bắt đầu làm việc: đó là sankhāra [4], có nghĩa là phản ứng. Khi nghe âm thanh của những lời khen ngợi… tốt đẹp… cảm thọ lạc khởi lên và chúng ta bắt đầu thích thú lời ca ngợi ấy: "Đây là lời khen ngợi tuyệt vời! Tôi muốn được khen nhiều hơn nữa!" Ngược lại: khi nghe âm thanh của những lời chê bai…xấu xa… cảm thọ bất lạc khởi lên và chúng ta khởi niệm không thích nó: "Tôi không thích lời chê bai này, hãy chấm dứt ngay!" Tại mỗi căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân, tiến trình tương tự như trên xảy ra. Cũng vậy, khi tâm suy nghĩ hoặc tưởng tượng một điều gì, một cảm thọ sinh khởi trong thân, lạc hoặc bất lạc, và chúng ta bắt đầu phản ứng bằng sự thích thú hoặc chán ghét cảm thọ đó. Sự thích thú này phát triển thành tham ái; và sự chán ghét phát triển thành ác cảm mạnh. Chúng ta bắt đầu bị những triền cái trong tâm trói buộc.

 

Ở đây, hành động là hột giống chắc thật dẫn đến kết quả: hạt giống này chính là sakhāra, phản ứng thuộc về tâm. Trong mỗi sát na chúng ta gieo trồng hột giống này rồi phản ứng bằng sự thích thú hoặc chán ghét, tham ái hoặc sân giận, và cứ như vậy chúng ta tự tạo ra khổ đau.

 

Có những phản ứng chỉ để lại ấn tượng rất nhẹ, và nó sẽ tan biến ngay tức thời, còn những phản ứng để lại ấn tượng mạnh hơn thì nó sẽ hoại diệt chậm hơn, và những phản ứng nào có ấn tượng mạnh nhất thì phải mất cả thời gian dài mới loại bỏ được. Cuối mỗi ngày, nếu chúng ta cố gắng ghi nhớ lại tất cả những phản ứng của tâm đã tạo ra, chúng ta chỉ có thể nhớ lại một hoặc hai phản ứng đã tạo ấn tượng mạnh nhất trong ngày. Cũng như vậy, cuối mỗi tháng hoặc mỗi năm, chúng ta có thể nhớ lại chỉ một hoặc hai phản ứng đã tạo ra ấn tượng sâu nhất trong thời gian ấy. Và đến cuối cuộc đời, chắc chắn những phản ứng thích thú hay chán ghét nào đã tạo thành ấn tượng mạnh nhất sẽ khởi lên trong tâm; và đời sống kế tiếp sẽ bắt đầu với tâm thức có cùng một tính chất ngọt hoặc đắng của đời sống trước. Từ những phản ứng, chúng ta tạo ra tương lai của chúng ta.

 

Thiền Minh Sát Tuệ dạy nghệ thuật chết: đó là làm thế nào để chết nhẹ nhàng và an lạc. Và chúng ta học nghệ thuật chết bằng cách học nghệ thuật sống: làm thế nào để tự chủ trong giây phút hiện tại, làm thế nào để không phản ứng ngay sát na hiện tại, và làm thế nào sống một cuộc đời hạnh phúc tại đây và ngay bây giờ. Nếu hiện tại bình an, chúng ta không cần lo lắng cho tương lai, tương lai chỉ là sản phẩm của hiện tại, và vì vậy tương lai chắc chắn sẽ tốt đẹp.

 

Có hai vấn đề liên quan đến phương pháp tu tập:

 

Vấn đề thứ nhất là quý vị đang phá vỡ chướng ngại vật giữa ý thứcvô thức. Thông thường, ý thức không biết những gì mà tâm vô thức đã kinh nghiệm. Do sự cản trở này, những phản ứng luôn xảy ra ở vô thức; khi những phản ứng này đạt đến mức độ nhận thức, chúng trở nên quá mạnh và có thể dễ dàng áp đảo tâm thức. Qua phương pháp tu tập này, tất cả những chức năng của tâm thức trở nên nhạy bén, tỉnh giác; nhờ đó vô minh sẽ được đoạn trừ.

 

Vấn đề thứ hai là tâm xả ly. Chúng ta tỉnh thức tất cả những gì chúng ta kinh nghiệm trong mỗi cảm thọ, nhưng đừng phản ứng lại, đừng tạo thêm tham ái hoặc sân giận, đừng làm khổ chính mình.

 

Khi bắt đầu ngồi thiền, hầu như quý vị thường phản ứng lại những cảm thọ, nhưng sẽ có một vài khoảnh khắc nào đó quý vị ở trong trạng thái tâm xả ly, mặc dầu quý vị cảm nhận đang rất đau. Những khoảnh khắc này có năng lực rất mạnh trong việc chuyển đổi những thói quen trong tâm. Dần dần quý vị sẽ đạt đến trạng thái quý vị có thể mỉm cười với bất cứ cảm thọ nào, nhận biết nó là vô thường (anicca), chắc chắn nó sẽ trôi qua.

 

Để đạt được trạng thái này, chính quý vị phải thực hành; không ai có thể tu tập thế cho quý vị. Quý vị đã bước vào giai đoạn đầu của con đường tu tập này là điều rất tốt. Hãy tiếp tục tiến bước, tuần tự từng bước một, hướng đến giải thoát cho chính mình.

 

Cầu mong tất cả quý vị vui với chân hạnh phúc.
Cầu mong tất cả chúng sanh được an vui.

 

Ghi chú:

 

[1] Ganges là sông Hằng, được xem là dòng sông thiêng liêng nhất của Ấn Độ, biểu tượng của chân lý vĩnh hằng.

 

[2] Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu, câu 1.

 

[3] Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu, câu 2.

 

[4] Sankhāra: thông thường thuật ngữ này được dịch là "hành", cùng với sắc, thọ, tưởng và thức gọi là hợp thể ngũ uẩn của mỗi con người. Và nó là chi phần thứ hai trong ‘Thập nhị nhân duyên’. Nó là hành vi thuộc về tâm, có khả năng chi phốiảnh hưởng đến hành vi của lời nóithân thể. Một chức năng quan trọng khác của nó là ‘phản ứng’ lại các đối tượng của sáu giác quan qua cộng tác với ý thức, tưởng tri và cảm thọ. Trong phạm vi của mười bài giảng này nó được dùng trong ý nghĩa ‘phản ứng’ lại các cảm thọ.

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 1027)
02 Tháng Bảy 201911:36 SA(Xem: 1766)
Đức Đạt Lai Lạt Ma (được dịch là "Trí Tuệ Như Biển") đời thứ 14, sinh ngày 6/7/1935, tên ngài lúc mới sinh là Lhamo Thondup. The 14th Dalai Lama (loosely translated "Ocean of Wisdom") was born Lhamo Thondup on July 6, 1935.
08 Tháng Bảy 20209:02 CH(Xem: 25)
"Tôi nghĩ rằng chúng ta nên nhấn mạnh đến sự đồng nhất, sự giống nhau ... nhấn mạnh đến điều đó", nhà sư đoạt giải Nobel Hòa bình nói. Đôi khi, ông nói, chúng ta đặt nặng quá nhiều vào "sự khác biệt nhỏ" và "điều đó tạo ra vấn đề". ("I think we should emphasize oneness, sameness...emphasize that," says the Nobel Peace Prize winning monk.
07 Tháng Bảy 202010:00 CH(Xem: 85)
Trong thế giới chúng ta sống hôm nay, các quốc gia không còn cô lập và tự cung cấp như xưa kia. Tất cả chúng ta trở nên phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì thế, càng phải nhận thức nhiều hơn về tính nhân loại đồng nhất. Việc quan tâm đến người khác là quan tâm chính mình. Khí hậu thay đổi và đại dịch hiện nay, tất cả chúng ta bị đe doạ,
05 Tháng Bảy 20208:28 CH(Xem: 149)
Tâm biết có hai phương diện: Tánh biết và tướng biết. Tánh biết vốn không sinh diệt, còn tướng biết tuỳ đối tượng mà có sinh diệt. Khi khởi tâm muốn biết tức đã rơi vào tướng biết sinh diệt. Khi tâm rỗng lặng hồn nhiên, tướng biết không dao động thì tánh biết tự soi sáng. Lúc đó tánh biết và tướng biết tương thông,
04 Tháng Bảy 20202:37 CH(Xem: 151)
Từ yoniso nghĩa là sáng suốt, đúng đắn. Manasikāra nghĩa là sự chú ý. Khi nào chú ý đúng đắn hợp với chánh đạo, đó là như lý tác ý; khi nào chú ý không đúng đắn, hợp với tà đạo, đó là phi như lý tác ý. Khi chú ý đến các pháp khiến cho năm triền cái phát sanh là phi như lý tác ý, trái lại khi chú ý đến các pháp mà làm hiện khởi
03 Tháng Bảy 20207:32 CH(Xem: 159)
Trước hết cần xác định “tác ý” được dịch từ manasikāra hay từ cetanā, vì đôi lúc cả hai thuật ngữ Pāli này đều được dịch là tác ý như nhau. Khi nói “như lý tác ý” hoặc “phi như tác ý” thì biết đó là manasikāra, còn khi nói “tác ý thiện” hoặc “tác ý bất thiện” thì đó là cetanā. Nếu nghi ngờ một thuật ngữ Phật học Hán Việt thì nên tra lại
02 Tháng Bảy 20206:13 CH(Xem: 190)
Bạn nói là bạn quá bận rộn để thực tập thiền. Bạn có thời gian để thở không? Thiền chính là hơi thở. Tại sao bạn có thì giờ để thở mà lại không có thì giờ để thiền? Hơi thở là thiết yếu cho đời sống. Nếu bạn thấy rằng tu tập Phật pháp là thiết yếu trong cuộc đời, bạn sẽ thấy hơi thởtu tập Phật pháp là quan trọng như nhau.
01 Tháng Bảy 20205:53 CH(Xem: 225)
Khi con biết chiêm nghiệm những trải nghiệm cuộc sống, con sẽ thấy ra ý nghĩa đích thực của khổ đau và ràng buộc thì con sẽ có thể dễ dàng tự do tự tại trong đó. Thực ra khổ đau và ràng buộc chỉ xuất phát từ thái độ của tâm con hơn là từ điều kiện bên ngoài. Nếu con tìm thấy nguyên nhân sinh khổ đau ràng buộc ở trong thái độ tâm
30 Tháng Sáu 20209:07 CH(Xem: 201)
Cốt lõi của đạo Phật khác với các tôn giáo khác ở chỗ, hầu hết các tôn giáo khác đều đưa ra mục đích rồi rèn luyện hay tu luyện để trở thành, để đạt được lý tưởng nào đó. Còn đạo Phật không tu luyện để đạt được cái gì cả. Mục đích của đạo Phậtgiác ngộ, thấy ra sự thật hiện tiền tức cái đang là. Tất cả sự thật đều bình đẳng,
29 Tháng Sáu 20208:36 CH(Xem: 198)
Theo nguyên lý thì tụng gì không thành vấn đề, miễn khi tụng tập trung được tâm ý thì đều có năng lực. Sự tập trung này phần lớn có được nhờ đức tin vào tha lực. Luyện bùa, trì Chú, thôi miên, niệm Phật, niệm Chúa, thiền định, thần thông v.v… cũng đều cần có sức mạnh tập trung mới thành tựu. Tưởng đó là nhờ tha lực nhưng sức mạnh
28 Tháng Sáu 20209:36 CH(Xem: 209)
Giác ngộvô minh thì thấy vô minh, minh thì thấy minh… mỗi mỗi đều là những cái biểu hiện để giúp tâm thấy ra tất cả vốn đã hoàn hảo ngay trong chính nó. Cho nên chỉ cần sống bình thường và thấy ra nguyên lý của Pháp thôi. Sự vận hành của Pháp vốn rất hoàn hảo trong những cặp đối đãi – tương sinh tương khắc – của nó.
27 Tháng Sáu 20206:31 CH(Xem: 216)
Thầy có ví dụ: Trong vườn, cây quýt nhìn qua thấy cây cam nói nói tại sao trái cam to hơn mình. Và nó ước gì nó thành cây cam rồi nó quên hút nước và chết. Mình thường hay muốn thành cái khác, đó là cái sai. Thứ hai là mình muốn đốt thời gian. Như cây ổi, mình cứ lo tưới nước đi. Mọi chuyện hãy để Pháp làm. Mình thận trọng,
26 Tháng Sáu 20209:57 CH(Xem: 202)
Từ đó tôi mới hiểu ý-nghĩa này. Hóa ra trong kinh có nói những cái nghĩa đen, những cái nghĩa bóng. Có nghĩa là khi một người được sinh ra trên thế-gian này, dù người đó là Phật, là phàm-phu, là thánh-nhân đi nữa, ít nhất đầu tiên chúng ta cũng bị tắm bởi hai dòng nước, lạnh và nóng, tức là Nghịch và Thuận; nếu qua được
25 Tháng Sáu 202010:14 CH(Xem: 234)
trí nhớ là tốt nhưng đôi khi nhớ quá nhiều chữ nghĩa cũng không hay ho gì, nên quên bớt ngôn từ đi, chỉ cần nắm được (thấy ra, thực chứng) cốt lõi lý và sự thôi lại càng tốt. Thấy ra cốt lõi tinh tuý của sự thật mới có sự sáng tạo. Nếu nhớ từng lời từng chữ - tầm chương trích cú - như mọt sách rồi nhìn mọi sự mọi vật qua lăng kính
24 Tháng Sáu 202010:08 CH(Xem: 242)
Kính thưa Thầy, là một người Phật Tử, mỗi khi đi làm phước hay dâng cúng một lễ vật gì đến Chư Tăng thì mình có nên cầu nguyện để mong được như ý mà mình mong muốn không? Hay là để tâm trong sạch cung kính mà dâng cúng không nên cầu nguyện một điều gì? Và khi làm phước mà mong được gieo giống lành đắc Đạo quả
23 Tháng Sáu 20207:24 CH(Xem: 277)
Tất cả chúng ta sẽ phải đối mặt với cái chết, vì vậy, không nên bỏ mặc nó. Việc có cái nhìn thực tế về cái chết của mình sẽ giúp ta sống một đời trọn vẹn, có ý nghĩa. Thay vì hấp hối trong sự sợ hãi thì ta có thể chết một cách hạnh phúc, vì đã tận dụng tối đa cuộc sống của mình. Qua nhiều năm thì cơ thể của chúng ta đã thay đổi.
22 Tháng Sáu 20209:23 CH(Xem: 297)
Đúng là không nên nhầm lẫn giữa luân hồi (saṃsāra) và tái sinh (nibbatti). Tái sinh là sự vận hành tự nhiên của vạn vật (pháp hữu vi), đó là sự chết đi và sinh lại. Phàm cái gì do duyên sinh thì cũng đều do duyên diệt, và rồi sẽ tái sinh theo duyên kế tục, như ví dụ trong câu hỏi là ngọn lửa từ bật lửa chuyển thành ngọn lửa
21 Tháng Sáu 20208:58 CH(Xem: 263)
Trong Tăng chi bộ, có một lời kinh về bản chất chân thật của tâm: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” cùng với ý nghĩa “cội nguồn” của “yoni” trong “yoniso mananikara” là hai y cứ cho tựa sách “Chói sáng cội nguồn tâm”. Tựa đề phụ “Cách nhìn toàn diện hai chiều vô vihữu vi của thực tại”
20 Tháng Sáu 20203:42 CH(Xem: 336)
Trong tu tập nhiều hành giả thường cố gắng sắp đặt cái gì đó trước cho việc hành trì của mình, như phải ngồi thế này, giữ Tâm thế kia, để mong đạt được thế nọ… nhưng thật ra không phải như vậy, mà là cứ sống bình thường trong đời sống hàng ngày, ngay đó biết quan sát mà thấy ra và học cách hành xử sao cho đúng tốt là được.
19 Tháng Sáu 20204:48 CH(Xem: 330)
Lúc còn nhỏ, khi đến thiền viện, tôi phải có cha mẹ đi cùng, và không được đi hay ngồi chung với các sư. Khi các sư giảng Pháp, tôi luôn ngồi bên dưới, chỉ đủ tầm để nghe. Vị thiền sư đáng kính dạy chúng tôi cách đảnh lễ Đức Phậttụng kinh xưng tán ân đức của Ngài. Thiền sư khuyến khích chúng tôi rải tâm từ cho mọi chúng sinh,
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1265)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2841)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4353)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Sáu 20205:26 CH(Xem: 438)
I am very impressed by the thoroughness and care with which Dr. Thynn Thynn explains the path of mindfulness in daily life in her book. This has not been emphasized as strongly in the monastic and meditative teachings of Buddhism that have taken root in the West.
11 Tháng Sáu 20205:08 CH(Xem: 442)
Tôi rất cảm phục Bs Thynn Thynn khi bà đã tận tình giải thích thấu đáo, trong quyển sách của bà, về cách sống tỉnh giác trong đời sống thường ngày. Trước đây, điểm nầy chưa được nhấn mạnh đúng mức trong giáo lý Phật-đà tại các thiền việntu việnTây phương. Trong thực tế, phần lớn các phương pháp tu hành ở Á châu đều theo
14 Tháng Năm 202010:20 CH(Xem: 631)
Trong mấy năm qua, một vài ông bà — cụ thể là Mary Talbot, Jane Yudelman, Bok Lim Kim và Larry Rosenberg—đã đề nghị tôi “Khi nào Sư sẽ viết hướng dẫn về hành thiền hơi thở?” Tôi đã luôn nói với họ rằng cuốn Giữ Hơi Thở Trong Tâm (Keeping the Breath in Mind) của Ajaan Lee là hướng dẫn thực hành tuyệt vời, nhưng họ
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 636)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 638)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 745)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1061)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1273)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1149)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.