05. Bài giảng ngày thứ năm

06 Tháng Ba 20209:41 SA(Xem: 169)
05. Bài giảng ngày thứ năm

KhoaMuoiNgay_ANhững Bài Giảng Cương Yếu Của 
Khóa Mười Ngày Tu Tập Thiền Minh Sát Tuệ
The Discourse Summaries of S. N. Goenka (1994)
S.N. Goenka -Tóm Lược: William Hart 
Thích Minh Diệu dịch
Source-Nguồn: saraniya.com, budsas.org, dieungu.org
____________________
-----------------------------

 

 

BÀI GIẢNG NGÀY THỨ NĂM

 

- Bốn sự thật cao thượng: Sự thật về khổ, sự thật về nguyên nhân của khổ, sự thật về sự đoạn diệt khổ và sự thật về con đường dẫn đến đoạn diệt khổ.
- Vòng duyên khởi có điều kiện

 

Ngày thứ năm đã qua; quý vị còn năm ngày tu tập nữa. Hiểu biết đúng phương pháp tu tập, quý vị hãy cố gắng nỗ lực hành trì trong những ngày còn lại.

 

Bắt đầu quán sát theo dõi hơi thở trong một khu vực giới hạn, quý vị đã thực tập quán sát những cảm thọ trên toàn thân. Khi bắt đầu quán sát, chúng ta sẽ tiếp xúc những cảm thọ thô, cứng ngắt, khốc liệt, chán ghét như cảm thọ đau, cảm thọ căng thẳng v.v... Trước đây, quý vị đã kinh qua những cảm thọ này, nhưng quý vị có thói quen phản ứng lại cảm thọ, đắm nhiễm cảm thọ lạc và vướng kẹt cảm thọ khổ, và quý vị luôn luôn bị khuấy động. Giờ đây quý vị đang hành trì phương cách quán sát mà không phản ứng lại, khảo sát các cảm thọ một cách khách quan, không đồng nhất với chúng nó.

 

Đau khổ vẫn còn tồn tạihiện hành. Khóc than sẽ không vơi đi đau khổ. Làm sao chúng ta đoạn trừ được khổ đau? Làm sao chúng ta sống với khổ đau?

 

Một vị bác sĩ đang điều trị cho bệnh nhân, ông cần phải biết căn bịnh của bệnh nhân, và đâu là nguồn gốc của căn bệnh. Nếu tìm ra nguyên nhân của căn bệnh, bác sĩ cần phảiphương pháp trừ khử. Một khi nguyên nhân đã trừ khử rồi, căn bệnh tự động sẽ lành. Vì vậy chúng ta phải thực tập từng bước sau đây để loại trừ nguyên nhân.

 

Trước hết chúng ta phải chấp nhận sự thật khổ. Khổ hiện hữumọi nơi; sự thật này hiển bày ở tất cả. Nhưng chân lý về khổ trở thành sự thật chỉ khi chúng ta bắt đầu quán sát nó mà không phản ứng lại, bởi vì bất cứ ai thực hành như vậy chắc chắn sẽ trở thành một người cao thượng, một bậc thánh.

 

Khi chúng ta bắt đầu quán sát sự thật tối thượng thứ nhất, sự thật về khổ, ngay khi đó nguyên nhân của khổ hiển bày rõ ràng, và chúng ta cũng bắt đầu quán sát nó. Đây là sự thật tối thượng thứ hai. Nếu nguyên nhân của khổ được đoạn trừ thì khổ cũng được đoạn trừ. Đây là sự thật tối thượng thứ ba - sự đoạn trừ khổ đau. Để đoạn trừ khổ, chúng ta phải tu tập những phương thức đoạn trừ khổ. Đây là sự thật tối thượng thứ tư - con đường dẫn đến chấm dứt khổ ngang qua việc đoạn trừ các nguyên nhân của nó.

 

Chúng ta bắt đầu tập quán sát không phản ứng lại. Quý vị quán sátchiêm nghiệm sự đau khổ của bản thân một cách khách quan, như thể quý vị đang quán sát sự đau khổ của người khác. Xem xét nó kỹ lưỡng như một nhà khoa học đang tiến hành cuộc thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. Khi quý vị bị thất bại, hãy cố gắng trở lại. Luôn nỗ lực, và quý vị sẽ thấy quý vị đang đi dần ra khỏi khổ đau.

 

Mọi chúng sanh đều phải chịu khổ đau. Cuộc đời khởi đầu bằng tiếng khóc; sanh là nỗi khổ lớn. Và bất cứ ai đã sinh ra thì ắt hẳn phải chịu những khổ đau của bệnh và tuổi giàĐời sống của chúng ta dù khổ thế nào đi nữa cũng không ai muốn chết, vì chết là nỗi khổ lớn.

 

Suốt cuộc đời, chúng ta đối diện những gì mà chúng ta không thích, và bị tách xa những gì mà chúng ta thương mến. Những gì chúng ta không mong muốn lại đến, những gì chúng ta mong muốn lại không đến, và chúng ta cảm thấy đau khổ.

 

Nếu chỉ hiểu biết sự thật khổ trên lĩnh vực tri thức, chúng ta không thể nào giải thoát khổ đau được. Tri thức chỉ có thể cung cấp chúng ta một động lực để tự nhìn lại chính mình, để chiêm nghiệm sự thậttìm ra con đường thoát khổ. Đây là phương phápThái Tử Siddhatha Gotama thực hành để trở thành một vị Phật: Ngài đã bắt đầu quán sát thực tại ngay tự thân giống như một nhà nghiên cứu khoa học, di chuyển sự quán sát thực tại từ thô, bên ngoài đến thực tại vi tế hơn và cuối cùngthực tại vi tế nhất. Ngài đã khám phá ra rằng bất cứ khi nào chúng ta sinh khởi tham ái, chấp thủ một cảm thọ lạc hoặc từ bỏ một cảm thọ bất lạc, và khi tham ái đó không được thỏa mãn, chúng ta bắt đầu khổ đau. Và xa hơn nữa, ở cấp độ vi tế nhất, khi chánh niệm quán sát, Ngài thấy rằng chính tham đắm năm thủ uẩn, năm tập hợp tạo thành thân này là khổ. Qua tư duy, chúng ta có thể hiểu rằng sắc uẩn hay thân thể, không phải là "Ta", không phải "của Ta", vì sắc uẩn chỉ là hiện tượng khách quan, nó luôn thay đổi vượt ngoài khả năng kiểm soát của chúng ta; tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta đánh đồng chính mình với thân thể (sắc uẩn), và khởi tâm tham đắm nó. Tương tự chúng ta tập nhiễm tham đắm đối với bốn thủ uẩn còn lại: đó là thức uẩn, tưởng uẩn, thọ uẩn, hành uẩn, và chấp thủ chúng "là Ta", "của Ta" cho dù bản chất của chúng luôn liên tục thay đổi. Vì mục đích tự lợi chúng ta quen dùng những từ "Ta" và "của Ta", nhưng khi nào chúng ta tham đắm năm thủ uẩn thì khi đó chúng ta tạo ra đau khổ cho bản thân. Bất cứ nơi nào có tham đắm, nơi đó chắc chắn có đau khổ sinh ra, và tham đắm bao nhiêu thì khổ não sẽ bấy nhiêu.

 

Có bốn loại tham luyến có mặt trong cuộc sống mà chúng ta luôn duy trì và phát triển chúng. Thứ nhất, do thói quen tham ái, chúng ta thường tham luyến những khát vọng. Bất cứ khi nào tâm tham ái sinh khởi, nó kết hợp với một thân cảm thọ. Mặc dầu ở độ sâu, tâm rung động đã phát sinh, ở cấp độ bên ngoài, chúng ta cũng khởi tâm thích thú và mong muốn cảm thọ tiếp tục còn mãi. Tham ái có thể ví như việc thích thú cào gãi một vết thương đang ngứa: cào gãi như vậy chỉ làm cho vết thương trầm trọng thêm, tuy nhiên chúng ta vẫn thích thú cảm thọ cào gãi ấy. Cũng như vậy, ngay khi khát ái được thỏa mãn, cảm thọ phối hợp với khát ái cũng tan biến, và cứ thế chúng ta tạo ra khát ái mới theo cách đó để cảm thọ có thể tiếp tục. Chúng ta đắm chìm trong tham ái và tạo thêm đau khổ cho chính mình.

 

Một tham luyến khác là sự chấp thủ "cái Ta" và "cái của Ta", không nhận ra thật thể "cái Ta" là gì. Chúng ta không thể chịu đựng bất cứ phê bình hoặc điều gì có hại đến "cái Ta". Và sự tham luyến bao trùm lên bất cứ những gì liên quan đến "cái Ta" và "cái của Ta". Tham luyến này sẽ không dẫn đến đau khổ nếu bất cứ những gì liên quan đến "cái của Ta" có thể tồn tại vĩnh viễn, và "cái Ta" cũng có thể tồn tại để vui thú mãi mãi với nó, nhưng theo qui luật tự nhiên, sớm muộn gì "cái Ta" hoặc "cái của Ta" cũng phải tuân theo qui luật vô thường. Tham luyến những gì thuộc vô thường, chắc chắn chúng sẽ mang lại khổ đau. Tương tự, chúng ta chấp thủ quan điểmniềm tin của mình, và không thể chịu đựng nổi bất cứ sự phê bình chỉ trích nào, hoặc ngay cả chấp nhận những người khác quan điểm với chúng ta. Chúng ta không hiểu rằng mỗi người đang mang một cặp kính màu khác nhau. Thay vì tháo cặp kính màu ra, chúng ta sẽ thấy rõ sự thật như nó đang hiển bày, không bị che phủ, nhưng ở đây chúng ta vẫn cố chấp màu sắc của cặp kính, chấp giữ những định kiếnniềm tin cá nhân.

 

Còn một tham luyến khác nữa là chúng ta chấp thủ vào những nghi lễ, hình thức, và các nghi thức hành trì của tôn giáo. Chúng ta sai lầm vì không biết rằng, tất cả những thứ này chỉ là hình thức bề ngoài và không chứa đựng gì cốt lõi của chân lý. Nếu một người được hướng dẫn phương pháp tu tập để kinh nghiệm trực tiếp sự thậtbản thân nhưng anh ta vẫn tiếp tục chấp thủ những hình thức trống rỗng bề ngoài ấy, chấp thủ này sẽ tạo ra tranh đấu và khổ đau trong anh ta.

 

Nếu được quán sát kỹ chúng ta sẽ thấy rằng tất cả khổ đau trong cuộc đời phát sinh từ một trong bốn tham chấp trên. Đây là những yếu tốThái tử Siddhattha Gotama đã khám phá trong suốt hành trình tìm cầu chân lý. Vẫn chưa hết Ngài tiếp tục quát sát tự thân để khám phá nguyên nhân sâu xa của khổ đau, để hiểu và tìm ra căn nguyên của toàn bộ tiến trình vận hành.

 

Dĩ nhiên, những nỗi khổ trong cuộc đời như sanh, già, chết, khổ đau của thân và tâm, là kết quả tất yếu của kiếp người trót đã được sinh ra. Như thế, nguyên nhân của sinh là gì? Dĩ nhiên, nguyên nhân trực tiếp của sinh là sự phối hợp sinh lý của cha mẹ, nhưng xét trên phương diện rộng hơn, sinh xảy ra vì tiến trình liên kết hình thành của toàn bộ vũ trụ. Ngay lúc chết tiến trình sinh vẫn không chấm dứt: nghĩa là thân thể tiếp tục suy mòn, tiếp tục phân rã, trong khi tâm thức đã nối kết với một thân thể mới, và tiếp tục dòng vận hành sinh thành. Và tại sao lại có tiến trình sinh thành này? Đức phật đã liễu tri nguyên nhân của sinh chính là tham áichúng ta đã huân tập. Do tham ái, chúng ta đã tạo ra những phản ứng mạnh, sankhārā, và chính phản ứng này đã tạo ra ấn tượng mạnh trong tâm thức của chúng ta. Vào lúc chấm dứt cuộc đời, một trong những ấn tượng này sinh khởi trong tâm và sẽ tạo ra một lực đẩy để cho dòng tâm thức tiếp tục hoạt động.

 

Ở đây nguyên nhân của tham luyến này là gì? Ngài đã phát hiện ra rằng tham luyến sinh ra là do các phản ứng thương - ghét liên tục xảy ra. Thương phát triển thành tham ái; và ghét phát triển thành sân hận. Và tại sao lại có những phản ứng thương - ghét này liên tục xảy ra? Bất cứ ai quán sát chính mình sẽ thấy rằng chúng xảy ra là do những cảm thọ về thân. Bất cứ khi nào một lạc thọ khởi lên, chúng ta thích nó, muốn giữ nó và muốn nó nhiều hơn nữa. Khi nào một cảm thọ khổ sinh khởi, chúng ta không thích và muốn loại trừ nó đi. Và tại sao lại có những cảm thọ này? Rõ ràng chúng sinh khởi do sự tiếp xúc của một giác quan nào đó với đối tượng: như mắt tiếp xúc hình sắc, tai với âm thanh, mũi với hương, lưỡi với vị, thân thể với xúc chạm, ý thức với một tư tưởng hoặc sự tưởng tượng. Ngay khi xúc sinh ra, chắc chắn một cảm thọ sẽ sinh khởi: đó là lạc thọ, khổ thọ, hoặc bất khổ bất lạc thọ.

 

nguyên nhân của xúc là gì? Tất nhiên, tất cả vật thể trong vũ trụ là những đối tượng của các giác quan. Một khi sáu giác quan (năm giác quan thuộc về thân và một giác quan thuộc về ý thức) còn hiện hành, ắt hẳn chúng phải tiếp xúc với đối tượng tương ứng của chúng. Và tại sao những giác quan này có mặt? Rõ ràng rằng chúng là những bộ phận không thể tách rời dòng hiện hành của sắc (thân thể) và tâm; chúng sinh ra ngay lúc đời sống bắt đầu. Và tại sao dòng vận hành đời sống, dòng vận hành của thân và tâm xảy ra? Vì sự vận hành của tâm thức, từ sát na này đến sát na khác, từ đời sống này đến đời sống khác. Và tại sao có dòng vận hành của tâm thức này? Ngài đã thấy rằng nó sinh khởi là vì những phản ứng thuộc về tâm (sankhārā). Mỗi phản ứng tạo ra một lực đẩy cho dòng tâm thức vận hành; sự vận hành này tiếp tục được tạo ra do sự thúc đẩy của những phản ứng (sankhārā). Và tại sao những phản ứng này xảy ra? Ngài thấy rằng chúng sinh ra vì vô minh. Chúng ta không biết những điều chúng ta đang làm, không biết chúng ta phải phản ứng như thế nào, vì vậy chúng ta liên tục tạo ra sankhārā. Hễ vô minh còn hiện hữu thì khổ đau còn tồn tại.

 

Nguồn gốc và nguyên nhân sâu xa nhất của vòng luân hồi khổ là vô minh. Do vô minh, mười một yếu tố còn lại của vòng luân hồi vận hành, do sự vận hành này chúng ta tự tạo ra khổ đau chất chồng như núi. Nếu vô minh có thể được đoạn trừ, khổ đau sẽ được đoạn trừ.

 

Làm thế nào chúng ta có thể nhận ra vòng luân hồi đau khổ này? Làm thế nào chúng ta có thể phá vỡ vòng luân hồi? Dòng vận hành của đời sống, của thân và tâm, đã hiện hữu. Tự tử sẽ không giải quyết được vấn đề mà chỉ tạo ra khổ đau mới mà thôi. Chúng ta cũng không thể hoại diệt các giác quan mà không hoại diệt thân thể. Bất cứ khi nào các giác quan còn hiện hành, chắc chắn chúng sẽ tiếp xúc với các đối tượng tương ứng, và khi nào có tiếp xúc, chắc chắn cảm thọ sẽ khởi lên trong thân.

 

Tại đây và bây giờ, ngay lúc cảm thọ, chúng ta có thể phá vỡ vòng luân hồi. Trước đây, mỗi cảm thọ tạo ra phản ứng thích thú hoặc chán ghét, chính thích thú hoặc chán ghét này phát triển thành tham ái hoặc sân giận, gây ra nhiều khổ não. Nhưng bây giờ, thay vì phản ứng lại cảm thọ, quý vị chỉ thực hành quán sát cảm thọ trong niệm xả ly, và tuệ tri rằng: "Cảm thọ này rồi cũng sẽ biến đổi." Quán sát cảm thọ theo cách này chắc chắn trí tuệ phát sinh, thấu đạt vô thường (anicca). Chúng ta làm vòng vận hành của bánh xe đau khổ dừng lại và bắt đầu quay nó theo hướng ngược lại, hướng đến giải thoát.

 

Bất cứ sát na nào chúng ta không tạo ra phản ứng mới (sankhārā), một trong những phản ứng cũ sẽ sinh khởi lên bề mặt của tâm thức kết hợp với phản ứng vừa sinh ra, một cảm thọ sẽ sinh ra trong thân. Nếu chúng ta giữ tâm xả ly, cảm thọ này sẽ tan biến và một phản ứng cũ khác sinh ra tại vị trí của nó. Chúng ta tiếp tục giữ sự xả ly đối với những cảm thọ trên thân, những phản ứngtiếp tục sinh ra và tan biến, cái này nối tiếp cái kia. Nếu vì vô minh chúng ta phản ứng lại những cảm thọ, kết quả chúng ta sẽ tạo ra nhiều sankhārā, tạo ra nhiều đau khổ cho bản thân. Nhưng nếu chúng ta phát triển trí tuệ và không phản ứng lại với các cảm thọ, khi đó lần lượt những sankhārā và khổ đau sẽ được đoạn trừ.

 

Toàn bộ tiến trình là phương hướng dẫn đến đoạn trừ khổ đau. Khi hành trì, quý vị sẽ thấy rằng quý vị không còn tạo ra trói buộc mới, và những trói buộc cũ tự động mở ra. Tuần tự, quý vị sẽ tiến triển đến một giai đoạn, nơi đó tất cả sankhārā dẫn đến đời sống mới và khổ đau mới đều được đoạn trừ: đó là giai đoạn chứng ngộgiải thoát viên mãn.

 

Bước vào tu tập, chúng ta không cần thiết phải tin vào những kiếp sống quá khứvị lai. Trong việc hành trì thiền Minh Sát Tuệ, sống với giây phút hiện tại là điều quan trọng nhất. Ở đây, trong kiếp sống này, chúng ta liên tục tạo ra sankhārā, tạo ra khổ đau cho bản thân. Nếu quý vị hành trì, chắc chắn rằng một ngày nào đó quý vị sẽ nói rằng quý vị đã đoạn trừ hết tất cả sankhārā cũ, đã không còn tạo ra sankhārā mới nữa, và như thế chính quý vị đã giải thoát ra khỏi mọi khổ đau.

 

Để đạt được mục đích này, quý vị phải tự mình tu tập. Vì vậy hãy tinh tấn hành trì trong năm ngày còn lại để loại trừ khổ đau, và hân hoan với niềm vui giải thoát.

 

Cầu mong tất cả quý vị an vui với chân hạnh phúc.
Cầu mong tất cả chúng sanh được hạnh phúc.

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 405)
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 682)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 798)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 677)
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 161)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 180)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 159)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
27 Tháng Ba 20203:30 CH(Xem: 123)
TRÌNH BÀY TÓM LƯỢC 4 CÕI - Trong 4 loại ấy, gọi là 4 cõi. Tức là cõi khổ, cõi vui, Dục-giới, Sắc-giới, cõi Vô-sắc-giới. NÓI VỀ 4 CÕI KHỔ - Trong nhóm 4 cõi ấy, cõi khổ cũng có 4 là: địa ngục, Bàng sanh, Ngạ quỉ và Atula. NÓI VỀ 7 CÕI VUI DỤC GIỚI -
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 178)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
24 Tháng Ba 20202:32 CH(Xem: 190)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Đức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận - Khināsava, bậc đã đoạn trừ mọi lậu hoặc. Chính vì thế, người đi tìm chân lý cần phải hiểu rõ những lậu hoặc này là gì, và làm cách nào để loại trừ được nó.
23 Tháng Ba 20203:56 CH(Xem: 219)
Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chímục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được
22 Tháng Ba 20209:08 CH(Xem: 177)
Everyone is aware of the benefits of physical training. However, we are not merely bodies, we also possess a mind which needs training. Mind training or meditation is the key to self-mastery and to that contentment which brings happiness. Of all forces the force of the mind is the most potent. It is a power by itself. To understand the real nature
21 Tháng Ba 20209:58 CH(Xem: 214)
Chúng ta lấy làm phấn khởi mà nhận thấy rằng hiện nay càng ngày người ta càng thích thú quan tâm đến pháp hành thiền, nhất là trong giới người Tây phương, và pháp môn nầy đang phát triễn mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học khuyên
20 Tháng Ba 20208:30 CH(Xem: 190)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc
17 Tháng Ba 20205:51 CH(Xem: 314)
Mindfulness with Breathing is a meditation technique anchored In our breathing, it is an exquisite tool for exploring life through subtle awareness and active investigation of the breathing and life. The breath is life, to stop breathing is to die. The breath is vital, natural, soothing, revealing. It is our constant companion. Wherever we go,
16 Tháng Ba 20204:16 CH(Xem: 304)
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thởđời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện.
15 Tháng Ba 202012:00 CH(Xem: 251)
Phật giáođạo Phật là những giáo lý và sự tu tập để dẫn tới mục tiêu rốt ráo của nó là giác ngộgiải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, (a) mọi người thế tục đều đang sống trong các cộng đồng dân cư, trong các tập thể, đoàn thể, và trong xã hội; và (b) những người xuất gia dù đã bỏ tục đi tu nhưng họ vẫn đang sống tu
13 Tháng Ba 20209:16 CH(Xem: 227)
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số người xem thiền như là một thứ có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem nó như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh,
12 Tháng Ba 20209:36 SA(Xem: 348)
Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipaṭṭhāna được xem là bài kinh quan trọng nhất trên phương diện thực hành thiền Phật giáo. Các thiền phái Minh Sát, dù khác nhau về đối tượng quán niệm, vẫn không xa khỏi bốn lĩnh vực: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp mà Đức Phật
10 Tháng Ba 20202:09 CH(Xem: 320)
Giới học thiền ở nước ta mấy thập niên gần đây đã bắt đầu làm quen với thiền Vipassanā. Số lượng sách báo về chuyên đề này được dịch và viết tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta đã thấy tính chất phong phú đa dạng của Thiền Minh Sát hay còn gọi là Thiền Tuệ hoặc Thiền Quán này. Thiền Vipassanā luôn có một nguyên tắc nhất quán
10 Tháng Ba 202010:20 SA(Xem: 305)
Trong tất cả các thiền sư cận đại, bà Achaan Naeb là một thiền sư đặc biệt hơn cả. Bà là một nữ cư sĩ đã từng dạy thiền, dạy đạo cho các bậc cao tăng, trong đó có cả ngài Hộ Tông, Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cũng đã từng theo học thiền với bà một thời gian. Năm 44 tuổi, Bà đã bắt đầu dạy thiền
08 Tháng Ba 202011:08 SA(Xem: 259)
A.B.: Đầu tiên, khi họ hỏi Sư: “Sư có muốn nhận giải thưởng này không?” và Sư đã đồng ý. Nhưng phản ứng đầu tiên ngay sau đó là: “Tại sao Sư lại muốn nhận giải thưởng này? Sư là một nhà Sư Phật Giáo, đây là việc một nhà Sư (cần phải) làm. Là một nhà Sư, chúng ta đi truyền giáo, đi phục vụ, và chúng ta không nhất thiết phải đòi hỏi
07 Tháng Ba 20205:16 CH(Xem: 332)
Biên tập từ các bài pháp thoại của ngài Thiền sư Ajahn Brahmavamso trong khóa thiền tích cực 9 ngày, vào tháng 12-1997, tại North Perth, Tây Úc. Nguyên tác Anh ngữ được ấn tống lần đầu tiên năm 1998, đến năm 2003 đã được tái bản 7 lần, tổng cộng 60 ngàn quyển. Ngoài ra, tập sách này cũng đã được dịch sang tiếng Sinhala
06 Tháng Ba 20209:21 SA(Xem: 333)
Trước khi nói về phương pháplợi ích của thiền Minh Sát Tuệ, chúng ta cần điểm qua một số vấn đề liên quan đến "pháp môn thiền định" Phật giáo. Gần đây, dường như pháp môn thiền của Phật giáo bị lãng quên và không còn đóng vai trò quan trọng
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 699)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2290)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3682)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 161)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 180)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 159)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 352)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 521)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 507)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 711)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 883)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 6015)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;