05. Bài giảng ngày thứ năm

06 Tháng Ba 20209:41 SA(Xem: 1241)
05. Bài giảng ngày thứ năm

KhoaMuoiNgay_ANhững Bài Giảng Cương Yếu Của 
Khóa Mười Ngày Tu Tập Thiền Minh Sát Tuệ
The Discourse Summaries of S. N. Goenka (1994)
S.N. Goenka -Tóm Lược: William Hart 
Thích Minh Diệu dịch
Source-Nguồn: saraniya.com, budsas.org, dieungu.org
____________________
-----------------------------

 

 

BÀI GIẢNG NGÀY THỨ NĂM

 

- Bốn sự thật cao thượng: Sự thật về khổ, sự thật về nguyên nhân của khổ, sự thật về sự đoạn diệt khổ và sự thật về con đường dẫn đến đoạn diệt khổ.
- Vòng duyên khởi có điều kiện

 

Ngày thứ năm đã qua; quý vị còn năm ngày tu tập nữa. Hiểu biết đúng phương pháp tu tập, quý vị hãy cố gắng nỗ lực hành trì trong những ngày còn lại.

 

Bắt đầu quán sát theo dõi hơi thở trong một khu vực giới hạn, quý vị đã thực tập quán sát những cảm thọ trên toàn thân. Khi bắt đầu quán sát, chúng ta sẽ tiếp xúc những cảm thọ thô, cứng ngắt, khốc liệt, chán ghét như cảm thọ đau, cảm thọ căng thẳng v.v... Trước đây, quý vị đã kinh qua những cảm thọ này, nhưng quý vị có thói quen phản ứng lại cảm thọ, đắm nhiễm cảm thọ lạc và vướng kẹt cảm thọ khổ, và quý vị luôn luôn bị khuấy động. Giờ đây quý vị đang hành trì phương cách quán sát mà không phản ứng lại, khảo sát các cảm thọ một cách khách quan, không đồng nhất với chúng nó.

 

Đau khổ vẫn còn tồn tạihiện hành. Khóc than sẽ không vơi đi đau khổ. Làm sao chúng ta đoạn trừ được khổ đau? Làm sao chúng ta sống với khổ đau?

 

Một vị bác sĩ đang điều trị cho bệnh nhân, ông cần phải biết căn bịnh của bệnh nhân, và đâu là nguồn gốc của căn bệnh. Nếu tìm ra nguyên nhân của căn bệnh, bác sĩ cần phảiphương pháp trừ khử. Một khi nguyên nhân đã trừ khử rồi, căn bệnh tự động sẽ lành. Vì vậy chúng ta phải thực tập từng bước sau đây để loại trừ nguyên nhân.

 

Trước hết chúng ta phải chấp nhận sự thật khổ. Khổ hiện hữumọi nơi; sự thật này hiển bày ở tất cả. Nhưng chân lý về khổ trở thành sự thật chỉ khi chúng ta bắt đầu quán sát nó mà không phản ứng lại, bởi vì bất cứ ai thực hành như vậy chắc chắn sẽ trở thành một người cao thượng, một bậc thánh.

 

Khi chúng ta bắt đầu quán sát sự thật tối thượng thứ nhất, sự thật về khổ, ngay khi đó nguyên nhân của khổ hiển bày rõ ràng, và chúng ta cũng bắt đầu quán sát nó. Đây là sự thật tối thượng thứ hai. Nếu nguyên nhân của khổ được đoạn trừ thì khổ cũng được đoạn trừ. Đây là sự thật tối thượng thứ ba - sự đoạn trừ khổ đau. Để đoạn trừ khổ, chúng ta phải tu tập những phương thức đoạn trừ khổ. Đây là sự thật tối thượng thứ tư - con đường dẫn đến chấm dứt khổ ngang qua việc đoạn trừ các nguyên nhân của nó.

 

Chúng ta bắt đầu tập quán sát không phản ứng lại. Quý vị quán sátchiêm nghiệm sự đau khổ của bản thân một cách khách quan, như thể quý vị đang quán sát sự đau khổ của người khác. Xem xét nó kỹ lưỡng như một nhà khoa học đang tiến hành cuộc thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. Khi quý vị bị thất bại, hãy cố gắng trở lại. Luôn nỗ lực, và quý vị sẽ thấy quý vị đang đi dần ra khỏi khổ đau.

 

Mọi chúng sanh đều phải chịu khổ đau. Cuộc đời khởi đầu bằng tiếng khóc; sanh là nỗi khổ lớn. Và bất cứ ai đã sinh ra thì ắt hẳn phải chịu những khổ đau của bệnh và tuổi giàĐời sống của chúng ta dù khổ thế nào đi nữa cũng không ai muốn chết, vì chết là nỗi khổ lớn.

 

Suốt cuộc đời, chúng ta đối diện những gì mà chúng ta không thích, và bị tách xa những gì mà chúng ta thương mến. Những gì chúng ta không mong muốn lại đến, những gì chúng ta mong muốn lại không đến, và chúng ta cảm thấy đau khổ.

 

Nếu chỉ hiểu biết sự thật khổ trên lĩnh vực tri thức, chúng ta không thể nào giải thoát khổ đau được. Tri thức chỉ có thể cung cấp chúng ta một động lực để tự nhìn lại chính mình, để chiêm nghiệm sự thậttìm ra con đường thoát khổ. Đây là phương phápThái Tử Siddhatha Gotama thực hành để trở thành một vị Phật: Ngài đã bắt đầu quán sát thực tại ngay tự thân giống như một nhà nghiên cứu khoa học, di chuyển sự quán sát thực tại từ thô, bên ngoài đến thực tại vi tế hơn và cuối cùngthực tại vi tế nhất. Ngài đã khám phá ra rằng bất cứ khi nào chúng ta sinh khởi tham ái, chấp thủ một cảm thọ lạc hoặc từ bỏ một cảm thọ bất lạc, và khi tham ái đó không được thỏa mãn, chúng ta bắt đầu khổ đau. Và xa hơn nữa, ở cấp độ vi tế nhất, khi chánh niệm quán sát, Ngài thấy rằng chính tham đắm năm thủ uẩn, năm tập hợp tạo thành thân này là khổ. Qua tư duy, chúng ta có thể hiểu rằng sắc uẩn hay thân thể, không phải là "Ta", không phải "của Ta", vì sắc uẩn chỉ là hiện tượng khách quan, nó luôn thay đổi vượt ngoài khả năng kiểm soát của chúng ta; tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta đánh đồng chính mình với thân thể (sắc uẩn), và khởi tâm tham đắm nó. Tương tự chúng ta tập nhiễm tham đắm đối với bốn thủ uẩn còn lại: đó là thức uẩn, tưởng uẩn, thọ uẩn, hành uẩn, và chấp thủ chúng "là Ta", "của Ta" cho dù bản chất của chúng luôn liên tục thay đổi. Vì mục đích tự lợi chúng ta quen dùng những từ "Ta" và "của Ta", nhưng khi nào chúng ta tham đắm năm thủ uẩn thì khi đó chúng ta tạo ra đau khổ cho bản thân. Bất cứ nơi nào có tham đắm, nơi đó chắc chắn có đau khổ sinh ra, và tham đắm bao nhiêu thì khổ não sẽ bấy nhiêu.

 

Có bốn loại tham luyến có mặt trong cuộc sống mà chúng ta luôn duy trì và phát triển chúng. Thứ nhất, do thói quen tham ái, chúng ta thường tham luyến những khát vọng. Bất cứ khi nào tâm tham ái sinh khởi, nó kết hợp với một thân cảm thọ. Mặc dầu ở độ sâu, tâm rung động đã phát sinh, ở cấp độ bên ngoài, chúng ta cũng khởi tâm thích thú và mong muốn cảm thọ tiếp tục còn mãi. Tham ái có thể ví như việc thích thú cào gãi một vết thương đang ngứa: cào gãi như vậy chỉ làm cho vết thương trầm trọng thêm, tuy nhiên chúng ta vẫn thích thú cảm thọ cào gãi ấy. Cũng như vậy, ngay khi khát ái được thỏa mãn, cảm thọ phối hợp với khát ái cũng tan biến, và cứ thế chúng ta tạo ra khát ái mới theo cách đó để cảm thọ có thể tiếp tục. Chúng ta đắm chìm trong tham ái và tạo thêm đau khổ cho chính mình.

 

Một tham luyến khác là sự chấp thủ "cái Ta" và "cái của Ta", không nhận ra thật thể "cái Ta" là gì. Chúng ta không thể chịu đựng bất cứ phê bình hoặc điều gì có hại đến "cái Ta". Và sự tham luyến bao trùm lên bất cứ những gì liên quan đến "cái Ta" và "cái của Ta". Tham luyến này sẽ không dẫn đến đau khổ nếu bất cứ những gì liên quan đến "cái của Ta" có thể tồn tại vĩnh viễn, và "cái Ta" cũng có thể tồn tại để vui thú mãi mãi với nó, nhưng theo qui luật tự nhiên, sớm muộn gì "cái Ta" hoặc "cái của Ta" cũng phải tuân theo qui luật vô thường. Tham luyến những gì thuộc vô thường, chắc chắn chúng sẽ mang lại khổ đau. Tương tự, chúng ta chấp thủ quan điểmniềm tin của mình, và không thể chịu đựng nổi bất cứ sự phê bình chỉ trích nào, hoặc ngay cả chấp nhận những người khác quan điểm với chúng ta. Chúng ta không hiểu rằng mỗi người đang mang một cặp kính màu khác nhau. Thay vì tháo cặp kính màu ra, chúng ta sẽ thấy rõ sự thật như nó đang hiển bày, không bị che phủ, nhưng ở đây chúng ta vẫn cố chấp màu sắc của cặp kính, chấp giữ những định kiếnniềm tin cá nhân.

 

Còn một tham luyến khác nữa là chúng ta chấp thủ vào những nghi lễ, hình thức, và các nghi thức hành trì của tôn giáo. Chúng ta sai lầm vì không biết rằng, tất cả những thứ này chỉ là hình thức bề ngoài và không chứa đựng gì cốt lõi của chân lý. Nếu một người được hướng dẫn phương pháp tu tập để kinh nghiệm trực tiếp sự thậtbản thân nhưng anh ta vẫn tiếp tục chấp thủ những hình thức trống rỗng bề ngoài ấy, chấp thủ này sẽ tạo ra tranh đấu và khổ đau trong anh ta.

 

Nếu được quán sát kỹ chúng ta sẽ thấy rằng tất cả khổ đau trong cuộc đời phát sinh từ một trong bốn tham chấp trên. Đây là những yếu tốThái tử Siddhattha Gotama đã khám phá trong suốt hành trình tìm cầu chân lý. Vẫn chưa hết Ngài tiếp tục quát sát tự thân để khám phá nguyên nhân sâu xa của khổ đau, để hiểu và tìm ra căn nguyên của toàn bộ tiến trình vận hành.

 

Dĩ nhiên, những nỗi khổ trong cuộc đời như sanh, già, chết, khổ đau của thân và tâm, là kết quả tất yếu của kiếp người trót đã được sinh ra. Như thế, nguyên nhân của sinh là gì? Dĩ nhiên, nguyên nhân trực tiếp của sinh là sự phối hợp sinh lý của cha mẹ, nhưng xét trên phương diện rộng hơn, sinh xảy ra vì tiến trình liên kết hình thành của toàn bộ vũ trụ. Ngay lúc chết tiến trình sinh vẫn không chấm dứt: nghĩa là thân thể tiếp tục suy mòn, tiếp tục phân rã, trong khi tâm thức đã nối kết với một thân thể mới, và tiếp tục dòng vận hành sinh thành. Và tại sao lại có tiến trình sinh thành này? Đức phật đã liễu tri nguyên nhân của sinh chính là tham áichúng ta đã huân tập. Do tham ái, chúng ta đã tạo ra những phản ứng mạnh, sankhārā, và chính phản ứng này đã tạo ra ấn tượng mạnh trong tâm thức của chúng ta. Vào lúc chấm dứt cuộc đời, một trong những ấn tượng này sinh khởi trong tâm và sẽ tạo ra một lực đẩy để cho dòng tâm thức tiếp tục hoạt động.

 

Ở đây nguyên nhân của tham luyến này là gì? Ngài đã phát hiện ra rằng tham luyến sinh ra là do các phản ứng thương - ghét liên tục xảy ra. Thương phát triển thành tham ái; và ghét phát triển thành sân hận. Và tại sao lại có những phản ứng thương - ghét này liên tục xảy ra? Bất cứ ai quán sát chính mình sẽ thấy rằng chúng xảy ra là do những cảm thọ về thân. Bất cứ khi nào một lạc thọ khởi lên, chúng ta thích nó, muốn giữ nó và muốn nó nhiều hơn nữa. Khi nào một cảm thọ khổ sinh khởi, chúng ta không thích và muốn loại trừ nó đi. Và tại sao lại có những cảm thọ này? Rõ ràng chúng sinh khởi do sự tiếp xúc của một giác quan nào đó với đối tượng: như mắt tiếp xúc hình sắc, tai với âm thanh, mũi với hương, lưỡi với vị, thân thể với xúc chạm, ý thức với một tư tưởng hoặc sự tưởng tượng. Ngay khi xúc sinh ra, chắc chắn một cảm thọ sẽ sinh khởi: đó là lạc thọ, khổ thọ, hoặc bất khổ bất lạc thọ.

 

nguyên nhân của xúc là gì? Tất nhiên, tất cả vật thể trong vũ trụ là những đối tượng của các giác quan. Một khi sáu giác quan (năm giác quan thuộc về thân và một giác quan thuộc về ý thức) còn hiện hành, ắt hẳn chúng phải tiếp xúc với đối tượng tương ứng của chúng. Và tại sao những giác quan này có mặt? Rõ ràng rằng chúng là những bộ phận không thể tách rời dòng hiện hành của sắc (thân thể) và tâm; chúng sinh ra ngay lúc đời sống bắt đầu. Và tại sao dòng vận hành đời sống, dòng vận hành của thân và tâm xảy ra? Vì sự vận hành của tâm thức, từ sát na này đến sát na khác, từ đời sống này đến đời sống khác. Và tại sao có dòng vận hành của tâm thức này? Ngài đã thấy rằng nó sinh khởi là vì những phản ứng thuộc về tâm (sankhārā). Mỗi phản ứng tạo ra một lực đẩy cho dòng tâm thức vận hành; sự vận hành này tiếp tục được tạo ra do sự thúc đẩy của những phản ứng (sankhārā). Và tại sao những phản ứng này xảy ra? Ngài thấy rằng chúng sinh ra vì vô minh. Chúng ta không biết những điều chúng ta đang làm, không biết chúng ta phải phản ứng như thế nào, vì vậy chúng ta liên tục tạo ra sankhārā. Hễ vô minh còn hiện hữu thì khổ đau còn tồn tại.

 

Nguồn gốc và nguyên nhân sâu xa nhất của vòng luân hồi khổ là vô minh. Do vô minh, mười một yếu tố còn lại của vòng luân hồi vận hành, do sự vận hành này chúng ta tự tạo ra khổ đau chất chồng như núi. Nếu vô minh có thể được đoạn trừ, khổ đau sẽ được đoạn trừ.

 

Làm thế nào chúng ta có thể nhận ra vòng luân hồi đau khổ này? Làm thế nào chúng ta có thể phá vỡ vòng luân hồi? Dòng vận hành của đời sống, của thân và tâm, đã hiện hữu. Tự tử sẽ không giải quyết được vấn đề mà chỉ tạo ra khổ đau mới mà thôi. Chúng ta cũng không thể hoại diệt các giác quan mà không hoại diệt thân thể. Bất cứ khi nào các giác quan còn hiện hành, chắc chắn chúng sẽ tiếp xúc với các đối tượng tương ứng, và khi nào có tiếp xúc, chắc chắn cảm thọ sẽ khởi lên trong thân.

 

Tại đây và bây giờ, ngay lúc cảm thọ, chúng ta có thể phá vỡ vòng luân hồi. Trước đây, mỗi cảm thọ tạo ra phản ứng thích thú hoặc chán ghét, chính thích thú hoặc chán ghét này phát triển thành tham ái hoặc sân giận, gây ra nhiều khổ não. Nhưng bây giờ, thay vì phản ứng lại cảm thọ, quý vị chỉ thực hành quán sát cảm thọ trong niệm xả ly, và tuệ tri rằng: "Cảm thọ này rồi cũng sẽ biến đổi." Quán sát cảm thọ theo cách này chắc chắn trí tuệ phát sinh, thấu đạt vô thường (anicca). Chúng ta làm vòng vận hành của bánh xe đau khổ dừng lại và bắt đầu quay nó theo hướng ngược lại, hướng đến giải thoát.

 

Bất cứ sát na nào chúng ta không tạo ra phản ứng mới (sankhārā), một trong những phản ứng cũ sẽ sinh khởi lên bề mặt của tâm thức kết hợp với phản ứng vừa sinh ra, một cảm thọ sẽ sinh ra trong thân. Nếu chúng ta giữ tâm xả ly, cảm thọ này sẽ tan biến và một phản ứng cũ khác sinh ra tại vị trí của nó. Chúng ta tiếp tục giữ sự xả ly đối với những cảm thọ trên thân, những phản ứngtiếp tục sinh ra và tan biến, cái này nối tiếp cái kia. Nếu vì vô minh chúng ta phản ứng lại những cảm thọ, kết quả chúng ta sẽ tạo ra nhiều sankhārā, tạo ra nhiều đau khổ cho bản thân. Nhưng nếu chúng ta phát triển trí tuệ và không phản ứng lại với các cảm thọ, khi đó lần lượt những sankhārā và khổ đau sẽ được đoạn trừ.

 

Toàn bộ tiến trình là phương hướng dẫn đến đoạn trừ khổ đau. Khi hành trì, quý vị sẽ thấy rằng quý vị không còn tạo ra trói buộc mới, và những trói buộc cũ tự động mở ra. Tuần tự, quý vị sẽ tiến triển đến một giai đoạn, nơi đó tất cả sankhārā dẫn đến đời sống mới và khổ đau mới đều được đoạn trừ: đó là giai đoạn chứng ngộgiải thoát viên mãn.

 

Bước vào tu tập, chúng ta không cần thiết phải tin vào những kiếp sống quá khứvị lai. Trong việc hành trì thiền Minh Sát Tuệ, sống với giây phút hiện tại là điều quan trọng nhất. Ở đây, trong kiếp sống này, chúng ta liên tục tạo ra sankhārā, tạo ra khổ đau cho bản thân. Nếu quý vị hành trì, chắc chắn rằng một ngày nào đó quý vị sẽ nói rằng quý vị đã đoạn trừ hết tất cả sankhārā cũ, đã không còn tạo ra sankhārā mới nữa, và như thế chính quý vị đã giải thoát ra khỏi mọi khổ đau.

 

Để đạt được mục đích này, quý vị phải tự mình tu tập. Vì vậy hãy tinh tấn hành trì trong năm ngày còn lại để loại trừ khổ đau, và hân hoan với niềm vui giải thoát.

 

Cầu mong tất cả quý vị an vui với chân hạnh phúc.
Cầu mong tất cả chúng sanh được hạnh phúc.

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5296)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1647)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1791)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1565)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1257)
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 55)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 90)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 140)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 154)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 180)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 188)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 203)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 203)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 273)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 224)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 254)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 265)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 255)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 252)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 546)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 287)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 346)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 374)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
05 Tháng Mười Một 20208:12 CH(Xem: 300)
Tất cả chúng ta đều nghĩ đến và chăm lo sức khỏe của mình, chỉ ít hay nhiều tùy theo mình còn trẻ hay già yếu và ốm đau. Thế nhưng sức khỏe không phải chỉ thuộc lãnh vực thân xác mà còn liên quan đến lãnh vực tâm thần. Như vậy thì tín ngưỡng nói chung và Phật giáo nói riêng có giữ một vị trí hay vai trò nào đối với mối quan tâm
04 Tháng Mười Một 20206:03 CH(Xem: 405)
Cách đây vài năm đã xảy ra mấy cuộc biểu tình trên đường phố sau khi một viên quản ngục nhà tù Guantanamo Bay bị buộc tội là đã vứt quyển kinh vào bồn cầu và giật nước cho nó trôi đi. Ngày hôm sau, một ký giả tờ báo địa phương gọi điện thoại cho tôi, nói rằng anh ta đang viết một bài về sự việc vừa xảy ra, muốn hỏi các nhà
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2179)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3868)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5486)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 273)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 346)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 374)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 180)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5296)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 436)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 442)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2951)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1961)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng