12. Bảng giải thích những thuật ngữ Pāli

06 Tháng Ba 20209:41 SA(Xem: 1342)
12. Bảng giải thích những thuật ngữ Pāli

KhoaMuoiNgay_ANhững Bài Giảng Cương Yếu Của 
Khóa Mười Ngày Tu Tập Thiền Minh Sát Tuệ
The Discourse Summaries of S. N. Goenka (1994)
S.N. Goenka -Tóm Lược: William Hart 
Thích Minh Diệu dịch
Source-Nguồn: saraniya.com, budsas.org, dieungu.org
____________________
-----------------------------




 BẢNG GIẢI THÍCH NHỮNG THUẬT NGỮ PĀLI

Ācariya:

Thầy giáo, người hướng dẫn.

Adhiṭṭthāna:

Sự quyết định mạnh mẽ, một trong mười Ba-la-mật.

Akusala:

Bất thiện, có hại. Trái nghĩa với Kusala.

Ananda:

Hạnh phúc, hoan hỷ.

Anapāna:

Hơi thở.

Anāpāna-sati:

Chánh niệm hơi thở.

Anattā:

Vô ngã, vô kỷ, không thực chất, không thực tại. Một trong ba đặc tính căn bản. Xem Lakkhaa.

Anicca:

Vô thường, phù du, thay đổi. Một trong ba đặc tính căn bản. Xem Lakkhaa.

Arahant / Arahat:

Bậc Giải thoát: vị đã đoạn trừ tất cả cấu uế của tâm. Xem Buddha.

Ariya:

Người cao thượng; bậc thánh. Người đã đạt trạng thái tâm thanh tịnh, chính ngay trạng thái này vị ấy chứng nghiệm thực tại tối hậu (Niết-bàn). Có bốn bậc Ariya, từ vị Nhập lưu (Sotāpanna), vị sẽ tái sanh lại thế giới này ít nhất bảy lần nữa, cho đến vị A-la-hán, vị không còn tái sanh sau khi vị ấy bỏ xác thân hiện tại.

Ariya aṭṭhagika magga:

Bát Thánh Đạo. Xem Magga.

Ariya sacca:

Sự thật cao thượng (Chân lý cao thượng). Xem Sacca.

Asubha:

Bất tịnh, ghê tởm, không đẹp. Trái nghĩa với Subha: Thanh tịnh, đẹp.

Assutavā / assutavant:

Phàm phu; người không bao giờ nghe chân lý. Người không có trí tuệ ngay cả không có văn tuệ (suta-mayā-paññā), và vì vậy người này không thể thăng tiến đến giải thoát. Trái nghĩa với Sutavā.

Avijjā:

Vô minh, ảo giác. Mắc nối đầu tiên của vòng duyên khởi (paiccasamuppāda). Cùng với tham (rāga) và sân (dosa), một trong ba phiền não căn bản của tâm. Ba phiền não này là nguyên nhân căn bản của tất cả những phiền não khác của tâm và vì vậy chúng cũng là nguyên nhân của khổ đau. Đồng nghĩa với Moha.

Āyatana:

Cảnh giới, khu vực, đặc biệt sáu lãnh vực của nhận thức (saāyatana), bao gồm năm giác quan thuộc về cơ thể cộng với tâm thức, và những đối tượng tương ứng của chúng như sau: Mắt (cakkhu) và những đối tượng của mắt (rūpa); Tai (sota) và âm thanh (sadda); Mũi (ghāna) và hương (gandha); Lưỡi (jivhā) và vị (rasa); Thân (kāya) và xúc chạm (phoṭṭhabba); Ý (mano) và những đối tượng của tâm, nghĩa là tất cả các loại tư tưởng (dhamma). Các căn này còn gọi là sáu chức năng. Xem Indriya.

Bala:

Sức mạnh, năng lực. Năm sức mạnh thuộc về tâm đó là niềm tin (saddhā), tinh tấn (viriya), chánh niệm (sati), chánh định (samādhi) và trí tuệ (paññā). Trong hình thức chưa được tu tập, năm yếu tố này được gọi là năm năng lực. Xem Indriya.

Bhaga:

Sự tan rã, một giai đoạn quan trọng trong tu tập thiền Minh Sát Tuệ, kinh nghiệm về sự tan rã của thân từ thực tại vững chắc bên ngoài thành những dao động vi tế luôn luôn sinh và diệt.

Bhava:

Tiến trình sinh thành.

Bhava-cakka:

Vòng sinh tồn liên tục. Xem Cakka.

Bhāvanā:

Sự tu tập tâm, thiền định. Hai thành phần của bhāvanā tu tập tịnh chỉ (samatha-bhāvanā), tương đương với thiền định (samādhi), tu tập tuệ quán (vipassanā-bhāvanā), tương đương với trí tuệ (paññā). Tu tập tịnh chỉ sẽ dẫn đến những trạng thái thiền định (jhāna); tu tập tuệ quán sẽ dẫn đến giải thoát. Xem Jhāna, Paññā, Samādhi,Vipassanā.

Bhāvanā-mayā-paññā:

Trí tuệ có được do tự thân tu tập, kinh nghiệm trực tiếp. Xem Paññā.

Bhavatu sabba magala:

"Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đều hạnh phúc". Một lối cầu nguyện theo truyền thống Phật giáo, qua đó chúng ta bày tỏ thiện chí của chúng ta đến với người khác. (Nghĩa đen, " Cầu mong mọi việc đều tốt đẹp").

Bhikkhu:

Tu sĩ Phật giáo, người tu tập thiền định. Hình thức nữ (Bhikkhuni): Ni cô.

Bodhi:

Sự giác ngộ.

Bodhisatta:

Nghĩa đen, "vị hữu tình giác ngộ". Người đang tu tập để trở thành Phật. Tiếng phạn (Sanskrit) là Bodhisattva.

Bojjhaga:

Đặc tính giác ngộ, nghĩa là đức tính có thể giúp chúng ta đạt được sự giác ngộ. Có bảy đặc tính giác ngộ đó là chánh niệm (sati), trạch pháp (dhamma-vicary), tinh tấn (viriya), hoan hỷ (pīti), khinh an (passaddhi), thiền định (samādhi), xả ly (upekkhā).

Brahmā:

Chư thiên ở những cõi trời; thuật từ dùng trong tôn giáo Ấn Độ chỉ định một loại hữu tình cao nhất trong tất cả hữu tình, theo truyền thống Ấn giáo, vị hữu tình này được xem như Thượng Đế sáng tạo, nhưng Đức phật mô tả vị này cũng như những chúng sanh khác phải chịu qui luật sinh-tử.

Brahmā-vihāra:

Bản chất của một Brahmā, vì vậy trạng thái siêu việt hoặc thiêng liêng của tâm, trong đó có bốn đặc tính thanh tịnh hiện hành đó là: tình thương vô ngã (metta), từ bi (karuā), sự hoan hỷ đối với những thành công của người khác (muditā), sự xả ly đối với mọi hoàn cảnh (upekkhā); Bốn đặc tính này được tu tậphệ thống qua thiền định.

Brahmacarya:

Sống độc thân; sự thanh tịnh, đời sống thánh thiện.

Brāhmaa:

Nghĩa đen là người thanh tịnh. Theo truyền thống, thuật từ này thường được chỉ định cho một số người thuộc tầng lớp giáo sĩ Ấn Độ. Vị này sống nhờ "sự cứu rỗi" của Phạm thiên (Brahmā) hoặc nhờ Phạm thiên giải thoát cho vị ấy; về phương diện này vị ấy khác với Sa-môn (Samaa). Đức phật mô tả Bà-la-môn đúng nghĩa như một người tâm đã thanh tịnh, đồng nghĩa như vị A-la-hán.

Buddha:

Vị đã giác ngộ; Vị đã khám phá ra con đường giải thoát, đã thực hành và đã đạt đến mục đích nhờ nỗ lực tự thân. Vị giác ngộ có hai loại: 1) Pacceka-buddha: Phật độc giác, vị không có khả năng dạy con đường mà vị ấy đã tìm ra cho người khác; 2) Sammā-sambuddha: Phật toàn giác, vị có khả năng dạy người khác con đường mà vị ấy đã tìm ra.

Cakka:

Bánh xe, Bhava-cakkavòng sinh tồn liên tục (có nghĩa là tiến trình của khổ), tương đồng với luân hồi (sasāra). Dhamma-cakkabánh xe chánh pháp (có nghĩa là giáo pháp hoặc tiến trình giải thoát). Bhava-cakka đồng nghĩa với vòng duyên khởiđiều kiện trong ý nghĩa thuận chuyển của nó (dẫn đến khổ đau). Dhamma-cakka tương đương với vòng duyên khởiđiều kiện trong ý nghĩa nghịch chuyển của nó, dẫn đến đoạn diệt khổ.

Cintā-mayā-paññā:

Tư tuệ. Xem Paññā.

Citta:

Tâm thứcCittānupassanā, sự quán sát về tâm. Xem Satipaṭṭhāna.

Dāna:

Bố thí, từ thiện, sự rộng lượng, sự cúng dường. Một trong mười Ba-la-mật (pāramī).

Dhamma:

Các sự vật hiện tượng; đối tượng của tâm thức; bản chất, luật tự nhiên, luật giải thoát, có nghĩa là lời dạy của bậc Giác NgộDhammānupassanā, sự quán sát về những chức năng của tâm. Xem Satipaṭṭhāna. (Tiếng Phạn là Dharma.)

Dhātu:

Đại (xem Mahā-bhūtāni); điều kiện tự nhiên, vật sở hữu.

Dosa:

Sự sân giận. Kết hợp với tham lamvô minh, một trong ba căn bản phiền não.

Dukkha:

Khổ, sự không thoả mãn. Một trong ba đặc tính (xem Lakkhana). Chân lý thứ nhất của khổ (xem Sacca).

Gotama:

Tên họ của đức Phật lịch sử. (Tiếng phạn là Gautama).

Hinayāna:

Nghĩa đen là "cỗ xe nhỏ". Thuật từ do những người theo các trường phái Phật giáo khác, ám chỉ Phật giáo Thượng Toạ Bộ. Thuật từ hàm nghĩa chê bai.

Indriya:

Năng lực. Được dùng trong quyển sách này là đề cập đến sáu lãnh vực của nhận thức (xem Āyatana) và năm sức mạnh của tâm (xem Bala).

Jāti:

Sanh, đời sống.

Jhāna:

Trạng thái nhập định của tâm. Có tám trạng thái nhập địnhthể đạt được nhờ tu tập thiền định, hoặc tu tập định chỉ (xem Bhāvanā)Sự tu tập các loại thiền định này sẽ mang lại tâm khinh anhoan hỷ, nhưng nó không đoạn trừ những phiền não sâu dày trong tâm thức.

Kalāpa / aṭṭha kalāpa:

Đơn vị nhỏ nhất của vật chất, hàm chứa bốn yếu tố (đất, nước, lửa và gió) và những đặc tính của nó. Xem Mahā-bhūtāni.

Kalyāa-mitta:

Nghĩa đen là "người bạn mang lại phúc lợi cho chúng ta", vì vậy một vị chỉ dẫn ai đó hướng đến giải thoát, có nghĩa là người hướng dẫn tinh thần.

Kamma:

Hành động, đặc biệt là hành động do chính chúng ta làm và chúng ta sẽ gặt hái kết quả trong tương lai. Xem Sakhāra. (Tiếng phạn là karma).

Kāya:

Thân thểkāyānupassanāsự quán sát về thân. Xem Satipaṭṭhāna.

Khandha:

Khối, nhóm, tập hợp. Một chúng sanh được tạo thành do năm nhóm: vật chất (rūpa), tâm thức (viññāa), tri giác (sañña), cảm thọ (vedanā), và sự phản ứng (sakhāra).

Kilesa:

Những phiền não thuộc về tâm, tính chất tiêu cực, tâm bất tịnhAnusaya kilesaphiền não ngủ ngầm, cấu uế ngủ ngầm trong vô thức.

Kusala:

Thiện, lợi ích. Trái nghĩa với Akusala

Lakkhaa:

Dấu hiệu, điểm phân biệt, đặc tính. Ba đặc tính (tilakkhaa) là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta). Hai đặc tính đầu là những đặc tính chung của tất cả hiện tượngđiều kiện. Đặc tính thứ ba là đặc tính chung của tất cả hiện tượng có và không có điều kiện.

Lobha:

Sự tham ái, đồng nghĩa của Rāga.

Loka:

1. Thế giới vĩ mô, có nghĩa là vũ trụ, hành tinh của sự sống; 2. Thế giới vi mô, có nghĩa là cấu trúc thân-tâm. Loka-dhammā, sự thăng trầm của thế gian, sự thăng trầm của đời sống mà tất cả chúng sanh phải trực diện, đó là, được hoặc mất, thắng hoặc bại, khen hoặc chê, lạc hoặc khổ.

Magga:

Con đườngAriya aṭṭhagika magga, Bát Thánh Đạo dẫn đến giải thoát khổ. Bát Thánh Đạo được chia thành ba giai đoạn hoặc ba tiến trình tu tập: (I) Sīla: giới, sự thanh lọc những hành động thuộc về thân và lời nóiSammā-vācā: chánh ngữSammā-kammanta: chánh nghiệpSammā-ājiva: chánh mạng; (II) Samādhi: thiền định, tu tập chế ngự tâm thức của chúng taSammā-vāyāma: chánh tinh tấnSammā-sati: chánh niệmSammā-samādhi: chánh định; (III) Paññā: trí tuệ, tuệ quán để thanh lọc tâm thứcSammā-sakappa: chánh tư duySammā-diṭṭhi: chánh kiếnMagga chân lý thứ tư. Xem Sacca.

Mahā-bhūtāni:

Bốn đại, tất cả vật chất được tạo thành từ bốn đại này: 1) Pathavī-dhātu: địa đại (nặng); 2) Āpo-dhātu: thủy đại (liên kết); 3)Tejo-dhātu: hoả đại (nhiệt độ); 4) Vāyo-dhātu: phong đại (sự vận chuyển);

Mahāyāna:

Nghĩa đen là "cỗ xe lớn", một hình thức Phật giáo phát triển ở Ấn Độ sau đức Phật Niết-bàn vài thế kỷ và đã lan truyền sang phương bắc, sau đó đến Tây Tạng, Trung Hoa, Việt Nam, Mông Cổ, Triều Tiên, và Nhật Bản.

Magala:

Sự phước lạc, sự hoan hỉ, sự hạnh phúc.

Māra:

Sự chết, những sức mạnh mang tính tiêu cực, tội lỗi.

Mettā:

Tình thương vô ngãthiện chí. Một trong những đặc tính của tâm thanh tịnh (Xem Brahma-vihāra); một trong mười Ba-la-mật. Mettā-bhāvanātiến trình tu tập mettā bằng phương pháp thiền định.

Moha:

Vô minh, ảo tưởng. Đồng nghĩa của Avijjā. Kết hợp với tham lam và sân giận, một trong ba phiền não căn bản của tâm.

Nāma:

Tâm, Nāma-rūpadanh và sắc, dòng sống của thân-tâm. Nāma-rūpa-vicchedasự tách rời giữa thân và tâm xảy ra vào lúc chết hoặc trong lúc chứng nghiệm Niết-bàn.

Nibbāna:

Sự đoạn trừ; sự thoát khổ; thực tại tối hậu; bản thể tuyệt đối. (Tiếng phạn là Nirvāa).

Nirodha:

Sự đoạn diệt, sự phá huỷ. Thường được dùng đồng nghĩa với Niết-bàn. Nirodha-saccachân lý về đoạn trừ khổ, chân lý thứ ba của Tứ Thánh Đế. Xem Sacca.

Nīvaraa:

Chướng ngại, sự ngăn cản. Năm chướng ngại ngăn cản việc tu tập thiền định là tham ái (kāmacchanda), sân nhuế (vyāpāda), thân hoặc tâm dã dượi (thīnamiddha), trạo cử (uddhacca-kukkucca) và nghi ngờ (vicikicchā).

Oārika:

Thô phù, thô tục. Trái nghĩa với Sukhama.

Pāli:

Dòng; văn bản; những kinh điển ghi lại lời dạy của đức Phật; Vì vậy Pāli lā ngôn ngữ của những bản kinh này. Những di chỉ lịch sử, ngôn ngữ và khảo cổ cho thấy rằng Pāli là một ngôn ngữ nói ở Bắc Ấn trước và ngay thời đại của đức Phật. Về sau, những bản kinh này được chuyển dịch sang ngôn ngữ Sanskrit, một loại ngôn ngữ đặc biệt sử dụng trong văn bản.

Paññā:

Trí tuệ. Phần thứ ba của Tam Vô lậu học của tu tập Bát Thánh Đạo (Xem Magga). Có ba loại trí tuệ: trí tuệ nhờ được truyền đạt (sutamayā-paññā), trí tuệ nhờ tư duy (cittā-mayā-paññā), và trí tuệ nhờ vào kinh nghiệm tu tập (bhāvanā-mayā-paññā). Trong ba loại trí tuệ này chỉ có trí tuệ thứ ba mới có thể làm cho tâm thanh tịnh hoàn toàn; trí tuệ này đạt được nhờ tu tập thiền Minh Sát Tuệ. Nó là một trong năm sức mạnh của tâm (xem Bala), một trong bảy chi phần giác ngộ (xem Bojjhaga), và một trong mười Ba-la-mật.

Pāramī / pāramitā:

Sự hoàn hảo, đạo đức; đức tính tốt của tâm, đức tính này dùng để phá vỡ tự ngã và vì vậy đưa chúng ta đến giải thoát. Mười Ba-la-mật là: 1. Bố thí (dāna), 2. Trì giới (sīla), 3. Xuất ly (nekkhamma), 4. Trí tuệ (paññā), 5. Tinh tấn (viriya), 6. Nhẫn nhục (khanti), 7. Chân chánh (sacca), 8. Quyết định (adhiṭṭhāna), 9. Từ bi (mettā), 10. Xả ly (upekkhā).

Paicca samuppāda: .

Vòng duyên khởiđiều kiện; nguồn gốc duyên khởi. Tiến trình, bắt đầu vô minh, do vô minh chúng ta tạo ra luân hồi khổ cho chính chúng ta

Pūjā:

Sự tôn kính, sự thờ phượng, lễ nghi tôn giáo hoặc nghi lễ. Đức Phật đã dạy rằng sự tôn kính duy nhất đối với Ngài là thực hành theo lời dạy của Ngài, từ bước đầu cho đến đích.

Puññā:

Đạo đức, hành động thiện, nhờ làm lành chúng ta đạt được hạnh phúc ngay bây giờ và tương lai. Với người tại giapuññā bao gồm bố thí (dāna), trì giới, sống đời sống đạo đức (sīla) và tu tập thiền định (bhāvanā).

Rāga:

Tham ái. Kết hợp với sân giận và vô minh, một trong ba căn bản phiền não của tâm. Đồng nghĩa với Lobha.

Ratana:

Châu báu, trân bảoTi-ratana: Tam bảo gồm có đức Phật, Giáo pháp, và Tăng đoàn.

Rūpa:

1) Vật chất; 2) Những đối tượng có thể thấy bằng mắt. Xem ĀyatanaKhandha.

Sacca:

Chân lý. Bốn chân lý cao thượng (ariya-sacca) là: 1) Chân lý về khổ (dukkha-sacca); 2) Chân lý về nguyên nhân của khổ (samudaya-sacca); 3) Chân lý về sự đoạn diệt khổ (nirodha-sacca); 4) Chân lý về con đường dẫn đến sự đoạn diệt khổ (magga-sacca).

Sādhu:

Lành thay; khéo nói. Một sự biểu lộ đồng ý hoặc chứng minh.

Samādhi:

Thiền định, sự chế ngự tâm. Phần thứ hai trong Tam Vô lậu học của tu tập Bát Thánh Đạo. Khi tâm tu tập đến giai đoạn thuần thục hành giả sẽ đạt đến những trạng thái thiền định, nhưng tâm vẫn không thể giải thoát. Có ba loại thiền định: 1) Khaika-samādhi: Định tạm thời, thiền định đạt được trong từng sát na; 2) Upacāra samādhi: Định cận hành, trạng thái tâm hướng đến nhập địnhAppanā-samādhi: Đắc định, một trạng thái tâm nhập định. Trong ba loại thiền định này, định tạm thời (khaika-samādhi) là sự chuẩn bị thích hợp để có thể bắt đầu thực hành thiền Minh Sát Tuệ.

Samaa:

Sa-môn, du sĩ, khất sĩ. Vị đã từ bỏ đời sống gia đình. Trong khi đó một người Bà-la-môn dựa vào một vị thần linh để "cứu rỗi" hoặc giải thoát cho vị ấy, vị Sa-môn tìm cầu giải thoát nhờ vào nỗ lực tự thân. Vì vậy thuật từ có thể dùng để chỉ đức Phậtđệ tử của Ngài, những vị đã chọn đời sống xuất gia, nhưng thuật từ cũng bao gồm những vị Sa-môn không phải là đệ tử của đức PhậtSamaa Gotama (Sa-môn Gotama) là tên của đức Phật thường được những người ngoại đạo gọi.

Samatha:

Sự tĩnh lặng, khinh anSamatha-bhāvanā, sự tu tập tịnh chỉ; đồng nghĩa với định. Xem Bhāvanā.

Sampajāna:

Đồng nghĩa Sampajañña. Xem dưới đây.

Sampajañña:

Tuệ tri tất cả hiện tượng của thân-tâm. Có nghĩa là sự thấu triệt bản chất vô thường qua việc quán sát cảm thọ.

Sasāra:

Vòng luân hồi; thế giớiđiều kiện; thế giới khổ đau.

Samudaya:

Nguyên nhân sinh khởiSamdaya-dhamma, hiện tượng sinh khởiSamudaya-sacca, chân lý về nguyên nhân của khổ, chân lý thứ hai của Tứ Thánh Đế.

Sagha:

Cộng đồng, đoàn thể các vị thánh, có nghĩa là những vị đã chứng nghiệm Niết-bàn; đoàn thể của các tu sĩ Phật giáo; một thành viên của đoàn thể thanh tịnh, một Tỳ-kheo hoặc Tỳ-kheo-ni.

Sakhāra:

Tâm hành; hành động có chủ ý; phản ứng của tâm; tâm có điều kiện. Một trong năm uẩn (khandhā), cũng như chi phần thứ hai của vòng duyên khởiđiều kiện (paicca samuppāda). Sakhāra là nghiệp, hành động dẫn đến kết quả trong tương lai và vì vậy nó có trách nhiệm trực tiếp đối với đời sống tương lai của chúng ta. (Tiếng phạn là Saskāra).

Sakhārupekkhā:

Nghĩa đen là sự xả ly đối với các phản ứng (sakhārā). Một giai đoạn của tu tập thiền Minh Sát Tuệ, hệ quả của kinh nghiệm về sự tan rã, trong đó những phiền não ngủ ngầm trong vô thức sinh khởi lên bề mặt của tâm thứchiện hành ở thân cảm thọ. Tu tập tâm xả ly (upekkhā) đối với những cảm thọ này, thiền giả không tạo ra sakhārā mới và cho phép những sakhārā cũ tiêu tan. Vì vậy tiến trình lần lượt dẫn đến đoạn diệt toàn bộ sakhārā.

Saññā:

(Phát xuất từ sayutta-saññā, tưởng tri có điều kiện) tưởng tri, sự hiểu biết. Một trong năm uẩn (khandhā). Vì những định kiến của các hành ở quá khứ nên chúng ta đã mang những nhận thức bị nhuốm màu. Trong thực tập thiền Minh Sát Tuệ, saññā được chuyển thành trí tuệ (paññā), tuệ tri thực thể như thật nó đang là. Đó là sự nhận thức về vô thường, khổ, vô ngã, và bản chất ảo giác của cái đẹp thân thể (anicca-saññā, dukkha-saññā, anattā-saññā, asubha-saññā) .

Saraa:

Nơi cư trú, sự nương tựa, sự bảo vệTi-saraā: Qui y Tam bảo, có nghĩa là nương tựa đức Phật, Giáo phápTăng đoàn.

Sati:

Chánh niệm. Một chi phần của Bát Thánh Đạo (Xem Magga), cũng như của Năm lực (xem Bala) và của Bảy chi phần giác ngộ (xem Bojjhaga). Ānāpāna-sati, sự chánh niệm hơi thở.

Satipaṭṭhāna:

Sự tu tập chánh niệm. Có bốn pháp quán liên quan đến chánh niệm: 1) Quán sát về thân (kāyānupassanā); 2) Quán sát về những cảm thọ sinh khởi trong thân (vedanānupassanā); 3) Quán sát về tâm (cittānupassanā); 4) Quán sát về các chức năng của tâm (dhammānupassanā). Quán sát các cảm thọ bao gồm bốn pháp quán sát này, vì các cảm thọliên quan trực tiếp đến thân cũng như tâm. Kinh Đại Niệm Xứ (The Mahā-Satipaṭṭhāna Suttanta) (Trường Bộ Kinh, số 22) là nguồn tài liệu chính hàm chứa lý thuyết căn bản, hướng dẫn thực hành thiền Minh Sát Tuệ.

Sato:

Tỉnh giácSato sampajānotỉnh giác với tuệ tri về bản chất vô thường của thân và tâm trong mọi phương diện nhờ tu tập quán sát các cảm thọ.

Siddhattha:

Nghĩa đen là "người hoàn tất công việc của mình". Tên của đức Phật lịch sử. (Tiếng phạn là Siddhārtha.)

Sīla:

Đạo đức, sự từ bỏ những hành động của thân và miệng có hại đến bản thânmọi người. Phần đầu tiên trong ba chi phần tu tập của Bát Thánh Đạo (Xem Magga). Với người tại giasīla được hành trì trong đời sống thường nhật qua việc tuân giữ năm giới.

Sotāpanna:

Người đã chứng đạt giai đoạn đầu tiên của thánh quả (vị Nhập lưu), và đã chứng nghiệm Niết-bàn (điểm này không chính xác theo truyền thống Thượng tọa bộ). Xem Ariya.

Sukha:

Hạnh phúc. Trái nghĩa với Dukkha.

Sukhuma:

Vi tế, nhỏ nhiệm. Trái nghĩa với Oārika.

Suta-mayā-paññā:

Nghĩa đentrí tuệ đạt được do nghe từ người khác. Văn tuệ. Xem paññā.

Sutavā / sutavant:

Được hướng dẫn; người đã nghe sự thật, đã đạt được trí tuệ do được truyền đạt. Trái nghĩa với Assutavā.

Sutta:

Bài thuyết giảng của đức Phật hoặc bài thuyết giảng của những vị đệ tử thượng thủ của Ngài. (tiếng phạn là Sutra)

Tahā:

Nghĩa đen là "sự khao khát". Bao gồm cả hai: tham ái và oán ghét. Đức Phật đã nhận ra ta như nguyên nhân của đau khổ (samudaya-sacca) trong bài pháp đầu tiên của Ngài, bài kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta). Trong vòng duyên khởiđiều kiện (paicca-samuppāda), Ngài đã giải thích rằng, ta phát sinh khi có sự phản ứng lại đối với những cảm thọ trên thân.

Tathāgata:

Nghĩa đen là "đã đến như vậy" hoặc "đã đi như vậy". Vị ấy nhờ đi trên con đường thực tại nên đạt đến thực tại tối hậu, nghĩa là một vị Giác ngộ. Thuật từ thường dùng chỉ cho đức Phật.

Theravāda:

Nghĩa đen là "giáo lý của các vị Trưởng lão". Giáo lý của đức Phật được lưu giữ ở những quốc gia thuộc Nam Á (Miến Điện, Sri-Lanka, Thái Lan, Lào, Campuchia). Nói chung giáo lý này được chấp nhận như là hình thức giáo lý nguyên thuỷ nhất.

Ti-lakkhaa:

Xem Lakkhaa.

Tipiaka:

Nghĩa đen là "Tam tạng". Ba tuyển tập giáo lý của đức Phật là: 1) Vinaya-piaka: Tạng luật, tuyển tập các giới-luật cho giới xuất gia; 2) Sutta-piaka: Tạng kinh, tuyển tập những bài pháp; 3) Abhidhamma-piaka: Tạng luận, tuyển tập những lời dạy siêu việt, có nghĩa là sự giải thích giáo pháp mang tính triết lý có hệ thống. (Tiếng phạn là Tripiaka)

Ti-ratana:

Xem Ratana.

Udaya:

Sự sinh khởiUdayabbaya, sự sinh khởihoại diệt, có nghĩa là vô thường (cũng như udaya-vyaya). Nhờ tu tập quán sát sự thay đổi liên tục của các cảm thọ chúng ta đạt được trí tuệ nhận ra thực tại vô thường này.

Upādāna:

Sự tham đắm, sự chấp thủ.

Upekkhā:

Sự xả ly; trạng thái của tâm thoát khỏi tham lam, sân giận và si mê. Một trong bốn trạng thái thanh tịnh của tâm (xem Brahma-vihāra), một trong bảy chi phần giác ngộ (xem Bojjhaga), và một trong mười Ba-la-mật.

Uppāda:

Sự xuất hiện, sự sinh khởiUppāda-vaya, sự sinh khởihoại diệtUppāda-vaya-dhammino, có cùng bản chất sinh khởihoại diệt.

Vaya / vyaya:

Hoại diệt, suy tànVaya-dhamma, hiện tượng hoại diệt.

Vedanā:

Cảm thọ. Một trong năm uẩn (khandhā). Đức Phật dạy cảm thọ có hai: thân và tâm; vì vậy cảm thọ giúp chúng ta phương tiện để kiểm tra toàn bộ những hiện tượng thân-tâm. Trong vòng duyên khởiđiều kiện (paṭicca samuppāda), Đức Phật đã giải thích rằng tham ái (taṇhā), nguyên nhân của khổ, phát sinh khi có sự phản ứng với cảm thọ. Nhờ tu tập quán sát cảm thọ một cách khách quan chúng tathể không tạo ra những phản ứng mới, và có thể trực tiếp kinh nghiệm thực tại vô thường trong chính chúng ta. Kinh nghiệm này là điểm then chốt để đoạn trừ tham ái, dẫn đến tâm giải thoát.

Vedanānupassanā:

Sự quán sát những cảm thọ trên thân. Xem Satipaṭṭhāna.

Viññāṇa:

Tâm thức, sự nhận thức. Một trong năm uẩn (khandhā).

Vipassanā:

Minh sát tuệ, sự nội quán, tuệ quán làm thanh tịnh tâm; đặc biệt tuệ quán bản chất vô thường, khổ và vô ngã của thân và tâm. Vipassanā-bhāvanā, sự tu tậphệ thống về tuệ quán qua phương pháp thiền định quán sát thực tại của chính chúng ta bằng cách quán sát những cảm thọ trong thân chúng ta.

Viveka:

Vô tham, nhận thức không phân biệt.

Yathā-bhūta:

Nghĩa đen là "như thật là". Thật tại hiện hữuYathā-bhūta-ñāna-dassana, trí tuệ chứng ngộ chân lý như thật.

 

____________________

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5384)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1711)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1853)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1611)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1302)
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 17)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 75)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 101)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 155)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 197)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 199)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 194)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 178)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 205)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 213)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 258)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 231)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 281)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 251)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 322)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 267)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 273)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 298)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 267)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 278)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2224)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3922)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5560)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 322)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 406)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 418)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 258)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5384)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 489)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 476)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 3029)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2039)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng