Từ vựng

12 Tháng Ba 20209:57 SA(Xem: 587)
Từ vựng

TuNiemXuGiangGiai_CTứ Niệm Xứ Giảng Giải (Satipatthana Sutta Discourses)
S. N. Goenka - Dịch giả: Pháp Thông
Source-Nguồn: store.pariyatti.org, trungtamhotong.org
 
____________________
-----------------------------



TỪ VỰNG

 

A

 

abhijjhā                       tham

 

abhinandati                  hoan hỷ, thấy thích thú trong…, hài lòng với

 

ābhujitvā       khoanh (chân), xếp chân (kiết già)

 

abyāpāda      vô sân, không nóng giận

 

athiṭṭhāna      sự quyết định, quyết tâm mạnh mẽ

 

adhigama       chứng đắc

 

adho   hạ, dưới

 

ādīnava         sự nguy hiểm, bất lợi

 

adukkhamasukha      bất lạc bất khổ, trung tính

 

ajjhatta         bên trong

 

ajjhattika       phát sinh từ bên trong, bên trong

 

akusala          không thích đáng, bất thiện

 

anāgāmī        bậc bất lai (giai đoạn thứ ba của  thánh quả)

 

anālaya         xả ly [khác ālaya: dính mắc]

 

anāsava        bậc vô lậu, tức bậc Alahán

 

anatīta không thể tránh được, không thể thoát được

 

anissita          không được chống đỡ, tách ra, thoát ra

 

aññā   trí, tuệ giác, sự hiểu biết hoàn toàn

 

anumāna       tỷ lượng, suy ra, điều suy ra

 

anuppādo      không sanh, bất khởi sanh, vị sanh

 

anuppanna     bất khởi sanh, vị sanh [khacs uppanna]

 

āpo     nước

 

ārabhati         bắt đầu, khởi sự, đảm nhận, cố gắng

 

arahant         bậc thánh

 

asāta  bất khả ý - không vừa ý

 

asammosa     không có sự lẫn lộn

 

āsava  lậu hoặc, sự tiết rỉ, chất bất tịnh của tâm

 

asesa  không tàn dư, tròn đủ, hoàn toàn

 

assasati         thở vào

 

assutavā       vô văn, không được nghe, ngu dốt

 

asuci   không trong sạch, bất tịnh

 

ātāpī   nhiệt tâm

 

aṭṭhagika      tám nhánh, tám chi

 

attā    tự ngã

 

attano tự mình, attano citta: ngã tâm = tâm ta

 

atthagama   sự huỷ diệt, sự biến mất

 

avihisa        vô hại, không tàn bạo

 

aya  (các, người) này

 

āyatana         xứ, căn môn (cửa giác quan), đối tượng của giác quan

 

āyati:         trong tương lai

 

B

 

bāhira  bên ngoài, phía ngoài

 

bahiddhā        bên ngoài

 

bala    lực, sức mạnh

 

bhāvī   à bhava: hữu hay trở thành

 

bhāvanā        phát triển, tu tập, trau dồi tâm, trú  tâm

 

bhavanā-mayā         do thực hành hay tu tập tạo ra

 

bhāvetabba    cần phải tu tập - ưng tu tập, sở tu

 

bhūta  trở thành (p.p of bhavati); quỉ thần, hữu tình, sanh vật,  chân thực

 

bhaga          hoại diệt, sự tan rã hoàn toàn

 

bhagavā        cao siêu, may mắn (một ân đức của Đức Phật - Thế Tôn)

 

bheda  tan vỡ ra, không còn hoà hợp, tách rời ra

 

bhikkhave      này các Tỳ khưu

 

bhikkhu          Tỳ khưu, người hành thiền, hành giả

 

bhiyyobhāva   trở thành nhiều hơn nữa

 

bojjhaga      giác chi, chi phần của sự giác ngộ

 

byādhi bệnh, đau ốm

 

byāpāda        sân, ác ý

 

C

 

ca       và

 

cāga   sự tư bỏ, xuất ly

 

cakkhu nhãn, mắt

 

cattāro bốn

 

cetasika         thuộc về tâm, tâm sở, nội dung tâm trí

 

cha     sáu

 

chanda          ước muốn, ý định, hoài bão

 

cintā-mayā     do tư duy mà thành, thuộc về sự hiểu biết tri thức

 

cittānupassanā         quán tâm hay quan sát tâm

 

citta    tâm

 

citte    trong tâm

 

D

 

dhāreti chứa đựng, mang theo, sở hữu, giữ

 

dhātu  giới, yếu tố, đại

 

dhātuso  theo tính chất hay bản chất của một người hay một vật

 

dhammānupassī        quán pháp, quan sát liên tục các nội dung tâm trí

 

dhammesu     trong pháp, trong nội dung tâm trí

 

dhañña          hạt, mễ cốc

 

dhunamāna    p.p của dhunati: tống khứ, bỏ đi, huỷ diệt đi

 

dīgha   dài, sâu

 

diṭṭha  thấy, kiến, sở kiến

 

domanassa    cảm giác khó chịu trong tâm, ưu (thọ)

 

dosa   sân

 

E

 

ekāyana        con đường độc nhất, con đường trực tiếp

 

ettha   ở đây, ở nơi này, trong vấn đề này

 

eva  như vậy, theo cách này

 

G

 

gandha          hương (mùi)

 

gāthā  bài kệ

 

ghāna   Mũi, tỷ (căn)

 

gotrabhū        chuyển tộc "trở thành giòng dõi của…". Một giai đoạn trong Minh sát tuệ, ở đây người hành thiền chuyển từ phàm tộc sang thánh tộc.

 

H

 

hoti     là

 

I

 

icchā   ước muốn, mong muốn

 

idha    nơi đây, bây giờ, về việc này

 

imasmi        ở đây, liên quan tới việc này hay chỗ này

 

indriya căn, khả năng, nhiệm vụ

 

indriya savara      thu thúc hay phòng hộ các căn

 

iriyāpatha       tư thế (của thân), oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi)

 

J

 

janati   sinh ra, tạo ra

 

jānāti   biết, hiểu biết

 

jāti      sanh, trở thành

 

jhāna  thiền (bậc thiền) an chỉ định

 

jivhā    lưỡi, thiệt

 

jīvita    sinh mệnh, đời (người), hoạt mạng (cách sinh nhai)

 

K

 

kalāpa nhóm, bọn, tổng hợp sắc

 

kāma  dục, ái dục

 

kāmachanda   dục lạc, dục dục (trong 5 triền cái)

 

kata    làm, tác, dĩ tác (đã làm)

 

katha         thế nào?

 

kattha ở đâu? Đâu?

 

kāya   thân

 

kāyanupassī   sự quan sát liên tục thân này

 

kāyanupassanā         quán thân

 

kāya-sakhāna         hoạt động của thân, thân hành

 

kāyasmi      trong thân

 

kāye   trong thân

 

kesa    tóc

 

kevala cô độc,hoàn toàn, trọn vẹn

 

kevalaparipuṇṇa        hoàn toànviên mãn

 

kevalaparisuddha       hoàn toànthanh tịnh

 

paripuṇṇapārisuddhisīla : viên mãn thanh tịnh giới

 

khandha        uẩn, đống, bó

 

kiñci    bất cứ điều gì

 

kukkucca       hối hận, lo lắng

 

kusala  thiện, tốt, chính đáng

 

L

 

labhati được, nhận được, thu được

 

lakkhaa        tướng, đặc tính

 

loka     cảnh giới, thế gian, hiện tượng tâm - vật lý hay danh pháp và sắc pháp

 

M

 

māgga con đường, đạo lộ

 

mahā  lớn, đại

 

mahaggata    làm cho lớn ra, trở nên lớn, đại hành

 

mano  ý, tâm

 

manasikāra    tác ý, suy quán, quán

 

matta  theo ước lượng, cũng nhiều bằng, đơn thuần, chỉ là

 

matthaka       cái đầu, chóp đỉnh

 

me     do tôi, bởi tôi

 

micchā tà, sai lạc

 

middha          buồn ngủ, hôn trầm

 

moha  si mê, vô minh, ảo tưởng

 

mukha cái miệng, mặt, lối vào

 

musā  một cách sai lầm

 

mutti   giải thoát, tự do

 

N

 

a      không

 

nāma  danh (tâm)

 

nandi   hoan hỷ, thích thú

 

ñāa   trí, chánh trí

 

ñānappakkāra khác nhau, đa dạng

 

nātha  bảo hộ, giúp đỡ, thủ hộ, người bảo vệ

 

natthi  chẳng có [na atthi - không có]

 

nava   chín (9)

 

ñāya   sự thực, chân lý, chánh hạnh

 

nirāmisa         thanh tịnh, không chấp thủ, không ái nhiễm (khác với sāmisa: ái nhiễm)

 

nirodha          diệt, diệt tận

 

nirujjihati        đã diệt

 

nisīdati ngồi xuống

 

nisino   ngồi

 

nīvaraa        triền cái, ngăn che, chướng ngại, bức màn

 

nivisati đi vào, dừng, ổn định, củng cố

 

O

 

okkhitta         nhìn xuống

 

P

 

paccakkha      hiển nhiên, rõ ràng

 

paccatta     riêng biệt, cá nhân

 

          pacctta veditabbo viññūhi: bậc trí tự mình chứng

 

paccavekkhati quán, quán sát, suy xét

 

paccaya        nhân, duyên, nền tảng

 

paccupaṭṭhita  được thiết lập, hiện khởi

 

padahati        cố gắng, nỗ lực

 

pādutala        lòng bàn chân

 

paggahāti               lấy lên, vận dụng, gắn (tâm) một cách mạnh mẽ vào

 

pahāna          từ bỏ, đoạn trừ, xả ly, xả đoạn

 

pajānāti         tuệ tri, hiểu biết với trí tuệ

 

pakāra kiểu, cách, lối

 

pallaka         ngồi xếp bằng (kiết già)

 

pana   lại nữa, thêm nữa

 

ātipāta      sát sanh, huỷ diệt sự sống

 

pañca  năm (5)

 

pañcupādānakkhandhā         năm uẩn chấp thủ (năm thủ uẩn)

 

paññatti         khái niệm, sự thể hiện, thi thiết

 

paṇḍita          bậc trí, người có trí tuệ

 

paihita       dùng hết (sức lực), áp dụng, hướng đến, nguyện ước, cầu nguyện

 

pāpa   ác

 

pāpaka          xấu

 

pāramī balamật, sự hoàn thiện

 

pāripūrī sự hoàn thành, viên mãn, sự hoàn tất

 

pārisuddhi      thanh tịnh

 

parāmāsa      chấp thủ

 

para thêm nữa, xa hơn nữa

 

parideva        than khóc, bi khấp

 

parijānāti        biến tri, sự hiểu biết hoàn toàn

 

parimukha      quanh miệng

 

pariññāta       liễu tri, sự hiểu biết rốt ráo, hiểu đến tận cùng của vấn đề

 

paripāka        sự chín mùi, thối mục

 

pariyanta       bị giới hạn bởi, hạn định bởi, vây quanh bởi

 

pariyatti         pháp học, tri kiến lý thuyết

 

passaddhi      an tịnh, tĩnh lặng

 

passambhaya làm cho an tịnh, yên tĩnh

 

passasati       thở ra

 

passati thấy

 

passeyya       sẽ thấy

 

pahavī          đất (địa đại)

 

paṭṭhāna        được thiết lập một cách rộng rãi (với trí tuệ)

 

paicca do, duyên

 

paikūla          đáng kinh tởm

 

painissaga     sự tử bỏ, loại bỏ, sự khước từ

 

paipadā        đạo, con đường, phương tiện để đạt đến đích

 

paipatti         thực hành

 

paisamvedī    kinh nghiệm, cảm giác

 

pattabba        đạt được, giành được

 

paissati         nhận biết, niệm

 

paivedha       trí thông đạt, chọc thủng, trí thể nhập, tuệ giác

 

phala   quả (thánh)

 

phassa xúc

 

phoṭṭhabba    xúc, đụng chạm

 

pisua nói xấu, nói vu cáo (cho người khác)

 

pīti      hỷ

 

piya    thân ái, thân yêu, dễ chịu, khả ý

 

ponobbhavikā đưa đến tái sinh

 

ponobbhavikabhavasakhāra - tương lai hữu hữu hành

 

puna   lại nữa

 

pūra    đầy, đầy tràn

 

R

 

rāga    ái, tham dục

 

rajo     bụi, dơ bẩn, bất tịnh

 

rasa    vị

 

rassa   ngắn, nông

 

riñcati  từ bỏ, xao lãng, quên

 

rūpa    sắc, vật chất

 

S

 

sabba  tất cả

 

sabhāva        bản chất, tự tánh, thiên nhiên

 

sacca  chân lý, sự thực

 

sacchikātabba sở chứng, thực chứng

 

sacchikata      thực chứng, tự chứng, tự mình kinh nghiệm

 

sadda  âm thanh, lời nói

 

saddhā          tín, niềm tin

 

saddhi        cùng với nhau

 

sadosa có sân, với sân (khác vītadosa không có sân)

 

sakadāgāmī    bậc nhất lai (tầng thánh thứ hai)

 

saāyatana     sáu nội, ngoại xứ, các căn (bên trong) và các đối tượng giác quan (bên ngoài)

 

samādhija      do định sanh, xuất phát từ định

 

samādhita,samādhi    định

 

samatikkama  siêu việt, vượt qua

 

samaya         thời gian

 

samudaya      tập khởi, phát sinh

 

sāmisa bất tịnh, ái nhiễm, với sự chấp thủ

 

sakhitta        tập trung (tâm), chuyên chú (tâm)

 

khác vikkhita:          tán loạn (tâm)

 

sammā         chánh, đúng đắn

 

samoha         có si, với si (khác vītamoha: không có si)

 

sampajāna     với tỉnh giác (sampajañña)

 

sampajañña   sự hiểu biết thấu đáo về tính vô thường ở đây chúng tôi dịch là trí tuệ tỉnh giác

 

sampajānakārī hành hay thực hành trí tuệ tỉnh giác (kārī: làm hay hành)

 

sampasādana tịnh, yên tịnh

 

sampayoga    tương ưng, kết hợp, hợp

 

samphappalāpa        nói chuyện vu vơ, lý luận, phù phiếm

 

samphassa    xúc

 

samphassaja  do xúc sanh, do xúc

 

samudaya      tập khởi, sanh khởi

 

samudayasacca        tập đế, sự thực hay chân lý về sự sanh khởi

 

sajoyana     trói buộc, kiết sử, kiết phược

 

sañcetanā      cố tư, cố ý, ý định, phản ứng

 

sakhāra       hành uẩn, hành, phản ứng, điều kiện tâm lý

 

sakhittena    tóm lại, ngắn gọn, súc tích

 

saññā  tưởng

 

santa  là [htpt của atthi]

 

sarāga có tham, với tham

 

sāta    dễ chịu, vừa ý

 

sati     niệm, nhận biết

 

satimā với niệm

 

satipaṭṭhāna   thiết lập niệm

 

sato    niệm

 

satta   cá nhân, hữu tình chúng sinh

 

satta   bảy (7)

 

sauttara      có thể vượt qua, thấp kém [khác anuttara: vô thượng - không có gì cao hơn]

 

sāvaka thinh văn, đệ tử

 

sikkhati học, tự tập luyện

 

soka    sầu ưu

 

somanassa    hỷ, cảm giác tâm lý dễ chịu

 

sotāpanna      bậc nhập lưu (tầng thánh thứ nhất)

 

sota    dòng

 

sota    tai

 

sukha  lạc

 

supaipanna    đã khéo hành

 

suta    nghe

 

sutavā          đã nghe, cụ thoại giả; người được nghe đầy đủ

 

T

 

taca    da

 

tahā  ái, khát ái, nhiệt tình

 

tato    từ ở đây, nơi đây

 

tatratatrābhinandinē   đi tìm sự thích thú lúc chỗ này lúc chỗ kia và loanh quanh

 

tejo     lửa (hoả đại)

 

tesa của chúng, của họ

 

hāna  thiết lập, dựng lên, điều kiện, trạng thái

 

hita    thẳng đứng, vững chắc, đứng

 

thina   hôn trầm, sự cứng ngắc (của tâm), trơ lì ti [một tiểu từ biểu thị sự chấm dứt của một đoạn trích dẫn]

 

tipiaka tam tạng

 

U

 

ubhaya          hai, lưỡng

 

LETTER-SPACING:-0.1pt; ubhaya pātimokkha: lưỡng balađề mộc xoa

 

uddha         trên, thượng

 

uddhacca       trạo sự, kích động, mất thăng bằng

 

uju      thẳng, thẳng đứng

 

upādāna        chấp thủ, dính mắc

 

upādānakkhandha     thủ uẩn

 

upādisesa      hữu dư y
upādi: quyết định quan trọng, chấp thủ, thủ trước [xem upādāna]

 

upādiyati        nắm lấy, bám lấy, cố chấp

 

upaṭṭhapetvā  đã thiết lập, khiến cho có mặt

 

upasaharati  tập trung, thu thập, suy xét

 

upasampaja   đã đạt đến, đi vào, có được

 

upāyāsa        nỗi đau buồn, tai ương, buồn rầu

 

upekkhā        xả

 

upekkhato      với thái độ xả

 

uppāda          đi vào hiện hữu, xuất hiện, sinh

 

uppajjamāna  sanh lên

 

uppajjati        sanh, được tạo ra, được sanh ra, đi vào hiện hữu

 

uppajjitvā       sanh khởi, sanh

 

uppanna        sanh, tái sanh, sanh lên, tạo ra

 

uppanna        sanh lên (pp của uppajjati)

 

V

 

vā      hay

 

vāca   lời nói

 

vata    phát nguyện, lời thề

 

vaya   diệt

 

vāyāma         cố gắng, nỗ lực, tinh tấn

 

vāyamati       nỗ lực

 

vāyo   gió

 

vedagu          người cso trí tuệ cao tột

 

vedanānupassī          quán sát liên tục các cảm thọ

 

vedanānupassanā     quan thọ

 

vedanāsu       trong thọ

 

vedayati        cảm giác, kinh nghiệm một cảm thọ

 

veditabba       được kinh nghiệm, hiểu, biết

 

vepulla sự phát triển sung mãn, dồi dào đầy đủ

 

veramaī       tránh xa

 

vibhava         phi hữu, sự huỷ diệt cuộc sống

 

vicāra  tứ, xoay lăn trong những ý nghĩ

 

vicaya sự xem xét, thẩm sát

 

vicikicchā        hoài nghi, do dự, không chắc chắn

 

vihārin trú, sống, ở trong một điều kiện nào đó

 

viharati trú, sống, ở trong một điều kiện

 

vikkkhittaka    rải rác khắp nơi, chặt ra từng khúc

 

vimutta         giải thoát

 

vinīlaka bầm xanh

 

vineyya         viễn lý, lìa xa

 

viññāa         thức

 

vippayoga      sự chia lìa, rời ra

 

virāga  vô dục, sự diệt dục, thanh tịnh, giải thoát

 

viriya   nỗ lự tinh tấn

 

visesa  dấu vết, đặc tính

 

visuddhi         thanh tịnh

 

vitakka sự gắn tâm ban đầu, tầm

 

viveka sự tách ly, độc cư

 

vivicca đã tách ra hay đã cô lập khỏi

 

vuccati được gọi là

 

vūpasama      yên tính, chỉ tức, tịch tịnh

 

Y

 

yathā  như, giống như

 

yathābhūta  như thực, như nó là

 

yāvadeva      tới mức mà

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 1027)
02 Tháng Bảy 201911:36 SA(Xem: 1763)
Đức Đạt Lai Lạt Ma (được dịch là "Trí Tuệ Như Biển") đời thứ 14, sinh ngày 6/7/1935, tên ngài lúc mới sinh là Lhamo Thondup. The 14th Dalai Lama (loosely translated "Ocean of Wisdom") was born Lhamo Thondup on July 6, 1935.
08 Tháng Bảy 20209:02 CH(Xem: 19)
"Tôi nghĩ rằng chúng ta nên nhấn mạnh đến sự đồng nhất, sự giống nhau ... nhấn mạnh đến điều đó", nhà sư đoạt giải Nobel Hòa bình nói. Đôi khi, ông nói, chúng ta đặt nặng quá nhiều vào "sự khác biệt nhỏ" và "điều đó tạo ra vấn đề". ("I think we should emphasize oneness, sameness...emphasize that," says the Nobel Peace Prize winning monk.
07 Tháng Bảy 202010:00 CH(Xem: 82)
Trong thế giới chúng ta sống hôm nay, các quốc gia không còn cô lập và tự cung cấp như xưa kia. Tất cả chúng ta trở nên phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì thế, càng phải nhận thức nhiều hơn về tính nhân loại đồng nhất. Việc quan tâm đến người khác là quan tâm chính mình. Khí hậu thay đổi và đại dịch hiện nay, tất cả chúng ta bị đe doạ,
05 Tháng Bảy 20208:28 CH(Xem: 149)
Tâm biết có hai phương diện: Tánh biết và tướng biết. Tánh biết vốn không sinh diệt, còn tướng biết tuỳ đối tượng mà có sinh diệt. Khi khởi tâm muốn biết tức đã rơi vào tướng biết sinh diệt. Khi tâm rỗng lặng hồn nhiên, tướng biết không dao động thì tánh biết tự soi sáng. Lúc đó tánh biết và tướng biết tương thông,
04 Tháng Bảy 20202:37 CH(Xem: 150)
Từ yoniso nghĩa là sáng suốt, đúng đắn. Manasikāra nghĩa là sự chú ý. Khi nào chú ý đúng đắn hợp với chánh đạo, đó là như lý tác ý; khi nào chú ý không đúng đắn, hợp với tà đạo, đó là phi như lý tác ý. Khi chú ý đến các pháp khiến cho năm triền cái phát sanh là phi như lý tác ý, trái lại khi chú ý đến các pháp mà làm hiện khởi
03 Tháng Bảy 20207:32 CH(Xem: 159)
Trước hết cần xác định “tác ý” được dịch từ manasikāra hay từ cetanā, vì đôi lúc cả hai thuật ngữ Pāli này đều được dịch là tác ý như nhau. Khi nói “như lý tác ý” hoặc “phi như tác ý” thì biết đó là manasikāra, còn khi nói “tác ý thiện” hoặc “tác ý bất thiện” thì đó là cetanā. Nếu nghi ngờ một thuật ngữ Phật học Hán Việt thì nên tra lại
02 Tháng Bảy 20206:13 CH(Xem: 189)
Bạn nói là bạn quá bận rộn để thực tập thiền. Bạn có thời gian để thở không? Thiền chính là hơi thở. Tại sao bạn có thì giờ để thở mà lại không có thì giờ để thiền? Hơi thở là thiết yếu cho đời sống. Nếu bạn thấy rằng tu tập Phật pháp là thiết yếu trong cuộc đời, bạn sẽ thấy hơi thởtu tập Phật pháp là quan trọng như nhau.
01 Tháng Bảy 20205:53 CH(Xem: 213)
Khi con biết chiêm nghiệm những trải nghiệm cuộc sống, con sẽ thấy ra ý nghĩa đích thực của khổ đau và ràng buộc thì con sẽ có thể dễ dàng tự do tự tại trong đó. Thực ra khổ đau và ràng buộc chỉ xuất phát từ thái độ của tâm con hơn là từ điều kiện bên ngoài. Nếu con tìm thấy nguyên nhân sinh khổ đau ràng buộc ở trong thái độ tâm
30 Tháng Sáu 20209:07 CH(Xem: 201)
Cốt lõi của đạo Phật khác với các tôn giáo khác ở chỗ, hầu hết các tôn giáo khác đều đưa ra mục đích rồi rèn luyện hay tu luyện để trở thành, để đạt được lý tưởng nào đó. Còn đạo Phật không tu luyện để đạt được cái gì cả. Mục đích của đạo Phậtgiác ngộ, thấy ra sự thật hiện tiền tức cái đang là. Tất cả sự thật đều bình đẳng,
29 Tháng Sáu 20208:36 CH(Xem: 196)
Theo nguyên lý thì tụng gì không thành vấn đề, miễn khi tụng tập trung được tâm ý thì đều có năng lực. Sự tập trung này phần lớn có được nhờ đức tin vào tha lực. Luyện bùa, trì Chú, thôi miên, niệm Phật, niệm Chúa, thiền định, thần thông v.v… cũng đều cần có sức mạnh tập trung mới thành tựu. Tưởng đó là nhờ tha lực nhưng sức mạnh
28 Tháng Sáu 20209:36 CH(Xem: 208)
Giác ngộvô minh thì thấy vô minh, minh thì thấy minh… mỗi mỗi đều là những cái biểu hiện để giúp tâm thấy ra tất cả vốn đã hoàn hảo ngay trong chính nó. Cho nên chỉ cần sống bình thường và thấy ra nguyên lý của Pháp thôi. Sự vận hành của Pháp vốn rất hoàn hảo trong những cặp đối đãi – tương sinh tương khắc – của nó.
27 Tháng Sáu 20206:31 CH(Xem: 215)
Thầy có ví dụ: Trong vườn, cây quýt nhìn qua thấy cây cam nói nói tại sao trái cam to hơn mình. Và nó ước gì nó thành cây cam rồi nó quên hút nước và chết. Mình thường hay muốn thành cái khác, đó là cái sai. Thứ hai là mình muốn đốt thời gian. Như cây ổi, mình cứ lo tưới nước đi. Mọi chuyện hãy để Pháp làm. Mình thận trọng,
26 Tháng Sáu 20209:57 CH(Xem: 192)
Từ đó tôi mới hiểu ý-nghĩa này. Hóa ra trong kinh có nói những cái nghĩa đen, những cái nghĩa bóng. Có nghĩa là khi một người được sinh ra trên thế-gian này, dù người đó là Phật, là phàm-phu, là thánh-nhân đi nữa, ít nhất đầu tiên chúng ta cũng bị tắm bởi hai dòng nước, lạnh và nóng, tức là Nghịch và Thuận; nếu qua được
25 Tháng Sáu 202010:14 CH(Xem: 234)
trí nhớ là tốt nhưng đôi khi nhớ quá nhiều chữ nghĩa cũng không hay ho gì, nên quên bớt ngôn từ đi, chỉ cần nắm được (thấy ra, thực chứng) cốt lõi lý và sự thôi lại càng tốt. Thấy ra cốt lõi tinh tuý của sự thật mới có sự sáng tạo. Nếu nhớ từng lời từng chữ - tầm chương trích cú - như mọt sách rồi nhìn mọi sự mọi vật qua lăng kính
24 Tháng Sáu 202010:08 CH(Xem: 241)
Kính thưa Thầy, là một người Phật Tử, mỗi khi đi làm phước hay dâng cúng một lễ vật gì đến Chư Tăng thì mình có nên cầu nguyện để mong được như ý mà mình mong muốn không? Hay là để tâm trong sạch cung kính mà dâng cúng không nên cầu nguyện một điều gì? Và khi làm phước mà mong được gieo giống lành đắc Đạo quả
23 Tháng Sáu 20207:24 CH(Xem: 277)
Tất cả chúng ta sẽ phải đối mặt với cái chết, vì vậy, không nên bỏ mặc nó. Việc có cái nhìn thực tế về cái chết của mình sẽ giúp ta sống một đời trọn vẹn, có ý nghĩa. Thay vì hấp hối trong sự sợ hãi thì ta có thể chết một cách hạnh phúc, vì đã tận dụng tối đa cuộc sống của mình. Qua nhiều năm thì cơ thể của chúng ta đã thay đổi.
22 Tháng Sáu 20209:23 CH(Xem: 296)
Đúng là không nên nhầm lẫn giữa luân hồi (saṃsāra) và tái sinh (nibbatti). Tái sinh là sự vận hành tự nhiên của vạn vật (pháp hữu vi), đó là sự chết đi và sinh lại. Phàm cái gì do duyên sinh thì cũng đều do duyên diệt, và rồi sẽ tái sinh theo duyên kế tục, như ví dụ trong câu hỏi là ngọn lửa từ bật lửa chuyển thành ngọn lửa
21 Tháng Sáu 20208:58 CH(Xem: 262)
Trong Tăng chi bộ, có một lời kinh về bản chất chân thật của tâm: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” cùng với ý nghĩa “cội nguồn” của “yoni” trong “yoniso mananikara” là hai y cứ cho tựa sách “Chói sáng cội nguồn tâm”. Tựa đề phụ “Cách nhìn toàn diện hai chiều vô vihữu vi của thực tại”
20 Tháng Sáu 20203:42 CH(Xem: 335)
Trong tu tập nhiều hành giả thường cố gắng sắp đặt cái gì đó trước cho việc hành trì của mình, như phải ngồi thế này, giữ Tâm thế kia, để mong đạt được thế nọ… nhưng thật ra không phải như vậy, mà là cứ sống bình thường trong đời sống hàng ngày, ngay đó biết quan sát mà thấy ra và học cách hành xử sao cho đúng tốt là được.
19 Tháng Sáu 20204:48 CH(Xem: 329)
Lúc còn nhỏ, khi đến thiền viện, tôi phải có cha mẹ đi cùng, và không được đi hay ngồi chung với các sư. Khi các sư giảng Pháp, tôi luôn ngồi bên dưới, chỉ đủ tầm để nghe. Vị thiền sư đáng kính dạy chúng tôi cách đảnh lễ Đức Phậttụng kinh xưng tán ân đức của Ngài. Thiền sư khuyến khích chúng tôi rải tâm từ cho mọi chúng sinh,
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1265)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2840)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4353)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Sáu 20205:26 CH(Xem: 437)
I am very impressed by the thoroughness and care with which Dr. Thynn Thynn explains the path of mindfulness in daily life in her book. This has not been emphasized as strongly in the monastic and meditative teachings of Buddhism that have taken root in the West.
11 Tháng Sáu 20205:08 CH(Xem: 438)
Tôi rất cảm phục Bs Thynn Thynn khi bà đã tận tình giải thích thấu đáo, trong quyển sách của bà, về cách sống tỉnh giác trong đời sống thường ngày. Trước đây, điểm nầy chưa được nhấn mạnh đúng mức trong giáo lý Phật-đà tại các thiền việntu việnTây phương. Trong thực tế, phần lớn các phương pháp tu hành ở Á châu đều theo
14 Tháng Năm 202010:20 CH(Xem: 629)
Trong mấy năm qua, một vài ông bà — cụ thể là Mary Talbot, Jane Yudelman, Bok Lim Kim và Larry Rosenberg—đã đề nghị tôi “Khi nào Sư sẽ viết hướng dẫn về hành thiền hơi thở?” Tôi đã luôn nói với họ rằng cuốn Giữ Hơi Thở Trong Tâm (Keeping the Breath in Mind) của Ajaan Lee là hướng dẫn thực hành tuyệt vời, nhưng họ
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 636)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 638)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 745)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1061)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1273)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1149)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.