Từ vựng

12 Tháng Ba 20209:57 SA(Xem: 1395)
Từ vựng

TuNiemXuGiangGiai_CTứ Niệm Xứ Giảng Giải (Satipatthana Sutta Discourses)
S. N. Goenka - Dịch giả: Pháp Thông
Source-Nguồn: store.pariyatti.org, trungtamhotong.org
 
____________________
-----------------------------



TỪ VỰNG

 

A

 

abhijjhā                       tham

 

abhinandati                  hoan hỷ, thấy thích thú trong…, hài lòng với

 

ābhujitvā       khoanh (chân), xếp chân (kiết già)

 

abyāpāda      vô sân, không nóng giận

 

athiṭṭhāna      sự quyết định, quyết tâm mạnh mẽ

 

adhigama       chứng đắc

 

adho   hạ, dưới

 

ādīnava         sự nguy hiểm, bất lợi

 

adukkhamasukha      bất lạc bất khổ, trung tính

 

ajjhatta         bên trong

 

ajjhattika       phát sinh từ bên trong, bên trong

 

akusala          không thích đáng, bất thiện

 

anāgāmī        bậc bất lai (giai đoạn thứ ba của  thánh quả)

 

anālaya         xả ly [khác ālaya: dính mắc]

 

anāsava        bậc vô lậu, tức bậc Alahán

 

anatīta không thể tránh được, không thể thoát được

 

anissita          không được chống đỡ, tách ra, thoát ra

 

aññā   trí, tuệ giác, sự hiểu biết hoàn toàn

 

anumāna       tỷ lượng, suy ra, điều suy ra

 

anuppādo      không sanh, bất khởi sanh, vị sanh

 

anuppanna     bất khởi sanh, vị sanh [khacs uppanna]

 

āpo     nước

 

ārabhati         bắt đầu, khởi sự, đảm nhận, cố gắng

 

arahant         bậc thánh

 

asāta  bất khả ý - không vừa ý

 

asammosa     không có sự lẫn lộn

 

āsava  lậu hoặc, sự tiết rỉ, chất bất tịnh của tâm

 

asesa  không tàn dư, tròn đủ, hoàn toàn

 

assasati         thở vào

 

assutavā       vô văn, không được nghe, ngu dốt

 

asuci   không trong sạch, bất tịnh

 

ātāpī   nhiệt tâm

 

aṭṭhagika      tám nhánh, tám chi

 

attā    tự ngã

 

attano tự mình, attano citta: ngã tâm = tâm ta

 

atthagama   sự huỷ diệt, sự biến mất

 

avihisa        vô hại, không tàn bạo

 

aya  (các, người) này

 

āyatana         xứ, căn môn (cửa giác quan), đối tượng của giác quan

 

āyati:         trong tương lai

 

B

 

bāhira  bên ngoài, phía ngoài

 

bahiddhā        bên ngoài

 

bala    lực, sức mạnh

 

bhāvī   à bhava: hữu hay trở thành

 

bhāvanā        phát triển, tu tập, trau dồi tâm, trú  tâm

 

bhavanā-mayā         do thực hành hay tu tập tạo ra

 

bhāvetabba    cần phải tu tập - ưng tu tập, sở tu

 

bhūta  trở thành (p.p of bhavati); quỉ thần, hữu tình, sanh vật,  chân thực

 

bhaga          hoại diệt, sự tan rã hoàn toàn

 

bhagavā        cao siêu, may mắn (một ân đức của Đức Phật - Thế Tôn)

 

bheda  tan vỡ ra, không còn hoà hợp, tách rời ra

 

bhikkhave      này các Tỳ khưu

 

bhikkhu          Tỳ khưu, người hành thiền, hành giả

 

bhiyyobhāva   trở thành nhiều hơn nữa

 

bojjhaga      giác chi, chi phần của sự giác ngộ

 

byādhi bệnh, đau ốm

 

byāpāda        sân, ác ý

 

C

 

ca       và

 

cāga   sự tư bỏ, xuất ly

 

cakkhu nhãn, mắt

 

cattāro bốn

 

cetasika         thuộc về tâm, tâm sở, nội dung tâm trí

 

cha     sáu

 

chanda          ước muốn, ý định, hoài bão

 

cintā-mayā     do tư duy mà thành, thuộc về sự hiểu biết tri thức

 

cittānupassanā         quán tâm hay quan sát tâm

 

citta    tâm

 

citte    trong tâm

 

D

 

dhāreti chứa đựng, mang theo, sở hữu, giữ

 

dhātu  giới, yếu tố, đại

 

dhātuso  theo tính chất hay bản chất của một người hay một vật

 

dhammānupassī        quán pháp, quan sát liên tục các nội dung tâm trí

 

dhammesu     trong pháp, trong nội dung tâm trí

 

dhañña          hạt, mễ cốc

 

dhunamāna    p.p của dhunati: tống khứ, bỏ đi, huỷ diệt đi

 

dīgha   dài, sâu

 

diṭṭha  thấy, kiến, sở kiến

 

domanassa    cảm giác khó chịu trong tâm, ưu (thọ)

 

dosa   sân

 

E

 

ekāyana        con đường độc nhất, con đường trực tiếp

 

ettha   ở đây, ở nơi này, trong vấn đề này

 

eva  như vậy, theo cách này

 

G

 

gandha          hương (mùi)

 

gāthā  bài kệ

 

ghāna   Mũi, tỷ (căn)

 

gotrabhū        chuyển tộc "trở thành giòng dõi của…". Một giai đoạn trong Minh sát tuệ, ở đây người hành thiền chuyển từ phàm tộc sang thánh tộc.

 

H

 

hoti     là

 

I

 

icchā   ước muốn, mong muốn

 

idha    nơi đây, bây giờ, về việc này

 

imasmi        ở đây, liên quan tới việc này hay chỗ này

 

indriya căn, khả năng, nhiệm vụ

 

indriya savara      thu thúc hay phòng hộ các căn

 

iriyāpatha       tư thế (của thân), oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi)

 

J

 

janati   sinh ra, tạo ra

 

jānāti   biết, hiểu biết

 

jāti      sanh, trở thành

 

jhāna  thiền (bậc thiền) an chỉ định

 

jivhā    lưỡi, thiệt

 

jīvita    sinh mệnh, đời (người), hoạt mạng (cách sinh nhai)

 

K

 

kalāpa nhóm, bọn, tổng hợp sắc

 

kāma  dục, ái dục

 

kāmachanda   dục lạc, dục dục (trong 5 triền cái)

 

kata    làm, tác, dĩ tác (đã làm)

 

katha         thế nào?

 

kattha ở đâu? Đâu?

 

kāya   thân

 

kāyanupassī   sự quan sát liên tục thân này

 

kāyanupassanā         quán thân

 

kāya-sakhāna         hoạt động của thân, thân hành

 

kāyasmi      trong thân

 

kāye   trong thân

 

kesa    tóc

 

kevala cô độc,hoàn toàn, trọn vẹn

 

kevalaparipuṇṇa        hoàn toànviên mãn

 

kevalaparisuddha       hoàn toànthanh tịnh

 

paripuṇṇapārisuddhisīla : viên mãn thanh tịnh giới

 

khandha        uẩn, đống, bó

 

kiñci    bất cứ điều gì

 

kukkucca       hối hận, lo lắng

 

kusala  thiện, tốt, chính đáng

 

L

 

labhati được, nhận được, thu được

 

lakkhaa        tướng, đặc tính

 

loka     cảnh giới, thế gian, hiện tượng tâm - vật lý hay danh pháp và sắc pháp

 

M

 

māgga con đường, đạo lộ

 

mahā  lớn, đại

 

mahaggata    làm cho lớn ra, trở nên lớn, đại hành

 

mano  ý, tâm

 

manasikāra    tác ý, suy quán, quán

 

matta  theo ước lượng, cũng nhiều bằng, đơn thuần, chỉ là

 

matthaka       cái đầu, chóp đỉnh

 

me     do tôi, bởi tôi

 

micchā tà, sai lạc

 

middha          buồn ngủ, hôn trầm

 

moha  si mê, vô minh, ảo tưởng

 

mukha cái miệng, mặt, lối vào

 

musā  một cách sai lầm

 

mutti   giải thoát, tự do

 

N

 

a      không

 

nāma  danh (tâm)

 

nandi   hoan hỷ, thích thú

 

ñāa   trí, chánh trí

 

ñānappakkāra khác nhau, đa dạng

 

nātha  bảo hộ, giúp đỡ, thủ hộ, người bảo vệ

 

natthi  chẳng có [na atthi - không có]

 

nava   chín (9)

 

ñāya   sự thực, chân lý, chánh hạnh

 

nirāmisa         thanh tịnh, không chấp thủ, không ái nhiễm (khác với sāmisa: ái nhiễm)

 

nirodha          diệt, diệt tận

 

nirujjihati        đã diệt

 

nisīdati ngồi xuống

 

nisino   ngồi

 

nīvaraa        triền cái, ngăn che, chướng ngại, bức màn

 

nivisati đi vào, dừng, ổn định, củng cố

 

O

 

okkhitta         nhìn xuống

 

P

 

paccakkha      hiển nhiên, rõ ràng

 

paccatta     riêng biệt, cá nhân

 

          pacctta veditabbo viññūhi: bậc trí tự mình chứng

 

paccavekkhati quán, quán sát, suy xét

 

paccaya        nhân, duyên, nền tảng

 

paccupaṭṭhita  được thiết lập, hiện khởi

 

padahati        cố gắng, nỗ lực

 

pādutala        lòng bàn chân

 

paggahāti               lấy lên, vận dụng, gắn (tâm) một cách mạnh mẽ vào

 

pahāna          từ bỏ, đoạn trừ, xả ly, xả đoạn

 

pajānāti         tuệ tri, hiểu biết với trí tuệ

 

pakāra kiểu, cách, lối

 

pallaka         ngồi xếp bằng (kiết già)

 

pana   lại nữa, thêm nữa

 

ātipāta      sát sanh, huỷ diệt sự sống

 

pañca  năm (5)

 

pañcupādānakkhandhā         năm uẩn chấp thủ (năm thủ uẩn)

 

paññatti         khái niệm, sự thể hiện, thi thiết

 

paṇḍita          bậc trí, người có trí tuệ

 

paihita       dùng hết (sức lực), áp dụng, hướng đến, nguyện ước, cầu nguyện

 

pāpa   ác

 

pāpaka          xấu

 

pāramī balamật, sự hoàn thiện

 

pāripūrī sự hoàn thành, viên mãn, sự hoàn tất

 

pārisuddhi      thanh tịnh

 

parāmāsa      chấp thủ

 

para thêm nữa, xa hơn nữa

 

parideva        than khóc, bi khấp

 

parijānāti        biến tri, sự hiểu biết hoàn toàn

 

parimukha      quanh miệng

 

pariññāta       liễu tri, sự hiểu biết rốt ráo, hiểu đến tận cùng của vấn đề

 

paripāka        sự chín mùi, thối mục

 

pariyanta       bị giới hạn bởi, hạn định bởi, vây quanh bởi

 

pariyatti         pháp học, tri kiến lý thuyết

 

passaddhi      an tịnh, tĩnh lặng

 

passambhaya làm cho an tịnh, yên tĩnh

 

passasati       thở ra

 

passati thấy

 

passeyya       sẽ thấy

 

pahavī          đất (địa đại)

 

paṭṭhāna        được thiết lập một cách rộng rãi (với trí tuệ)

 

paicca do, duyên

 

paikūla          đáng kinh tởm

 

painissaga     sự tử bỏ, loại bỏ, sự khước từ

 

paipadā        đạo, con đường, phương tiện để đạt đến đích

 

paipatti         thực hành

 

paisamvedī    kinh nghiệm, cảm giác

 

pattabba        đạt được, giành được

 

paissati         nhận biết, niệm

 

paivedha       trí thông đạt, chọc thủng, trí thể nhập, tuệ giác

 

phala   quả (thánh)

 

phassa xúc

 

phoṭṭhabba    xúc, đụng chạm

 

pisua nói xấu, nói vu cáo (cho người khác)

 

pīti      hỷ

 

piya    thân ái, thân yêu, dễ chịu, khả ý

 

ponobbhavikā đưa đến tái sinh

 

ponobbhavikabhavasakhāra - tương lai hữu hữu hành

 

puna   lại nữa

 

pūra    đầy, đầy tràn

 

R

 

rāga    ái, tham dục

 

rajo     bụi, dơ bẩn, bất tịnh

 

rasa    vị

 

rassa   ngắn, nông

 

riñcati  từ bỏ, xao lãng, quên

 

rūpa    sắc, vật chất

 

S

 

sabba  tất cả

 

sabhāva        bản chất, tự tánh, thiên nhiên

 

sacca  chân lý, sự thực

 

sacchikātabba sở chứng, thực chứng

 

sacchikata      thực chứng, tự chứng, tự mình kinh nghiệm

 

sadda  âm thanh, lời nói

 

saddhā          tín, niềm tin

 

saddhi        cùng với nhau

 

sadosa có sân, với sân (khác vītadosa không có sân)

 

sakadāgāmī    bậc nhất lai (tầng thánh thứ hai)

 

saāyatana     sáu nội, ngoại xứ, các căn (bên trong) và các đối tượng giác quan (bên ngoài)

 

samādhija      do định sanh, xuất phát từ định

 

samādhita,samādhi    định

 

samatikkama  siêu việt, vượt qua

 

samaya         thời gian

 

samudaya      tập khởi, phát sinh

 

sāmisa bất tịnh, ái nhiễm, với sự chấp thủ

 

sakhitta        tập trung (tâm), chuyên chú (tâm)

 

khác vikkhita:          tán loạn (tâm)

 

sammā         chánh, đúng đắn

 

samoha         có si, với si (khác vītamoha: không có si)

 

sampajāna     với tỉnh giác (sampajañña)

 

sampajañña   sự hiểu biết thấu đáo về tính vô thường ở đây chúng tôi dịch là trí tuệ tỉnh giác

 

sampajānakārī hành hay thực hành trí tuệ tỉnh giác (kārī: làm hay hành)

 

sampasādana tịnh, yên tịnh

 

sampayoga    tương ưng, kết hợp, hợp

 

samphappalāpa        nói chuyện vu vơ, lý luận, phù phiếm

 

samphassa    xúc

 

samphassaja  do xúc sanh, do xúc

 

samudaya      tập khởi, sanh khởi

 

samudayasacca        tập đế, sự thực hay chân lý về sự sanh khởi

 

sajoyana     trói buộc, kiết sử, kiết phược

 

sañcetanā      cố tư, cố ý, ý định, phản ứng

 

sakhāra       hành uẩn, hành, phản ứng, điều kiện tâm lý

 

sakhittena    tóm lại, ngắn gọn, súc tích

 

saññā  tưởng

 

santa  là [htpt của atthi]

 

sarāga có tham, với tham

 

sāta    dễ chịu, vừa ý

 

sati     niệm, nhận biết

 

satimā với niệm

 

satipaṭṭhāna   thiết lập niệm

 

sato    niệm

 

satta   cá nhân, hữu tình chúng sinh

 

satta   bảy (7)

 

sauttara      có thể vượt qua, thấp kém [khác anuttara: vô thượng - không có gì cao hơn]

 

sāvaka thinh văn, đệ tử

 

sikkhati học, tự tập luyện

 

soka    sầu ưu

 

somanassa    hỷ, cảm giác tâm lý dễ chịu

 

sotāpanna      bậc nhập lưu (tầng thánh thứ nhất)

 

sota    dòng

 

sota    tai

 

sukha  lạc

 

supaipanna    đã khéo hành

 

suta    nghe

 

sutavā          đã nghe, cụ thoại giả; người được nghe đầy đủ

 

T

 

taca    da

 

tahā  ái, khát ái, nhiệt tình

 

tato    từ ở đây, nơi đây

 

tatratatrābhinandinē   đi tìm sự thích thú lúc chỗ này lúc chỗ kia và loanh quanh

 

tejo     lửa (hoả đại)

 

tesa của chúng, của họ

 

hāna  thiết lập, dựng lên, điều kiện, trạng thái

 

hita    thẳng đứng, vững chắc, đứng

 

thina   hôn trầm, sự cứng ngắc (của tâm), trơ lì ti [một tiểu từ biểu thị sự chấm dứt của một đoạn trích dẫn]

 

tipiaka tam tạng

 

U

 

ubhaya          hai, lưỡng

 

LETTER-SPACING:-0.1pt; ubhaya pātimokkha: lưỡng balađề mộc xoa

 

uddha         trên, thượng

 

uddhacca       trạo sự, kích động, mất thăng bằng

 

uju      thẳng, thẳng đứng

 

upādāna        chấp thủ, dính mắc

 

upādānakkhandha     thủ uẩn

 

upādisesa      hữu dư y
upādi: quyết định quan trọng, chấp thủ, thủ trước [xem upādāna]

 

upādiyati        nắm lấy, bám lấy, cố chấp

 

upaṭṭhapetvā  đã thiết lập, khiến cho có mặt

 

upasaharati  tập trung, thu thập, suy xét

 

upasampaja   đã đạt đến, đi vào, có được

 

upāyāsa        nỗi đau buồn, tai ương, buồn rầu

 

upekkhā        xả

 

upekkhato      với thái độ xả

 

uppāda          đi vào hiện hữu, xuất hiện, sinh

 

uppajjamāna  sanh lên

 

uppajjati        sanh, được tạo ra, được sanh ra, đi vào hiện hữu

 

uppajjitvā       sanh khởi, sanh

 

uppanna        sanh, tái sanh, sanh lên, tạo ra

 

uppanna        sanh lên (pp của uppajjati)

 

V

 

vā      hay

 

vāca   lời nói

 

vata    phát nguyện, lời thề

 

vaya   diệt

 

vāyāma         cố gắng, nỗ lực, tinh tấn

 

vāyamati       nỗ lực

 

vāyo   gió

 

vedagu          người cso trí tuệ cao tột

 

vedanānupassī          quán sát liên tục các cảm thọ

 

vedanānupassanā     quan thọ

 

vedanāsu       trong thọ

 

vedayati        cảm giác, kinh nghiệm một cảm thọ

 

veditabba       được kinh nghiệm, hiểu, biết

 

vepulla sự phát triển sung mãn, dồi dào đầy đủ

 

veramaī       tránh xa

 

vibhava         phi hữu, sự huỷ diệt cuộc sống

 

vicāra  tứ, xoay lăn trong những ý nghĩ

 

vicaya sự xem xét, thẩm sát

 

vicikicchā        hoài nghi, do dự, không chắc chắn

 

vihārin trú, sống, ở trong một điều kiện nào đó

 

viharati trú, sống, ở trong một điều kiện

 

vikkkhittaka    rải rác khắp nơi, chặt ra từng khúc

 

vimutta         giải thoát

 

vinīlaka bầm xanh

 

vineyya         viễn lý, lìa xa

 

viññāa         thức

 

vippayoga      sự chia lìa, rời ra

 

virāga  vô dục, sự diệt dục, thanh tịnh, giải thoát

 

viriya   nỗ lự tinh tấn

 

visesa  dấu vết, đặc tính

 

visuddhi         thanh tịnh

 

vitakka sự gắn tâm ban đầu, tầm

 

viveka sự tách ly, độc cư

 

vivicca đã tách ra hay đã cô lập khỏi

 

vuccati được gọi là

 

vūpasama      yên tính, chỉ tức, tịch tịnh

 

Y

 

yathā  như, giống như

 

yathābhūta  như thực, như nó là

 

yāvadeva      tới mức mà

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5336)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1674)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1831)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1589)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1280)
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 42)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 115)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 138)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 155)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 148)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 176)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 170)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 204)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 203)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 227)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 216)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 298)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 238)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 266)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 275)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 260)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 261)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 579)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 299)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 367)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2201)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3894)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5525)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 298)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 367)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 389)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 204)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5336)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 458)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 463)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2986)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1999)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng