Từ vựng

12 Tháng Ba 20209:57 SA(Xem: 141)
Từ vựng

TuNiemXuGiangGiai_CTứ Niệm Xứ Giảng Giải (Satipatthana Sutta Discourses)
S. N. Goenka - Dịch giả: Pháp Thông
Source-Nguồn: store.pariyatti.org, trungtamhotong.org
 
____________________
-----------------------------



TỪ VỰNG

 

A

 

abhijjhā                       tham

 

abhinandati                  hoan hỷ, thấy thích thú trong…, hài lòng với

 

ābhujitvā       khoanh (chân), xếp chân (kiết già)

 

abyāpāda      vô sân, không nóng giận

 

athiṭṭhāna      sự quyết định, quyết tâm mạnh mẽ

 

adhigama       chứng đắc

 

adho   hạ, dưới

 

ādīnava         sự nguy hiểm, bất lợi

 

adukkhamasukha      bất lạc bất khổ, trung tính

 

ajjhatta         bên trong

 

ajjhattika       phát sinh từ bên trong, bên trong

 

akusala          không thích đáng, bất thiện

 

anāgāmī        bậc bất lai (giai đoạn thứ ba của  thánh quả)

 

anālaya         xả ly [khác ālaya: dính mắc]

 

anāsava        bậc vô lậu, tức bậc Alahán

 

anatīta không thể tránh được, không thể thoát được

 

anissita          không được chống đỡ, tách ra, thoát ra

 

aññā   trí, tuệ giác, sự hiểu biết hoàn toàn

 

anumāna       tỷ lượng, suy ra, điều suy ra

 

anuppādo      không sanh, bất khởi sanh, vị sanh

 

anuppanna     bất khởi sanh, vị sanh [khacs uppanna]

 

āpo     nước

 

ārabhati         bắt đầu, khởi sự, đảm nhận, cố gắng

 

arahant         bậc thánh

 

asāta  bất khả ý - không vừa ý

 

asammosa     không có sự lẫn lộn

 

āsava  lậu hoặc, sự tiết rỉ, chất bất tịnh của tâm

 

asesa  không tàn dư, tròn đủ, hoàn toàn

 

assasati         thở vào

 

assutavā       vô văn, không được nghe, ngu dốt

 

asuci   không trong sạch, bất tịnh

 

ātāpī   nhiệt tâm

 

aṭṭhagika      tám nhánh, tám chi

 

attā    tự ngã

 

attano tự mình, attano citta: ngã tâm = tâm ta

 

atthagama   sự huỷ diệt, sự biến mất

 

avihisa        vô hại, không tàn bạo

 

aya  (các, người) này

 

āyatana         xứ, căn môn (cửa giác quan), đối tượng của giác quan

 

āyati:         trong tương lai

 

B

 

bāhira  bên ngoài, phía ngoài

 

bahiddhā        bên ngoài

 

bala    lực, sức mạnh

 

bhāvī   à bhava: hữu hay trở thành

 

bhāvanā        phát triển, tu tập, trau dồi tâm, trú  tâm

 

bhavanā-mayā         do thực hành hay tu tập tạo ra

 

bhāvetabba    cần phải tu tập - ưng tu tập, sở tu

 

bhūta  trở thành (p.p of bhavati); quỉ thần, hữu tình, sanh vật,  chân thực

 

bhaga          hoại diệt, sự tan rã hoàn toàn

 

bhagavā        cao siêu, may mắn (một ân đức của Đức Phật - Thế Tôn)

 

bheda  tan vỡ ra, không còn hoà hợp, tách rời ra

 

bhikkhave      này các Tỳ khưu

 

bhikkhu          Tỳ khưu, người hành thiền, hành giả

 

bhiyyobhāva   trở thành nhiều hơn nữa

 

bojjhaga      giác chi, chi phần của sự giác ngộ

 

byādhi bệnh, đau ốm

 

byāpāda        sân, ác ý

 

C

 

ca       và

 

cāga   sự tư bỏ, xuất ly

 

cakkhu nhãn, mắt

 

cattāro bốn

 

cetasika         thuộc về tâm, tâm sở, nội dung tâm trí

 

cha     sáu

 

chanda          ước muốn, ý định, hoài bão

 

cintā-mayā     do tư duy mà thành, thuộc về sự hiểu biết tri thức

 

cittānupassanā         quán tâm hay quan sát tâm

 

citta    tâm

 

citte    trong tâm

 

D

 

dhāreti chứa đựng, mang theo, sở hữu, giữ

 

dhātu  giới, yếu tố, đại

 

dhātuso  theo tính chất hay bản chất của một người hay một vật

 

dhammānupassī        quán pháp, quan sát liên tục các nội dung tâm trí

 

dhammesu     trong pháp, trong nội dung tâm trí

 

dhañña          hạt, mễ cốc

 

dhunamāna    p.p của dhunati: tống khứ, bỏ đi, huỷ diệt đi

 

dīgha   dài, sâu

 

diṭṭha  thấy, kiến, sở kiến

 

domanassa    cảm giác khó chịu trong tâm, ưu (thọ)

 

dosa   sân

 

E

 

ekāyana        con đường độc nhất, con đường trực tiếp

 

ettha   ở đây, ở nơi này, trong vấn đề này

 

eva  như vậy, theo cách này

 

G

 

gandha          hương (mùi)

 

gāthā  bài kệ

 

ghāna   Mũi, tỷ (căn)

 

gotrabhū        chuyển tộc "trở thành giòng dõi của…". Một giai đoạn trong Minh sát tuệ, ở đây người hành thiền chuyển từ phàm tộc sang thánh tộc.

 

H

 

hoti     là

 

I

 

icchā   ước muốn, mong muốn

 

idha    nơi đây, bây giờ, về việc này

 

imasmi        ở đây, liên quan tới việc này hay chỗ này

 

indriya căn, khả năng, nhiệm vụ

 

indriya savara      thu thúc hay phòng hộ các căn

 

iriyāpatha       tư thế (của thân), oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi)

 

J

 

janati   sinh ra, tạo ra

 

jānāti   biết, hiểu biết

 

jāti      sanh, trở thành

 

jhāna  thiền (bậc thiền) an chỉ định

 

jivhā    lưỡi, thiệt

 

jīvita    sinh mệnh, đời (người), hoạt mạng (cách sinh nhai)

 

K

 

kalāpa nhóm, bọn, tổng hợp sắc

 

kāma  dục, ái dục

 

kāmachanda   dục lạc, dục dục (trong 5 triền cái)

 

kata    làm, tác, dĩ tác (đã làm)

 

katha         thế nào?

 

kattha ở đâu? Đâu?

 

kāya   thân

 

kāyanupassī   sự quan sát liên tục thân này

 

kāyanupassanā         quán thân

 

kāya-sakhāna         hoạt động của thân, thân hành

 

kāyasmi      trong thân

 

kāye   trong thân

 

kesa    tóc

 

kevala cô độc,hoàn toàn, trọn vẹn

 

kevalaparipuṇṇa        hoàn toànviên mãn

 

kevalaparisuddha       hoàn toànthanh tịnh

 

paripuṇṇapārisuddhisīla : viên mãn thanh tịnh giới

 

khandha        uẩn, đống, bó

 

kiñci    bất cứ điều gì

 

kukkucca       hối hận, lo lắng

 

kusala  thiện, tốt, chính đáng

 

L

 

labhati được, nhận được, thu được

 

lakkhaa        tướng, đặc tính

 

loka     cảnh giới, thế gian, hiện tượng tâm - vật lý hay danh pháp và sắc pháp

 

M

 

māgga con đường, đạo lộ

 

mahā  lớn, đại

 

mahaggata    làm cho lớn ra, trở nên lớn, đại hành

 

mano  ý, tâm

 

manasikāra    tác ý, suy quán, quán

 

matta  theo ước lượng, cũng nhiều bằng, đơn thuần, chỉ là

 

matthaka       cái đầu, chóp đỉnh

 

me     do tôi, bởi tôi

 

micchā tà, sai lạc

 

middha          buồn ngủ, hôn trầm

 

moha  si mê, vô minh, ảo tưởng

 

mukha cái miệng, mặt, lối vào

 

musā  một cách sai lầm

 

mutti   giải thoát, tự do

 

N

 

a      không

 

nāma  danh (tâm)

 

nandi   hoan hỷ, thích thú

 

ñāa   trí, chánh trí

 

ñānappakkāra khác nhau, đa dạng

 

nātha  bảo hộ, giúp đỡ, thủ hộ, người bảo vệ

 

natthi  chẳng có [na atthi - không có]

 

nava   chín (9)

 

ñāya   sự thực, chân lý, chánh hạnh

 

nirāmisa         thanh tịnh, không chấp thủ, không ái nhiễm (khác với sāmisa: ái nhiễm)

 

nirodha          diệt, diệt tận

 

nirujjihati        đã diệt

 

nisīdati ngồi xuống

 

nisino   ngồi

 

nīvaraa        triền cái, ngăn che, chướng ngại, bức màn

 

nivisati đi vào, dừng, ổn định, củng cố

 

O

 

okkhitta         nhìn xuống

 

P

 

paccakkha      hiển nhiên, rõ ràng

 

paccatta     riêng biệt, cá nhân

 

          pacctta veditabbo viññūhi: bậc trí tự mình chứng

 

paccavekkhati quán, quán sát, suy xét

 

paccaya        nhân, duyên, nền tảng

 

paccupaṭṭhita  được thiết lập, hiện khởi

 

padahati        cố gắng, nỗ lực

 

pādutala        lòng bàn chân

 

paggahāti               lấy lên, vận dụng, gắn (tâm) một cách mạnh mẽ vào

 

pahāna          từ bỏ, đoạn trừ, xả ly, xả đoạn

 

pajānāti         tuệ tri, hiểu biết với trí tuệ

 

pakāra kiểu, cách, lối

 

pallaka         ngồi xếp bằng (kiết già)

 

pana   lại nữa, thêm nữa

 

ātipāta      sát sanh, huỷ diệt sự sống

 

pañca  năm (5)

 

pañcupādānakkhandhā         năm uẩn chấp thủ (năm thủ uẩn)

 

paññatti         khái niệm, sự thể hiện, thi thiết

 

paṇḍita          bậc trí, người có trí tuệ

 

paihita       dùng hết (sức lực), áp dụng, hướng đến, nguyện ước, cầu nguyện

 

pāpa   ác

 

pāpaka          xấu

 

pāramī balamật, sự hoàn thiện

 

pāripūrī sự hoàn thành, viên mãn, sự hoàn tất

 

pārisuddhi      thanh tịnh

 

parāmāsa      chấp thủ

 

para thêm nữa, xa hơn nữa

 

parideva        than khóc, bi khấp

 

parijānāti        biến tri, sự hiểu biết hoàn toàn

 

parimukha      quanh miệng

 

pariññāta       liễu tri, sự hiểu biết rốt ráo, hiểu đến tận cùng của vấn đề

 

paripāka        sự chín mùi, thối mục

 

pariyanta       bị giới hạn bởi, hạn định bởi, vây quanh bởi

 

pariyatti         pháp học, tri kiến lý thuyết

 

passaddhi      an tịnh, tĩnh lặng

 

passambhaya làm cho an tịnh, yên tĩnh

 

passasati       thở ra

 

passati thấy

 

passeyya       sẽ thấy

 

pahavī          đất (địa đại)

 

paṭṭhāna        được thiết lập một cách rộng rãi (với trí tuệ)

 

paicca do, duyên

 

paikūla          đáng kinh tởm

 

painissaga     sự tử bỏ, loại bỏ, sự khước từ

 

paipadā        đạo, con đường, phương tiện để đạt đến đích

 

paipatti         thực hành

 

paisamvedī    kinh nghiệm, cảm giác

 

pattabba        đạt được, giành được

 

paissati         nhận biết, niệm

 

paivedha       trí thông đạt, chọc thủng, trí thể nhập, tuệ giác

 

phala   quả (thánh)

 

phassa xúc

 

phoṭṭhabba    xúc, đụng chạm

 

pisua nói xấu, nói vu cáo (cho người khác)

 

pīti      hỷ

 

piya    thân ái, thân yêu, dễ chịu, khả ý

 

ponobbhavikā đưa đến tái sinh

 

ponobbhavikabhavasakhāra - tương lai hữu hữu hành

 

puna   lại nữa

 

pūra    đầy, đầy tràn

 

R

 

rāga    ái, tham dục

 

rajo     bụi, dơ bẩn, bất tịnh

 

rasa    vị

 

rassa   ngắn, nông

 

riñcati  từ bỏ, xao lãng, quên

 

rūpa    sắc, vật chất

 

S

 

sabba  tất cả

 

sabhāva        bản chất, tự tánh, thiên nhiên

 

sacca  chân lý, sự thực

 

sacchikātabba sở chứng, thực chứng

 

sacchikata      thực chứng, tự chứng, tự mình kinh nghiệm

 

sadda  âm thanh, lời nói

 

saddhā          tín, niềm tin

 

saddhi        cùng với nhau

 

sadosa có sân, với sân (khác vītadosa không có sân)

 

sakadāgāmī    bậc nhất lai (tầng thánh thứ hai)

 

saāyatana     sáu nội, ngoại xứ, các căn (bên trong) và các đối tượng giác quan (bên ngoài)

 

samādhija      do định sanh, xuất phát từ định

 

samādhita,samādhi    định

 

samatikkama  siêu việt, vượt qua

 

samaya         thời gian

 

samudaya      tập khởi, phát sinh

 

sāmisa bất tịnh, ái nhiễm, với sự chấp thủ

 

sakhitta        tập trung (tâm), chuyên chú (tâm)

 

khác vikkhita:          tán loạn (tâm)

 

sammā         chánh, đúng đắn

 

samoha         có si, với si (khác vītamoha: không có si)

 

sampajāna     với tỉnh giác (sampajañña)

 

sampajañña   sự hiểu biết thấu đáo về tính vô thường ở đây chúng tôi dịch là trí tuệ tỉnh giác

 

sampajānakārī hành hay thực hành trí tuệ tỉnh giác (kārī: làm hay hành)

 

sampasādana tịnh, yên tịnh

 

sampayoga    tương ưng, kết hợp, hợp

 

samphappalāpa        nói chuyện vu vơ, lý luận, phù phiếm

 

samphassa    xúc

 

samphassaja  do xúc sanh, do xúc

 

samudaya      tập khởi, sanh khởi

 

samudayasacca        tập đế, sự thực hay chân lý về sự sanh khởi

 

sajoyana     trói buộc, kiết sử, kiết phược

 

sañcetanā      cố tư, cố ý, ý định, phản ứng

 

sakhāra       hành uẩn, hành, phản ứng, điều kiện tâm lý

 

sakhittena    tóm lại, ngắn gọn, súc tích

 

saññā  tưởng

 

santa  là [htpt của atthi]

 

sarāga có tham, với tham

 

sāta    dễ chịu, vừa ý

 

sati     niệm, nhận biết

 

satimā với niệm

 

satipaṭṭhāna   thiết lập niệm

 

sato    niệm

 

satta   cá nhân, hữu tình chúng sinh

 

satta   bảy (7)

 

sauttara      có thể vượt qua, thấp kém [khác anuttara: vô thượng - không có gì cao hơn]

 

sāvaka thinh văn, đệ tử

 

sikkhati học, tự tập luyện

 

soka    sầu ưu

 

somanassa    hỷ, cảm giác tâm lý dễ chịu

 

sotāpanna      bậc nhập lưu (tầng thánh thứ nhất)

 

sota    dòng

 

sota    tai

 

sukha  lạc

 

supaipanna    đã khéo hành

 

suta    nghe

 

sutavā          đã nghe, cụ thoại giả; người được nghe đầy đủ

 

T

 

taca    da

 

tahā  ái, khát ái, nhiệt tình

 

tato    từ ở đây, nơi đây

 

tatratatrābhinandinē   đi tìm sự thích thú lúc chỗ này lúc chỗ kia và loanh quanh

 

tejo     lửa (hoả đại)

 

tesa của chúng, của họ

 

hāna  thiết lập, dựng lên, điều kiện, trạng thái

 

hita    thẳng đứng, vững chắc, đứng

 

thina   hôn trầm, sự cứng ngắc (của tâm), trơ lì ti [một tiểu từ biểu thị sự chấm dứt của một đoạn trích dẫn]

 

tipiaka tam tạng

 

U

 

ubhaya          hai, lưỡng

 

LETTER-SPACING:-0.1pt; ubhaya pātimokkha: lưỡng balađề mộc xoa

 

uddha         trên, thượng

 

uddhacca       trạo sự, kích động, mất thăng bằng

 

uju      thẳng, thẳng đứng

 

upādāna        chấp thủ, dính mắc

 

upādānakkhandha     thủ uẩn

 

upādisesa      hữu dư y
upādi: quyết định quan trọng, chấp thủ, thủ trước [xem upādāna]

 

upādiyati        nắm lấy, bám lấy, cố chấp

 

upaṭṭhapetvā  đã thiết lập, khiến cho có mặt

 

upasaharati  tập trung, thu thập, suy xét

 

upasampaja   đã đạt đến, đi vào, có được

 

upāyāsa        nỗi đau buồn, tai ương, buồn rầu

 

upekkhā        xả

 

upekkhato      với thái độ xả

 

uppāda          đi vào hiện hữu, xuất hiện, sinh

 

uppajjamāna  sanh lên

 

uppajjati        sanh, được tạo ra, được sanh ra, đi vào hiện hữu

 

uppajjitvā       sanh khởi, sanh

 

uppanna        sanh, tái sanh, sanh lên, tạo ra

 

uppanna        sanh lên (pp của uppajjati)

 

V

 

vā      hay

 

vāca   lời nói

 

vata    phát nguyện, lời thề

 

vaya   diệt

 

vāyāma         cố gắng, nỗ lực, tinh tấn

 

vāyamati       nỗ lực

 

vāyo   gió

 

vedagu          người cso trí tuệ cao tột

 

vedanānupassī          quán sát liên tục các cảm thọ

 

vedanānupassanā     quan thọ

 

vedanāsu       trong thọ

 

vedayati        cảm giác, kinh nghiệm một cảm thọ

 

veditabba       được kinh nghiệm, hiểu, biết

 

vepulla sự phát triển sung mãn, dồi dào đầy đủ

 

veramaī       tránh xa

 

vibhava         phi hữu, sự huỷ diệt cuộc sống

 

vicāra  tứ, xoay lăn trong những ý nghĩ

 

vicaya sự xem xét, thẩm sát

 

vicikicchā        hoài nghi, do dự, không chắc chắn

 

vihārin trú, sống, ở trong một điều kiện nào đó

 

viharati trú, sống, ở trong một điều kiện

 

vikkkhittaka    rải rác khắp nơi, chặt ra từng khúc

 

vimutta         giải thoát

 

vinīlaka bầm xanh

 

vineyya         viễn lý, lìa xa

 

viññāa         thức

 

vippayoga      sự chia lìa, rời ra

 

virāga  vô dục, sự diệt dục, thanh tịnh, giải thoát

 

viriya   nỗ lự tinh tấn

 

visesa  dấu vết, đặc tính

 

visuddhi         thanh tịnh

 

vitakka sự gắn tâm ban đầu, tầm

 

viveka sự tách ly, độc cư

 

vivicca đã tách ra hay đã cô lập khỏi

 

vuccati được gọi là

 

vūpasama      yên tính, chỉ tức, tịch tịnh

 

Y

 

yathā  như, giống như

 

yathābhūta  như thực, như nó là

 

yāvadeva      tới mức mà

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 385)
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 656)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 785)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 663)
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 78)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 89)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
27 Tháng Ba 20203:30 CH(Xem: 101)
TRÌNH BÀY TÓM LƯỢC 4 CÕI - Trong 4 loại ấy, gọi là 4 cõi. Tức là cõi khổ, cõi vui, Dục-giới, Sắc-giới, cõi Vô-sắc-giới. NÓI VỀ 4 CÕI KHỔ - Trong nhóm 4 cõi ấy, cõi khổ cũng có 4 là: địa ngục, Bàng sanh, Ngạ quỉ và Atula. NÓI VỀ 7 CÕI VUI DỤC GIỚI -
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 144)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
24 Tháng Ba 20202:32 CH(Xem: 147)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Đức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận - Khināsava, bậc đã đoạn trừ mọi lậu hoặc. Chính vì thế, người đi tìm chân lý cần phải hiểu rõ những lậu hoặc này là gì, và làm cách nào để loại trừ được nó.
23 Tháng Ba 20203:56 CH(Xem: 183)
Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chímục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được
22 Tháng Ba 20209:08 CH(Xem: 140)
Everyone is aware of the benefits of physical training. However, we are not merely bodies, we also possess a mind which needs training. Mind training or meditation is the key to self-mastery and to that contentment which brings happiness. Of all forces the force of the mind is the most potent. It is a power by itself. To understand the real nature
21 Tháng Ba 20209:58 CH(Xem: 167)
Chúng ta lấy làm phấn khởi mà nhận thấy rằng hiện nay càng ngày người ta càng thích thú quan tâm đến pháp hành thiền, nhất là trong giới người Tây phương, và pháp môn nầy đang phát triễn mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học khuyên
20 Tháng Ba 20208:30 CH(Xem: 149)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc
17 Tháng Ba 20205:51 CH(Xem: 276)
Mindfulness with Breathing is a meditation technique anchored In our breathing, it is an exquisite tool for exploring life through subtle awareness and active investigation of the breathing and life. The breath is life, to stop breathing is to die. The breath is vital, natural, soothing, revealing. It is our constant companion. Wherever we go,
16 Tháng Ba 20204:16 CH(Xem: 283)
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thởđời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện.
15 Tháng Ba 202012:00 CH(Xem: 223)
Phật giáođạo Phật là những giáo lý và sự tu tập để dẫn tới mục tiêu rốt ráo của nó là giác ngộgiải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, (a) mọi người thế tục đều đang sống trong các cộng đồng dân cư, trong các tập thể, đoàn thể, và trong xã hội; và (b) những người xuất gia dù đã bỏ tục đi tu nhưng họ vẫn đang sống tu
13 Tháng Ba 20209:16 CH(Xem: 195)
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số người xem thiền như là một thứ có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem nó như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh,
12 Tháng Ba 20209:36 SA(Xem: 311)
Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipaṭṭhāna được xem là bài kinh quan trọng nhất trên phương diện thực hành thiền Phật giáo. Các thiền phái Minh Sát, dù khác nhau về đối tượng quán niệm, vẫn không xa khỏi bốn lĩnh vực: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp mà Đức Phật
10 Tháng Ba 20202:09 CH(Xem: 292)
Giới học thiền ở nước ta mấy thập niên gần đây đã bắt đầu làm quen với thiền Vipassanā. Số lượng sách báo về chuyên đề này được dịch và viết tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta đã thấy tính chất phong phú đa dạng của Thiền Minh Sát hay còn gọi là Thiền Tuệ hoặc Thiền Quán này. Thiền Vipassanā luôn có một nguyên tắc nhất quán
10 Tháng Ba 202010:20 SA(Xem: 283)
Trong tất cả các thiền sư cận đại, bà Achaan Naeb là một thiền sư đặc biệt hơn cả. Bà là một nữ cư sĩ đã từng dạy thiền, dạy đạo cho các bậc cao tăng, trong đó có cả ngài Hộ Tông, Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cũng đã từng theo học thiền với bà một thời gian. Năm 44 tuổi, Bà đã bắt đầu dạy thiền
08 Tháng Ba 202011:08 SA(Xem: 233)
A.B.: Đầu tiên, khi họ hỏi Sư: “Sư có muốn nhận giải thưởng này không?” và Sư đã đồng ý. Nhưng phản ứng đầu tiên ngay sau đó là: “Tại sao Sư lại muốn nhận giải thưởng này? Sư là một nhà Sư Phật Giáo, đây là việc một nhà Sư (cần phải) làm. Là một nhà Sư, chúng ta đi truyền giáo, đi phục vụ, và chúng ta không nhất thiết phải đòi hỏi
07 Tháng Ba 20205:16 CH(Xem: 304)
Biên tập từ các bài pháp thoại của ngài Thiền sư Ajahn Brahmavamso trong khóa thiền tích cực 9 ngày, vào tháng 12-1997, tại North Perth, Tây Úc. Nguyên tác Anh ngữ được ấn tống lần đầu tiên năm 1998, đến năm 2003 đã được tái bản 7 lần, tổng cộng 60 ngàn quyển. Ngoài ra, tập sách này cũng đã được dịch sang tiếng Sinhala
06 Tháng Ba 20209:21 SA(Xem: 311)
Trước khi nói về phương pháplợi ích của thiền Minh Sát Tuệ, chúng ta cần điểm qua một số vấn đề liên quan đến "pháp môn thiền định" Phật giáo. Gần đây, dường như pháp môn thiền của Phật giáo bị lãng quên và không còn đóng vai trò quan trọng
05 Tháng Ba 20209:48 CH(Xem: 317)
Thiền sư Goenka nói: “Giải thoát chỉ có thể đạt được bằng sự tu tập, chứ không phải bằng việc bàn luận suông”. Một khóa thiền Vipassana là cơ hội để bước đi những bước chắc chắn tiến đến giải thoát. Trong một khóa tu như thế, người tham dự sẽ học được cách làm cho tâm hết căng thẳng và xóa tan các thành kiến sai lầm
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 677)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2275)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3666)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 78)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 89)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 144)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 317)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 487)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 482)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 680)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 844)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 5971)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;