12. Tự vựng Pali Việt.

16 Tháng Ba 20204:37 CH(Xem: 134)
12. Tự vựng Pali Việt.

GiacNiemVeHoiTho_BGiác Niệm Về Hơi Thở
Mindfulness With Breathing
Bhikkhu Buddhadasa
Translated from the Thai by Santikaro Bhikkhu
Thiện Nhựt phỏng dịch
Source-Nguồn: dhammatalks.net, ftp.budaedu.org, budsas.org, thuvienhoasen.org
____________________
-----------------------------

 

 

Tự vựng Pàli-Việt

 

Àcàrìya: Pháp sư; thầy giảng giáo lý. Tiếng Thái là Ajahn .

 

Àdinava: sự bất lợi, nguy cơ, tổn hại; lưỡi câu có mồi. Ám chỉ phương diện tiêu cực, thấp hèn, xấu ác của một sự vật.

 

Àna: hơi thở vào, sự thở vào.

 

Ànapànasati: Giác niệm về Hơi thở; Hơi thởý thức.

 

Ànapàna = hơi thở vào và hơi thở ra. Sati = giác niệm tức là sự tỉnh thức. Pháp Giác Niệm về Hơi thở gồm có 16 bước thực tập, vừa theo dõi hơi thở ra và vào, vừa quán tưởng 16 đề mục, đưa đến sự buông bỏ chấp thủ và được giải thoát.

 

Anattà: Vô ngã. Muôn sự vật, chẳng trừ sự vật nào cả, đều khiếm khuyết (thiếu) hẳn một bản thể cốt lõi để có thể gọi đó là một "tự ngã"(atta), một đặc tánh riêng biệt. Chẳng sự vật nào là có "linh hồn" cả. Nói vô ngã là có ý muốn nói chẳng thể có tự ngã, chớ chẳng phải nói sự vật đó chẳng hiện hữu trên thực tế. Sự vật tuy có đó, nhưng chẳng do tự nó có lấy được, và chẳng làm của riêng cho một ai được cả.

 

Attà, tự ngã, trái nghĩa với Anattà, vô ngã.

 

Anicca, Aniccam: Vô thườngVô thường là chẳng thường hằng, nay có đó, nhưng sau lại biến đổi rồi sẽ tiêu diệt mất. Trái với vô thường là thường hằng.

 

Anupassanà: sự quán tưởngQuán tưởngsự quán sát bằng nội tâm, nhận xétnghiên cứu thật sâu xa về một sự việc. Có bốn lãnh vực của sự quán tưởng:

 

(1) quán tưởng về thân (Kàya nupassanà);
(2) quán tưởng về cảm thọ (Vedanà nupassanà);
(3) quán tưởng về tâm (citta nupassanà); và
(4) quán tưởng về Pháp (Dhamma nupassanà)
(Pháp ở đây có nghĩa là các sự vật).

 

Apàna: Hơi thở ra.

 

Arahant: A la hánVị A la hán là bực đã diệt dứt hết các phiền não. Quả vị A la hánquả vị cao nhứt của hàng Thanh văn (= các đệ tử sống gần bên Phật, nghe Kinh mà tu tập theo).

 

Ariya sacca: Diệu đế, Chơn lý Nhiệm mầu. Có bốn Chơn Lý nhiệm mầu, được gọi là Tứ Diệu đếBốn Chơn lý nầy được Đức Phật Thích ca giảng trong Kinh Chuyển Pháp luânbản Kinh đầu tiên Ngài giảng sau khi mới thành đạo, cho năm anh em ông Kiều trần như nghe, tại vườn Lộc uyển, ở thành Ba la nại. Bốn Chơn lý đó là: (1) Khổ đế, về các sự khổ sở; (2) Tập đế về nguồn gốc của Khổ; (3) Diệt đế về sự tận diệt các Khổ sở; (4Đạo đế về con đường Bát Chánh Đạo có tám ngành, đưa đến sự tận diệt Khổ.

 

Assàda: mồi, mồi ngon ở lưỡi câu che dấu sự nguy hiểm. Ám chỉ sự hào nháng gạt gẫm, khía cạnh khả ái, dễ say đắm của một sự vật, thật ra chứa đầy sự nguy hiểm bên trong.

 

Attà: Tự ngã. Đây là một quan niệm sai lầm cho rằng sanh vật, sự vật đều có "linh hồn", có thể tự mình tạo ra mình, và độc lập. Trái với tự ngã là vô ngã.

 

Apàdànà: sự chấp thủsự bám níu, sự quyến kuyến, sự đắm say đeo chặt vào.

 

Avijjà: Vô minhhay si mê. Trái nghĩa với Vijjà, sự thông minh, sáng suốt, chẳng bị sự ngu dốt che mờ tâm trí.

 

Àyatana: Nhập, đi vào trongphạm vi, vùng, giới. Có hai loại nhập:

 

(1) nội lục nhậpcòn gọi là sáu căn, tức là các giác quan ở trong thân thểmắt, ta, mũi, lưỡi, thân và ý thức trong tâm;
(2) ngoại lục nhậpcòn gọi là sáu trầntức là sáu hình thái của các sự vật bên ngoài: sắc (hình dạng và màu sắc), thanh (tiếng động), hương (mùi), vị (vị nếm), xúc (sờ chạm), và pháp (sự việc).

 

Bhàvanà: sự quán tưởngsự tăng trưởng tâm linh bằng quán tưởngCitta bhàvanà: sự quán tưởng tâm; sự tập luyện về tâm linh để vun bồi các đức tánh thiện.

 

Bojjhanga: Thất giác chibảy yếu tố chủa sự giác ngộ. Đó là: (1) niệm (sati); (2) trạch pháp (dhamma vicaya) sự chọn pháp, phân tách pháp; (3) tinh tấn (viriya) cố gắng, nỗ lực; (4) hỉ (piti), mừng; (5) khinh an (passaddhi), niềm vui nhẹ nhàng và an ổn; (6) định (samàdhi), tâm ý tập trung; (7) xả (upekkhà, tâm biết buông bỏ, bình đẳng, chẳng bám níu vào đâu. Còn gọi là Thất Bồ đề phần.

 

Citta: Tâm.

 

Citta sankhàra: Tâm hànhtức là các sự kiện tạo điều kiện gây ra ảnh hưởng đến tâm (minh conditioners). Trong pháp Giác niệm về Hơi thở, các cảm thọ là những tâm hànhvì như hỉ (= mừng) và lạc (= vui) có thể khiến cho tâm rung động lên.

 

Dhamma: Pháp (= Chánh Pháp) hoặc pháp (= sự vật). Có hai loại pháp (= sự vật):

 

(1) pháp hữu vi là những sự vật bị điều kiện hoá, được tạo tác nên, bị thay đổi, biến chuyển;
(2) pháp vô vitức là Niết-bàn, thường còn, chẳng bị biến đổi, chẳng do tạo tác mà có.

 

Chữ Pháp (viết hoa) có nghĩa là Chánh Pháp do Đức Phật dạy và truyền lại cho đời sau, là ngôi thứ hai trong Tam Bảo (Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo). Chữ Pháp (viết hoa) trong sách nầy lại còn có bốn nghĩa khác nữa:

 

(1) Chơn Lý hay Thiên nhiên;
(2) qui luật của thiên nhiên;
(3) nhiệm vụ phải tuân theo qui luật của thiên nhiên;
(4) kết quả của việc tuân phục đó.

 

Dhamma jàti: pháp giới (tức là toàn thể vũ trụ); hoặc Thiên nhiên. Bao gồm cả muôn sự vật, kể cả nhơn (người) và phi nhơn (sanh vật, chẳng phải người).

 

Dosa: Sân hậngiận hờn.

 

Dukkha: Khổ sở, sự đau khổ.

 

Dukkham: Bất toại nguyệngây ra sự chẳng vừa ý, một hình thức của khổ sở. Vì sao lại bất toại nguyện? Vì các sự vật hữu vi (= bị điều kiện hoá) thì vô thường, cứ biến đổi, chẳng được ổn cố, bị suy mòn và diệt đi

 

Ekaggatà: (Tâm) nhứt điểm, tâm gom lại vào một điểm duy nhứt trên đối tượng. Đây là tình trạng tâm đi vào định lực. Tâm nhứt điểm thiền chi thứ năm, thường được gọi là nhứt tâm.

 

Idappaccàyatà: Lý duyên sanhmột qui luật thiên nhiên theo đó muôn sự vật đều do nhân duyên mà khởi sanh và cũng do nhân duyên mà diệt đi. Thường được biết dưới hình thức là luật nhân quả.

 

Jhàna: Thiền nacác tình trạng mà tâm lần lượt đi qua để nhập vào Định. Thường được gọi tắt là Thiền. Có bốn cấp Thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiềnTứ thiền (đôi khi còn có thêm Ngũ thiền). Bốn cấp nầy thuộc về Sắc thiền, hành giả nhờ quán tưởng các đối tượng có hình sắc trong cõi dục giới mà nhập vào Định.

 

Jhànanga: Thiền chicác yếu tố của Thiền.

 

Sơ thiền có năm thiền chi: (1) giác (Vitakka, nay gọi là tầm, tâm dán lên đối tượng để quan sát); (2) quán (Vicàra, nay gọi là tứ, tâm đeo chặt vào đối tượng để quán tưởng); (3) hỉ (piti, nổi mừng, tâm còn xao động); (4) lạc (sukha, niềm vui, tâm yên tịnh lại trong niềm hoan lạc; (5) nhứt tâm (ekaggatà, tức là nhứt điểm tâmtình trạng tâm gom vào một điểm trên đối tượng, tức là nhập định.

 

Ba cấp Thiền còn lại lần lượt buông rơi bốn thiền chi đầu của Sơ thiền, để có được ở bực Tứ Thiền với ba thiền chixả, niệm và nhứt tâm.

 

Kalyana mitta: Thiện hữu tri thứcthường gọi tắt là Thiện tri thứctức là người bạn hữu tốt, chỉ dạy giáo lýkinh nghiệm tu tập.

 

Kàma: Nhục cảm, tình cảm ham muốn về sự thoả mãn các đòi hỏi của giác quan hay của tình dục.

 

Kàya: Thân, còn có nghĩa là nhóm, tập hợp của nhiều bộ phận hay sự vật. Thường có nghĩa là thân thểtấm thân vật chất. Trong pháp Giác Niệm về Hơi thở, chữ toàn thân bao gồm cả thânvật chất và các luồng hơi thở. Các luồng hơi thở được gọi là thân hơi.

 

Kàya sankhàra: Thân hành(body conditioners) là các sự kiện tạo điều kiện gây ảnh hưởng đến cho thân. Trong pháp Giác Niệm về Hơi thở, chữ thân hành trỏ vào các hơi thở, vì hơi thở điều kiện hoá thân thể, tức là, khi hơi thở có êm dịu thì thân thể mới an ổn.

 

Khandha: Uẩn hoặc Ấm. Thân tâmnăm uẩn: (1) sắc uẩn (rùpa khandha) thuộc về thân vật chất; và bốn uẩn kia thuộc về tinh thần: (2) thọ uẩn (vedanà khandha), các cảm thọ; (3) tưởng uẩn (sannà khandha), các tri giác; (4) hành uẩn (sankhàra khandha), các tư tưởng; (5)thức uẩn (vinnàna khandha), các sự hiểu biết. Khi năm uẩn trở thành cơ sở cho sự bám níu (= chấp thủ), thì chúng được gọi là thủ uẩn (upàdanà khandha).

 

Kilesa: Phiền nãohay lậu hoặc, làm tâm dơ bẩn chẳng được thanh tịnh, hoặc các sự sai lầm gây ra khổ sở. Có ba phiền não chánh, thường được gọi là Tam độc: tham (lobha), sân (dosa),  si (moha).

 

Lobha: Tham lam.

 

Loka: Thế giớivũ trụ, pháp giới.

 

Lokiya: Thế tụcđời sống tại gia, đời sống còn ràng buộcgia đình, xã hội, chưa vượt qua khỏi cõi thế gian.

 

Lokuttara: Xuất thếvượt lên khỏi cõi thế gian.

 

Magga: Đạo, tức là con đường tu tập, đường lối tu tập

 

Magga phala nibbàna: Đạo và Quả Niết-bàn, tức là con đường tu tập, và quả vị đã thành tựu về Niết-bàn. Đạo là đường lối tu tập tận diệt các phiền nãoQuả vị là kết quả của việc tu tập đã thành công viên mãn.

 

Niết-bàn, ở đây, là sự thanh lương, nhờ đã tận diệt được hết các phiền não trước kia nung nấu.

 

Mahaggatà: trở nên vĩ đại.

 

Mano: Ý thứcChữ ý thức còn dùng để dịch chữ Vinnàna. Chỗ khác nhau giữa ba danh từ Mano, Vinnàna và Citta:

 

(1) Mano trỏ vào cơ năng trí thức của ý thức, như hay biết, cảm thấy, thể nghiệm và hiểu biết.
(2) Vinnàna nói đến phạm vi của các giác quan thu nhận các tri giác.
(3) Citta phương diện chủ quan của tâm.

 

Màra: Ma; sự cám dỗ ta đi vào đường ác, có hành vi xấu.

 

Moha: Si mêphiền não thứ ba trong Tam Độc (tham, sân và si); ngu si, mê mờ.

 

Nibbàna: Niết-bàn; ở đây, sự thanh lương, mát mẻNiết-bàn mục tiêu tối hậu của nền Phật học. Niết-bàn hiện khởi khi lửa nung nầu của các phiền não đã được dập tắt, chẳng còn dư tàn; sự bám níu (chấp thủ), ích kỷ và Khổ sở đã hoàn toàn tận diệt.

 

Nibbuto: sự thanh lươngngười đắc được thanh lương. Có hai cảnh trạng về sự thanh lương (nibbuto):

 

(1) Sàmàyika nibbàna, tình trạng thanh lương tạm thời;
(2) Tadanga nibbàna, tình trạng thanh lương ngẫu nhiên.

 

(Xin nơi tiểu mục: "Niết-bàn tại đây và ngay bây giờ".)

 

Nimitta: Điềm, hay triệu, để báo trước (thường dịch là Tướng hay Định tướng). Ở đây, nimitta là một tâm ảnh do tâm tạo nên để nhìn vào điểm canh chừng hơi thở đi ngang qua, để đi vào tới Định lực. (Xin xem lại nơi các tiểu mục: "Một tâm ảnh khởi lên" và "Tâm ảnh cuối cùng")

 

Nirodha: sự Tịch diệtsự tận diệt, sự chấm dứt đến tận gốc rễ. Cùng một nghĩa với chữ Niết-bàn.

 

Nivarana: Ngũ cáinăm món che đậy:

 

(1) tham lam, nhứt là tham tình dục (kàmachandha);
(2) sân khuể (vyàpàda, oán giận)
(3) thụy miên (thina middha, lười, mê ngủ)
(4) trạo hối (uddhacca kukkucca, xao động, hối tiếc)
(5) nghi ngờ (vicikicchà).

 

Panna: Bát nhã, Trí Huệ.

 

Paticca samuppàda: Duyên sanh; còn được gọi là Thập Nhị Nhân Duyên: (gây nên sự Khổ sở (dukkha) (1) Vô minh (avijjà), (2) Hành (sankhàra), (3) Thức (vinnàna), (4) Danh sắc (nàma rùpa), (5) Lục nhập (salàyatana), (6) Xúc (phassa), (7) Thọ (vedanà), (8) Ái (tanha, khát ái), (9) Thủ (upàdàna, bám níu)(10)Hữu (bhava, hiện hữu) (11) Sanh (jàti), (12) Tử (jàra marana).

 

Patinissaga: Sự từ bỏ; sự quẳng bỏ lại ra phía sau; sự chấm dứt bám níu vào sự vật mà gọi đó là "Ta", hay "của Ta"; sự vứt bỏ mọi sự vật để hoàn trả lại cho Thiên nhiên.

 

Phassa: Xúc; sự tiếp xúc giữa ba sự việc: (1) đối tượng bên ngoài, (2) giác quan trong thân, (3) ý thức hay biết có đối tượng đi vào tâm. Tức là, một vật được thấy, tại mắt và tâm hay biết là đang có thấy vật đó. Có sáu loại xúc với năm giác quaný thức ở tâm.

 

Pìti: Hỉ; nổi mừng, sự bằng lòng, sự thoả ý, sự ngất ngây, do từ một cảm thọ sướng (lạc thọ) khởi lên khi ta làm xong việc gì được thành công.

 

Hỉ (piti, nổi mừng) khác với niềm vui, Lạc (sukha), vì khi có Hỉ, tâm còn nhảy nhót mừng lên mà rung động, nhưng với Lạc, tâm lắng dịu lại, nhẹ nhàng an hưởng niềm vui.

 

Prana (tiếng Phạn), Pàna (tiếng Pali): Sanh lực, Hơi thởsự vật đã nuôi dưỡngbảo trì đời sống.

 

Pranayàma: Sự kiểm soát hơi thởsự huấn luyện hơi thở.

 

Ràga: Sự khao khát, sự tham lam ham muốn, khát khao về tình dục.

 

Sacca: Chơn Lý, Sự Thật.

 

Sacca dhamma: Sự kiện thực tế; Thực tế; Sự kiện.

 

Samàdhi: Định lực, Định; (phiên âm đọc là Tam ma đề). Định tình trạng của tâm tập trung lại, qui về một điểm trên đối tượng đang quán tưởng trong tâm. Đây là một tình trạng thanh tịnh, ổn cố, dõng mãnh, sẵn sàng, mềm dẽo và êm dịu. Định học là mộn học thứ hai trong ba môn vô lậu học (sikkhà). Tam vô lậu học Giới họcĐịnh họcHuệ học (sila, samàdhi, pannà).

 

Sampajannà: Trí phân biện; sự thông hiểu rõ ràng, trong -sáng và sẵn sàng; sự vận dụng Trí huệ để ứng phó với một tình trạng đặc biệt hiện có.

 

Sankhàra: Chư hànhtất cả hiện tượng, hoặc các sự vật hữu vi, bị điều kiện hoá, tùy duyênhiện hữuChư hành thể hiện dưới ba phương diện:

 

(1) như là một sự kiện tạo ra điều kiện (the conditioner), tức là nguyên nhân của ảnh hưởng đã gây ra;
(2) như là một động tác gây ra ảnh hưởng của điều kiện (the conditioning);
(3) như là một tình trạng của điều kiệnhay là chính điều kiện đó, sẽ gây ra một ảnh hưởng cho sự vật bị điều kiện hoá (the conditions).

 

Chữ Hành còn chỉ đến một uẩn trong năm uẩn của thân tâm, tức là hành uẩnthường được dịch ra Anh ngữ là intellectual formations.

 

Santi: Sự an hoà, sự tĩnh lặng tinh thần.

 

Sàsana: Giáo lýgiáo pháp về lý thuyếtthực hành.

 

Sati: Giác niệm, một niệm, một ý tưởng trong đầu mà biết rõ mình đang nghĩ gì. Còn được dịch là: sự tỉnh thứcsự tỉnh giáchay là sự quán niệm. Giác niệm là cổ xe chuyên chở Trí Huệ Bát Nhã (Panna); thiếu giác niệm, thì chẳng thể phát triển và ứng dụng được Trí HuệGiác niệm chẳng phải là ký ức (trí nhớ), mặc dầu cả hai, giác niệm và ký ức, rất liên hệ chặt chẽ với nhauGiác niệm cũng chẳng phải chỉ là sự chú ý suông, còn hơn thế nữa. Tóm lại, chính giác niệm giúp ta hay biết rõ ràng là ta đang làm gì và đang nghĩ hay đang nói những gì. Giác niệm còn được gọi là Chánh niệm trong Bát Chánh Đạo.

 

Satipatthàna: Tứ Niệm Xứ, Bốn Lãnh vực của sự tỉnh thức. Bốn cơ sở để an trú giác niệm trong sự phát triển tâm linh. Ta nghiên cứu, tra tầm về đời sống qua bốn đề mục đó: thân, cảm thọ, tâm và pháp (Kàya, vedanà, citta, Dhamma.)

 

Sikkhà: Vô lậu học. Ba môn Vô lậu học là Giới học (sila), Định học (samadhi) và Huệ học (Panna, Bát nhã).

 

Sìla: Giới, các điều răn cấm. Đứng đầu trong ba môn Vô lậu học là Giới. Giữ giới cho thanh tịnh thì ba nghiệp, thân, miệng và ý đều thanh tịnh.

 

Sukha: Lạc, niềm vui. Lạc (vui) khác hơn Hỉ (mừng) ở chỗ là tâm an hưởng niềm vui một cách êm đềm, mà chẳng hề xao động, nhảy nhót như lúc mừng rơn. Lạc thọ (sukha vedanà) là một cảm thọ vui sướng, êm dịu, trái với Khổ thọ (dukkha vedanà) buồn khổ, khó chịu.

 

Sunnatà: Tánh không, rỗng rang, rỗng không. Tánh không đây chẳng phải là không ngơ, chẳng phải là chẳng có gì hết ráo trọi. Không, ở đây, là chẳng có tự thể, chẳng hề có cốt lõi, tựa như thân cây chuối, có đó, nhưng lột bẹ ra hết, thì rỗng rang, ngoài đống bẹ nằm bên cạnh. Không, ở đây, là chẳng có một cái gì trong nó có thể gọi là "tự ngã", chẳng có "linh hồn"gì hết ráo; vì thế, chẳng thể lấy sự vật nào làm cái ‘Ta" hay là làm ‘của Ta" được cả. Tóm lại, nói Không, là nói chẳng có tự ngã. Tánh không tình trạng rỗng vắng, có đó chớ chẳng phải không có gì ráo, và chẳng bị ô nhiễm, hoàn toàn tránh khỏi mọi lậu hoặc hay phiền nẵo.

 

Tanha: Sự Khát áisự ham muốn thái quá, sự khao khát quá mứcKhát ái là nguồn gốc gây ra sự Khổ sở (dukkha), theo Chơn Lý Nhiệm mầu thứ hai tức là Tập đế trong Tứ diệu đế (ariya sacca). Đừng lẫn lộn với sự ham muốn chánh đáng (sammà sankappa). Sự khát ái khởi sanh từ một cảm thọ (vedanà) có đầy cuồng vọng, để rồi làm nguyên nhân cho sự bám níu hay là sự chấp thủ (upàdàna).

 

Tathatà: Như thị, như thế vậy thôi,"chỉ như vậy mà thôi". Như thị (Tathatà) có nghĩa cứ như thế, chẳng phải vầy, mà cũng chẳng phải kia, là một thực tế phi nhị nguyên (non dualist). Muôn sự vật đều như thịnghĩa là chúng vô thường, bất toại nguyệnvô ngã như vậy, dầu cho chúng ta có thương hay ghét chúng, dầu cho chúng tatin tưởng, hay tưởng tượng, hay hi vọng gì về chúng đi nữa, chúng vẫn là "như thế".

 

Upàdàna: Sự chấp thủsự bám níu, sự tríu mến. Sự chấp thủsự cố bám chặt vào sự vật gì một cách điên rồ, và xem sự vật đó như là "Ta" hay là "của Ta".

 

Vedanà: Cảm thọcảm giác. Có ba loại cảm thọ: (1) lạc thọ (sukha vedanà) cảm thấy thích thú, dễ

 

chịu, sảng khoái; (2) khổ thọ (dukkha vedanà) cảm thấy chẳng mấy được thích thú, và khó chịu, bứt rứt. (3) xả thọ (adukkhamasukha vedanà), chẳng lạc chẳng khổ, có tính trung hoà. Cảm thọ bị điều kiện hoá bởi xúc (phassa); n&#78#7871;u nó khởi lên trong sự si mê, thì sẽ đưa đến sự khao khát, thèm thuồng.

 

Vijjà: sự minh triết, đồng nghĩa với Trí Huệ, với Bát nhã (Pannà), nhưng trái nghĩa với sự Vô minh (Avijjà), hay là sự ngu mê.

 

Vimutti: Giải thoátgiải phóng. Sự giải thoát có nghĩa là được thoát khỏi hoàn toàn mọi sự ràng buộc, diệt tận được mọi phiền não (kilesa) và khổ sở (dukkha), và chứng đắc được cõi Niết-bàn (Nibbàna).

 

Vinnàna: Thức, Ý thức. Ý thức là sự hiểu biết của tâm khi thu nhận các cảm giác ở các giác quan về đối tượng chuyển vào trong nội tâm. Có sáu thức: nhãn thức (sự hiểu biết qua mắt thấy), nhĩ thức (tai), tị thức (mũi), thiệt thức (lưỡi), thân thức (ở da trên thân) và ý thức (ý nghĩ ở tâm). Nhờ có thức, các hoạt động tâm linh mới có thể thực hiện đối với thế giới (loka) bên ngoài và ta mới có thể thể nghiệm được các cảm giác từ các giác quan đưa đến.

 

Vipassanà: Sự Minh sáttheo nghĩa từ chữ, là "thấy rõ". Nhờ có sự Minh sát, tâm mới nhìn thẳng vào bản thể chơn thật của muôn sự vật một cách trực tiếp, để thấy ra thật rõ ràng rằng chúng đều là vô thường, khổ sở, và vô ngã (aniccam dukkham anattà).

 

Viràga: sự chấp thủsự chẳng còn chấp thủ nữa, sự phá tan và tận diệt các việc luyến ái, tríu mến, bám níu vào. Trái nghĩa với chấp thủ (ràga).

 

Viveka: Sự độc cưsự ở ẩn, sống nơi vắng vẻ một mình. Đây là tình trạng của thân tâm nhờ sống độc cư trong sự tịch tĩnh, nên giữ được thân chẳng bị cảnh vật xung quanh khuấy rầy, tâm dứt mọi ràng buộc, mọi phiền não.

 

Vossagga: Sự từ bỏsự vứt bỏ ra phía sau, sự từ khước. Đây là sự biết buông bỏ tự nhiên của tâm đã giải thoátĐồng nghĩa với Nibbàna và Patinissagga.

  

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 424)
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 696)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 826)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 694)
03 Tháng Tư 202011:37 CH(Xem: 133)
Có thể nói, sự hiểu biết quan trọng nhất trong cuộc sống là sự hiểu biết về bản chất thực của hiện hữu, một sự hiểu biết có thể trả lời được những câu hỏi sau một cách hợp lý: - Tại sao chúng ta sanh ra? - Chúng ta đi vào hiện hữu hiện nay như thế nào? - Điều quan trọng nhất phải làm trong cuộc đời này là gì? - Thế nào là chết?
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 197)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 220)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 190)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
27 Tháng Ba 20203:30 CH(Xem: 176)
TRÌNH BÀY TÓM LƯỢC 4 CÕI - Trong 4 loại ấy, gọi là 4 cõi. Tức là cõi khổ, cõi vui, Dục-giới, Sắc-giới, cõi Vô-sắc-giới. NÓI VỀ 4 CÕI KHỔ - Trong nhóm 4 cõi ấy, cõi khổ cũng có 4 là: địa ngục, Bàng sanh, Ngạ quỉ và Atula. NÓI VỀ 7 CÕI VUI DỤC GIỚI -
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 227)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
24 Tháng Ba 20202:32 CH(Xem: 219)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Đức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận - Khināsava, bậc đã đoạn trừ mọi lậu hoặc. Chính vì thế, người đi tìm chân lý cần phải hiểu rõ những lậu hoặc này là gì, và làm cách nào để loại trừ được nó.
23 Tháng Ba 20203:56 CH(Xem: 245)
Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chímục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được
22 Tháng Ba 20209:08 CH(Xem: 213)
Everyone is aware of the benefits of physical training. However, we are not merely bodies, we also possess a mind which needs training. Mind training or meditation is the key to self-mastery and to that contentment which brings happiness. Of all forces the force of the mind is the most potent. It is a power by itself. To understand the real nature
21 Tháng Ba 20209:58 CH(Xem: 238)
Chúng ta lấy làm phấn khởi mà nhận thấy rằng hiện nay càng ngày người ta càng thích thú quan tâm đến pháp hành thiền, nhất là trong giới người Tây phương, và pháp môn nầy đang phát triễn mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học khuyên
20 Tháng Ba 20208:30 CH(Xem: 211)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc
17 Tháng Ba 20205:51 CH(Xem: 337)
Mindfulness with Breathing is a meditation technique anchored In our breathing, it is an exquisite tool for exploring life through subtle awareness and active investigation of the breathing and life. The breath is life, to stop breathing is to die. The breath is vital, natural, soothing, revealing. It is our constant companion. Wherever we go,
16 Tháng Ba 20204:16 CH(Xem: 324)
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thởđời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện.
15 Tháng Ba 202012:00 CH(Xem: 264)
Phật giáođạo Phật là những giáo lý và sự tu tập để dẫn tới mục tiêu rốt ráo của nó là giác ngộgiải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, (a) mọi người thế tục đều đang sống trong các cộng đồng dân cư, trong các tập thể, đoàn thể, và trong xã hội; và (b) những người xuất gia dù đã bỏ tục đi tu nhưng họ vẫn đang sống tu
13 Tháng Ba 20209:16 CH(Xem: 248)
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số người xem thiền như là một thứ có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem nó như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh,
12 Tháng Ba 20209:36 SA(Xem: 370)
Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipaṭṭhāna được xem là bài kinh quan trọng nhất trên phương diện thực hành thiền Phật giáo. Các thiền phái Minh Sát, dù khác nhau về đối tượng quán niệm, vẫn không xa khỏi bốn lĩnh vực: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp mà Đức Phật
10 Tháng Ba 20202:09 CH(Xem: 334)
Giới học thiền ở nước ta mấy thập niên gần đây đã bắt đầu làm quen với thiền Vipassanā. Số lượng sách báo về chuyên đề này được dịch và viết tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta đã thấy tính chất phong phú đa dạng của Thiền Minh Sát hay còn gọi là Thiền Tuệ hoặc Thiền Quán này. Thiền Vipassanā luôn có một nguyên tắc nhất quán
10 Tháng Ba 202010:20 SA(Xem: 324)
Trong tất cả các thiền sư cận đại, bà Achaan Naeb là một thiền sư đặc biệt hơn cả. Bà là một nữ cư sĩ đã từng dạy thiền, dạy đạo cho các bậc cao tăng, trong đó có cả ngài Hộ Tông, Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cũng đã từng theo học thiền với bà một thời gian. Năm 44 tuổi, Bà đã bắt đầu dạy thiền
08 Tháng Ba 202011:08 SA(Xem: 278)
A.B.: Đầu tiên, khi họ hỏi Sư: “Sư có muốn nhận giải thưởng này không?” và Sư đã đồng ý. Nhưng phản ứng đầu tiên ngay sau đó là: “Tại sao Sư lại muốn nhận giải thưởng này? Sư là một nhà Sư Phật Giáo, đây là việc một nhà Sư (cần phải) làm. Là một nhà Sư, chúng ta đi truyền giáo, đi phục vụ, và chúng ta không nhất thiết phải đòi hỏi
07 Tháng Ba 20205:16 CH(Xem: 352)
Biên tập từ các bài pháp thoại của ngài Thiền sư Ajahn Brahmavamso trong khóa thiền tích cực 9 ngày, vào tháng 12-1997, tại North Perth, Tây Úc. Nguyên tác Anh ngữ được ấn tống lần đầu tiên năm 1998, đến năm 2003 đã được tái bản 7 lần, tổng cộng 60 ngàn quyển. Ngoài ra, tập sách này cũng đã được dịch sang tiếng Sinhala
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 719)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2302)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3697)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
03 Tháng Tư 202011:37 CH(Xem: 133)
Có thể nói, sự hiểu biết quan trọng nhất trong cuộc sống là sự hiểu biết về bản chất thực của hiện hữu, một sự hiểu biết có thể trả lời được những câu hỏi sau một cách hợp lý: - Tại sao chúng ta sanh ra? - Chúng ta đi vào hiện hữu hiện nay như thế nào? - Điều quan trọng nhất phải làm trong cuộc đời này là gì? - Thế nào là chết?
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 197)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 220)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 368)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 537)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 522)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 732)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 907)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 6044)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;