12. Tự vựng Pali Việt.

16 Tháng Ba 20204:37 CH(Xem: 434)
12. Tự vựng Pali Việt.

GiacNiemVeHoiTho_BGiác Niệm Về Hơi Thở
Mindfulness With Breathing
Bhikkhu Buddhadasa
Translated from the Thai by Santikaro Bhikkhu
Thiện Nhựt phỏng dịch
Source-Nguồn: dhammatalks.net, ftp.budaedu.org, budsas.org, thuvienhoasen.org
____________________
-----------------------------

 

 

Tự vựng Pàli-Việt

 

Àcàrìya: Pháp sư; thầy giảng giáo lý. Tiếng Thái là Ajahn .

 

Àdinava: sự bất lợi, nguy cơ, tổn hại; lưỡi câu có mồi. Ám chỉ phương diện tiêu cực, thấp hèn, xấu ác của một sự vật.

 

Àna: hơi thở vào, sự thở vào.

 

Ànapànasati: Giác niệm về Hơi thở; Hơi thởý thức.

 

Ànapàna = hơi thở vào và hơi thở ra. Sati = giác niệm tức là sự tỉnh thức. Pháp Giác Niệm về Hơi thở gồm có 16 bước thực tập, vừa theo dõi hơi thở ra và vào, vừa quán tưởng 16 đề mục, đưa đến sự buông bỏ chấp thủ và được giải thoát.

 

Anattà: Vô ngã. Muôn sự vật, chẳng trừ sự vật nào cả, đều khiếm khuyết (thiếu) hẳn một bản thể cốt lõi để có thể gọi đó là một "tự ngã"(atta), một đặc tánh riêng biệt. Chẳng sự vật nào là có "linh hồn" cả. Nói vô ngã là có ý muốn nói chẳng thể có tự ngã, chớ chẳng phải nói sự vật đó chẳng hiện hữu trên thực tế. Sự vật tuy có đó, nhưng chẳng do tự nó có lấy được, và chẳng làm của riêng cho một ai được cả.

 

Attà, tự ngã, trái nghĩa với Anattà, vô ngã.

 

Anicca, Aniccam: Vô thườngVô thường là chẳng thường hằng, nay có đó, nhưng sau lại biến đổi rồi sẽ tiêu diệt mất. Trái với vô thường là thường hằng.

 

Anupassanà: sự quán tưởngQuán tưởngsự quán sát bằng nội tâm, nhận xétnghiên cứu thật sâu xa về một sự việc. Có bốn lãnh vực của sự quán tưởng:

 

(1) quán tưởng về thân (Kàya nupassanà);
(2) quán tưởng về cảm thọ (Vedanà nupassanà);
(3) quán tưởng về tâm (citta nupassanà); và
(4) quán tưởng về Pháp (Dhamma nupassanà)
(Pháp ở đây có nghĩa là các sự vật).

 

Apàna: Hơi thở ra.

 

Arahant: A la hánVị A la hán là bực đã diệt dứt hết các phiền não. Quả vị A la hánquả vị cao nhứt của hàng Thanh văn (= các đệ tử sống gần bên Phật, nghe Kinh mà tu tập theo).

 

Ariya sacca: Diệu đế, Chơn lý Nhiệm mầu. Có bốn Chơn Lý nhiệm mầu, được gọi là Tứ Diệu đếBốn Chơn lý nầy được Đức Phật Thích ca giảng trong Kinh Chuyển Pháp luânbản Kinh đầu tiên Ngài giảng sau khi mới thành đạo, cho năm anh em ông Kiều trần như nghe, tại vườn Lộc uyển, ở thành Ba la nại. Bốn Chơn lý đó là: (1) Khổ đế, về các sự khổ sở; (2) Tập đế về nguồn gốc của Khổ; (3) Diệt đế về sự tận diệt các Khổ sở; (4Đạo đế về con đường Bát Chánh Đạo có tám ngành, đưa đến sự tận diệt Khổ.

 

Assàda: mồi, mồi ngon ở lưỡi câu che dấu sự nguy hiểm. Ám chỉ sự hào nháng gạt gẫm, khía cạnh khả ái, dễ say đắm của một sự vật, thật ra chứa đầy sự nguy hiểm bên trong.

 

Attà: Tự ngã. Đây là một quan niệm sai lầm cho rằng sanh vật, sự vật đều có "linh hồn", có thể tự mình tạo ra mình, và độc lập. Trái với tự ngã là vô ngã.

 

Apàdànà: sự chấp thủsự bám níu, sự quyến kuyến, sự đắm say đeo chặt vào.

 

Avijjà: Vô minhhay si mê. Trái nghĩa với Vijjà, sự thông minh, sáng suốt, chẳng bị sự ngu dốt che mờ tâm trí.

 

Àyatana: Nhập, đi vào trongphạm vi, vùng, giới. Có hai loại nhập:

 

(1) nội lục nhậpcòn gọi là sáu căn, tức là các giác quan ở trong thân thểmắt, ta, mũi, lưỡi, thân và ý thức trong tâm;
(2) ngoại lục nhậpcòn gọi là sáu trầntức là sáu hình thái của các sự vật bên ngoài: sắc (hình dạng và màu sắc), thanh (tiếng động), hương (mùi), vị (vị nếm), xúc (sờ chạm), và pháp (sự việc).

 

Bhàvanà: sự quán tưởngsự tăng trưởng tâm linh bằng quán tưởngCitta bhàvanà: sự quán tưởng tâm; sự tập luyện về tâm linh để vun bồi các đức tánh thiện.

 

Bojjhanga: Thất giác chibảy yếu tố chủa sự giác ngộ. Đó là: (1) niệm (sati); (2) trạch pháp (dhamma vicaya) sự chọn pháp, phân tách pháp; (3) tinh tấn (viriya) cố gắng, nỗ lực; (4) hỉ (piti), mừng; (5) khinh an (passaddhi), niềm vui nhẹ nhàng và an ổn; (6) định (samàdhi), tâm ý tập trung; (7) xả (upekkhà, tâm biết buông bỏ, bình đẳng, chẳng bám níu vào đâu. Còn gọi là Thất Bồ đề phần.

 

Citta: Tâm.

 

Citta sankhàra: Tâm hànhtức là các sự kiện tạo điều kiện gây ra ảnh hưởng đến tâm (minh conditioners). Trong pháp Giác niệm về Hơi thở, các cảm thọ là những tâm hànhvì như hỉ (= mừng) và lạc (= vui) có thể khiến cho tâm rung động lên.

 

Dhamma: Pháp (= Chánh Pháp) hoặc pháp (= sự vật). Có hai loại pháp (= sự vật):

 

(1) pháp hữu vi là những sự vật bị điều kiện hoá, được tạo tác nên, bị thay đổi, biến chuyển;
(2) pháp vô vitức là Niết-bàn, thường còn, chẳng bị biến đổi, chẳng do tạo tác mà có.

 

Chữ Pháp (viết hoa) có nghĩa là Chánh Pháp do Đức Phật dạy và truyền lại cho đời sau, là ngôi thứ hai trong Tam Bảo (Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo). Chữ Pháp (viết hoa) trong sách nầy lại còn có bốn nghĩa khác nữa:

 

(1) Chơn Lý hay Thiên nhiên;
(2) qui luật của thiên nhiên;
(3) nhiệm vụ phải tuân theo qui luật của thiên nhiên;
(4) kết quả của việc tuân phục đó.

 

Dhamma jàti: pháp giới (tức là toàn thể vũ trụ); hoặc Thiên nhiên. Bao gồm cả muôn sự vật, kể cả nhơn (người) và phi nhơn (sanh vật, chẳng phải người).

 

Dosa: Sân hậngiận hờn.

 

Dukkha: Khổ sở, sự đau khổ.

 

Dukkham: Bất toại nguyệngây ra sự chẳng vừa ý, một hình thức của khổ sở. Vì sao lại bất toại nguyện? Vì các sự vật hữu vi (= bị điều kiện hoá) thì vô thường, cứ biến đổi, chẳng được ổn cố, bị suy mòn và diệt đi

 

Ekaggatà: (Tâm) nhứt điểm, tâm gom lại vào một điểm duy nhứt trên đối tượng. Đây là tình trạng tâm đi vào định lực. Tâm nhứt điểm thiền chi thứ năm, thường được gọi là nhứt tâm.

 

Idappaccàyatà: Lý duyên sanhmột qui luật thiên nhiên theo đó muôn sự vật đều do nhân duyên mà khởi sanh và cũng do nhân duyên mà diệt đi. Thường được biết dưới hình thức là luật nhân quả.

 

Jhàna: Thiền nacác tình trạng mà tâm lần lượt đi qua để nhập vào Định. Thường được gọi tắt là Thiền. Có bốn cấp Thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiềnTứ thiền (đôi khi còn có thêm Ngũ thiền). Bốn cấp nầy thuộc về Sắc thiền, hành giả nhờ quán tưởng các đối tượng có hình sắc trong cõi dục giới mà nhập vào Định.

 

Jhànanga: Thiền chicác yếu tố của Thiền.

 

Sơ thiền có năm thiền chi: (1) giác (Vitakka, nay gọi là tầm, tâm dán lên đối tượng để quan sát); (2) quán (Vicàra, nay gọi là tứ, tâm đeo chặt vào đối tượng để quán tưởng); (3) hỉ (piti, nổi mừng, tâm còn xao động); (4) lạc (sukha, niềm vui, tâm yên tịnh lại trong niềm hoan lạc; (5) nhứt tâm (ekaggatà, tức là nhứt điểm tâmtình trạng tâm gom vào một điểm trên đối tượng, tức là nhập định.

 

Ba cấp Thiền còn lại lần lượt buông rơi bốn thiền chi đầu của Sơ thiền, để có được ở bực Tứ Thiền với ba thiền chixả, niệm và nhứt tâm.

 

Kalyana mitta: Thiện hữu tri thứcthường gọi tắt là Thiện tri thứctức là người bạn hữu tốt, chỉ dạy giáo lýkinh nghiệm tu tập.

 

Kàma: Nhục cảm, tình cảm ham muốn về sự thoả mãn các đòi hỏi của giác quan hay của tình dục.

 

Kàya: Thân, còn có nghĩa là nhóm, tập hợp của nhiều bộ phận hay sự vật. Thường có nghĩa là thân thểtấm thân vật chất. Trong pháp Giác Niệm về Hơi thở, chữ toàn thân bao gồm cả thânvật chất và các luồng hơi thở. Các luồng hơi thở được gọi là thân hơi.

 

Kàya sankhàra: Thân hành(body conditioners) là các sự kiện tạo điều kiện gây ảnh hưởng đến cho thân. Trong pháp Giác Niệm về Hơi thở, chữ thân hành trỏ vào các hơi thở, vì hơi thở điều kiện hoá thân thể, tức là, khi hơi thở có êm dịu thì thân thể mới an ổn.

 

Khandha: Uẩn hoặc Ấm. Thân tâmnăm uẩn: (1) sắc uẩn (rùpa khandha) thuộc về thân vật chất; và bốn uẩn kia thuộc về tinh thần: (2) thọ uẩn (vedanà khandha), các cảm thọ; (3) tưởng uẩn (sannà khandha), các tri giác; (4) hành uẩn (sankhàra khandha), các tư tưởng; (5)thức uẩn (vinnàna khandha), các sự hiểu biết. Khi năm uẩn trở thành cơ sở cho sự bám níu (= chấp thủ), thì chúng được gọi là thủ uẩn (upàdanà khandha).

 

Kilesa: Phiền nãohay lậu hoặc, làm tâm dơ bẩn chẳng được thanh tịnh, hoặc các sự sai lầm gây ra khổ sở. Có ba phiền não chánh, thường được gọi là Tam độc: tham (lobha), sân (dosa),  si (moha).

 

Lobha: Tham lam.

 

Loka: Thế giớivũ trụ, pháp giới.

 

Lokiya: Thế tụcđời sống tại gia, đời sống còn ràng buộcgia đình, xã hội, chưa vượt qua khỏi cõi thế gian.

 

Lokuttara: Xuất thếvượt lên khỏi cõi thế gian.

 

Magga: Đạo, tức là con đường tu tập, đường lối tu tập

 

Magga phala nibbàna: Đạo và Quả Niết-bàn, tức là con đường tu tập, và quả vị đã thành tựu về Niết-bàn. Đạo là đường lối tu tập tận diệt các phiền nãoQuả vị là kết quả của việc tu tập đã thành công viên mãn.

 

Niết-bàn, ở đây, là sự thanh lương, nhờ đã tận diệt được hết các phiền não trước kia nung nấu.

 

Mahaggatà: trở nên vĩ đại.

 

Mano: Ý thứcChữ ý thức còn dùng để dịch chữ Vinnàna. Chỗ khác nhau giữa ba danh từ Mano, Vinnàna và Citta:

 

(1) Mano trỏ vào cơ năng trí thức của ý thức, như hay biết, cảm thấy, thể nghiệm và hiểu biết.
(2) Vinnàna nói đến phạm vi của các giác quan thu nhận các tri giác.
(3) Citta phương diện chủ quan của tâm.

 

Màra: Ma; sự cám dỗ ta đi vào đường ác, có hành vi xấu.

 

Moha: Si mêphiền não thứ ba trong Tam Độc (tham, sân và si); ngu si, mê mờ.

 

Nibbàna: Niết-bàn; ở đây, sự thanh lương, mát mẻNiết-bàn mục tiêu tối hậu của nền Phật học. Niết-bàn hiện khởi khi lửa nung nầu của các phiền não đã được dập tắt, chẳng còn dư tàn; sự bám níu (chấp thủ), ích kỷ và Khổ sở đã hoàn toàn tận diệt.

 

Nibbuto: sự thanh lươngngười đắc được thanh lương. Có hai cảnh trạng về sự thanh lương (nibbuto):

 

(1) Sàmàyika nibbàna, tình trạng thanh lương tạm thời;
(2) Tadanga nibbàna, tình trạng thanh lương ngẫu nhiên.

 

(Xin nơi tiểu mục: "Niết-bàn tại đây và ngay bây giờ".)

 

Nimitta: Điềm, hay triệu, để báo trước (thường dịch là Tướng hay Định tướng). Ở đây, nimitta là một tâm ảnh do tâm tạo nên để nhìn vào điểm canh chừng hơi thở đi ngang qua, để đi vào tới Định lực. (Xin xem lại nơi các tiểu mục: "Một tâm ảnh khởi lên" và "Tâm ảnh cuối cùng")

 

Nirodha: sự Tịch diệtsự tận diệt, sự chấm dứt đến tận gốc rễ. Cùng một nghĩa với chữ Niết-bàn.

 

Nivarana: Ngũ cáinăm món che đậy:

 

(1) tham lam, nhứt là tham tình dục (kàmachandha);
(2) sân khuể (vyàpàda, oán giận)
(3) thụy miên (thina middha, lười, mê ngủ)
(4) trạo hối (uddhacca kukkucca, xao động, hối tiếc)
(5) nghi ngờ (vicikicchà).

 

Panna: Bát nhã, Trí Huệ.

 

Paticca samuppàda: Duyên sanh; còn được gọi là Thập Nhị Nhân Duyên: (gây nên sự Khổ sở (dukkha) (1) Vô minh (avijjà), (2) Hành (sankhàra), (3) Thức (vinnàna), (4) Danh sắc (nàma rùpa), (5) Lục nhập (salàyatana), (6) Xúc (phassa), (7) Thọ (vedanà), (8) Ái (tanha, khát ái), (9) Thủ (upàdàna, bám níu)(10)Hữu (bhava, hiện hữu) (11) Sanh (jàti), (12) Tử (jàra marana).

 

Patinissaga: Sự từ bỏ; sự quẳng bỏ lại ra phía sau; sự chấm dứt bám níu vào sự vật mà gọi đó là "Ta", hay "của Ta"; sự vứt bỏ mọi sự vật để hoàn trả lại cho Thiên nhiên.

 

Phassa: Xúc; sự tiếp xúc giữa ba sự việc: (1) đối tượng bên ngoài, (2) giác quan trong thân, (3) ý thức hay biết có đối tượng đi vào tâm. Tức là, một vật được thấy, tại mắt và tâm hay biết là đang có thấy vật đó. Có sáu loại xúc với năm giác quaný thức ở tâm.

 

Pìti: Hỉ; nổi mừng, sự bằng lòng, sự thoả ý, sự ngất ngây, do từ một cảm thọ sướng (lạc thọ) khởi lên khi ta làm xong việc gì được thành công.

 

Hỉ (piti, nổi mừng) khác với niềm vui, Lạc (sukha), vì khi có Hỉ, tâm còn nhảy nhót mừng lên mà rung động, nhưng với Lạc, tâm lắng dịu lại, nhẹ nhàng an hưởng niềm vui.

 

Prana (tiếng Phạn), Pàna (tiếng Pali): Sanh lực, Hơi thởsự vật đã nuôi dưỡngbảo trì đời sống.

 

Pranayàma: Sự kiểm soát hơi thởsự huấn luyện hơi thở.

 

Ràga: Sự khao khát, sự tham lam ham muốn, khát khao về tình dục.

 

Sacca: Chơn Lý, Sự Thật.

 

Sacca dhamma: Sự kiện thực tế; Thực tế; Sự kiện.

 

Samàdhi: Định lực, Định; (phiên âm đọc là Tam ma đề). Định tình trạng của tâm tập trung lại, qui về một điểm trên đối tượng đang quán tưởng trong tâm. Đây là một tình trạng thanh tịnh, ổn cố, dõng mãnh, sẵn sàng, mềm dẽo và êm dịu. Định học là mộn học thứ hai trong ba môn vô lậu học (sikkhà). Tam vô lậu học Giới họcĐịnh họcHuệ học (sila, samàdhi, pannà).

 

Sampajannà: Trí phân biện; sự thông hiểu rõ ràng, trong -sáng và sẵn sàng; sự vận dụng Trí huệ để ứng phó với một tình trạng đặc biệt hiện có.

 

Sankhàra: Chư hànhtất cả hiện tượng, hoặc các sự vật hữu vi, bị điều kiện hoá, tùy duyênhiện hữuChư hành thể hiện dưới ba phương diện:

 

(1) như là một sự kiện tạo ra điều kiện (the conditioner), tức là nguyên nhân của ảnh hưởng đã gây ra;
(2) như là một động tác gây ra ảnh hưởng của điều kiện (the conditioning);
(3) như là một tình trạng của điều kiệnhay là chính điều kiện đó, sẽ gây ra một ảnh hưởng cho sự vật bị điều kiện hoá (the conditions).

 

Chữ Hành còn chỉ đến một uẩn trong năm uẩn của thân tâm, tức là hành uẩnthường được dịch ra Anh ngữ là intellectual formations.

 

Santi: Sự an hoà, sự tĩnh lặng tinh thần.

 

Sàsana: Giáo lýgiáo pháp về lý thuyếtthực hành.

 

Sati: Giác niệm, một niệm, một ý tưởng trong đầu mà biết rõ mình đang nghĩ gì. Còn được dịch là: sự tỉnh thứcsự tỉnh giáchay là sự quán niệm. Giác niệm là cổ xe chuyên chở Trí Huệ Bát Nhã (Panna); thiếu giác niệm, thì chẳng thể phát triển và ứng dụng được Trí HuệGiác niệm chẳng phải là ký ức (trí nhớ), mặc dầu cả hai, giác niệm và ký ức, rất liên hệ chặt chẽ với nhauGiác niệm cũng chẳng phải chỉ là sự chú ý suông, còn hơn thế nữa. Tóm lại, chính giác niệm giúp ta hay biết rõ ràng là ta đang làm gì và đang nghĩ hay đang nói những gì. Giác niệm còn được gọi là Chánh niệm trong Bát Chánh Đạo.

 

Satipatthàna: Tứ Niệm Xứ, Bốn Lãnh vực của sự tỉnh thức. Bốn cơ sở để an trú giác niệm trong sự phát triển tâm linh. Ta nghiên cứu, tra tầm về đời sống qua bốn đề mục đó: thân, cảm thọ, tâm và pháp (Kàya, vedanà, citta, Dhamma.)

 

Sikkhà: Vô lậu học. Ba môn Vô lậu học là Giới học (sila), Định học (samadhi) và Huệ học (Panna, Bát nhã).

 

Sìla: Giới, các điều răn cấm. Đứng đầu trong ba môn Vô lậu học là Giới. Giữ giới cho thanh tịnh thì ba nghiệp, thân, miệng và ý đều thanh tịnh.

 

Sukha: Lạc, niềm vui. Lạc (vui) khác hơn Hỉ (mừng) ở chỗ là tâm an hưởng niềm vui một cách êm đềm, mà chẳng hề xao động, nhảy nhót như lúc mừng rơn. Lạc thọ (sukha vedanà) là một cảm thọ vui sướng, êm dịu, trái với Khổ thọ (dukkha vedanà) buồn khổ, khó chịu.

 

Sunnatà: Tánh không, rỗng rang, rỗng không. Tánh không đây chẳng phải là không ngơ, chẳng phải là chẳng có gì hết ráo trọi. Không, ở đây, là chẳng có tự thể, chẳng hề có cốt lõi, tựa như thân cây chuối, có đó, nhưng lột bẹ ra hết, thì rỗng rang, ngoài đống bẹ nằm bên cạnh. Không, ở đây, là chẳng có một cái gì trong nó có thể gọi là "tự ngã", chẳng có "linh hồn"gì hết ráo; vì thế, chẳng thể lấy sự vật nào làm cái ‘Ta" hay là làm ‘của Ta" được cả. Tóm lại, nói Không, là nói chẳng có tự ngã. Tánh không tình trạng rỗng vắng, có đó chớ chẳng phải không có gì ráo, và chẳng bị ô nhiễm, hoàn toàn tránh khỏi mọi lậu hoặc hay phiền nẵo.

 

Tanha: Sự Khát áisự ham muốn thái quá, sự khao khát quá mứcKhát ái là nguồn gốc gây ra sự Khổ sở (dukkha), theo Chơn Lý Nhiệm mầu thứ hai tức là Tập đế trong Tứ diệu đế (ariya sacca). Đừng lẫn lộn với sự ham muốn chánh đáng (sammà sankappa). Sự khát ái khởi sanh từ một cảm thọ (vedanà) có đầy cuồng vọng, để rồi làm nguyên nhân cho sự bám níu hay là sự chấp thủ (upàdàna).

 

Tathatà: Như thị, như thế vậy thôi,"chỉ như vậy mà thôi". Như thị (Tathatà) có nghĩa cứ như thế, chẳng phải vầy, mà cũng chẳng phải kia, là một thực tế phi nhị nguyên (non dualist). Muôn sự vật đều như thịnghĩa là chúng vô thường, bất toại nguyệnvô ngã như vậy, dầu cho chúng ta có thương hay ghét chúng, dầu cho chúng tatin tưởng, hay tưởng tượng, hay hi vọng gì về chúng đi nữa, chúng vẫn là "như thế".

 

Upàdàna: Sự chấp thủsự bám níu, sự tríu mến. Sự chấp thủsự cố bám chặt vào sự vật gì một cách điên rồ, và xem sự vật đó như là "Ta" hay là "của Ta".

 

Vedanà: Cảm thọcảm giác. Có ba loại cảm thọ: (1) lạc thọ (sukha vedanà) cảm thấy thích thú, dễ

 

chịu, sảng khoái; (2) khổ thọ (dukkha vedanà) cảm thấy chẳng mấy được thích thú, và khó chịu, bứt rứt. (3) xả thọ (adukkhamasukha vedanà), chẳng lạc chẳng khổ, có tính trung hoà. Cảm thọ bị điều kiện hoá bởi xúc (phassa); n&#78#7871;u nó khởi lên trong sự si mê, thì sẽ đưa đến sự khao khát, thèm thuồng.

 

Vijjà: sự minh triết, đồng nghĩa với Trí Huệ, với Bát nhã (Pannà), nhưng trái nghĩa với sự Vô minh (Avijjà), hay là sự ngu mê.

 

Vimutti: Giải thoátgiải phóng. Sự giải thoát có nghĩa là được thoát khỏi hoàn toàn mọi sự ràng buộc, diệt tận được mọi phiền não (kilesa) và khổ sở (dukkha), và chứng đắc được cõi Niết-bàn (Nibbàna).

 

Vinnàna: Thức, Ý thức. Ý thức là sự hiểu biết của tâm khi thu nhận các cảm giác ở các giác quan về đối tượng chuyển vào trong nội tâm. Có sáu thức: nhãn thức (sự hiểu biết qua mắt thấy), nhĩ thức (tai), tị thức (mũi), thiệt thức (lưỡi), thân thức (ở da trên thân) và ý thức (ý nghĩ ở tâm). Nhờ có thức, các hoạt động tâm linh mới có thể thực hiện đối với thế giới (loka) bên ngoài và ta mới có thể thể nghiệm được các cảm giác từ các giác quan đưa đến.

 

Vipassanà: Sự Minh sáttheo nghĩa từ chữ, là "thấy rõ". Nhờ có sự Minh sát, tâm mới nhìn thẳng vào bản thể chơn thật của muôn sự vật một cách trực tiếp, để thấy ra thật rõ ràng rằng chúng đều là vô thường, khổ sở, và vô ngã (aniccam dukkham anattà).

 

Viràga: sự chấp thủsự chẳng còn chấp thủ nữa, sự phá tan và tận diệt các việc luyến ái, tríu mến, bám níu vào. Trái nghĩa với chấp thủ (ràga).

 

Viveka: Sự độc cưsự ở ẩn, sống nơi vắng vẻ một mình. Đây là tình trạng của thân tâm nhờ sống độc cư trong sự tịch tĩnh, nên giữ được thân chẳng bị cảnh vật xung quanh khuấy rầy, tâm dứt mọi ràng buộc, mọi phiền não.

 

Vossagga: Sự từ bỏsự vứt bỏ ra phía sau, sự từ khước. Đây là sự biết buông bỏ tự nhiên của tâm đã giải thoátĐồng nghĩa với Nibbàna và Patinissagga.

  

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 1027)
02 Tháng Bảy 201911:36 SA(Xem: 1765)
Đức Đạt Lai Lạt Ma (được dịch là "Trí Tuệ Như Biển") đời thứ 14, sinh ngày 6/7/1935, tên ngài lúc mới sinh là Lhamo Thondup. The 14th Dalai Lama (loosely translated "Ocean of Wisdom") was born Lhamo Thondup on July 6, 1935.
08 Tháng Bảy 20209:02 CH(Xem: 24)
"Tôi nghĩ rằng chúng ta nên nhấn mạnh đến sự đồng nhất, sự giống nhau ... nhấn mạnh đến điều đó", nhà sư đoạt giải Nobel Hòa bình nói. Đôi khi, ông nói, chúng ta đặt nặng quá nhiều vào "sự khác biệt nhỏ" và "điều đó tạo ra vấn đề". ("I think we should emphasize oneness, sameness...emphasize that," says the Nobel Peace Prize winning monk.
07 Tháng Bảy 202010:00 CH(Xem: 84)
Trong thế giới chúng ta sống hôm nay, các quốc gia không còn cô lập và tự cung cấp như xưa kia. Tất cả chúng ta trở nên phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì thế, càng phải nhận thức nhiều hơn về tính nhân loại đồng nhất. Việc quan tâm đến người khác là quan tâm chính mình. Khí hậu thay đổi và đại dịch hiện nay, tất cả chúng ta bị đe doạ,
05 Tháng Bảy 20208:28 CH(Xem: 149)
Tâm biết có hai phương diện: Tánh biết và tướng biết. Tánh biết vốn không sinh diệt, còn tướng biết tuỳ đối tượng mà có sinh diệt. Khi khởi tâm muốn biết tức đã rơi vào tướng biết sinh diệt. Khi tâm rỗng lặng hồn nhiên, tướng biết không dao động thì tánh biết tự soi sáng. Lúc đó tánh biết và tướng biết tương thông,
04 Tháng Bảy 20202:37 CH(Xem: 151)
Từ yoniso nghĩa là sáng suốt, đúng đắn. Manasikāra nghĩa là sự chú ý. Khi nào chú ý đúng đắn hợp với chánh đạo, đó là như lý tác ý; khi nào chú ý không đúng đắn, hợp với tà đạo, đó là phi như lý tác ý. Khi chú ý đến các pháp khiến cho năm triền cái phát sanh là phi như lý tác ý, trái lại khi chú ý đến các pháp mà làm hiện khởi
03 Tháng Bảy 20207:32 CH(Xem: 159)
Trước hết cần xác định “tác ý” được dịch từ manasikāra hay từ cetanā, vì đôi lúc cả hai thuật ngữ Pāli này đều được dịch là tác ý như nhau. Khi nói “như lý tác ý” hoặc “phi như tác ý” thì biết đó là manasikāra, còn khi nói “tác ý thiện” hoặc “tác ý bất thiện” thì đó là cetanā. Nếu nghi ngờ một thuật ngữ Phật học Hán Việt thì nên tra lại
02 Tháng Bảy 20206:13 CH(Xem: 190)
Bạn nói là bạn quá bận rộn để thực tập thiền. Bạn có thời gian để thở không? Thiền chính là hơi thở. Tại sao bạn có thì giờ để thở mà lại không có thì giờ để thiền? Hơi thở là thiết yếu cho đời sống. Nếu bạn thấy rằng tu tập Phật pháp là thiết yếu trong cuộc đời, bạn sẽ thấy hơi thởtu tập Phật pháp là quan trọng như nhau.
01 Tháng Bảy 20205:53 CH(Xem: 225)
Khi con biết chiêm nghiệm những trải nghiệm cuộc sống, con sẽ thấy ra ý nghĩa đích thực của khổ đau và ràng buộc thì con sẽ có thể dễ dàng tự do tự tại trong đó. Thực ra khổ đau và ràng buộc chỉ xuất phát từ thái độ của tâm con hơn là từ điều kiện bên ngoài. Nếu con tìm thấy nguyên nhân sinh khổ đau ràng buộc ở trong thái độ tâm
30 Tháng Sáu 20209:07 CH(Xem: 201)
Cốt lõi của đạo Phật khác với các tôn giáo khác ở chỗ, hầu hết các tôn giáo khác đều đưa ra mục đích rồi rèn luyện hay tu luyện để trở thành, để đạt được lý tưởng nào đó. Còn đạo Phật không tu luyện để đạt được cái gì cả. Mục đích của đạo Phậtgiác ngộ, thấy ra sự thật hiện tiền tức cái đang là. Tất cả sự thật đều bình đẳng,
29 Tháng Sáu 20208:36 CH(Xem: 198)
Theo nguyên lý thì tụng gì không thành vấn đề, miễn khi tụng tập trung được tâm ý thì đều có năng lực. Sự tập trung này phần lớn có được nhờ đức tin vào tha lực. Luyện bùa, trì Chú, thôi miên, niệm Phật, niệm Chúa, thiền định, thần thông v.v… cũng đều cần có sức mạnh tập trung mới thành tựu. Tưởng đó là nhờ tha lực nhưng sức mạnh
28 Tháng Sáu 20209:36 CH(Xem: 209)
Giác ngộvô minh thì thấy vô minh, minh thì thấy minh… mỗi mỗi đều là những cái biểu hiện để giúp tâm thấy ra tất cả vốn đã hoàn hảo ngay trong chính nó. Cho nên chỉ cần sống bình thường và thấy ra nguyên lý của Pháp thôi. Sự vận hành của Pháp vốn rất hoàn hảo trong những cặp đối đãi – tương sinh tương khắc – của nó.
27 Tháng Sáu 20206:31 CH(Xem: 216)
Thầy có ví dụ: Trong vườn, cây quýt nhìn qua thấy cây cam nói nói tại sao trái cam to hơn mình. Và nó ước gì nó thành cây cam rồi nó quên hút nước và chết. Mình thường hay muốn thành cái khác, đó là cái sai. Thứ hai là mình muốn đốt thời gian. Như cây ổi, mình cứ lo tưới nước đi. Mọi chuyện hãy để Pháp làm. Mình thận trọng,
26 Tháng Sáu 20209:57 CH(Xem: 202)
Từ đó tôi mới hiểu ý-nghĩa này. Hóa ra trong kinh có nói những cái nghĩa đen, những cái nghĩa bóng. Có nghĩa là khi một người được sinh ra trên thế-gian này, dù người đó là Phật, là phàm-phu, là thánh-nhân đi nữa, ít nhất đầu tiên chúng ta cũng bị tắm bởi hai dòng nước, lạnh và nóng, tức là Nghịch và Thuận; nếu qua được
25 Tháng Sáu 202010:14 CH(Xem: 234)
trí nhớ là tốt nhưng đôi khi nhớ quá nhiều chữ nghĩa cũng không hay ho gì, nên quên bớt ngôn từ đi, chỉ cần nắm được (thấy ra, thực chứng) cốt lõi lý và sự thôi lại càng tốt. Thấy ra cốt lõi tinh tuý của sự thật mới có sự sáng tạo. Nếu nhớ từng lời từng chữ - tầm chương trích cú - như mọt sách rồi nhìn mọi sự mọi vật qua lăng kính
24 Tháng Sáu 202010:08 CH(Xem: 242)
Kính thưa Thầy, là một người Phật Tử, mỗi khi đi làm phước hay dâng cúng một lễ vật gì đến Chư Tăng thì mình có nên cầu nguyện để mong được như ý mà mình mong muốn không? Hay là để tâm trong sạch cung kính mà dâng cúng không nên cầu nguyện một điều gì? Và khi làm phước mà mong được gieo giống lành đắc Đạo quả
23 Tháng Sáu 20207:24 CH(Xem: 277)
Tất cả chúng ta sẽ phải đối mặt với cái chết, vì vậy, không nên bỏ mặc nó. Việc có cái nhìn thực tế về cái chết của mình sẽ giúp ta sống một đời trọn vẹn, có ý nghĩa. Thay vì hấp hối trong sự sợ hãi thì ta có thể chết một cách hạnh phúc, vì đã tận dụng tối đa cuộc sống của mình. Qua nhiều năm thì cơ thể của chúng ta đã thay đổi.
22 Tháng Sáu 20209:23 CH(Xem: 297)
Đúng là không nên nhầm lẫn giữa luân hồi (saṃsāra) và tái sinh (nibbatti). Tái sinh là sự vận hành tự nhiên của vạn vật (pháp hữu vi), đó là sự chết đi và sinh lại. Phàm cái gì do duyên sinh thì cũng đều do duyên diệt, và rồi sẽ tái sinh theo duyên kế tục, như ví dụ trong câu hỏi là ngọn lửa từ bật lửa chuyển thành ngọn lửa
21 Tháng Sáu 20208:58 CH(Xem: 262)
Trong Tăng chi bộ, có một lời kinh về bản chất chân thật của tâm: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” cùng với ý nghĩa “cội nguồn” của “yoni” trong “yoniso mananikara” là hai y cứ cho tựa sách “Chói sáng cội nguồn tâm”. Tựa đề phụ “Cách nhìn toàn diện hai chiều vô vihữu vi của thực tại”
20 Tháng Sáu 20203:42 CH(Xem: 335)
Trong tu tập nhiều hành giả thường cố gắng sắp đặt cái gì đó trước cho việc hành trì của mình, như phải ngồi thế này, giữ Tâm thế kia, để mong đạt được thế nọ… nhưng thật ra không phải như vậy, mà là cứ sống bình thường trong đời sống hàng ngày, ngay đó biết quan sát mà thấy ra và học cách hành xử sao cho đúng tốt là được.
19 Tháng Sáu 20204:48 CH(Xem: 330)
Lúc còn nhỏ, khi đến thiền viện, tôi phải có cha mẹ đi cùng, và không được đi hay ngồi chung với các sư. Khi các sư giảng Pháp, tôi luôn ngồi bên dưới, chỉ đủ tầm để nghe. Vị thiền sư đáng kính dạy chúng tôi cách đảnh lễ Đức Phậttụng kinh xưng tán ân đức của Ngài. Thiền sư khuyến khích chúng tôi rải tâm từ cho mọi chúng sinh,
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1265)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2841)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4353)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Sáu 20205:26 CH(Xem: 437)
I am very impressed by the thoroughness and care with which Dr. Thynn Thynn explains the path of mindfulness in daily life in her book. This has not been emphasized as strongly in the monastic and meditative teachings of Buddhism that have taken root in the West.
11 Tháng Sáu 20205:08 CH(Xem: 442)
Tôi rất cảm phục Bs Thynn Thynn khi bà đã tận tình giải thích thấu đáo, trong quyển sách của bà, về cách sống tỉnh giác trong đời sống thường ngày. Trước đây, điểm nầy chưa được nhấn mạnh đúng mức trong giáo lý Phật-đà tại các thiền việntu việnTây phương. Trong thực tế, phần lớn các phương pháp tu hành ở Á châu đều theo
14 Tháng Năm 202010:20 CH(Xem: 631)
Trong mấy năm qua, một vài ông bà — cụ thể là Mary Talbot, Jane Yudelman, Bok Lim Kim và Larry Rosenberg—đã đề nghị tôi “Khi nào Sư sẽ viết hướng dẫn về hành thiền hơi thở?” Tôi đã luôn nói với họ rằng cuốn Giữ Hơi Thở Trong Tâm (Keeping the Breath in Mind) của Ajaan Lee là hướng dẫn thực hành tuyệt vời, nhưng họ
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 636)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 638)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 745)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1061)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1273)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1149)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.