[Phần 5]

21 Tháng Ba 202010:08 CH(Xem: 508)
[Phần 5]

ThienTapTrongPhatGiao_AThiền Tập Trong Phật Giáo 
(Buddhist Meditation, in "The Spectrum of Buddhism", Chapter 10)
Bhikkhu Pyadassi Mahathera
Phạm Kim Khánh dịch
Source-Nguồn: budsas.net
 
____________________


Phần 5: Các Phụ Bản

 

Phụ Bản Số 1

 

Chánh Tinh Tấn

 

Chánh Tinh Tấn có bốn tác dụng là: ngăn ngừa (samvara), dứt bỏ (pahana), phát triển (bhavana) và củng cố (anurakkhana).

 

1. Cái gì là tinh tấn ngăn ngừa?

 

"Nơi đây (tức trong trường hợp này), vị tỳ khưu đặt hết ý chí mình vào công trình ngăn ngừa, không cho pháp bất thiện phát khởi; gìn giữ, không để cho những tư tưởng bất thiện chưa phát sanh có thể phát sanh. Vị này củng cố phát triển năng lựcdũng mãnh củng cố tâm của mình (để ngăn ngừa).

 

"Nơi đây, khi vị tỳ khưu thấy một hình thể, nghe một âm thanh, hưởi một mùi, nếm một vị, xúc chạm một vật, hoặc hay biết một ý tưởng, vị này không bị những đối tượng ấy -- xem như một toàn thể hay trong những chi tiết -- làm xúc động. Vị tỳ khưu chăm chú kiểm soát, cẩn mật giữ gìnđiều phục lục căn, không để cho những xúc cảm như ưa thích hay ghét bỏ, những tư tưởng tội lỗibất thiện xâm nhập vào, như người không thu thúc lục căn (bị nó xâm nhập). Đó là tinh tấn ngăn ngừa".

 

2. Cái gì là tinh tấn dứt bỏ?

 

"Nơi đây, vị tỳ khưu đặt hết ý chí mình vào công trình dứt bỏ pháp bất thiện, những tư tưởng bất thiện đã phát sanh. Vị này cố gắng phát triển năng lựcdũng mãnh củng cố tâm mình (để dứt bỏ).

 

"Nơi đây, vị tỳ khưu không chấp nhận những dục vọng đã phát sanh mà dứt bỏ, tránh xa và xua đuổi, làm cho nó chấm dứt và tan biến. Cùng thế ấy đối với những tư tưởng sân hận và hung bạo đã phát sanh. Đó là tinh tấn dứt bỏ".

 

3. Cái gì là tinh tấn phát triển

 

"Nơi đây, vị tỳ khưu đặt hết ý chí mình vào công trình tạo nên và phát triển những tư tưởng thiện chưa phát sanh. Vị này cố gắng phát triển năng lựcdũng mãnh củng cố tâm của mình (để phát triển).

 

"Nơi đây, vị tỳ khưu phát triển những yếu tố của sự giác ngộ (Thất Giác Chi), căn cứ trên sự ẩn dật, trên sự dứt khoát từ bỏ, trên sự chấm dứt cuối cùng, đưa đến giải thoát. Những yếu tố ấy là: niệm, trạch pháp, tấn, phỉ, an, định, xả. Đó là tinh tấn phát triển".

 

4. Cái gì là tinh tấn củng cố?

 

"Nơi đây, vị tỳ khưu củng cố đề mục thiền thuận lợi ... Đó là tinh tấn củng cố".

 

Trên đây là bốn tinh tấn (Tứ Chánh Cần hay Chánh Tinh Tấn).

 

Những tư tưởng bất thiện (ác pháp) được đề cập. Ở đây là ba căn cội của bất thiện nghiệp. Đó là: những tư tưởng tham áisân hận và si mê (lobha, dosa, moha). Tất cả những khát vọng khác đều kết hợp quây quần chung quanh ba căn cội này. Những tư tưởng thiện (thiện pháp) là đối nghịch.

 

Bốn chuyên cần tinh tấn này nhằm thành công trong công trình hành thiền. Tứ Chánh cần, hay Chánh Tinh Tấn, là điều kiện tất phải có để đi đến tâm định. Chánh Tinh Tấn nằm trong nhóm "Định", và như vậy, liên quan mật thiếttùy thuộc lẫn nhau với hai chi kia (của nhóm Định) là Chánh NiệmChánh Định. Ba chi này sinh hoạt chung và cùng một lúc. Nếu khôngChánh Tinh Tấn ắt không thể khắc phục được năm pháp triền cái. Chánh Tinh Tấn gội rửa những tư tưởng không lành mạnh làm trở ngại sự lắng tâm và đàng khác, phát huy và củng cố những yếu tố tâm lành mạnh, nhằm đưa đến tâm định.

 

 


 

Phụ Bản Số 2

 

Năm Pháp Triền Cái

 

"Này chư Tỳ Khưu, có năm chướng ngại làm cho ta mù quáng, mất kiến thức, không tri tường, và cướp mất đi trí tuệ của ta. Năm chướng ngại ấy kết hợp với đau khổ và không dẫn đến Niết Bàn".(Tạp A Hàm, Samyutta Nikaya, 97)

 

Nivaranani, triền cái, có nghĩa là những gì làm trở ngại và ngăn chận sự phát triển tinh thần. Được gọi là triền cái, hay chướng ngại tinh thần, bởi vì nó hoàn toàn đóng chắc, cắt đứt và ngăn chận. Nó khóa hẳn cánh cửa mở vào giải thoát. Năm ấy là gì?

 

1. Tham dục (kamacchanda),
2. Oán ghét (vyapada),
3. Hôn trầm, dả dượi (thina-middha),
4. Phóng dật, lo âu (uddhacca-kukucca), và
5. Hoài nghi (vicikiccha).

 

1. Tham dục: đây là tham muốn duyên theo nhục dục ngũ trần. Những tư tưởng tham dục chắc chắn làm chậm trể sự phát triển tinh thần. Nó làm tâm chao động và trở ngại sự gom tâm an trụ. Sở dĩtham dục phát sanh là vì lục căn không thu thúc. Vì không cẩn mật gìn giữ sáu cửa (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) nên những tư tưởng tham ái có thể xâm nhập vào và làm nhơ ua tâm thức. Do dó, người hành thiền cần phải thận trọng thu thúc lục căn, không dể duôi để cho trở ngại tham ái ngăn chận, khóa đóng con đường giải thoát của mình.

 

2. Oán ghét: hay ác ý, sân hận, là chướng ngại thứ nhì. Cũng như trường hợp của tham dục, sự chú tâm sai lầm, kém khôn ngoan, không sáng suốt, dẫn đến ác ý, oán ghét, hay sân hận. Và nếu không kịp thời dập tắt, những tư tưởng bất thiện này sẽ thấm nhuần vào tâm và che lấp kiến thức , làm cho ta mù quáng, không thấy rõ sự thật. Nó làm móp méo toàn thể tâm thức và các tâm sở liên hệ và như vậy, gây trở ngại cho Ánh Sáng Chân Lý và đóng kín con đường đưa đến Tự Do. Tham dục và oán ghét, hay sân hận, đặt nền tảng trên si mê, chẳng những làm chậm trể sự trưởng thành của tâm trí mà còn tác dụng như nguyên nhân của những cuộc chia rẽ, tranh chấpxung đột giữa người và người, giữa quốc gia này với quốc gia khác.

 

3. Hôm trầm, dả dượi: chướng ngại thứ ba, là trạng thái tâm uể oải, không muốn hoạt động. Đó không phải là trạng thái uể oải của thể xác như có người lầm tưởng, bởi vì chí đến các vị A La Hán và chư Phật là những bậc đã hoàn toàn khắc phục các pháp triền cái, đôi khi vẫn còn cảm nghe cơ thể mệt mỏi. Giống như miếng bơ quá đặc, dính cục lại, làm cho ta khó trét ra trên bánh mì, trạng thái hôn trầm, dả dượi làm cho tâm nhuể nhoại, biếng hoạt động và như vậy, làm cho người hành thiền mất nhiệt thành, kém quyết tâm, và trở nên ương yếu tinh thần và lười biếng. Sự hôn trầm càng làm tâm thần thêm dả dượi và cuối cùng đưa đến trạng thái tâm bất động.

 

4. Phóng dật, lo âu: chướng ngại thứ tư, là một trở ngại khác làm chậm trể bước tiến tinh thần. Khi mà tâm trở nên phóng dật thì nó giống như một bầy ong bị vỡ ổ, cứ vo vo bay quanh quẩn không ngừng và như vậy, khó được an trụ. Một cái tâm bị chao động tức nhiên không thể vắng lặng. Chính sự chao động là một trở ngại cho con đường đi đến vắng lặng, con đường hướng thượng. Trạng thái lo âu cũng tệ hại như phóng dật. Khi mà người kia mãi mãi lo âu, hết chuyện này đến chuyện khác, hết việc nọ đến việc kia, những việc đã làm xong, và những việc chưa làm được, và luôn luôn tự lo âu về những chuyện rủi may của đời sống, thì chắc chắn là tâm của người ấy không bao giờ an lạc. Tất cả những tình trạng quấy rầy, bực dọc, phiền phức, lo âu, không yên ấy là những trở ngại cản ngăn, không để cho tâm an trụ. Do đó, phóng dậtlo âu là một pháp triền cái.

 

5. Hoài nghi: là chướng ngại thứ năm, cũng là chướng ngại cuối cùng. Danh từ Pali vicikiccha, theo đúng nghĩa từng chữ, là không (vi = vigata) thuốc (cikiccha). Đúng vậy, người mà mắc phải tâm trạng hoài nghi, bất định, không nhất quyết về điều mình đang làm, thì rõ thật là một chứng bệnh vô cùng tai hại, và ngoại trừ khi nào dứt bỏ tâm trạng ấy người kia sẽ còn tiếp tục lo âu, sợ sệt và không thể bình phục. Ngày giờ nào mà con người còn bị tâm trạng hoài nghi làm lung lạc tinh thần, cũng như ngồi trên một cái hàng rào, thì không thể có được một quan kiến nhất định về sự vật, và đó là một tệ hại tinh thần rất trầm trọng cho công trình trau giồi tâm trí. Các nhà Chú Giải giải thích rằng chướng ngại hoài nghitình trạng thiếu khả năng quyết định về bất luận điều gì và cũng xem hoài nghi là không tin tưởng rằng có ai có thể đắc thiền.

 

Trên đây là năm chướng ngại tinh thần, gọi là năm pháp triền cái, kể về chung cũng như kể riêng từng chướng ngại một, làm trở ngại sự gom tâm an trụ.

 

Một cái tâm mà bị những trở lực tai hại trên thấm nhuần sẽ không thể an trụ một cách tốt đẹp vào bất cứ đề mục nào có bản chất trong sạch. Đúng rằng người kia có thể gom tâm vào một đối tượng với những tư tưởng bất thiện như tham ái, sân hận v.v... nhưng đó là tà định (miccha- samadhi).

 

Lẽ dĩ nhiên là ngày giờ nào mà các bợn nhơ tinh thần, hay khát vọng (kilesa), còn tồn tại nơi người nào thì tư tưởng của người ấy sẽ còn tiếp tục nhơ bẩn, bất thiện, tội lỗi. Tuy nhiên, người hành thiền đã gia công thực hành tâm định, đã kiểm soát các pháp triền cái, thì không thể lầm lạc phạm điều bất thiện.

 

Để điều phục các chướng ngại tinh thần hành giả phải trau giồi và phát triển năm yếu tố tâm lý gọi là chi thiền (jhananga). Đó là: tầm, sát, phỉ, lạc, trụ (vitakka, vicara, piti, sukha và ekaggata), đối nghịch với năm pháp triền cái. Chính năm yếu tố tâm lý ấy, hay chi thiền, nâng đỡ, đem tâm trạng trong sạch của hành giả từ thấp lên cao. Loại tâm kết hợp với những yếu tố ấy được gọi là "thiền" (jhana). Năm chi thiền, kể theo thứ tự và từng bước một, điều phục những chướng ngại ngăn chận con đường đưa đến tâm định.

 

Thí dụ như chi thiền trụ (ekaggata, nhất điểm tâm, hay tâm an trụ vào một điểm) chế ngự chướng ngại tham dục; chi thiền phỉ (piti) chế ngự chướng ngại oán ghét; tầm (vitakka) chế ngự hôn trầm, dả dượi; lạc (sukha) chế ngự phóng dật, lo âu; sát (vicara) chế ngự hoài nghi. Nếu sắp xếp ngang nhau thì sẽ như sau:

 

Tham dục -- Trụ
Oán ghét -- Phỉ
Hôn trầm, dả dượi -- Tầm
Phóng dật, lo âu -- Lạc
Hoài nghi -- Sát

 

 


 

Phụ Bản Số 3

 

Đại Đức Sona - Vị Hành Giả Quá Ép Sức

 

Vào thời Đức PhậtĐại Đức Sona-kolivisa rất là tinh tấn. Ngài ép mình quá sức trong khi hành thiền -- cả thân lẫn tâm -- nhưng rồi vẫn thất bại. Ngày kia Ngài có ý nghĩ sau đây: "Trong số các vị đệ tử của Đức Bổn Sư mà đã hết sức cố gắng hành thiền thì ta đây là một. Mặc dầu vậy tâm của ta vẫn chưa được gội kết bợn nhơ. Gia đình ta khá giả. Ta có thể thọ hưởng tiền của và làm việc lành. Hay là ta hãy lìa bỏ việc tu tập, trở về với nếp sống thấp kém để thọ hưởng tiền của và làm việc lành, tạo thiện nghiệp".

 

Đức Thế Tôn đọc được tư tưởng của Đại Đức Sona. Ngài đến gần và hỏi:

 

-- Này Sona, có phải không, con đang nghĩ rằng: "Trong số các vị đệ tử của Đức Bổn Sư mà đã hết sức ... (như trên) ... để thọ hưởng tiền của và làm việc lành, tạo thiện nghiệp"
-- Bạch Hóa Đức Thế Tôn, đúng như vậy.
-- Và con nghĩ thế nào, này Sona, khi còn tại gia cư sĩ có phải con rất có tài về môn khảy đờn không?
-- Bạch Hóa Đức Thế Tôn, phải.
-- Và con nghĩ thế nào, này Sona, khi cây đờn của con lên dây cao quá mức, con có thể đờn đúng giọng không?
-- Bạch Hóa Đức Thế Tôn, nếu đờn lên dây thẳng quá, không thể được.
--- Và con nghĩ thế nào, này Sona, khi cây đờn của con lên dây thấp quá, con có thể đờn đúng giọng không?
-- Bạch Hóa Đức Thế Tôn, nếu đờn dùng quá cũng không thể đờn được.
-- Nhưng, này Sona, khi cây đờn của con được lên dây vừa đúng, không quá thẳng cũng không quá dùng, con có thể đờn đúng giọng không?
-- Bạch Hóa Đức Thế Tôn, chắc chắn là con đờn được.
-- Cùng thế ấy, này Sona, cố gắng quá mức làm cho con người (hành thiền) quá căng thẳng, và không đủ cố gắng sẽ sanh ra lười biếng. Như vậy, này Sona, con hãy quyết tâm dũng mãnh như thế này: "Thấu hiểu sự quân bình của các căn (ngũ căn: tín căn, tấn căn, niệm căn, định căntuệ căn), ta sẽ quyết chí thành đạt mục tiêu bằng cách kiên trìđều đặn tinh tấn."

 

Đại Đức Sona-kolivisa vâng theo lời chỉ dạy của Đức Thế Tôn và về sau Ngài là một trong các vị đệ tử A La Hán của Đức Phật. (Vinaya Text II, Anguttara, 55)

 

(Lời người dịch: Ngũ Căn, Indriya, là năm yếu tố có khả năng kiểm soát tâm. Năm yếu tố ấy là: tín căn, tấn căn, niệm căn, định căntuệ căn. Ngũ Căn thường đi chung với Ngũ Lực, Bala. Ngũ Lực là năm năng lực tinh thần "có năng lực chế ngực tâm sở đối nghịch", hoặc nữa, theo Bản Chú Giải, "năm năng lực hùng mạnh, trong ý nghĩa không bị những tâm sở đối nghịch lay chuyển." Đó là: tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực. Ngũ Căn như năm người giữ thành, cẩn mật trông chừng quân nghịch, có thể xâm nhập vào. Ngũ Lực như năm ông tướng, xông pha càn quét để tiêu diệt các quốc vương đối nghịch. Các quốc vương thù nghịch ấy là:

 

1. Ái dục (tanha), là căn nguyên chánh yếu tạo đau khổ và đẩy đưa chúng sinh triền miên sanh tử luân hồi và Thiếu Niềm Tin (Assaddhiya). Tín căntín lực đối trị ái dụcbất tín.
2. Lười biếng (kosajja), là kẻ thù bị tấn căn và tấn lực đối trị.
3. Lãng tánh (mutthasacca, tánh ưa quên), bị niệm cănniệm lực đối trị.
4. Phóng tâm (vikkhepa, không chú tâm), bị định cănđịnh lực đối trị.
5. Si mê (sammoha), bị tuệ căntuệ lực đối trị.)

 

 


 

Phụ Bản Số 4

 

Loại trừ những tư tưởng bất thiện

 

Bài kinh số 20 của bộ Trung A Hàm, Majjhima Nikaya, tựa đề Vitakkasandhana Sutta có ghi lại những điều chỉ dạy về phương cách loại trừ những tư tưởng bất thiện, rất cần thiết cho người hành thiền. Sau đây là phần chánh yếu của bài kinh. Đức Phật dạy:

 

Này chư Tỳ Khưu, người hành thiền gia công tiến đạt đến tâm trí cao siêu phải thường nhớ suy tư năm điều: Năm điều ấy là gì?

 

1. Nếu, khi suy niệm về một đề mục mà những tư tưởng bất thiện, không trong sạch, kết hợp với tham, sân, si, phát sanh đến hành giả, vị này (để loại trừ những tư tưởng bất thiện ấy) hãy hướng tâm suy niệm về một đề mục khác, có tánh cách trong sạch. Chừng ấy, tâm bất thiện được loại trừ, biến tan. Do sự loại trừ này tâm trở lại vững vàng an trụ và trở nên vắng lặng, đồng nhất và định vào đề mục.

 

Giống như người thợ mộc rành nghề, hay người tập sự làm thợ mộc, đẻo một cái chốt vừa vặn, tốt đẹp, rồi đóng vào lổ để đẩy ra một cái chốt thô kịch, xấu xí, cùng thế ấy, hành giả loại trừ, đẩy lui đối tượng bất thiện bằng cách hướng tâm suy niệm về đối tượng khác có tánh cách trong sạch. Chừng ấy, những tư tưởng không trong sạch, kết hợp với tham, sân, si bị loại trừ và tan biến. Do sự loại trừ này ... và định vào đề mục.

 

2. Nếu, khi đã hướng tâm về một đề mục khác có tánh cách trong sạch, mà những tư tưởng bất thiện vẫn còn phát sanh, hành giả hãy suy xét về hiểm họa của nó như sau: "Quả thật vậy, những tư tưởng này của ta rõ ràng là không trong sạch, đáng bị khiển trách và sẽ đem lại hậu quả đau khổ", chừng ấy tâm bất thiện được loại trừ, biến tan. Do sự loại trừ này ... và định vào đề mục.

 

3. Nếu, khi đã suy xét về hiểm họa của những tư tưởng bất thiện mà nó vẫn còn phát sanh hành giả hãy không để ý đến, không lưu tâm suy niệm về các pháp bất thiện ấy nữa. Chừng ấy tâm bất thiện được loại trừ, biến tan. Do sự loại trừ này ... và định vào đề mục.

 

4. Nếu khi đã không để ý đến, không lưu tâm suy niệm về các pháp bất thiện ấy nữa mà nó vẫn phát sanh hành giả hãy suy niệm về việc loại trừ nguồn gốc của những tư tưởng không trong sạch ấy. Chừng ấy, những tư tưởng bất thiện được loại trừ, biến tan. Do sự loại trừ này ... và định vào đề mục.

 

5. Nếu, khi đã suy niệm về việc loại trừ nguồn gốc của những tư tưởng không trong sạch ấy mà nó vẫn phát sanh hành giả hãy cắn chặt răng lại và ép lưỡi sát vào nấp vọng, thu thúc, khắc phục và chế ngự tâm (bất thiện) bằng tâm (thiện). Chừng ấy tâm bất thiện được loại trừ, biến tan. Do sự loại trừ này ... và định vào đề mục.

 

Nếu, do sự suy niệm về một đề mục trong sạch, suy xét về hiểm họa của tâm bất thiện, không để ý đến, không lưu tâm suy niệm về bất thiện pháp, suy niệm về việc loại trừ nguồn gốc của những tư tưởng không trong sạch, cắn chặt răng lại và ép lưỡi sát vào nấp vọng và thu thúc, khắc phục và chế ngự tâm (bất thiện) bằng tâm (thiện) mà hành giả loại trừ được những tư tưởng bất thiện, tâm trở lại an trụ vững vàngvắng lặng, đồng nhất và định vào đề mục, vị hành giả ấy được gọi là người hành đã vững chắc làm chủ con đường và cuộc hành trình của tư tưởng mình. Vị ấy có những ý nghĩ mà vị ấy muốn có, không phải có những ý nghĩ mà vị ấy không muốn có. Vị ấy đã cắt dứt lìa tham áitrọn vẹn tận diệt thằng thúc (phát sanh do tham ái). Vị ấy đã khắc phục ngã mạnchấm dứt đau khổ.

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 1029)
02 Tháng Bảy 201911:36 SA(Xem: 1769)
Đức Đạt Lai Lạt Ma (được dịch là "Trí Tuệ Như Biển") đời thứ 14, sinh ngày 6/7/1935, tên ngài lúc mới sinh là Lhamo Thondup. The 14th Dalai Lama (loosely translated "Ocean of Wisdom") was born Lhamo Thondup on July 6, 1935.
08 Tháng Bảy 20209:02 CH(Xem: 26)
"Tôi nghĩ rằng chúng ta nên nhấn mạnh đến sự đồng nhất, sự giống nhau ... nhấn mạnh đến điều đó", nhà sư đoạt giải Nobel Hòa bình nói. Đôi khi, ông nói, chúng ta đặt nặng quá nhiều vào "sự khác biệt nhỏ" và "điều đó tạo ra vấn đề". ("I think we should emphasize oneness, sameness...emphasize that," says the Nobel Peace Prize winning monk.
07 Tháng Bảy 202010:00 CH(Xem: 87)
Trong thế giới chúng ta sống hôm nay, các quốc gia không còn cô lập và tự cung cấp như xưa kia. Tất cả chúng ta trở nên phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì thế, càng phải nhận thức nhiều hơn về tính nhân loại đồng nhất. Việc quan tâm đến người khác là quan tâm chính mình. Khí hậu thay đổi và đại dịch hiện nay, tất cả chúng ta bị đe doạ,
05 Tháng Bảy 20208:28 CH(Xem: 149)
Tâm biết có hai phương diện: Tánh biết và tướng biết. Tánh biết vốn không sinh diệt, còn tướng biết tuỳ đối tượng mà có sinh diệt. Khi khởi tâm muốn biết tức đã rơi vào tướng biết sinh diệt. Khi tâm rỗng lặng hồn nhiên, tướng biết không dao động thì tánh biết tự soi sáng. Lúc đó tánh biết và tướng biết tương thông,
04 Tháng Bảy 20202:37 CH(Xem: 153)
Từ yoniso nghĩa là sáng suốt, đúng đắn. Manasikāra nghĩa là sự chú ý. Khi nào chú ý đúng đắn hợp với chánh đạo, đó là như lý tác ý; khi nào chú ý không đúng đắn, hợp với tà đạo, đó là phi như lý tác ý. Khi chú ý đến các pháp khiến cho năm triền cái phát sanh là phi như lý tác ý, trái lại khi chú ý đến các pháp mà làm hiện khởi
03 Tháng Bảy 20207:32 CH(Xem: 160)
Trước hết cần xác định “tác ý” được dịch từ manasikāra hay từ cetanā, vì đôi lúc cả hai thuật ngữ Pāli này đều được dịch là tác ý như nhau. Khi nói “như lý tác ý” hoặc “phi như tác ý” thì biết đó là manasikāra, còn khi nói “tác ý thiện” hoặc “tác ý bất thiện” thì đó là cetanā. Nếu nghi ngờ một thuật ngữ Phật học Hán Việt thì nên tra lại
02 Tháng Bảy 20206:13 CH(Xem: 190)
Bạn nói là bạn quá bận rộn để thực tập thiền. Bạn có thời gian để thở không? Thiền chính là hơi thở. Tại sao bạn có thì giờ để thở mà lại không có thì giờ để thiền? Hơi thở là thiết yếu cho đời sống. Nếu bạn thấy rằng tu tập Phật pháp là thiết yếu trong cuộc đời, bạn sẽ thấy hơi thởtu tập Phật pháp là quan trọng như nhau.
01 Tháng Bảy 20205:53 CH(Xem: 225)
Khi con biết chiêm nghiệm những trải nghiệm cuộc sống, con sẽ thấy ra ý nghĩa đích thực của khổ đau và ràng buộc thì con sẽ có thể dễ dàng tự do tự tại trong đó. Thực ra khổ đau và ràng buộc chỉ xuất phát từ thái độ của tâm con hơn là từ điều kiện bên ngoài. Nếu con tìm thấy nguyên nhân sinh khổ đau ràng buộc ở trong thái độ tâm
30 Tháng Sáu 20209:07 CH(Xem: 201)
Cốt lõi của đạo Phật khác với các tôn giáo khác ở chỗ, hầu hết các tôn giáo khác đều đưa ra mục đích rồi rèn luyện hay tu luyện để trở thành, để đạt được lý tưởng nào đó. Còn đạo Phật không tu luyện để đạt được cái gì cả. Mục đích của đạo Phậtgiác ngộ, thấy ra sự thật hiện tiền tức cái đang là. Tất cả sự thật đều bình đẳng,
29 Tháng Sáu 20208:36 CH(Xem: 198)
Theo nguyên lý thì tụng gì không thành vấn đề, miễn khi tụng tập trung được tâm ý thì đều có năng lực. Sự tập trung này phần lớn có được nhờ đức tin vào tha lực. Luyện bùa, trì Chú, thôi miên, niệm Phật, niệm Chúa, thiền định, thần thông v.v… cũng đều cần có sức mạnh tập trung mới thành tựu. Tưởng đó là nhờ tha lực nhưng sức mạnh
28 Tháng Sáu 20209:36 CH(Xem: 209)
Giác ngộvô minh thì thấy vô minh, minh thì thấy minh… mỗi mỗi đều là những cái biểu hiện để giúp tâm thấy ra tất cả vốn đã hoàn hảo ngay trong chính nó. Cho nên chỉ cần sống bình thường và thấy ra nguyên lý của Pháp thôi. Sự vận hành của Pháp vốn rất hoàn hảo trong những cặp đối đãi – tương sinh tương khắc – của nó.
27 Tháng Sáu 20206:31 CH(Xem: 217)
Thầy có ví dụ: Trong vườn, cây quýt nhìn qua thấy cây cam nói nói tại sao trái cam to hơn mình. Và nó ước gì nó thành cây cam rồi nó quên hút nước và chết. Mình thường hay muốn thành cái khác, đó là cái sai. Thứ hai là mình muốn đốt thời gian. Như cây ổi, mình cứ lo tưới nước đi. Mọi chuyện hãy để Pháp làm. Mình thận trọng,
26 Tháng Sáu 20209:57 CH(Xem: 204)
Từ đó tôi mới hiểu ý-nghĩa này. Hóa ra trong kinh có nói những cái nghĩa đen, những cái nghĩa bóng. Có nghĩa là khi một người được sinh ra trên thế-gian này, dù người đó là Phật, là phàm-phu, là thánh-nhân đi nữa, ít nhất đầu tiên chúng ta cũng bị tắm bởi hai dòng nước, lạnh và nóng, tức là Nghịch và Thuận; nếu qua được
25 Tháng Sáu 202010:14 CH(Xem: 236)
trí nhớ là tốt nhưng đôi khi nhớ quá nhiều chữ nghĩa cũng không hay ho gì, nên quên bớt ngôn từ đi, chỉ cần nắm được (thấy ra, thực chứng) cốt lõi lý và sự thôi lại càng tốt. Thấy ra cốt lõi tinh tuý của sự thật mới có sự sáng tạo. Nếu nhớ từng lời từng chữ - tầm chương trích cú - như mọt sách rồi nhìn mọi sự mọi vật qua lăng kính
24 Tháng Sáu 202010:08 CH(Xem: 242)
Kính thưa Thầy, là một người Phật Tử, mỗi khi đi làm phước hay dâng cúng một lễ vật gì đến Chư Tăng thì mình có nên cầu nguyện để mong được như ý mà mình mong muốn không? Hay là để tâm trong sạch cung kính mà dâng cúng không nên cầu nguyện một điều gì? Và khi làm phước mà mong được gieo giống lành đắc Đạo quả
23 Tháng Sáu 20207:24 CH(Xem: 277)
Tất cả chúng ta sẽ phải đối mặt với cái chết, vì vậy, không nên bỏ mặc nó. Việc có cái nhìn thực tế về cái chết của mình sẽ giúp ta sống một đời trọn vẹn, có ý nghĩa. Thay vì hấp hối trong sự sợ hãi thì ta có thể chết một cách hạnh phúc, vì đã tận dụng tối đa cuộc sống của mình. Qua nhiều năm thì cơ thể của chúng ta đã thay đổi.
22 Tháng Sáu 20209:23 CH(Xem: 297)
Đúng là không nên nhầm lẫn giữa luân hồi (saṃsāra) và tái sinh (nibbatti). Tái sinh là sự vận hành tự nhiên của vạn vật (pháp hữu vi), đó là sự chết đi và sinh lại. Phàm cái gì do duyên sinh thì cũng đều do duyên diệt, và rồi sẽ tái sinh theo duyên kế tục, như ví dụ trong câu hỏi là ngọn lửa từ bật lửa chuyển thành ngọn lửa
21 Tháng Sáu 20208:58 CH(Xem: 264)
Trong Tăng chi bộ, có một lời kinh về bản chất chân thật của tâm: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” cùng với ý nghĩa “cội nguồn” của “yoni” trong “yoniso mananikara” là hai y cứ cho tựa sách “Chói sáng cội nguồn tâm”. Tựa đề phụ “Cách nhìn toàn diện hai chiều vô vihữu vi của thực tại”
20 Tháng Sáu 20203:42 CH(Xem: 336)
Trong tu tập nhiều hành giả thường cố gắng sắp đặt cái gì đó trước cho việc hành trì của mình, như phải ngồi thế này, giữ Tâm thế kia, để mong đạt được thế nọ… nhưng thật ra không phải như vậy, mà là cứ sống bình thường trong đời sống hàng ngày, ngay đó biết quan sát mà thấy ra và học cách hành xử sao cho đúng tốt là được.
19 Tháng Sáu 20204:48 CH(Xem: 330)
Lúc còn nhỏ, khi đến thiền viện, tôi phải có cha mẹ đi cùng, và không được đi hay ngồi chung với các sư. Khi các sư giảng Pháp, tôi luôn ngồi bên dưới, chỉ đủ tầm để nghe. Vị thiền sư đáng kính dạy chúng tôi cách đảnh lễ Đức Phậttụng kinh xưng tán ân đức của Ngài. Thiền sư khuyến khích chúng tôi rải tâm từ cho mọi chúng sinh,
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1265)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2842)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4354)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Sáu 20205:26 CH(Xem: 439)
I am very impressed by the thoroughness and care with which Dr. Thynn Thynn explains the path of mindfulness in daily life in her book. This has not been emphasized as strongly in the monastic and meditative teachings of Buddhism that have taken root in the West.
11 Tháng Sáu 20205:08 CH(Xem: 443)
Tôi rất cảm phục Bs Thynn Thynn khi bà đã tận tình giải thích thấu đáo, trong quyển sách của bà, về cách sống tỉnh giác trong đời sống thường ngày. Trước đây, điểm nầy chưa được nhấn mạnh đúng mức trong giáo lý Phật-đà tại các thiền việntu việnTây phương. Trong thực tế, phần lớn các phương pháp tu hành ở Á châu đều theo
14 Tháng Năm 202010:20 CH(Xem: 633)
Trong mấy năm qua, một vài ông bà — cụ thể là Mary Talbot, Jane Yudelman, Bok Lim Kim và Larry Rosenberg—đã đề nghị tôi “Khi nào Sư sẽ viết hướng dẫn về hành thiền hơi thở?” Tôi đã luôn nói với họ rằng cuốn Giữ Hơi Thở Trong Tâm (Keeping the Breath in Mind) của Ajaan Lee là hướng dẫn thực hành tuyệt vời, nhưng họ
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 636)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 638)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 748)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1063)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1273)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1149)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.