Từ Bi Trong Đạo Phật Là Gì?

06 Tháng Năm 20204:04 CH(Xem: 1584)
Từ Bi Trong Đạo Phật Là Gì?

Buddha_12-20-2016_A
 
 
Từ Bi Trong Đạo Phật Là Gì?
Hoang Phong
Nguồn: thuvienhoasen.org
 
____________________

 

 

Từ bi là một con đường cho người tu học bước lên, một phương tiện cho họ xử dụng, một mảnh đất cho họ vun xới. Con đường càng rộng rãiphương tiện càng tinh xảo, mảnh đất càng phì nhiêu thì Trí tuệ lại càng nẩy nở và thăng tiến nhanh hơn.

 

Từ bi là Hán dịch của chữ Karunâ trong kinh sách tiếng Phạn. Từ là lành, hiền từ ; bi là thương xótthương hại. Trong các sách Tây phương, viết bằng tiếng Anh cũng như tiếng Pháp, chữ Karunâ được dịch là Compassion. Chữ Compassion có gốc từ tiếng La-tinh là compassio, có nghĩa là thương hại trước sự đau khổ của kẻ khác. Trong chữ compassion có chữ passion, chữ này có gốc từ chữ patior, một động từ trong tiếng La-tinh có nghĩa là khổ đau, đau đớn.

 

Sở dĩ tôi mạn phép dài dòng trên phương diện ngữ học và dịch thuật vì thực ra rất khó tìm được những chữ hoàn toàn tương đồng giữa các ngôn ngữ, nhất là những chữ này vừa có nguồn gốc khác nhau, lại vừa chịu ảnh hưởng ít hay nhiều các truyền thống, văn hoá, tín ngưỡng của các dân tộc khác nhau.

 

Chữ Compassion trong các sách Tây phương không phản ảnh đúng và không lột được ý nghĩa của chữ Karunâ trong kinh sách nhà Phật. May mắn đã có vài dịch giả và nghiên cứu gia Tây phương nhận thấy điều này, họ đề nghị nên dùng thẳng chữ Phạn là Karunâ, giống như trường hợp rất nhiều chữ Phạn khác đã được dùng thẳng, chẳng hạn như những chữ karma, nirvana, samsara, v.v.

 

Trong kinh sách tiếng Việt, chữ Từ bi cũng không lột hết ý nghĩa của chữ Karunâ, nhưng nhờ số đông những người tu học Đạo Pháp đã hiểu ít nhiều Từ bi là gì và đã quen thuộc với định nghĩa của chữ này, tuy vậy vẫn còn một số người khác có thể hiểu rất lờ mờ chữ Từ bi trong Đạo Phật.

 

Ý nghĩa của Từ bi trong Phật giáo thật sự sâu xa hơn là ý nghĩa từ chương của chữ này, tức là hiền từ và thương xót. Tôi sẽ chia bài viết thành hai phần : phần thứ nhất định nghĩa và giải thích về Từ bi theo Kinh điển, phần thứ hai sẽ bàn rộng hơn về chữ này. Sau hết tôi xin kể một câu chuyện về ngài Vô Trước để thay vào phần kết luận.

 

 

1. Từ Bi là gì ?

 

Như đã giải thích trong phần nhập đề trên đây, Từ bi không phải vỏn vẹn là một « đức tính » dù đó là « đức tính từ tâm », cũng không phải là một thứ « xúc cảm », say mê hay đam mê (passion) theo ngôn từ Tây phươngTừ bi cũng không phải là một thứ « tình cảm thụ động » làm ta tê liệt trước khổ đau của chúng sinh, cũng không hẳn là một « khuynh hướng tinh thần » muốn chia bớt và nhận chịu khổ đau của kẻ khác.

 

Vậy Karunâ hay Từ bi trong Phật giáo là gì ?

 

Karunâ trong Phật giáo là khả năng nhận thức rằng mọi sinh linh có giác cảm, từ con người cho đến đến các sinh vật khác đều gánh chịu khổ đau, khi nào tất cả các sinh linh ấy chưa được Giác ngộ và Giải thoát, thì Từ bi chính là ước vọng mảnh liệt thúc đẩy ta phải Giải thoát cho tất cả mọi chúng sinhtrong đó có cả tara khỏi khổ đau.

 

Vì thế Từ bi không có nghĩa đơn giản là « xót thương » kẻ khác một cách thụ động và tiêu cực, mà ngược lại Từ bi là một sức mạnh tích cực đưa ta thẳng vào hành động, trong mục đích loại trừ mọi thể dạng của khổ đau và mọi cội rễ của khổ đau.

 

Khi Phật Thích-ca Mâu-ni đạt được Giác ngộquyết tâm và phát nguyện đầu tiên của Ngài chính là Karunâ, tức là lòng Từ bi, Ngài quyết định thuyết giảng cho chúng ta « Con đường đưa đến chấm dứt khổ đau » (tức là Đạo đế, điều thứ tư trong Tứ diệu đế).

 

Khía cạnh cao đẹp của Từ bi hay Karunâ cũng là một trong những chân lý cao cả hơn hết của Đạo Pháp : khổ đau không phải là một định mệnh, khổ đau có thể tránh khỏi, ta có thể tự giải thoát được, và tất cả mọi chúng sinh đều có thể thực hiện được sự Giải thoát đó, không phải chỉ riêng có Phật mà thôi (đây là các điều 1,2 và 3 trong Tứ diệu đế : Khổ đếTập đế và Diệt đế).

 

Nếu không có Từ bi, biết đâu có thể cũng không có Phật, cũng không có Đạo Pháp và cũng chẳng có Tăng đoàn. Vì sao vậy, vì chính Phật là Từ bi, chính Phật lại giảng cho ta Đạo Pháp của Từ bi và Tăng đoàn đứng ra duy trì Đạo PhápTừ bi chính là hiện thân của Tam bảo. Có thể nói Từ bi chính là sự Giác ngộ vậy.

 

Đến đây, ta có thể nhận thấy Từ bi không phải đơn giản chỉ có sự xót thương và chia xẻ khổ đau với kẻ khác, dù cho đi kèm với bố thí cũng thếTừ bi trong Đạo Phật cao cả lắm, tích cực lắm và mảnh liệt hơn những gì ta hiểu một cách thông thường. Từ bi là một sức mạnh thiêng liêngsiêu việt đưa đến Trí Tuệ. Nhưng Trí Tuệ là gì ? Trí Tuệ là một khí cụ toàn năng giúp ta xóa bỏ Vô minh. Xoá bỏ Vô minh tức là đạt được Giác ngộĐạt được Giác ngộ tức là thành Phật.

 

Đối với các trường phái Phật giáo Nam tông, chẳng hạn như Phật giáo Theravada, Từ bi chứng thực và bảo đảm hành giả là một « đệ tử đích thực » của Phật, một « người con » của Phật, một người biết giữ gìn Giới luật, biết trau dồi một tâm thức tích cực bằng Bốn Phạm Trú (còn gọi là Tứ Vô lượng tâm). Bốn Phạm trú ấy là Từ vô lượng (maitrî) : tâm lành hướng về mọi chúng sinh ; Bi vô lượng (karunâ) : xót thương và cứu giúp tất cả chúng sinh ; Hỷ vô lượng (muditâ) : tâm thức vui mừng và hân hoan khi nhận thấy những đìều lành của chúng sinh ; Xả vô lượng (upeksâ) : buông thả tất cả những gì của chính ta cho chúng sinh (chữ này được giải thích hơi khác trong các kinh sách Tây phương : chữ Upeksâ được dịch ra tiếng Pháp là Equanimitétức tâm thức trong sángbình đẳng không phân biệt và kỳ thị).

 

Đại TừĐại biĐại hỷ và Đại xả là bốn liều thuốc hoá giải chống lại những thái độ sai lầmĐại từ hoá giải ý nghĩ « sống chết mặc bay », Đại bi hóa giải ý nghĩ « mặc kệ họ cứ đau khổ, chẳng dính líu gì đến ta ». Đại hỷ không cho phép ta cảm thấy « càng thích thú khi kẻ khác gánh chịu sự đau khổđáng đời cho họ ». Đại xả đem đến cho ta những xúc cảm trong sáng và bình đẳng, hoá giải ý nghĩ « cái này của ta, của gia đình ta, của bạn bè ta, không tội gì mà buông xả cho người dưng nước lã hay vì kẻ khác ».

 

Phật giáo Tây tạng thường đưa ra hình ảnh sau đây để giải thích thế nào là lòng Từ bi và thế nào là một cái nhìn đúng đắn. « Nếu có một người cầm gậy đánh ta, ta không kết tội chiếc gậy đã làm cho ta phải đau đớn, ta cũng không kết tội kẻ đã cầm gậy đánh ta,…mà ta phải kết tội sự nóng giận đang chi phốithúc đẩy và hành hạ người đang cầm gậy đánh ta ». Nếu ta biết kết tội sự nóng giận đang giày vò người cầm gậy, tức là ta phát lộ lòng Từ bi đối với họ. Chính hận thù và giận dữ đang tàn phá họ và làm cho họ khổ đau. Từ bi buộc ta phải giúp họ trút bỏ sự giận dữ và hận thù trong lòng họ và quên đi những đau đớn của ta.

 

Đấy là một cái nhìn đúng đắn, cái nhìn của một người con Phật. Từ bi là như thế, không phải đơn giản là một thứ tình cảm xót thương.

 

Nói chung, Từ bi trong các trường phái Đại thừa là thái độ và cái nhìn đã được trình bày trên đây. Đó là phẩm tính cao cả của người Bồ-tát, là trọng tâm của sự Giác ngộTừ bi được tượng trưng bởi Phật A-Di-Đà (Phật giáo Nhật bản gọi là Amiba), và bởi Bồ-tát Quán-Thế-Âm, tiếng Phạn là Avalokiteshvara, danh hiệu tiếng Phạn của Ngài là Lokesvara. Phật giáo Tây tạng gọi Quán Thế Âm là Tchenrezi, Phật giáo Trung hoa gọi là Quan Âm (Guanyin), Phật giáo Nhật bản gọi là Kannon. Quan Âm trong Phật giáo Trung hoa, Nhật bản, Việt Nam… được tượng trưng bằng một người phụ nữ. Kể lể như thế để ta có thể hình dung Từ bi trong Phật giáo nói chung, kể cả Nam tông và Bắc tông, có tầm quan trọng như thế nào. Từ bi chẳng những là thức ăn nuôi dưỡng người Bồ-tát mà còn là sự biểu lộ của Phật tính, của Giác ngộ nữa. Trong phần thứ hai dưới đây ta thử bàn rộng thêm về Từ bi xem sao.

 

 

2. Luận bàn về Từ bi

 

Đạo Phật là Đạo của Trí Tuệ, vậy Từ bi liên hệ như thế nào với Trí Tuệ ?

 

Trước hết ta cần hiểu Trí tuệ là gì. Trí tuệ hay Trí huệ còn gọi là Huệ, Tuệ minh, hay là Chiếu thấyTrí tuệ còn được gọi là Bát-nhã, Bát-lại-nhã, Ban-nhã, Ba-lại-nhã, Bát-thích-nhã v.v. đó là các cách dịch âm khác nhau của chữ Prajnã trong tiếng Phạn. Vậy Trí tuệ hay Bát-nhã khác với trí Thông minh như thế nào ?

 

Ta thấy có rất nhiều người thật « thông minh », tâm thức của họ rất linh hoạt : nhớ giỏi, hiểu nhanh. Họ có khả năng lý luận vững chắc, sáng chế được nhiều thứ, hoặc bày ra được nhiều việc. Họ có khả năng học hành tốt, biết nhiều, thi đậu bằng cấp cao, điều khiển giỏi…Ta có thể kể thêm trong số họ có các triết gia, các học giả, các nhà khoa học v.v…họ sáng suốt và thông minh gấp bội so với chúng ta. Trong khi đó, cũng có một số người khác có tâm thức ù lì hơn, chậm chạp hơn, học hành khó khăn hơn…Tất cả đều do nơi nghiệp của mỗi người đã đưa đẩy họ vào những cơ duyên hiện tại liên đới và ảnh hưởng đến phần tâm thức của họ. Có thể kể những cơ duyên đó gồm có sự dinh dưỡng, giáo dục, môi trường…chẳng hạn. Nói chung ta gọi những khả năng tâm thức linh hoạt ấy của từng người là « trí thông minh » của họ.

 

Cái « trí thông minh » đó có phải là Bát-nhã hay không ? Có phải là Trí tuệ hay không ? Xin thưa là không. Trí tuệ trong Phật giáo là một thứ Tri thức tối thượnghoàn hảo, không có gì cao hơn, không có gì so sánh được, không có gì ngang hàng (vô thượngvô tỷvô đẳng) giúp người tu học nhìn thấy trực tiếp, quán nhận trực tiếp Sự thật Tuyệt đối của mọi vật thể và mọi hiện tượngSự thật mà ta thấy chung quanh ta, trên thân xác ta và trong tâm thức ta chỉ là những Sự thật Tương đối, những sự thực này luôn luôn biến độngvướng mắc, được tạo tác bằng nhiều điều kiệnliên tục được sinh ra, biến đổi, thoái hoá và bị hủy diệt, rồi lại tiếp tục được sinh ra bằng những điều kiện khác trong những dạng thể hay hình tướng khác.

 

Cái « trí thông minh » mà ta nhận thấy nơi mỗi người, trong số đó kể cả các nhà khoa học, các nhà thông thái hay các triết gia…chỉ là trí thông minh dựa vào sự hiểu biết về thế giới biến động, tức thế giới của Sự thực Tương đốiTrí tuệ theo định nghĩa Phật giáo không do lý luận mà có, không do học hỏi trong sách vở mà có. Trí tuệ hay Bát nhã là một khả năng siêu việt, quán nhận trực tiếp được Tánh Không của mọi vật thể và mọi hiện tượng, tức là nhìn thấy được Sự thực Tuyệt đối và tối hậu của thế giới hiện tượng chung quanh ta và trong tâm thức ta.

 

Sau khi đã xác định thế nào là trí thông minh và thế nào là Trí tuệ, ta lại trở về câu hỏi đã được đặt ra trên đây : Tại sao Từ bi và Trí tuệ lại liên hệ với nhau ?

 

Ta nhận thấy chung quanh ta, ngoài những người khù khờ, chậm chạphiền lành, cũng có những người rất hung dữ, gian thamđộc ácnham hiểm, biển lận, khát máu, tàn bạo, vô lương tâm…Những người độc ác này chưa hẳn là họ không « thông minh ». Trái lại, họ có thể rất « thông minh », họ có thể là những tên điếm đàng, ăn cắp, bất lương, lường gạt, biển lận…họ cũng có thể là những nhà lãnh đạo hoạt bát, các nhà bác học, các nhà khoa học, các bạo chúa, các nhà tài phiệt khôn ngoan, các con buôn lanh lợi, các người đội lốt tu hành v.v… Tâm thức họ rất linh hoạttrí nhớ vượt bực, lanh lợi khác thường, tráo trở, lật lọng, nói dối không ai biết…nói chung là « cái trí thông minh » của họ hơn hẳn một số người khác đang phải gánh chịu sự lường gạt, điều khiển và khống chế của họ. Cái trí thông minh như vừa kể không phải là Trí Tuệ, nó có thể phát triển trên bất cứ một mảnh đất nào, đặc biệt rất phù hợp với những mảnh đất của hung dữ, dối trá, biển lận hay bất lương.

 

Ngược lại, Trí tuệ hay Bát nhã chỉ có thể phát triển trong một tâm linh an bìnhtrong sáng, tràn ngập lòng Từ bi mà thôi. Vì vậy Từ bi là mảnh đất duy nhất mà ta có thể đem gieo hạt giống của Trí tuệvì Trí tuệ chỉ có thể nẩy mầm và lớn lên trong mảnh đất của Từ bi.

 

Tóm lạiTừ bi là một con đường cho người tu học bước lên, một phương tiện cho họ xử dụng, một mảnh đất cho họ vun xới. Con đường càng rộng rãiphương tiện càng tinh xảo, mảnh đất càng phì nhiêu thì Trí tuệ lại càng nẩy nở và thăng tiến nhanh hơn.

 

Từ bi là điều kiện bắt buộc và không thể thiếu sót của Trí tuệTừ-bi-Trí-tuệ luôn luôn đi đôi với nhaugắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau. Vì vậytu tập trước hết phải khơi động lòng Từ bi trong ta để đưa ta đến Trí tuệ. Đến đây, ta có thể phân biệt được « một người hung dữ và thông minh », « một người vô tâm (ích kỷ) và thông minh », « một người từ bi và thông minh » khác nhau như thế nào.

 

Để làm nhẹ bớt phần luận bàn nghiêng về ngôn từ và lý thuyết, ta thử lấy một ví dụ đơn giản hơn trong đời sống hằng ngày như sau. Ta đi ngoài đường phố và ta thấy một người ăn xin nghèo khổ, ta cho một ngàn đồng. Lòng ta thấy phơi phới vì làm được một việc từ bi. Ta tiếp tục đi thêm một đoạn nữa và thấy một tiệm phở, thịt tái và thịt chín treo lủng lẵng trong tủ kính, mùi phở thơm lừng. Ta cảm thấy đói và bước vào ăn. Ta gọi một tô phở loại đặc biệt, giá hai mươi ngàn đồng, trong tô phở có gầu, tái, nạm, gân, sụn, nước béo…gần đầy đủ những cấu hợp của tứ đại nơi thân xác khổ đau và vô thường của con bò. Ta đang thưởng thức tô phở thì có một bà già lưng còng bước vào tiệm mời ta mua vé số. Bà cụ gầy ốm, da sạm nắng, cởi chiếc nón lá và xoè một một ít vé số cho ta nhìn. Ta thoáng thấy vẻ khổ đau và nghèo đói của bà cụ, nhưng ta nhìn kỷ hơn vào các vé số. Ta thấy có một vé mang những con số rất « hên », rất có « cảm tình », chẳng hạn như ngày sinh của ta, của người yêu của ta…, những con số này thường đem đến tài lợi cho ta. Tiếp theo ta nghĩ rằng vì từ bi muốn giúp đỡ bà cụ nên ta quyết định chọn tờ vé số này và mua ngay.

 

Sau đây, ta thử quán xét sâu xa hơn câu chuyện vừa kể xem sao. Nếu ta không cho người ăn xin một ngàn đồng, chưa chắc ta đã bước vào tiệm phở, vì có thể : hoặc ta đang lo âu trong lòng nên không thấy đói, hoặc vì lẽ ta muốn tiết kiệm. Nhưng khi đã cho người ăn xin, ta cảm thấy thư tháihạnh phúclương tâm không cắn rứt, ta nghĩ đã có tiền bố thí tại sao ta không hưởng ; hoặc ta cũng có thể nghĩ rằng cho người ăn xin cũng hơi tiếc, vì thói thường ta rất cần kiệm mới có tiền, vậy ta nên hưởng để bù lại hành động bốc đồng của ta. Những xúc cảm đó hay tư tưởng đó thúc ta bước vào tiệm phở. Sau đó ta mua một tấm vé số, chưa hẳn vì từ bi mà ta mua tờ vé số của bà cụ già, nhưng vì ta vừa cho người ăn xin một ngàn, ta làm được một điều thiện, ta chờ mong cái quả của điều thiện đó đưa tới, ta hy vọng trúng độc đắc nhiều chục triệu. Có thể ta không nghĩ trắng ra như thế, nhưng những tư tưởng của ta rất tiềm ẩn, nằm trong tiềm thức hay a-lại-da-thức của ta mà ta không hay biết. Ta cũng có thể đơn giản nghĩ rằng, hoặc cảm thấy rằng, giữa tô phở thơm lừng và bà cụ nghèo đói, ta nên mua một tấm vé số để trấn an lương tâm của ta… Nhưng biết đâu ta cũng có thể là một người đần độnvô tâm, hành động mà không suy nghĩ gì cả?

 

Câu chuyện trên đây chỉ là một câu chuyện giả tưởng dùng làm ví dụ, nhưng cũng có thể xảy ra được. Qua sự nhận xét về câu chuyện trên đây, ta không thấy có một hành động nào hay tư tưởng nào có thể gọi là từ bi cả. Những hành động và tư tưởng nêu lên trong câu chuyện là những gì bị kích động và thúc đẩy, dù rất nhẹ nhàng và tiềm ẩn, bởi lòng tham mà thôi. Tâm thức ta luôn luôn đánh lừa ta bằng mọi cách, dù trong cuộc sống đơn giản hằng ngày cũng vậy. Tâm thức nuôi dưỡng lòng tham của ta và làm cho màn Vô minh càng dầy đặc thêm trong tâm thức, đưa đẩy và hướng ta vào những hành động và những tư tưởng đại loại như thế, hay còn có thể tệ hại hơn nhiều nếu hành vi có tầm quan trọng hơn. Tu tập là tỉnh thứctỉnh thức giúp ta luôn luôn cảnh giác để canh chừng tâm thức ta.

 

Đến đây tôi lại xin phép người đọc được nhìn câu chuyện trên đây dưới một khía cạnh khác nữa. Nếu ta cho người ăn xin, nhưng đồng thời ta nhớ đến lời Phật dạy : bố thí nhưng không biết bố thí cái gì, bố thí cho ai và cũng không biết mình đã bố thí, chỉ biết rằng may ra trong lòng ta chỉ còn sót lại một chút từ bi mà thôi. Khi làm được như thế, chưa chắc ta đã bước vào tiệm phở vì không có xúc cảm nào, tư tưởng nào phát sinh từ hành động bố thí kích động ta bước vào tiệm phở, và như thế ta cũng không có cơ duyên mua vé số để nuôi nấng lòng tham trúng số vài chục triệu của ta.

 

Nhưng cũng có thể khi đi ngang tiệm phở ta vẫn ngửi thấy mùi thơm, nhưng khi xem lại trong túi, ta chỉ còn năm ngàn đồng, không đủ để mua một tô phở loại nhỏ, (vì thường những người giàu lòng từ bi thì lại rất nghèo vể tiền bạc, tiếc thay !). Không đủ tiền bước vào tiệm phở, nhưng ta vẫn có thể gặp bà cụ bán vé số trên vỉa hè. Bà cụ chìa cho ta những tờ vé số trên tay. Ta không nhìn kỹ để tìm những con số « hên » trên các vé số, những ta lại thấy dưới chiếc nón lá rách nát, tóc của bà cụ đã bạc trắng, da mặt nhăn nheo, bà cụ bị chột một mắt và răng đã rụng hết. Có thể ta muốn cho bà cụ năm ngàn. Nhưng không, để kính trọng nhân phẩm của bà cụ, ta móc túi và mua vé số, mua hết cả năm ngàn. Nhưng khi bà cụ vừa bước đi, ta cúi xuống và đưa tặng những tờ vé số vừa mới mua cho một đứa bé độ chừng sáu hay bảy tuổi đang ngồi bán đậu phọng luộc đựng trong một cái thúng nhỏ bên lề đường. Ta nhất định không để một chút gì có thể nuôi nấng lòng tham của ta. Nhìn dưới khía cạnh thứ hai của câu chuyện, ta sẽ thấy có những mầm mống của Từ bi phát lộ.

 

Ta tự hỏi ta có đủ sức làm được những việc nhỏ nhoi như thế hay không ? Trong khi đó ta có nhà rộng để ở, quần áo đẹp và sạch sẽ để mặc, ăn uống dư thừa. Có thể ta tự cho mình là một người tu Phật, nhưng ta có bắt chước Phật được chút nào hay không ? Khi chết, Phật nằm dưới đất để chết, Phật chỉ có hai chiếc áo cà sa, một chiếc gấp làm tư để gối đầu, bên cạnh chỉ có một chiếc bình bát để khất thực mà thôi.

 

Tóm lạicâu chuyện trên đây thật đơn giản, nhưng khi phân tích kỹ ta thấy sự tạo nghiệp là một hiện tượng chi phối thường trực, cùng khắp, trong nháy mắt cũng đã đưa ta đến những tư duy, những hoàn cảnh và tình huống khác nhau. Nghiệp báo và nhân quả không đến nỗi rắc rối lắm đâu. Vậy, nếu ta chưa đủ sức bắt chước cái gương của Phật thì ta nên cố gắng tỉnh giác, dù trong những hành vi thật nhỏ nhoi của ta, để canh chừng tâm thức ta, ít nhất là không để nó tạo ra những xu hướng tiêu cực và những tình huống bất lợi cho sự sống, dù là tạm bợ, của chính ta. Đến đây có lẽ ta cũng hiểu thêm đôi chút thế nào là Từ biTừ bi có thể rất nhỏ nhoi như mua một tờ vé số (nhưng không tham trúng độc đắc), hoặc rất lớn lao (vô thượngvô tỷ và vô đẳng) giống như Trí tuệ vậy.

 

Sau câu chuyện trên đây, tôi lại xin được phép trở lại vấn đề ngôn từ và nêu lên một sai lầm khác mà ta thường thấy. Ta vẫn thường nghe những người chung quanh nói đến bốn chữ từ bi hỷ xả. Tôi để ý thấy những người này nói đến bốn chữ từ bi hỷ xả khi gặp một khó khăn nào đó, chẳng hạn bị kẻ khác hành hung, lường gạt v.v… Trong khi họ không có thể làm gìkhác hơn, họ chỉ biết thốt lên bốn chử từ bi hỷ xả để tha thứ cho kẻ gây ra những chuyện nghích ý với họ. Chẳng những hành động này chẳng có gì là từ bi, cũng chẳng có gì gọi là tích cực cả mà còn hoàn toàn đi ngược và lạm dụng một cách sai lầm bốn chữ từ bi hỷ xả trong Đạo PhápTừ bi hỷ xả không mang ý nghĩa theo họ tưởng.

 

Như đã trình bày trong phần một, từ bi hỷ xả là Tứ phạm trú hay Tứ vô lượng tâm (brahma-vihâra) : Từ vô lượngBi vô lượngHỷ vô lượng và Xả vô lượng, tức bốn đức tính của tâm thức mà ta phải vun xới bằng tu tập và thiền định lâu dài, không phải bốn chữ dùng để tự an ủi hay an ủi kẻ khác khi gặp khó khăn. Nếu không nhớ Tứ vô lượng tâm là gì, xin người đọc xem lại định nghĩa của các chữ này trong phần một.

 

3. Kết luận

 

Tôi xin kể câu chuyện sau đây về ngài Vô Trước (Asanga) để thay vào phần kết luận. Ngài Vô Trước sinh vào thế kỷ thứ IV trong vùng Tây Bắc Ấn độ (vùng Cachemire ngày nay). Ngài là một Đại luận sư Phật giáosáng lập ra Duy thức tông và cũng là anh khác cha của Thế Thân (Vasubandhu), một Đại luận sư lừng danh khác của Phật giáo. Cả hai còn có một người em cũng là một vi Đại sưCâu chuyện về cuộc đời của Vô Trước như sau. Ngài đi tu và được thụ phong tỳ kheo theo tông phái Nhất thiết hữu bộ (Nam tông). Ngài tu học Tam Tạng Kinh trong năm năm liền. Sức học của Ngài rất cao và việc học rất sáng chói, nhưng Ngài vẫn không thấu hiểu hết ý nghĩa của Bát-nhã Ba-la-mật. Nhiều lúc thất vọng, ngài thối chí đến độ đã có ý định tự tử. Sau đó ngài gặp được một vị La hán tên là Pindola, vị này giải thích cho Ngài về Tánh không theo Nam tông. Ngài vẫn chưa thoả mãn với lối giải thích này và tìm một hang động trong núi Kukkûtapâdâ, gần thị trấn Râjagrha ngày nay, để tự tham thiền. Ngài thiền định bằng cách quán tưởng Đức Di Lặc. Hai lần Ngài bỏ hang ra đi vì thất vọng, nhưng sau rốt vẫn trở về hang để tiếp tục thiền định. Tổng cộng sau mười hai năm thiền định như thế, ngài vẫn không thấy Phật Di Lặc ứng hiện. Ngài lại bỏ hang và ra đi, trên đường ngài thấy một con chó ghẻ lở khắp thân thể, giòi bọ nhung nhúc và đang hấp hối. Ngài quá thương xót con vật và đang lay hoay tìm cách cứu giúp thì con chó lại biến mất và Phật Di Lặc hiện ra trước mặt. Theo truyền thuyết thì Phật Di Lặc dẫn ngài về cõi Đâu-suất để giảng cho Ngài về Đại thừa và Tánh không. Không biết có thật như thế hay không, nhưng trên thực tế ngài đã để lại cho chúng ta hôm nay một kho tàng trước tác thật đồ sộ và quan trọng.

 

Tóm lược một đoạn trong tiểu sử của ngài Vô Trước là như thế, nhưng có nhiều sách thêm thắt câu chuyện như sau. Sau mười hai năm thiền định ngài thất vọng và bỏ đi, nhưng khi ra khỏi hang lại gặp một con chó ghẻ lở thật kinh khiếp, các vết thương đầy giòi bọ. Ngài tìm cách chùi các vết thương cho con chó, nhưng lại thương các con giòi bị chùi mạnh mà chết, Ngài liền thè lưỡi để liếm và đẩy các con giòi ra khỏi các vết thương. Nhưng bất thần con chó biến mất và Đức Di Lặc hiện ra trước mặt ngài. Vô trước liền cất tiếng hỏi Đức Di Lặc : « Thưa Ngài, tại sao con phải chờ đến mười hai năm Ngài mới hiện ra với con ». Đức Di Lặc liền đáp rằng : « Ta vẫn ở bên cạnh con trong mười hai năm liền, nhưng vì sức phát triển của tâm thức con chưa đủ để nhìn thấy ta mà thôi ».

 

Từ trước đến đây, ngài Vô Trước chỉ thấy Đức Di Lặc qua những hình tướng thiếu hoàn hảo, nhưng con chó ghẻ đã giúp ngài phát lộ lòng Từ bi của mình một cách toàn vẹn hơn. Đức Di Lặc muốn chứng minh điều ấy cho ngài Vô Trước nên bảo ngài hãy cõng mình lên vai và đi về ngôi làng trong thung lũng phía dưới kia : tất cả những người đi ngược chiều đều vô tình chẳng thấy gì lạ cả, chỉ có một bà cụ già chận ngài Vô Trước lại mà hỏi : « Này ông kia, ông làm cái trò gì mà cõng con chó ghẻ kinh tởm trên vai như thế ? ».

 

HOANG PHONG

Bures-Sur-Yvette, 06.01.07

 

____________________
 
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Mười Một 2020(Xem: 42)
28 Tháng Mười Một 2020(Xem: 137)
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 154)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 204)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 238)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 275)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 260)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 261)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 362)
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5336)
16 Tháng Mười 2020(Xem: 432)
15 Tháng Mười 2020(Xem: 477)
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 1773)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 400)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 507)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 944802)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 1252)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 1366)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 1177)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 1280)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 1231)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 1382)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 1109)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 1195)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 1249)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 1567)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 1136)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 1222)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 1324)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 1178)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 1761)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 1588)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2201)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3894)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5525)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 298)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 367)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 389)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 204)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5336)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 458)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 463)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2986)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1999)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng