Bài Kinh Về Lòng Từ Tâm - Mettā Sutta SN 46.54

11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1677)
Bài Kinh Về Lòng Từ Tâm - Mettā Sutta SN 46.54
-----------------------------

metta-sutta-dave-wood_B
(Metta Sutta art print by Dave Wood)


Bài Kinh Về Lòng Từ Tâm

Mettā Sutta SN 46.54

Translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu

Hoang Phong chuyển ngữ

Source-Nguồn: thuvienhoasen.org

  

____________________

 

 

Vài lời giới thiệu của người chuyển ngữ

 

 

            Tựa và thứ tự của các bài kinh là do người sau đặt thêm vào các bài giảng của Đức Phật với mục đích phân loại và sắp xếp, do đó nhiều bài kinh có thể mang cùng một tên gọi, hoặc cùng một bài kinh nhưng có nhiều tựa khác nhau. Đây cũng là trường hợp của bài kinh Metta Sutta (Tương Ưng Bộ Kinh/Samyutta Nikaya, SN 46.54) trên đây, bài kinh này còn với nhiều tên khác như MettasuttamKaraniyametta SuttaMettasahagata Sutta...

 

            Ngoài ra còn có một bài kinh khác cũng mang cùng một tựa là Meta Sutta nhưng hình thức và cả nội dung đều có nhiều điểm khác biệt. Bài kinh này được xếp vào Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) trong hai chỗ khác nhau, trong nhóm Kinh Tập (Sutta Nipata Sn 1.8) cả trong nhóm kinh Tiểu Tụng (Khuddakapatha Khp 9), chúng ta sẽ trở lại vấn đề này trong phần ghi chú dưới đây.  Bài kinh này có nhiều bản dịch tiếng Việt, tất cả đều mang tựa là Kinh Từ BiTrái lại đối với bài kinh Matta Sutta SN 46.54 thì chưa tìm thấy bản dịch tiếng Việt nào. Trên nguyên tắc thì bài kinh này cũng có trong Đại Tạng Kinh, thế nhưng có thể vì cách sắp xếp dựa vào bản thống kê của Hiệp Hội Văn Bản Pali (Pali Text Society) đã khá xưa và ngày nay ít dùng, nên rất khó tìm.

 

            Bản chuyển ngữ bài kinh SN 46.54 dưới đây chủ yếu được dựa vào bản dịch tiếng Anh của nhà sư Thanissaro Bhikkhu (phụ lục II) và bản dịch song ngữ Pali - tiếng Pháp (phụ lục III). Tuy bài kinh mang tựa là Lòng Từ Tâm, thế nhưng thật ra nêu lên toàn bộ bốn thể dạng vô biên của tâm thức là:

 

 

 

            1- Mettalòng từ tâm, lòng vị tha hay lòng nhân ái (goodwill)

 

            2- Karunalòng từ bi, lòng thương xót hay trắc ẩn trước cảnh khổ đau của chúng sinh   (compassion).

 

            3- Mudita: niềm hân hoan và vui sướng khi ước vọng tất cả chúng sinh đều được hạnh phúc (empathic joy)

 

            4- Upekkha: sự thanh thản, bình lặng, thăng bằng và thanh thoát của tâm thức  (equanimity)

 

 

***

 

Bài Kinh về Lòng Từ Tâm

 

SN 46.54

 

            Có một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng Haliddavasana khất thực. Thế nhưng họ lại bàn với nhau: "Trời còn quá sớm để vào làng Haliddavasana khất thực. Vậy tại sao lại không tìm đến khu vườn [nơi tạm trú] (thường là một khu rừng cây hay đất hoang mà các thôn ấp thường dảnh riêng làm nơi dừng chân cho những người tu hành khất thực thời bấy giờ) của những kẻ lang thang thuộc các giáo phái khác [để viếng thăm họ]?"

 

            [Nghĩ thế] họ bèn tìm đến khu vườn của những kẻ lang thang thuộc các giáo phái khác. Khi đến nơi này thì hai bên cùng vái chào nhau. Sau vài lời thăm hỏi ân cần thì các tỳ-kheo (các đệ tử của Đức Phật) ngồi sang một bên.

 

            Sau khi các tỳ-kheo vừa ngồi xong thì những kẻ lang thang thuộc các giáo phái khác cất lời với họ: "Này các bạn, Vị từ bỏ thế tục Gotama (Cồ Đàm, tức là Đức Phật) từng giảng Dhamma (Đạo Pháp) cho các đệ tử của mình như sau:

 

            "Này các tỳ-kheo, hãy loại bỏ năm thứ chướng ngại (kinh sách Hán ngữ gọi là ngũ triền cái), là các thứ ô nhiễm tâm thần làm suy yếu sự nhận thức. Vậy, trước hết hãy hòa nhập vào hướng thứ nhất [hướng đông] với một tâm thức thấm đượm lòng từ tâm (metta/tình thương yêulòng vị tha). Sau đó lại tiếp tục làm như thế đối với hướng thứ hai [hướng tây], thứ  ba [hướng nam] và thứ tư [hướng bắc]. [Sau đó] lại tiếp tục hướng lên phía trên, phía dưới và toàn thể chung quanh, không để sót một nơi nào, và luôn giữ tâm thức thấm đượm lòng từ tâm - tràn đầy, tỏa rộng và vô tận - bên trong chính mình và cả vũ trụ, không một thoáng hận thù hay ác cảm nào (làm tỏa rộng tình thương yêu bên trong tâm thức mính và cả trong khắp miền không gian).        

 

            "Hãy giữ sự hòa nhập vào hướng thứ nhất với một tâm thức thấm đượm lòng từ  bi (karuna/lòng thương xót trước cảnh khổ đau của chúng sinh)Sau đó lại tiếp tục làm như thế đối với hướng thứ hai, thứ ba và thứ tư. [Sau đó] lại tiếp tục hướng lên phía trên, phía dưới và toàn thể chung quanh, không để sót một nơi nào, và luôn giữ tâm thức thấm đượm lòng từ bi - tràn đầy, tỏa rộng và vô tận - bên trong chính mình và cả vũ trụ, không một thoáng hận thù hay ác cảm nào.

 

            "Hãy giữ sự hòa nhập vào hướng thứ nhất với một tâm thức thấm đượm niềm hân hoan (mudita, niềm vui sướng dâng lên và tràn ngập tâm hồn khi ước mong tất cả chúng sinh đều được hạnh phúc). Sau đó lại tiếp tục làm như thế đối với hướng thứ hai, thứ ba và thứ tư. [Sau đó] lại tiếp tục hướng lên phía trên, phía dưởi và tất cả chung quanh, không để sót một nơi nào, luôn giữ tâm thức thấm đượm niềm hân hoan - tràn đầy, tỏa rộng và vô tận - bên trong chính mình và cả vũ trụ, không một thoáng hận thù hay ác cảm nào.    

 

            "Hãy giữ sự hòa nhập vào hướng thứ nhất với một tâm thức thấm đượm sự thanh thản (upekkha/thể dạng bình lặng, thanh thoát và thăng bằng của tâm thưc). Sau đó lại tiếp tục làm như thế đối với hướng thứ hai, thứ ba và thứ tư. [Sau đó] lại tiếp tục hướng lên phía trên, phía dưởi và toàn thể chung quanh, không để sót một nơi nào, luôn giữ tâm thức thấm đượm sự thanh thản - tràn đầy, tỏa rộng và vô tận - bên trong chính mình và cả vũ trụ, không một thoáng hận thù hay ác cảm nào".

 

            "Này các bạn, chúng tôi (tức những kẻ lang thang thuộc các giáo phái khác) cũng giảng cho các đệ tử của chúng tôi đúng như thế:

 

            'Này các các bạn, hãy loại bỏ năm thứ chướng ngại là các thứ ô nhiễm tâm thần làm suy yếu sự nhận thức. Vậy, trước hết hãy hòa nhập vào hướng thứ nhất với một tâm thức thấm đượm lòng từ tâm. Sau đó lại tiếp tục làm như thế đối với hướng thứ hai, thứ ba và thứ tư. [Sau đó] lại tiếp tục hướng lên phía trên, phía dưởi và toàn thể chung quanh, không để sót một nơi nào, và luôn giữ tâm thức thấm đượm lòng từ tâm - tràn đầy, tỏa rộng và vô tận - bên trong chính mình và cả vũ trụ, không một thoáng hận thù hay ác cảm nào'.   

 

            (Các phân đoạn dưới đây được rút ngắn nhằm tránh bớt sự lập đi lập lại)

 

            'Hãy hòa nhập vào hướng thứ nhất với một tâm thức thấm đượm lòng từ  bi [...]

 

            'Hãy hòa nhập vào hướng thứ nhất với một tâm thức thấm đượm niềm hân hoan [...]

 

            'Hãy hòa nhập vào hướng thứ nhất với một tâm thức thấm đượm sự thanh thản. Sau đó lại tiếp tục làm như thế đối với hướng thứ hai, thứ ba và thứ tư. [Sau đó] lại tiếp tục hướng lên phía trên, phía dưởi và toàn thể chung quanh, không để sót một nơi nào, luôn giữ tâm thức thấm đượm sự thanh thản và bình lặng - tràn đầy, tỏa rộng và vô tận - bên trong chính mình và cả vũ trụ, không một thoáng hận thù hay ác cảm nào'.            

 

            "Vậy có gì là khác biệt, tương phản hay phân biệt giữa Dhamma do vị Gotama thuyết giảng và Dhamma của chúng tôi đâu. Cả hai giáo huấn đều giống như nhau".

 

            Nhóm tỳ-kheo (các đệ tử của Đức Phật) không tán đồng cũng không bác bỏ những lời phát biểu đó của những kẻ lang thang thuộc các giáo phái khác, mà chỉ đứng lên [cáo từ] và đi khất thực. Họ bàn với nhau: "Chúng ta tất sẽ phải hiểu được những lời họ nói sau khi tham vấn Đấng Thế Tôn".

 

            Họ đi khất thực trong làng Haliddavasana và sau khi ăn xong thì họ tìm gặp Đấng Thế Tôn.  Khi gặp Ngài thì họ vái chào và ngồi sang một bên. Sau khi ngồi xuống họ thuật lại với Đấng Thế Tôn [những gì xảy ra vào sáng sớm hôm đó].   

 

            "Này các tỳ-kheo, khi nào những người lang thang thuộc các giáo phái khác nêu lên như thế, thì phải trả lời họ như thế này:

 

            "Này các bạn, thế nhưng nếu muốn giải thoát tâm thức (awareness-relase/libération de l'esprit/tiếng Pali là cetovimutti, tiền ngữ ceto có nghĩa là tâm thức, hậu ngữ vimutti có nghĩa là giải thoátgiải thoát ở đây có nghĩa là loại bỏ khỏi tâm thức mọi dục vọngđam mê và bám víu, nói chung là các thứ ô nhiễm tâm thần) bằng cách phát huy lòng từ tâm thì phải làm thế nào? Nó sẽ đưa mình đến đâu? Điểm tột đỉnh của nó là gì? Kết quả và chủ đích của nó là gì?

 

            "Nếu muốn giải thoát tâm thức bằng cách phát huy lòng từ bi thì phải làm thế nào? Nó sẽ đưa mình đến đâu? Điểm tột đỉnh của nó là gì? Kết quả và chủ đích của nó là gì?    

 

            "Nếu muốn giải thoát tâm thức bằng cách phát huy niềm hân hoan thì phải làm thế nào? Nó sẽ đưa mình đến đâu? Điểm tột đỉnh của nó là gì? Kết quả và chủ đích của nó là gì?

 

            "Nếu muốn giải thoát tâm thức bằng cách phát huy sự thanh thản thì phải làm thế nào? Nó sẽ đưa mình đến đâu? Điểm tột đỉnh của nó là gì? Kết quả và chủ đích của nó là gỉ?

 

            "Nếu hỏi họ như vậy thì họ sẽ không sao trả lời được, hơn nữa họ sẽ vô cùng bối rối. Tại sao lại như vậy? Bởi vì các điều ấy vượt khỏi tầm tay của họ. Ta chẳng thấy ai trong thế giới này - dù là các Thiên nhân (Deva), Thiên-ma (Mara), các Vị trời Bhrama, những kẻ từ bỏ (những người tu hành từ bỏ thế tục), những người bà-la-môn (brahman), những người trong hoàng tộc hay dân dã - lại có thể thỏa mãn tâm thức mình với các câu trả lời của họ về các thắc mắc ấy, ngoài Như Lai hay một đệ tử của Như Lai hoặc một người từng được nghe họ thuyết giảng (họ ở đây là Đức Phật và các đệ tử của Ngài).

 

 (Sau khi chỉ dạy các đệ tử của mình phải trả lời như thế nào khi những người tu hành thuộc các giáo phái khác vặn hỏi và cho rằng giáo phái của mình cũng giảng dạy giống như thế, thì Đức Phật tiếp tục chỉ dạy các đệ tử của mình cách phát huy bốn phẩm tính của tâm thức và các cấp bậc giải thoát tương quan với các phẩm tính đó. Đấy cũng là những gì sâu xacụ thể và siêu việt, mang các chủ đích rõ rệt, khác hẳn với các giáo phái khác)           

 

            "Này các tỳ-kheo, vậy thì phải làm thế nào để giải thoát tâm thức bằng cách phát huy lòng từ tâm. Nó sẽ đưa mình đến đâu? Điểm tột đỉnh của nó là gì?  Kết quả và chủ đích của nó là gì?  

 

            "Đấy là trường hợp người tỳ-kheo phát huy sự tỉnh thức (tiếng Pali là samma-sati, samma có nghĩa là đúng đắnchính xác, tròn đầy..., sati có nghĩa là sự nắm bắt, ghi nhận hay nhận biết trong sáng và sắc bén của tâm thức, nói chung là một sự chú tâm và tập trung tâm thần thật cao độ, các ngôn ngữ Tây phương gọi là mindfulness/pleine conscience, présence d'esprit/sự tỉnh giác hay tỉnh thức. Kinh sách Hán ngữ gọi là chánh niệm) như là một yếu tố giác ngộ (yếu tố giác ngộ tiếng Pali là bojjhanga, gồm có bảy yếu tố: 1.sati/sự chú tâm, 2.dhamma-vicaya/tìm hiểu hay phân tích các hiện tượng, 3.viriya/nghị lực, sự kiên trì, 4.piti/ sự thích thú, niềm hân hoan, 5.passaddhi/sự tĩnh lặng, 6.samadhi/sự tập trung, 7.upekkha/sự thanh thản) kèm theo lòng từ tâmdựa vào sự cô độc (seclusion/isolement/ẩn dật, lánh xa thế tục), dựa vào sự buông bỏ (dispassion/ détachement/không đam mêtừ bỏ mọi dục vọngthèm khát và bám víu), dựa vào sự chấm dứt (cessation/sự tắt nghỉ, sự dừng lại), kết quả mang lại là sự buông xả (letting go/le lâcher-prise/buông ra, không nắm bắt bất cứ một thứ gì cả).

 

             ["Đấy là trướng hợp] người tỳ-kheo phát huy nghi lực như là một yếu tố giác ngộ kèm theo lòng từ tâmdựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự chấm dứt, dựa vào sự tĩnh lặng, kết quả mang lại là sự buông xả.

 

            ["Đấy là trường hợp] người tỳ-kheo phát huy sự kiên trì (persistence/exaltation/sự bền chí, niềm hứng khởi), như một yếu tố giác ngộ kèm theo lòng từ tâm, dựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự chấm dứt, kết quả mang lại là sự buông xả.

 

            ["Đấy là trường hợp] người tỳ-kheo phát huy sự từ bỏ (rupture, cắt đứt, đoạn tuyệt, không nắm bắt) như là một yếu tố giác ngộ kèm theo lòng từ tâm, dựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự tĩnh lặng, dựa vào sự chấm dứt, kết quả mang lại là sự buông xả.

 

            ["Đấy là trường hợp] người tỳ-kheo phát huy sự tĩnh lặng (calm, serenity, sự yên lặng, sự trong sáng) như là một yếu tố giác ngộ kèm theo lòng từ tâm, dựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự chấm dứt, kết quả mang lại là sự buông xả

 

            ["Đấy là trường hợp] người tỳ-kheo phát huy sự tập trung (concentration/sự chú tâm thật thăng bằng và vững chắc) như là một yếu tố giác ngộ kèm theo lòng từ tâm, dựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự chấm dứt, kết quả mang lại sự buông xả.

 

            "Người tỳ-kheo phát huy sự thanh thản (equanimity/thể dạng bình lặng của tâm thức) như là một yếu tố giác ngộ kèm theo lòng từ tâm, dựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự chấm dứt, kết quả mang lại là sự buông xả.

 

            "Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự kinh-tởm bên trong những gì không-kinh-tởm. Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự không-kinh-tởm bên trong những gì kinh-tởm. Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự kinh-tởm bên trong những gì không-kinh-tởm và [đồng thời] cũng nhận biết được đấy là gì. Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự không-kinh-tởm bên trong những gì kinh-tởm và [đồng thời] cũng nhận biết được đấy là gì (có nghĩa là ý thức được bản chất của mọi hiện tượng. Chúng có thể tốt đẹp nhưng bản chất bên trong chúng là xấu xa hoặc ngược lại, và dù là trường hợp nào thì người tỳ kheo cũng có thể "cắt đứt" nếu muốn, hầu mang lại cho mình sự giải thoát, và đó cũng là ý nghĩa của sự "buông xả"/letting go nói đến trong bài kinh).

 

            "Trước những gì kinh-tởm và cả những gì không-kinh-tởm, nếu muốn thì người tỳ- kheo cũng có thể cắt đứt được cả hai, hầu mang lại cho mình sự thanh thản (upekkha/ equanimity)cảnh giác và tỉnh thức (chánh niệm, có nghĩa là một tâm thức đã loại bỏ được thứ các xúc cảm và tạo tác tâm thần). Hoặc người người tỳ-kheo cũng có thể hòa nhập và thường trú trong sự giải thoát cao đẹp đó (sự giải thoát cao đẹp hay tốt đẹp ở đây có nghĩa là một thể dạng giải thoát tốt nhất tương quan với cấp bậc buông xả đó của người tỳ-kheo, nhưng chưa phải là một sự giải thoát tối thượng). Này các tỳ-kheo, Ta bảo với các tỳ-kheo rằng sự giải thoát tâm thức bằng cách phát huy lòng từ tâm sẽ mang lại một thể dạng giải thoát tâm thức cao đẹp nhất đối với một người tỳ-kheo mà sự nhận thức chưa đủ đạt được một cấp bậc buông xả cao hơn (câu này rất quan trọng, có thể hiểu như là một lời cảnh giác của Đức Phậttu tập về lòng từ tâm chỉ có thể mang lại một sự giải thoát tương quan với một sự buông xả ở một cấp bậc tương xứng với sự phát huy về lòng từ tâm đó của mình mà thôi. Trong phần ghi chú bên dưới bản dịch tiếng Anh của bài kinh này (phụ lục II), nhà sư Thanissaro cũng có giải thích thêm là sự "cao đẹp" hay "tốt đẹp" ở đây tiếng Pali gọi là subha, và cũng chỉ là một trong số bốn thể dạng tập trung tâm thần gọi là  jhana trước khi có thể hòa nhập vào các cấp bậc jhana phi-hình-tướng cao hơn. Nói chung Jhana là các "thể dạng lắng sâu" của tâm thức hiện lên trong khi hành thiền, kinh sách Tây phương không dịch chữ jhana mà dùng thẳng tiếng Pali là jhana hay tiếng Phạn là Dhyana. Kinh sách tiếng Việt gọi là định hay thiền-na)

 

            "Vậy phải làm thế nào để giải thoát tâm thức bằng cách phát huy sự tỉnh thức (tỉnh giácchánh niệm) như là một yếu tố giác ngộ? Nó sẽ đưa mình đến đâu? Điểm tột đỉnh của nó là gì? Kết quả và chủ đích của nó là gì?  

 

            "Đấy là trường hợp người tỳ-kheo phát huy sự tỉnh thức như là một yếu tố giác ngộ kèm theo lòng từ bidựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự chấm dứt, kết quả mang lại là sự buông xả. Người tỳ-kheo phát huy sự kiên trì như là một yếu tố giác ngộ [..,]. Người tỳ-kheo phát huy sự tĩnh lặng như là một yếu tố giác ngộ [...] Người tỳ-kheo phát huy sự tập trung như là một yếu tố giác ngộ [...] Người tỳ-kheo phát huy sự thanh thản như là một yếu tố giác ngộ, kèm theo lòng từ bi, dựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự chấm dứt, kết quả mang lại là sự buông xả

 

(Phân đoạn trên đây đã được rút ngắn để tránh bớt sự lập đi lập lại. Xin mạn phép nhắc thêm là cách lập đi lập lại cùng một câu, chỉ thêm bớt hay thay đổi một chữ, là cách  giúp việc học thuộc lòng được dễ dàng hơn).

 

            "Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự kinh-tởm bên trong những gì không-kinh-tởm. Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự không-kinh-tởm bên trong những gì kinh-tởm. Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự kinh-tởm bên trong những gì không-kinh-tởm và [đồng thời] cũng nhận biết được đấy là gì. Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự không-kinh-tởm bên trong những gì kinh-tởm và [đồng thời] cũng nhận biết được đấy là gì.

 

            "Hoặc người tỳ-kheo [cũng có thể] vượt hẳn lên trên mọi sự nhận thức hình tướng (vật chất), mang lại sự tan biến của mọi sự nhận thức ghê tởm (ghét bỏ), cũng không chú tâm vào các sự nhận thức đa dạng, mà [chỉ cảm nhận] một bầu không gian vô tận. Người tỳ-kheo hòa nhập và thường trú trong bầu không gian vô tận đó. Này các tỳ-kheo, ta bảo với các tỳ-kheo rằng sự giải thoát tâm thức bằng cách phát huy lòng từ bi sẽ đưa đến một thể dạng giải thoát tâm thức cao đẹp nhất đối với một người tỳ-kheo mà sự nhận thức chưa đủ đạt được một cấp bậc buông xả cao hơn (người tỳ-kheo trong lúc thiền định "cắt đứt" mọi sự bám víu, giúp mình vượt lên trên mọi sự nhận thức đa dạng, tạo ra cho mình một bầu không gian vô tận và đồng nhất, và hòa nhập vào bầu không gian đó).   

 

                "Vậy phải làm thế nào để giải thoát tâm thức bằng cách phát huy niềm hân hoan? Nó sẽ đưa mình đến đâu? Điểm tột đỉnh của nó là gì? Kết quả và chủ đích của nó là gỉ?

 

            "Đấy là trường hợp người tỳ-kheo phát huy sự tỉnh thức (chánh niệm) như là một yếu tố giác ngộ kèm theo lòng từ bidựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự chấm dứt, kết quả mang lại là sự buông xả. Người tỳ-kheo phát huy sự phân tích mọi hiện tượng  (tìm hiểu bản chất của mọi hiện tượng) như là một yếu tố giác ngộ [...], phát huy sự kiên trì như là một yếu tố giác ngộ [...], phát huy sự từ bỏ như là một yếu tố giác ngộ [...], phát huy sự tĩnh lặng như là một yếu tố giác ngộ [...], phát huy sự tập trung như là một yếu tố giác ngộ [...], phát huy sự thanh thản như là một yếu tố giác ngộ, kèm theo niềm hân hoandựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự chấm dứt, kết quả mang lại là sự buông xả,

 

(Phân đoạn trên đây đã được rút ngắn để tránh bớt sự lập đi lập lại)

 

            "Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự kinh-tởm bên trong những gì không-kinh-tởm. Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự không-kinh-tởm bên trong những gì kinh-tởm. Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự kinh-tởm bên trong những gì không-kinh-tởm và [đồng thời] cũng nhận biết được đấy là gì. Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự không-kinh-tởm bên trong những gì kinh-tởm và [đồng thời] cũng có thể nhận biết được đấy là gì. Trước những gì kinh-tởm và cả những gì không-kinh-tởm, nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể cắt đứt được cả hai, hầu mang lại cho mình sự thanh thảncảnh giác và tỉnh thức (chánh niệm).

 

            Hoặc người tỳ-kheo [cũng có thể] vượt hẳn lên trên bầu không gian vô tận (trên đây Đức Phật đã giảng cách tỏa rộng tâm thức để hòa nhập với bốn phương trời, cả trên và dưới và cả chung quanh hầu tạo ra cho mình một bầu không gian vô tận. Đến đây Đức Phật lại dạy thêm là phải vượt lên trên cả bầu không gian vô tận đó) hầu giúp mình nhận thức được tri thức vô tận [của mình]. Người tỳ-kheo có thể hòa nhập và thường trú trong bầu tri thức vô tận đó. Này các tỳ-kheo, Ta bảo với các tỳ-kheo rằng sự giải thoát tâm thức nhờ vào niềm hân hoan sẽ mang lại cho mình bầu tri thức vô tận như là một thể dạng [tâm thần] cao đẹp nhất đối với một người tỳ-kheo mà sự nhận thức chưa đủ đạt được một cấp bậc buông xả cao hơn.                    

 

            "Vậy phải làm thế nào để giải thoát tâm thức bằng cách phát huy sự thanh thản? Nó sẽ đưa mình đến đâu? Điểm tột đỉnh của nó là gì? Kết quả và chủ đích của nó là gỉ?

 

            "Đấy là trường hợp người tỳ-kheo phát huy sự tỉnh thức (chánh niệm) như là một yếu tố giác ngộ kèm theo sự thanh thảndựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự chấm dứt, kết quả mang lại là sự buông xả. Người tỳ-kheo phát huy sự phân tích mọi hiện tượng (tìm hiểu bản chất của mọi hiện tượng) như là một yếu tố giác ngộ [...], phát huy nghị lực như là một yếu tố giác ngộ [...], phát huy sự từ bỏ như là một yếu tố giác ngộ [...], phát huy sự tĩnh lặng như là một yếu tố giác ngộ [...], phát huy sự tập trung như là một yếu tố giác ngộ [...], phát huy sự thanh thản như là một yếu tố giác ngộ, kèm theo sự thanh thảndựa vào sự cô độcdựa vào sự buông bỏdựa vào sự chấm dứt, kết quả mang lại là sự buông xả.

 

(Phân đoạn trên đây đã được rút ngắn để tránh bớt sự lập đi lập lại)

 

            "Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự kinh-tởm bên trong những gì không-kinh-tởm. Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự không-kinh-tởm bên trong những gì kinh-tởm. Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự kinh-tởm bên trong những gì không-kinh-tởm và [đồng thời] cũng nhận biết được đấy là gì. "Nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể nhận biết được sự không-kinh-tởm bên trong những gì kinh-tởm và [đồng thời] cũng có thể nhận biết được đấy là gì. Trước những gì kinh-tởm và cả những gì không-kinh-tởm, nếu muốn thì người tỳ-kheo cũng có thể cắt đứt được cả hai, hầu giúp mình thường trú trong sự thanh thảncảnh giác và tỉnh thức (chánh niệm).

 

            Hoặc người tỳ-kheo [cũng có thể] vượt hẳn lên trên bầu tri thức vô tận để cảm nhận được chẳng có một thứ gì cả, hầu hòa nhập và thường trú trong bầu không gian chẳng có một thứ gì cả. Này các tỳ-kheo, ta bảo với các tỳ-kheo rằng sự giải thoát tâm thức nhờ vào sự thanh thản sẽ mang lại một bầu không gian chẳng có gì cả như là một thể dạng giải thoát tâm thức cao đẹp nhất đối với một người tỳ-kheo mà sự nhận thức chưa đủ đạt được một cấp bậc buông xả cao hơn (qua bốn phép thiền định trên đây người tỳ-kheo cũng chỉ có thể đạt đưọc một thể dạng tâm thức cao đẹp nhất là một "Bầu không gian chẳng có gì cả". Bầu không gian trống không đó chưa phải là sự giác ngộ cuối cùng và tối thượng)

 

  

____________________

 

 

Vài lời ghi chú của người chuyển ngữ

 

            Vậy chúng ta học được những gì qua bài kinh trên đây?

 

            Trước hết, qua câu chuyện về sự sinh hoạt của một số tỳ-kheo vào một buổi sáng sớm cách nay hơn 2500 năm, chúng ta cũng có thể hình dung ra bối cảnh tín ngưỡng của thời bấy giờ. Những người từ bỏ thế tục sống phiêu bạt, nay đây mai đó, sự sinh tồn của họ phải nhờ vả người thế tục, ngược lại người thế tục qua cử chỉ hiến dâng miếng ăn cho người tu hành đã mang lại cho mình một cuộc sống có ý nghĩa hơn. Phải chăng đấy cũng là điểm nổi bật nhất của nền văn minh Ấn-độ nói chung vào các thời kỳ cổ đại. Nền văn minh đó chú trọng vào cuộc sống tinh thần nhiều hơn là của cải và các phát minh vật chất như các nền văn minh khác..

 

            Điểm đáng lưu ý thứ hai là người xưa biết tôn trọng nhau, không tranh cãi, cũng không tự nhận mình là thấu triệt tất cả. Các vị tỳ-kheo rất thận trọng, tìm Đức Phật để tham vấn mỗi khi gặp phải những điều mà mình không hiểu hết. Trái lại ngày nay, phải chăng chúng ta tự do hơn nhiều?

 

            Trở lại với kho tàng kinh điển mà người xưa lưu lại thì bài kinh Metta Sutta bằng tiếng Pali có hai bản khác hẳn nhau như đã được nêu lên trong phần giới thiệu trên đây. Hai bài kinh này xuất hiện trong hai bộ kinh khác nhau: bài thứ nhất trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikaya) mang số SN 46.54 và cũng là bài kinh được chuyển ngữ trên đây, và bài thứ hai trong Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya), thế nhưng bên trong bộ kinh này bài kinh thứ hai nói đến trên đây lại xuất hiện tại hai nơi khác nhau: một trong Kinh Tập (Sutta Nipata) mang số Sn 1.8 (hoặc PTS Sn 143-152 nếu dựa vào cách phân loại của Hiệp Hội Văn Bản Pali (Pali Text Society), và một trong tập Tiểu Tụng (Khuddakapatha) mang số Khp 9. Tóm lại hai hản kinh này - Sn 1.8 và Khp 9 - cũng chỉ là một.  

 

            Bài kinh thứ hai này (Sn 1.8 hay Khp 9) là một bài kệ rất phổ biến được dùng để tụng, và có rất nhiều bản dịch sang tiếng Việt, tất cả đều mang tựa là Kinh Từ BiNgoài ra  cũng có hàng chục bản dịch sang tiếng Anh và tiếng Pháp khác nhau, mang nhiều tựa khác nhau: Goodwill (do Thanissaro Bhikhu dịch), Loving Kindness (do Nanamoli Thera dịch), The Discourse of Loving (do Piyadassi Thera dịch), The Buddha's Word of Loving (do Tăng đoàn Amaravati Anh quốc dịch), Hymne de l'Amour universel (do Jeanne Schut dịch), v.v. Các tựa này đều có nghĩa là Tình thương yêu, Lòng Nhân từ hay Từ tâm (Metta) trong khi đó các bản dịch tiếng Việt thì lại mang tựa là Kinh Từ Bi (Karuna). Dầu sao thì bản kinh Metta Sutta thứ hai này cũng nêu lên toàn bộ cả bốn phẩm tính metta, karuna, mudita và uppekkha tức là từ, bi, hỷ, xãtương tự như trong bài kinh SN 46.54 được chuyển ngữ trên đây.

 

            Vậy nguyên nhân nào đã đưa đến hai bản kinh khác nhau là SN 46.54 và Sn 1.8 hay Khp 9,  nhưng lại mang cùng một tựa và được xếp vào hai bộ kinh khác nhau? Các bài kinh trên đây dù nêu lên cùng một chủ đề chung là bốn phẩm tính vô biên của tâm thức, thế nhưng chủ đích, nội dung và tính cách sâu sắc thì hoàn toàn khác biệt nhau. Bài kinh SN 46.54 là một bài giảng của Đức Phật rất "kỹ thuật", siêu việt, dành cho một nhóm đệ tử bên cạnh Ngài tại bộ tộc Koliyan, gần ngôi làng Haliddavasana. Bài giảng này giải thích thật chi tiết về bốn phép luyện tập thiền định nhằm mở rộng và biến tâm thức người hành thiền trở thành vô tận và hòa nhập vào một bầu không gian trống không chẳng có gì cả.

 

            Trái lại bài kinh Sn 1.8 hay Khp 9, tuy cùng nêu lên bốn phẩm tính metta, karuna, mudita và upekkha như trong bài kinh SN 46.54, nhưng chỉ là một bài kệ dùng để tụng niệm. Dầu việc tụng niệm cũng có thể xem là một cách thiền định, thế nhưng chỉ là một cách thiền định gián tiếp, thuộc vào một cấp bậc thấp, không thể so sánh với phương pháp thiền định hướng thẳng vào tâm thức để trực tiếp biến cải tâm thức, như trong bài kinh SN 46.54 trên đây. Do đó có thể nghĩ rằng bài kinh Sn 1.8 hay Khp 9 chỉ là một bản tóm lược bài kinh SN 46.54, với mục đích phổ biến rộng rãi trong dân gian. Bản rút ngắn và đơn giản hóa này có thể là do các đệ tử của Đức Phật thực hiện vào thời đại của Ngài hoặc muộn hơn về sau này. Tuy nhiên cũng có thể xem bài kệ này là do Đức Phật trực tiếp thuyết giảng, nhưng dành cho một cử tọa đại chúng. Dầu sao dường như không có bằng chứng nào cho thấy Đức Phật từng thuyết giảng bằng cách tụng niệm hay bằng văn vần, mà bằng cách giải thích chi tiết và khúc triết hơn về một chủ đề nào đó. Một số các bài kinh - nhất là trong Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) - dường như đã được đơn giản hóa và chuyển thành văn vần, vào thời đại của Đức Phật hoặc sau đó, nhằm thích nghi hơn với quảng đại quần chúng, nhất là giúp việc học thuộc lòng được dễ dàng hơn. Xin trích dẫn dười đây một bài tụng tiêu biểu của Phật giáo Tây Tạng, nêu lên bốn phẩm tính metta, karuna, mudita và uppekkha (phụ lục I).

 

            Điểm đáng lưu ý thứ ba là nguyên nhân nào đã đưa đến bài thuyết giảng trên đây của Đức Phật. Vào một buổi sáng, nơi tạm dừng chân của những người tu hành phiêu bạt, cạnh ngôi làng Haliddavasana, có một nhóm người tu hành thuộc các giáo phái khác nêu lên với các đệ tử của Đức Phật về sự tương đồng giữa giáo huấn của vị Gotama và giáo huấn của họ liên quan đến phép thiền định về bốn phẩm tính tinh thần trên đây. Mượn dịp này Đức Phật giải thích thật cặn kẽ và chi tiết cho các đệ tử của mình các phép luyện tập về bốn phẩm tính vô biên. Ngài cho biết là các phép luyện tập ấy sẽ đưa mình đến đâu? Các cấp bậc tâm thức cao nhất nào mà các phép thiền định đó có thể mang lại cho người tu tập? Kết quả và chủ đích của các phép luyện tập ấy là gì? Và chính đấy cũng là những gì mà các giáo phái khác không thể giải đáp được.

 

            Thật vậy đạo Bà-la-môn và đạo Jain cũng chủ trương thiền định về bốn phẩm tính tâm thức trên đây. Theo các tư liệu ngày nay thì đạo Bà-la-môn cho rằng sự suy tư và chiêm nghiệm - nói chung là thiền định - về bốn thể loại cảm tính "thích thú", "đớn đau", "đạo-đức" và "phi-đạo-đức" sẽ giúp tạo ra trong tâm thần người tu hành các cảm tính nhân từlòng từ biniềm hân hoan và sự thanh thản. Đạo Jain thì chủ trương phải chiêm nghiệm và suy ngẫm về bốn phẩm tính là "tình thân thiện" đối với tất cả chúng sinh (tiếng Phạn là maitri/lòng nhân từ, chữ maitri đồng nghĩa với chữ metta trong tiếng Pali), "niềm hân hoan" khi nhìn vào các chúng sinh khác vượt xa hơn mình trên đường giải thoát (tiếng Phạn là pramoda/sự thích thú, niềm vui sướng), "lòng từ bi" đối với tất cả các chúng sinh bất hạnh (tiếng Phạn và Pali là karuna/sự xót thương), và sau hết là "sự dửng dưng" hay "vô cảm" trước những kẻ kém nhã nhặn, hoặc có các hành vi thiếu đạo đức (tiếng Phạn là madhyasthya/thản nhiên, không chấp nhất). Thế nhưng cả hai tín ngưỡng trên đây đều dừng lại với các cảm tính đó, với các chủ đích đơn giản và hạn hẹp đó.  

 

            Trong Giáo Huấn của Đức Phật phép thiền định về bốn phẩm tính vô biên sẽ dưa đến bốn cấp bậc lắng sâu của tâm thức gọi là bốn jhana (định hay thiền-na):

 

1- Cấp bậc thấp nhất là Tình thương yêu hay lỏng từ tâm (Metta). Nhờ vào cách phát huy phẩm tính này, người tỳ-kheo có thể đạt được một cấp bậc tri thức tương quan với phẩm tính đó, nhưng không thể đi xa hơn nếu khả năng nhận thức của mình chưa đủ để đạt được một sự buông xả cao hơn.

 

2- Cấp bậc của Lòng từ bi (Karuna) cao hơn cấp bậc Từ tâm, thế nhưng người tỳ-kheo cũng chỉ có thể đạt được một cấp bậc tri thức tương quan với phẩm tính đó, nếu sự nhận thức của mình chưa đủ để đạt được một sự buông xả cao hơn.

 

3- Cấp bậc của Niềm hân hoan (Muditahiện lên trong tâm thức khi ước mong tất cả chúng sinh đều đạt được hạnh phúc, tuy cao hơn cấp bậc của Lòng từ bi nhưng cũng chỉ giúp người tỳ-kheo đạt được một cấp bậc tri thức tương quan với phẩm tính đó, nếu sự nhận thức của mình chưa đủ để đạt được một sự buông xả cao hơn.

 

4- Sự Thanh thản (Upekkha) hay thể dạng thăng bằng và bình lặng của tâm thức là cấp bậc cao nhất trong số bốn phẩm tính, thế nhưng cũng chỉ mang lại cho người tỳ-kheo một thể dạng tri thức tương quan với phẩm tính đó, nếu sự nhận thức của mình chưa đủ để đạt được một sự buông xả cao hơn.

 

            Nói chung phép luyện tập về bốn thế dạng vô biên của tâm thức vẫn chưa đủ để mang lại một sự quán thấy xuyên thấu là Vipassana. Trong phần ghi chú bên dưới bản dịch tiếng Anh (phụ lục II), nhà sư Thanissaro Bhikkhu có cho biết là bốn cấp bậc tri thức trên đây tương quan với bốn cấp bậc jhana của tâm thức, tức là bốn cấp bậc lắng sâu tuần tự và liên tục của tâm thức từ thấp đến cao, nhưng chưa đủ để hòa nhập vào các thể dạng jhana vô-hình-tướng..

 

            Sau hết điều quan trọng hơn cả trong bài kinh này là những lời cảnh giác của Đức Phật về các cách tu tập của chúng ta, dù là dưới hình thức tụng niệmcầu an, cầu siêu, thiền định, nghe giảng, tham gia các khóa ẩn cưtu học hay tham dự các bữa cơm xã hội , v.v.  thì thiết nghĩ cũng nên nhớ lại những lời căn dặn của Đức Phật"Các phép tu tập ấy, các hình thức sinh hoạt ấy, sẽ đưa mình đến đâu? Điểm tột đỉnh của chúng là gì? Kết quả và chủ đích của chúng là gì? Chúng có được kèm thêm với các yếu tố giác ngộ và các phẩm tính khác hay không?"                              

Bures-Sur-Yvette, 18.02.20

Hoang Phong

  

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Mười 2020(Xem: 14)
22 Tháng Mười 2020(Xem: 4848)
16 Tháng Mười 2020(Xem: 253)
15 Tháng Mười 2020(Xem: 249)
11 Tháng Mười 2020(Xem: 353)
07 Tháng Mười 2020(Xem: 332)
06 Tháng Mười 2020(Xem: 350)
04 Tháng Mười 2020(Xem: 391)
28 Tháng Chín 2020(Xem: 403)
10 Tháng Chín 2020(Xem: 566)
08 Tháng Chín 2020(Xem: 651)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 223)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 334)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 1462)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 935379)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 987)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 1048)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 940)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 1008)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 1000)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 1205)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 972)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 1031)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 1087)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 1411)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 998)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 1091)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 1137)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 1025)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 1551)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 1353)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1971)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3645)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5173)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4848)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2829)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
08 Tháng Mười 202011:06 SA(Xem: 4244)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4848)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 221)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 236)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2574)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1677)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1602)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.