[01] Lời Mở Đầu

11 Tháng Sáu 20205:38 CH(Xem: 217)
[01] Lời Mở Đầu
SongThien_A
Sống Thiền, Đạo Lý Tỉnh Giác Trong Đời Sống Thường Ngày
Living Meditation, Living Insight
Dr. Thynn Thynn - Từ Thám dịch (Sydney, Australia - 2001)
Source-Nguồn: buddhanet.net, budsas.org, quangduc.com


____________________


[01] Lời Nói Đầu

 

Tôi rất cảm phục Bs Thynn Thynn khi bà đã tận tình giải thích thấu đáo, trong quyển sách của bà, về cách sống tỉnh giác trong đời sống thường ngày. Trước đây, điểm nầy chưa được nhấn mạnh đúng mức trong giáo lý Phật-đà tại các thiền việntu việnTây phương. Trong thực tế, phần lớn các phương pháp tu hành ở Á châu đều theo khuôn mẫu chuyên biệt. Nhưng lối tu hành nầy không thích hợp cho Phật tử tại gia ở phương Tây. Những kinh nghiệm tuyệt vời khi sống tại thiền viện thường không đủ để chuyển hóa toàn diện cuộc sống như chúng ta mong ước, và khi bị trả về với nếp sống thực tế xô bồ, chúng ta thường tự hỏi làm cách nào có thể đem Phật pháp vào sinh hoạt thường ngày của mình. Tôi rất vui mừng thấy quyển sách của Bs Thynn Thynn đã đáp ứng được yêu cầu nầy.

Tôi xin tán thưởng Bs Thynn Thynn ở tính cách trong sánglòng can đảm của bà trong lối giảng dạy thẳng tắt.

 

Jack Kornfield

Spirit Rock Center

Woodacre, California

Tháng 7, năm 1992

 

____________________

 

 

Vài Lời Giới Thiệu

 

Cách đây nhiều năm, khi đến với nhóm học Phật của Bs Thynn Thynn ở Bangkok, tôi còn là người sơ cơ mới đến với Phật giáo. Bs Thynn Thynn đã mở cửa đón chào tôi với tia nhìn ấm áp và giọng cười truyền cảm. Chúng tôi cùng với vài người bạn của bà bắt đầu hỏi về Phật pháp. Bà đã mĩm cười trả lời, rất phóng khoáng, và thường dùng những mẫu chuyện riêng lý thú.

 

Năm tháng trôi qua, nhóm học Phật lớn dần. Bạn bè mời các bạn hiếu kỳ đến nghe. Bs Thynn Thynn đáp ứng bằng cách tổ chức các buổi giảng dạy có hệ thống. Chúng tôi thường ngồi bên cạnh, nghe bà giảng thuyết, vẽ đồ hình và định nghĩa các từ Pàli. Sau buổi cơm trưa vui nhộn, chúng tôi tụ họp lại để luận đàm sôi nổi. Vài người bạn muốn làm sáng tỏ một điểm nào đó. Các buổi bàn luận thường xoay quanh câu hỏi: Làm thế nào để áp dụng điều nầy vào cuộc sống của tôi? Làm thế nào tôi có thể tỉnh giác được giữa đám con nhỏ quấy phá? Làm thế nào tôi có thể áp dụng tâm bình thản với đám con cái nổi loạn trong lứa tuổi thanh niên? Làm thế nào tôi có thể chia xẻ điều nầy với người phối ngẫu luôn luôn khép kín? Làm sao tôi có thể lân mẫn hơn đối với một người bạn đang cần giúp đỡ?

 

Bs Thynn Thynn dùng giọng nói nhẹ nhàng của bà để diễn tả kinh nghiệm nội tâm. Thay vì đưa ra một giải pháp cho câu hỏi, bà đề nghị chúng tôi nhìn vào vấn đề theo đường hướng Phật giáo. Người hỏi được yêu cầu trở về nhà, 'dừng lại để nhìn' và 'buông xả tất cả'. Đây là cách thực hành của chúng tôi: hãy về nhà và thử cách đó xem.

 

Nhiều năm nữa trôi qua, chúng tôi trở thành một nhóm yểm trợ Phật pháp, nhưng là một nhóm khác biệt. Phật pháp đã thăng hoa đời sốnggắn bó chúng tôi thành một nhóm. Không phải lúc nào cũng dễ dàng đâu. Chúng tôi rất khác biệt với nhau, ít ra là lúc ban đầu. Chúng tôi là người đến từ nhiều xứ: Miến-điện, Thái-lan, Tích-lan, Mễ-tây-cơ, Thụy-sĩ, Nga và Mỹ. Chúng tôi là một hỗn hợp gồm nhiều thành phần tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin-lành, Do-thái giáo, Hồi giáo, và cả vô thần nữa. Và tánh tình của chúng tôi cũng rất khác biệt: có người sùng mộ, có người trí thức, có người nghệ sĩ, có người sống thực tế, có người sống nội tâm, vv...Trên ý nghĩa nào đó, coi như chúng tôi nói nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, bởi vì lý luận của người trí thức không thể lay chuyển được người mộ đạo, kinh nghiệm mạnh mẽ về nội tâm có khi làm sững sờ người sống dè dặt... Đôi khi có va chạm nảy lửa tại các buổi họp mặt. Bs Thynn Thynn an bài các tình huống tế nhị nầy với tính hài hước có sẳn và tuệ giác thấu suốt của bà. Sự giao hảo giữa các thành phần khác nhau trong nhóm đã trở thành một phần trong cách tu tập của chúng tôi.

 

Bs Thynn Thynn tiến thêm một bước bằng cách giảng dạy cách tu tập riêng biệt cho từng người trong nhóm. Đối với người trí thức hay cải lẫy, bà đáp ứng từng vấn nạn một. Bà khuyên người nghệ sĩ nên trân quí cái đẹp của giây phút hiện tại. Nuôi dưỡng bẩm tính của mỗi người, bà khuyến khích chúng tôi cởi mở và thăng hoa. Rất nhạy cảm với nhu cầu của mỗi cá nhân, bà tìm cách hài hòa các tâm trạng cứng ngắc trong chúng tôi. Bà thúc đẩy kẻ lười biếng, làm sửng sốt kẻ kiêu mạn, và xoa dịu kẻ nóng nảy. Nhờ đó, bà cho chúng tôi thấy có nhiều con đường khác nhau để đi đến giác ngộ.

 

Dần dần, chúng tôi êm ả thâm nhập vào Phật giáo. Chúng tôi tự thấy mình mĩm cười và cười nhiều hơn, yêu thương nhiều hơn. Nếp sống chậm lại và chúng tôi có những lúc thoáng nhìn sự vật đúng như thực tế.

 

Gần đây, Bs Thynn Thynn đã dời sang Hoa-kỳ; bà đã có những bạn mới tụ họp chung quanh, nóng lòng muốn học Phật pháp và cách áp dụng nó vào đời sống thường ngày. Nhóm yểm trợ Phật phápBangkok vẫn tiếp tục. Những người bạn trong nhóm cũ vẫn còn là bạn với nhau, vẫn tiếp tục tu tập mặc dù tháng năm và xa cách. Tuy rất khác nhau, chúng tôi vẫn duy trì được quyết tâm chung là sống theo Chánh pháp, và lòng kính ngưỡng người đàn bà đã chứng minh cho chúng tôi là điều đó có thể làm được.

 

Pam Taylor

 

____________________

 

 

Lời Mở Đầu Cho Ấn Bản 2

 

Mười năm trước đây, khi nhóm học Phật của chúng tôi bắt đầu gặp nhau ở Bangkok, Thái Lan, tôi có cảm hứng muốn viết về nhiều câu hỏi được đặt ra. Những đề mục trong quyển sách nầy là rút từ những buổi luận đàm về các vấn đề đó. Trong khi viết sách, tôi đã đưa các đề mục viết xong cho các bạn học Phật để giúp họ có thể tiêu hóa được các quan điểm Phật giáo và khích lệ họ trên đường tìm chân lý.

 

Tôi viết các đề mục nầy nhằm khuyến khích các hành giả học tập cách thiền định trong sinh hoạt thường ngày. Do đó, các đề mục được trình bày như là một quyển sách thực tập luyện tâm tại chỗ. Mặc dù tôi bàn về thiền định một cách tổng quát, trọng tâm của tôi là làm thế nào để Chánh pháp có thể đem chúng ta đến lối sống tức thời hoàn mỹ và đầy sáng tạo.

 

Quyển sách nầy chánh yếu là dành cho những thiền giả sơ cơ. Tôi ít dùng lý thuyết và từ Pàli. Tôi muốn nhấn mạnh tiến trình quán chiếu vào bản thể của tâm thức. Các đề mục của tôi nhằm mục đích giúp hành-giả tạo được cho mình một nền tảng vững chắc về tỉnh giác như là một lối sống thực tế, chớ không phải là một lối tu tập xa rời nếp sống thường ngày. Đối với những hành giả đang chánh thức thực tập thiền định thì đường lối nầy có thể giúp họ đem sự thực tập tỉnh giác vào các kinh nghiệm thường ngày. Tiến trình thực tập tỉnh giác cũng như nhau, chỉ trừ một điểm quan trọng: thay vì ngồi yên nhắm mắt và quán tâm thì lối thực tập nầy được áp dụng trong khi chúng ta đang sinh hoạt thường ngày.

 

Sau khi ấn bản 1 được phát hành vào năm 1992, tôi nhận được nhiều lời phê bình cho rằng lối giảng dạy của tôi giống như Krishnamurti và Thiền tông. Khi có người nói với bạn đạo của tôi, Sư Cô Phật giáo Nguyên thủy tên là Shinna Dhammadina, về điểm nầy thì Sư Cô trả lời: 'Đó là bởi vì sư phụ của Thynn Thynn dạy giáo pháp rất giống như Krishnamurti và Thiền tông'

 

Hai sư phụ của tôi là người Miến-điện, viện chủ Sayadaw U Eindasara ở Rangoonviện chủ Sayadaw U Awthada ở Henzada. Hai ngài là sư Phật giáo Nguyên thủy, nhưng giảng dạy Phật pháp theo lối không chính thống và rất năng động. Hai ngài tách rời khỏi lề lối cổ truyềnnhấn mạnh phương pháp ngồi thiền, thay vào đó hai ngài đặt trọng tâm vào cách 'nhìn thẳng vào bên trong và thực tập tỉnh giác trong mọi sinh hoạt thường ngày'.

 

Đối với tôi phương pháp nầy rất hấp dẫn vì nó giản dị, thẳng tắt và rất thực tế cho đời sống thường ngày. Trước khi gặp hai sư phụ vào năm 1973, tôi đã có dịp thực tập thiền định theo lối cổ truyền trong thời gian không lâu với cố Hoà thượng Sayadaw U Zawana ở thiền viện Mahasi. Sau vài buổi thực tập với ngài, tôi bắt đầu thấy mình tự nhiênnhận thức về cảm thọ của mình trong sinh hoạt thường ngày, và được an lạc hơn nhiều mà không cần phải chính thức ngồi thiền. Tôi khám phá ra là ngay khi tôi tập trung nhìn vào cảm xúc của mình thì chúng biến mất đi rất nhanh. Thế rồi nhờ vài bạn đạo tốt bụng giới thiệu, tôi đã gặp được hai vị sư phụ cuả tôi. Các ngài dạy phương pháp tìm bình an trong tâm bằng cách 'dừng lại và nhìn vào tâm, ở từng giây phút trong sinh hoạt thường ngày, như là một lối thực tập thiền định'. Tôi bị phương pháp nầy thâu hút tức khắc, bởi vì tôi đã trải qua kinh nghiệm đúng y như lời dạy của hai ngài.

 

Khi gặp hai sư phụ Sayadaw, tôi rất cảm kích về trí tuệ thâm sâuphương pháp mới mẻ của hai ngài. Lối giảng dạy Phật giáo Nguyên thủy rất cải tiến của hai ngài rất hiếm thấy trong Phật giáo cổ truyền Miến-điện. Nó có vẻ tương tợ như Krishnamurti khi nhằm phá vỡ mọi điều-kiện-hóa cứng ngắc để đạt tới tự do tối hậu cho tâm thức, nhưng điểm kỳ đặc của hai ngài là dạy cách tái hội-nhập tương-đối-tính với một quan điểm quán chiếu mới mẻ. Hai vị cũng đặc biệt tài tình trong lối dạy tu tập tại chỗ, giống như cách trực tiếp lấy-tâm-truyền-tâm trong Thiền tông. Đây có lẽ là lý do vì sao một số người cho quyển sách của tôi là một tổng hợp của Phật giáo Nguyên thủy, Krishnamurti và Thiền tông.

 

Hai vị sư phụ của tôi không phải là nguời có học thức Tây phương. Hai ngài chỉ biết về giáo lý Krishnamurti và Thiền tông qua sự giới thiệu của chúng tôi là học trò của hai ngài. Thật là kỳ thú khi ta thấy có sự gặp nhau giữa hai đường lối tìm chân lý có nhiều vẻ khác biệt như vậy, đúng là điều rất khó xảy ra.

 

Nhiều người thường hỏi tôi về hai vị sư phụ của tôi là người như thế nào? Thật ra hai ngài rất khác tánh nhau. Ngài Sayadaw U Eindasa là một nhà huyền học thâm sâu kiêm nhà thơ, ngài là người im lặng hơn. Chúng tôi thường thích thú gọi ngài là 'vị Phật tươi cười' Ngài ít khi xuất hiện hay giảng pháp cho công chúng, nhưng dành năng lực đặc biệt của ngài để dạy dỗ học trò. Còn ngài Sayadaw U Awthada thì sáng chói và nhạy bén, chúng tôi gọi ngài là 'vị Thiền sư Miến-điện' bởi vì ngài có khả năng giống như các Thiền sư là thắt gút tâm học viên và đẩy họ ra khỏi phạm trù trí thức.

 

Hai sư phụ nầy giống Krishnamurti ở điểm hai ngài sống cuộc đời bình dị, không cầu tìm tín đồ, không cầu thành lập tự viện hay giáo đoàn riêng, và xa lìa danh lợi. Hai ngài vẫn sống và giảng dạy trong khuôn khổ của giáo hội, nhưng vẫn giữ được đạo phong và sự cởi mở hiếm thấy trong Phật giáo Á đông.

 

Tôi có diễm phúc được thân cận học hỏi với hai vị thầy đặc biệt nầy, và tôi nhớ lại thời gian qua tôi đã học tập nơi hai ngài, với sự thích thúlòng biết ơn. Hai ngài nghĩ là tôi hơi tinh nghịch khi tôi tiếp tục đem nhiều người thuộc mọi thành phần trong xã hội đến với hai ngài để học bài học đầu tiên. Nhờ sự thân cận nầy, ngày nay tôi được may mắn chia xẻ kinh nghiệm bản thân với các thành viên trong các nhóm học Phật, và với nhiều người khác qua quyển sách nầy. Đối với hai vị sư phụ, tôi xin cúi đầu thành kính; tôi cũng xin cung kính cúi đầu trước bậc đại đạo sư của tôi là ngài Shwe Baw Gyun Sayadaw bởi vì ngài đã yểm trợ quyển sách nầy và công tác hoằng đạo của tôi ở Tây phương.

 

Thynn Thynn

Sebastopol, California, 1998

 

____________________

 

 

Cảm Tạ

 

Tôi rất cám ơn người bạn đạo thân nhất của tôi, Chị Pam Taylor, là người đầu tiên đề nghị xuất bản các bài viết của tôi, và cũng là người tình nguyện sắp xếp lại các bài viết không thứ tự và cô đọng thành một bản thảo. Nếu không có dũng chí và tài sắp xếp của Chị thì có lẽ bản thảo của tôi còn nằm yên trên kệ trong khu sàn nhà. Tôi cũng xin cảm ơn Chị Marcia Hamilton đã sửa chữa bản thảo đầu tiên, kế đó là Ashin U Tay Zaw Batha, hoàn chỉnh bài viết. Rồi kế đó là ông chồng tài danh của tôi, Bs San Lin đã thành công trong việc thúc đẩy tôi hoàn tất bản thảo và đã hết sức giúp đỡ tôi chuẩn bị bản thảo cuối cùng.

 

Không những là chồng tôi, mà còn các con tuyệt vời của tôi nữa, Win và Tet đã giúp tôi trong kinh nghiệm quán chiếu về bản thân, về nhân tínhđời sống gia đình. Nhiều bạn hỏi thiền đạo của tôi là gì, tôi luôn luôn trả lời: 'Gia đình là thiền đạo của tôi' Chính là phần lớn xuyên qua gia đình mà tôi học tập được những gì tôi đang giảng dạy. Chính là gia đình đã thúc đẩy tôi rèn luyện trí tuệ, thực tập và tái thực tập công phu giác quán của mình. Thật ra, gia đình chính là thử thách to lớn nhất và là bãi tập luyện của tôi.

 

Tôi xin cám ơn những người bạn cũ trong nhóm học Phật ở Bangkok, với những kỷ niệm vui chung, những câu hỏi thật thà và thách thức của họ đã dẫn tới sự hoàn thành quyển sách nầy.

 

Tôi rất cám ơn bà Dagmar Anabelle Zinser của Đức quốc đã rộng lượng ủng hộ tài chánh cho lần tái bản nầy. Tôi cũng cám ơn cô thư ký của tôi là Joan Gloff, đã thực hiện những sửa đổi cho bản in.

 

Xin cám ơn các bạn John Hein và Charlotte Richardson đã cẩn thận đọc lại và sửa chữa, Nee Nee Myint đánh máy lại, và bạn David Babski đã định mẫu bản thảo.

 

Thynn Thynn

 

____________________

 

 

Đạo Lý Sukkhavipassaka

 

Trong đạo lý Sukkhavipassaka (Hành Giả Thuần Quán), các phương pháp tu Chỉ như Quán Hơi Thở thì không cần thiết lắm. Song song với việc giữ ba giới (sila) [1], trí tuệ (panna) có thể phát triển. Khi hai yếu tố trí tuệ phát triển [2] thì ba yếu tố thiền định (samadhi) [3] cũng đồng thời phát triển. Đây gọi là Pancangika Magga. Như vậy là Năm Đạo Phần cùng phát triển chung, cộng với ba giới hợp thành Bát Thánh Đạo.

 

Tu tập đạo lý nầy, tâm thức sẽ không còn bị nhiễm ô. Nhưng hành giả cần có một mức độ cao về trí thông minh, cố gắngkiên nhẫn.

 

Ledi Sayadaw

(Magganga Dipani)

 

[1] Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng; [2] Chánh kiến, chánh tư duy; [3] Chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định

 

____________________

 

 

Tự Do Để Bắt Đầu

 

Thế nào là được tự do?

 

Theo ý nghĩa Phật giáo, 'tự do' có nghĩa là không còn đau khổ, là đạt được sự tự tại của nội tâm trong đó đau khổ đã chấm dứt. Dĩ nhiên đây là một điều kiện tâm thức lý tưởng - nhưng làm sao chúng ta đạt được đây? Muốn đạt được tự do nội tâm, chúng ta phải tìm nó với một 'tâm hồn tự do'. Cũng như câu nói: 'Muốn bắt được trộm, ta phải biết suy nghĩ như kẻ trộm'. Thứ tự dochúng ta đang tìm đây là một tình trạng tuyệt đối - đúng vậy - đó là thứ tự do vô biên, hoàn toàn giải thoátvô giới hạn. Chúng ta bắt đầu cuộc tìm kiếm với một tâm thức hữu biên, bị trí thức cột trói và trong chính nó đã bị giới hạn rồi. Nếu chúng ta còn nhồi nhét thêm vào đó đủ thứ lý tưởng, quan niệm, giáo thuyết và phán đoán - thì tâm thức vốn đã nặng nề của chúng ta không bao giờ có đủ tự do để thể nghiệm trọn vẹn chân lý. Nó chỉ có thể đạt tới những sự thật hay kinh nghiệm trong giới hạn của giáo thuyết, niềm tinquan niệm đó - những thứ nầy đều là sản phẩm của trí thức. Do đó tâm thức không bao giờ có thể phá vỡ được sự điều-kiện-hóa (khô cứng) của trí thứcchúng ta đang cố gắng vượt thoát. Bởi vì chúng ta bám níu vào một hệ thống hay khuôn mẫu nào đó trên đường tìm chân lý, chúng ta chỉ có thể kinh nghiệm được những gì mà hệ thống hay khuôn mẫu đó cho phép. Nhưng chân lý là vô hạn, bất khả đắchoàn toàn tự tại. Chân lý không thuộc về bất cứ một tôn giáo, giáo phái hay hệ thống nào. Mọi tôn giáo, phương pháphệ thống do loài người đặt ra chỉ có mục đích hướng dẫn chúng ta trên con đường tìm chân lý. Nhưng chúng ta thường lầm lẫn con đường với chân lý.

 

Nếu chúng ta muốn đạt được tâm thức tự do thì trước hết phải có một thái độ vô ngã, để tâm thức được tự do dò tìm, tra cứu, xem xét - và nhất là thể nghiệm chân lý. Nhưng đa số chúng ta bắt đầu với một nhu cầu cá nhân nhằm tìm kiếm tự do nội tâm. Với tâm trạng như vậy, thật là khó có được một thái độ vô ngã, nhưng đây chính là mâu thuẫn của con đường tu tập nội tâm. Khi còn ngã chấp thì chúng ta có khuynh hướng phán đoán, khái niệm hóa vấn đề. Phán đoánphân biệt bắt nguồn từ nội tâm bị trí thức chi phốiđiều kiện hóa. Ngay khi chúng ta bắt đầu phán đoánphân biệt thì trí thức đã hoạt động và bịt mắt chúng ta rồi.

 

Ngày nào trí thức còn chi phối thì chúng ta còn bị nó che lấp khả năng thể nghiệm trọn vẹn chiều sâu và bản thể tuyệt diệu của tâm thức. Đó là lý do tại sao mọi giáo phápphương tiện - gọi là tâm pháp hay tâm đạo - đều cố gắng vượt thoát phạm trù trí thức để đi vào lãnh vực trực giác hay tâm linh, bởi vì chỉ có khía cạnh trực giác của tâm mới thể-nghiệm được trọn vẹn chân lý hay tự do. Nhiều hệ thống tôn giáo khác nhau đã phát triển các phương pháp và đường lối tu tập riêng biệt cho lịch sử, văn hóa và tình cảm của dân tộc họ. Chúng ta chỉ cần chọn con đường thích hợp cho mình.

 

Dù bạn chọn con đường nào, điều nguy hiểm nhất vẫn là sự gom chứa các sở đắc dựa vào tình cảm. Đây là đạo sư 'của tôi', đức tin 'của tôi', tiến bộ 'của tôi', kinh nghiệm 'của tôi'. Ở đây chúng ta lại phải đối diện với một mâu thuẫn. Sự hướng dẫn của sư phụ lúc nào cũng là cần thiết để giúp chúng ta tiến bộ vững chắc, nhưng đây có thể là một trở ngại nếu chúng ta thiếu cẩn thận. Người ta thường bám níu vào đạo sư hay thầy của mình. Thật ra đây là một trong những trở ngại khó vượt qua nhất trên con đường tìm tự do cho nội tâm. Xả bỏ mọi tín điều, giáo thuyết, đạo sư, lý tưởng, phán đoán của mình, vv... là công việc cực kỳ khó khăn bởi vì chúng nó quá thân yêu đối với chúng ta. Nhưng nếu để chúng trở thành sở hữu của chúng ta, như là tài sảnquyền thế, thì chúng ta không còn tự do để tiếp tục tiến bước xa hơn nữa.

 

Vậy chúng ta phải làm sao đây? Chỉ có cách chúng ta phải nhìn mọi sự vật với tâm bình đẳng (không khen chê, lấy bỏ), dù đó là đạo sư, giáo thuyết, lý tưởng, và ngay cả công phu tu tậptiến bộ của mình nữa. Chỉ như thế chúng ta mới có thể nhìn sự vật một cách khách quan được.

 

Tự do không phải chỉ là kết quả sau cùng. Nó không phải là cái gì chờ đợi chúng ta sau những cố gắng miệt mài. Tự do nầy là tức khắc, ngay lúc nầy, ngay từ lúc ban đầu. Chúng ta có thể được tự do ngay trong tiến trình tìm kiếm, trong kinh nghiệm, ở từng bước một trên suốt con đường.

 

Muốn được tự do ta chỉ cần hai điều: tâm hồn im lặng và trái tim cởi mở.

 

____________________

 

 

* Dịch giả giữ bản quyền.

 

* I, Dr Thynn Thynn, the author of "Living Meditation: Living Insight", grant permission to

Mr. Huynh of Australia to translate and publish my book into Vietnamese language

for free distribution.

Any part or whole of the translated version may not be reproduced without the expressed permission of the author and translator.



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 121)
28 Tháng Hai 2020(Xem: 1055)
13 Tháng Bảy 20209:41 CH(Xem: 14)
Kính Thầy! Con xuất giatu học bên Bắc Tông. Trước đây con đã nghĩ đơn giản Nam TôngTiểu thừa, Bắc TôngĐại thừa; Nam Tông ăn mặn, Bắc Tông ăn chay; Nam Tông tụng kinh tiếng Pali không hiểu được, Bắc Tông tụng kinh tiếng Việt có vẻ thực tế hơn. Con không tìm hiểu thấu đáo mà còn cho rằng mình thật có phước,
08 Tháng Bảy 20209:02 CH(Xem: 126)
"Tôi nghĩ rằng chúng ta nên nhấn mạnh đến sự đồng nhất, sự giống nhau ... nhấn mạnh đến điều đó", nhà sư đoạt giải Nobel Hòa bình nói. Đôi khi, ông nói, chúng ta đặt nặng quá nhiều vào "sự khác biệt nhỏ" và "điều đó tạo ra vấn đề". ("I think we should emphasize oneness, sameness...emphasize that," says the Nobel Peace Prize winning monk.
07 Tháng Bảy 202010:00 CH(Xem: 191)
Trong thế giới chúng ta sống hôm nay, các quốc gia không còn cô lập và tự cung cấp như xưa kia. Tất cả chúng ta trở nên phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì thế, càng phải nhận thức nhiều hơn về tính nhân loại đồng nhất. Việc quan tâm đến người khác là quan tâm chính mình. Khí hậu thay đổi và đại dịch hiện nay, tất cả chúng ta bị đe doạ,
05 Tháng Bảy 20208:28 CH(Xem: 207)
Tâm biết có hai phương diện: Tánh biết và tướng biết. Tánh biết vốn không sinh diệt, còn tướng biết tuỳ đối tượng mà có sinh diệt. Khi khởi tâm muốn biết tức đã rơi vào tướng biết sinh diệt. Khi tâm rỗng lặng hồn nhiên, tướng biết không dao động thì tánh biết tự soi sáng. Lúc đó tánh biết và tướng biết tương thông,
04 Tháng Bảy 20202:37 CH(Xem: 206)
Từ yoniso nghĩa là sáng suốt, đúng đắn. Manasikāra nghĩa là sự chú ý. Khi nào chú ý đúng đắn hợp với chánh đạo, đó là như lý tác ý; khi nào chú ý không đúng đắn, hợp với tà đạo, đó là phi như lý tác ý. Khi chú ý đến các pháp khiến cho năm triền cái phát sanh là phi như lý tác ý, trái lại khi chú ý đến các pháp mà làm hiện khởi
03 Tháng Bảy 20207:32 CH(Xem: 199)
Trước hết cần xác định “tác ý” được dịch từ manasikāra hay từ cetanā, vì đôi lúc cả hai thuật ngữ Pāli này đều được dịch là tác ý như nhau. Khi nói “như lý tác ý” hoặc “phi như tác ý” thì biết đó là manasikāra, còn khi nói “tác ý thiện” hoặc “tác ý bất thiện” thì đó là cetanā. Nếu nghi ngờ một thuật ngữ Phật học Hán Việt thì nên tra lại
02 Tháng Bảy 20206:13 CH(Xem: 249)
Bạn nói là bạn quá bận rộn để thực tập thiền. Bạn có thời gian để thở không? Thiền chính là hơi thở. Tại sao bạn có thì giờ để thở mà lại không có thì giờ để thiền? Hơi thở là thiết yếu cho đời sống. Nếu bạn thấy rằng tu tập Phật pháp là thiết yếu trong cuộc đời, bạn sẽ thấy hơi thởtu tập Phật pháp là quan trọng như nhau.
01 Tháng Bảy 20205:53 CH(Xem: 255)
Khi con biết chiêm nghiệm những trải nghiệm cuộc sống, con sẽ thấy ra ý nghĩa đích thực của khổ đau và ràng buộc thì con sẽ có thể dễ dàng tự do tự tại trong đó. Thực ra khổ đau và ràng buộc chỉ xuất phát từ thái độ của tâm con hơn là từ điều kiện bên ngoài. Nếu con tìm thấy nguyên nhân sinh khổ đau ràng buộc ở trong thái độ tâm
30 Tháng Sáu 20209:07 CH(Xem: 246)
Cốt lõi của đạo Phật khác với các tôn giáo khác ở chỗ, hầu hết các tôn giáo khác đều đưa ra mục đích rồi rèn luyện hay tu luyện để trở thành, để đạt được lý tưởng nào đó. Còn đạo Phật không tu luyện để đạt được cái gì cả. Mục đích của đạo Phậtgiác ngộ, thấy ra sự thật hiện tiền tức cái đang là. Tất cả sự thật đều bình đẳng,
29 Tháng Sáu 20208:36 CH(Xem: 249)
Theo nguyên lý thì tụng gì không thành vấn đề, miễn khi tụng tập trung được tâm ý thì đều có năng lực. Sự tập trung này phần lớn có được nhờ đức tin vào tha lực. Luyện bùa, trì Chú, thôi miên, niệm Phật, niệm Chúa, thiền định, thần thông v.v… cũng đều cần có sức mạnh tập trung mới thành tựu. Tưởng đó là nhờ tha lực nhưng sức mạnh
28 Tháng Sáu 20209:36 CH(Xem: 252)
Giác ngộvô minh thì thấy vô minh, minh thì thấy minh… mỗi mỗi đều là những cái biểu hiện để giúp tâm thấy ra tất cả vốn đã hoàn hảo ngay trong chính nó. Cho nên chỉ cần sống bình thường và thấy ra nguyên lý của Pháp thôi. Sự vận hành của Pháp vốn rất hoàn hảo trong những cặp đối đãi – tương sinh tương khắc – của nó.
27 Tháng Sáu 20206:31 CH(Xem: 256)
Thầy có ví dụ: Trong vườn, cây quýt nhìn qua thấy cây cam nói nói tại sao trái cam to hơn mình. Và nó ước gì nó thành cây cam rồi nó quên hút nước và chết. Mình thường hay muốn thành cái khác, đó là cái sai. Thứ hai là mình muốn đốt thời gian. Như cây ổi, mình cứ lo tưới nước đi. Mọi chuyện hãy để Pháp làm. Mình thận trọng,
26 Tháng Sáu 20209:57 CH(Xem: 236)
Từ đó tôi mới hiểu ý-nghĩa này. Hóa ra trong kinh có nói những cái nghĩa đen, những cái nghĩa bóng. Có nghĩa là khi một người được sinh ra trên thế-gian này, dù người đó là Phật, là phàm-phu, là thánh-nhân đi nữa, ít nhất đầu tiên chúng ta cũng bị tắm bởi hai dòng nước, lạnh và nóng, tức là Nghịch và Thuận; nếu qua được
25 Tháng Sáu 202010:14 CH(Xem: 285)
trí nhớ là tốt nhưng đôi khi nhớ quá nhiều chữ nghĩa cũng không hay ho gì, nên quên bớt ngôn từ đi, chỉ cần nắm được (thấy ra, thực chứng) cốt lõi lý và sự thôi lại càng tốt. Thấy ra cốt lõi tinh tuý của sự thật mới có sự sáng tạo. Nếu nhớ từng lời từng chữ - tầm chương trích cú - như mọt sách rồi nhìn mọi sự mọi vật qua lăng kính
24 Tháng Sáu 202010:08 CH(Xem: 291)
Kính thưa Thầy, là một người Phật Tử, mỗi khi đi làm phước hay dâng cúng một lễ vật gì đến Chư Tăng thì mình có nên cầu nguyện để mong được như ý mà mình mong muốn không? Hay là để tâm trong sạch cung kính mà dâng cúng không nên cầu nguyện một điều gì? Và khi làm phước mà mong được gieo giống lành đắc Đạo quả
23 Tháng Sáu 20207:24 CH(Xem: 322)
Tất cả chúng ta sẽ phải đối mặt với cái chết, vì vậy, không nên bỏ mặc nó. Việc có cái nhìn thực tế về cái chết của mình sẽ giúp ta sống một đời trọn vẹn, có ý nghĩa. Thay vì hấp hối trong sự sợ hãi thì ta có thể chết một cách hạnh phúc, vì đã tận dụng tối đa cuộc sống của mình. Qua nhiều năm thì cơ thể của chúng ta đã thay đổi.
22 Tháng Sáu 20209:23 CH(Xem: 346)
Đúng là không nên nhầm lẫn giữa luân hồi (saṃsāra) và tái sinh (nibbatti). Tái sinh là sự vận hành tự nhiên của vạn vật (pháp hữu vi), đó là sự chết đi và sinh lại. Phàm cái gì do duyên sinh thì cũng đều do duyên diệt, và rồi sẽ tái sinh theo duyên kế tục, như ví dụ trong câu hỏi là ngọn lửa từ bật lửa chuyển thành ngọn lửa
21 Tháng Sáu 20208:58 CH(Xem: 298)
Trong Tăng chi bộ, có một lời kinh về bản chất chân thật của tâm: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” cùng với ý nghĩa “cội nguồn” của “yoni” trong “yoniso mananikara” là hai y cứ cho tựa sách “Chói sáng cội nguồn tâm”. Tựa đề phụ “Cách nhìn toàn diện hai chiều vô vihữu vi của thực tại”
20 Tháng Sáu 20203:42 CH(Xem: 365)
Trong tu tập nhiều hành giả thường cố gắng sắp đặt cái gì đó trước cho việc hành trì của mình, như phải ngồi thế này, giữ Tâm thế kia, để mong đạt được thế nọ… nhưng thật ra không phải như vậy, mà là cứ sống bình thường trong đời sống hàng ngày, ngay đó biết quan sát mà thấy ra và học cách hành xử sao cho đúng tốt là được.
19 Tháng Sáu 20204:48 CH(Xem: 372)
Lúc còn nhỏ, khi đến thiền viện, tôi phải có cha mẹ đi cùng, và không được đi hay ngồi chung với các sư. Khi các sư giảng Pháp, tôi luôn ngồi bên dưới, chỉ đủ tầm để nghe. Vị thiền sư đáng kính dạy chúng tôi cách đảnh lễ Đức Phậttụng kinh xưng tán ân đức của Ngài. Thiền sư khuyến khích chúng tôi rải tâm từ cho mọi chúng sinh,
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1296)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2866)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4377)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 77)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 71)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 74)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 675)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 673)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 788)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1099)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1299)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1174)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.