04 – Đường mây rộng mở

15 Tháng Bảy 202010:13 SA(Xem: 507)
04 – Đường mây rộng mở


DuongMayQuaXuTuyet_BĐường Mây Qua Xứ Tuyết 
(The Way Of The White Clouds)
Lama Anagarika Govinda - Dịch giả: Nguyên Phong

Nguồn: thuvienhoasen.org

 

____________________


4 – Đường mây rộng mở

 

Tôi tiếp tục sống tại tu viện Yi Gah Cholin một thời gian trước khi trở về Tích Lan. Mỗi ngày tôi đều chăm chỉ thực hành các nghi thức Hòa thượng Tomo truyền dạy cũng như trì tụng bài thần chú ngắn khẩu truyền. Tôi thường theo Kachenia làm những công việc tầm thường trong tu viện nhưng bây giờ nó không còn “tầm thường” nữa. Từng bước đi, từng cử chỉ của tôi đã bắt đầu ăn khớp với tâm thức. Từng hơi thở, từng tư tưởng dần dần được sự kiểm soát của nội tâmĐời sống đối với tôi không còn là một sự cố gắng (struggle) nhưng là một cái gì mầu nhiệm đến lạ lùng…

 

 

 

Một hôm tôi theo đoàn khách thường mạo hiểm lên tận đỉnh núi để nhìn vào đất Tây Tạngước mong sẽ theo chân Hòa thượng Tomo vân du khắp dãy Tuyết Sơn bắt đầu nảy sinh trong đầu óc tôi. Tôi nhủ thầm thế nào cũng có ngày phải du hành vào Tây Tạng để thăm những ngôi chùa cổ, những di tích lịch sử huyền bí, những đạo sưtu sĩ nhập thất mà Hòa thượng Tomo đã đề cập trong những buổi nói chuyện với các đệ tử. Nhưng tôi chưa thể vào Tây Tạng vì không có thông hànhngoài ra tôi còn nhiều việc dở dang tại Tích Lan nên chưa thể làm một cuộc hành trình như vậy trong lúc này.

 

Tây Tạng là một quốc gia hẻo lánh ngăn cách với thế giới bên ngoài bằng một rặng núi cực kỳ hiểm trở. Mặc dù người Anh đã chinh phục Tây Tạng và mở đường giao thông từ Darjeeling đến Lhassa nhưng trong vòng mấy chục năm nay, rất ít người ngoại quốc nào dám bén mảng vào đây. Ngay các viên chức ngoại giao cũng chỉ dám đi theo những lộ trình nhất định, dưới sự hộ vệ của một đại đội võ trang cẩn thận. Không phải người ta sợ giặc cướp hay những cuộc nổi dậy của dân chúng địa phương nhưng Tây Tạng có một cái gì huyền bí lạ lùng, một “cái gì” không thể diễn tả, chính vì không thể diễn tả mà người ta sợ và vì sợ hãi mà Tây Tạng trở nên một vùng đất cấm, không mấy ai dám đặt chân đến.

 

Tôi trở về Tích Lan được ba năm nhưng giấc mộng du lịch Tây Tạng vẫn không phai mờ trong tâm trí. Đơn xin du lịch Tây Tạng của tôi bị chính quyền Anh từ chối, người ta đã viện đủ mọi lý lẽ, để bác bỏ hồ sơ. Sau cùng khi đơn khiếu nại của tôi lên đến vị Phó Vương (Viceroy) Ấn Độ thì bộ ngoại giao viện lẽ Tây Tạng với chính sách “bế quan tỏa cảng” không chấp nhận bất cứ một du khách nào, kể cả những tu sĩ đi thăm viếng các di tích tôn giáo. Tôi viết thư cho chính quyền Tây Tạng nhưng không nhận được hồi âm, tuy nhiên vì một lý do gì tôi biết thế nào cũng có ngày mình sẽ đặt chân lên “miền đất hứa” lạ lùng huyền bí đó.

 

Cơ hội đã đến khi tôi có dịp cùng với phái đoàn Phật giáo cầm đầu bởi học giả Rahula Sankritiyana tham dự buổi họp thảo tại Srinaga. Vì miền này cách biên giới Tây Tạng không xa, tôi quyết định mạo hiểm đột nhập vào đây. Từ lâu tôi đã chuẩn bị cẩn thận cho chuyến đi này, tôi tập ngủ giữa trời chỉ phủ lên mình một tấm chăn dầy bằng nỉ. Tôi mướn hai người hướng đạo nổi tiếng thành thạo và bắt đầu cuộc hành trình vượt đèo Karakorum để vào Tây Tạng. Ngay lúc khởi hành, một trận bão lớn nổi lên như đe doạ. Sấm chớp sáng lòe cả góc trời rồi một trận mưa đá trút xuống khiến ai cũng e ngại. Tôi nhìn ngọn đèn cao trước mặt như một chướng ngại đầu tiên và nhủ thầm nếu không vượt qua được nó thì có lẽ không bao giờ tôi có cơ hội vào Tây Tạng nữa. Tôi hít một hơi dài rồi quyết định giục lừa tiến bước, hai người hướng đạo lầm lũi mở đường. Gió rít lên từng cơn, những hạt mưa đá tạt vào mặt làm tôi đau nhói nhưng tôi nhất định lần này phải vào cho được Tây Tạng.

 

Chúng tôi lầm lũi đi như trong một giấc mộng, không ai thốt lên một lời. Hình như cả ba chúng tôi đều bị thu hút bởi con đường ngoằn nghèo trước mặt, ngay cả những con lừa cũng không vùng vằng hí vang mà cắm cúi bước đi như bị một sức mạnh vô hình lôi cuốn. Những đám mây thấp giăng ngang đường đèo, chúng tôi có cảm tưởng như đang đi trên mây, hết lớp mây này đến lớp mây khác. Mây ở trên đầu chúng tôi, mây ở dưới chân tôi. Thỉnh thoảng một cơn gió thổi qua cuốn đi lớp mây mù để lộ ra những tảng đá lởm chởm bám đầy rong rêu. Những thân cây uốn éo mọc ở hai bên đường như hàng trăm ngàn cánh tay của những con quái vật xông ra chực đón bắt khách bộ hành, nhưng rồi mây mù ở trên cao lại tràn xuống phủ kín tất cả. Chúng tôi tiếp tục leo lên cao mãi trong cái biển mây mù mịt này; con đường độc đạo uốn quanh những sườn núi ngày càng trở nên nhỏ hẹp và nguy hiểm, chỉ một sơ sẩy người ta có thể ngã xuống vực sâu…

 

Chiều hôm đó chúng tôi đến một vùng tương đối quang đãng, khoảng vài ngàn thước cao nên không cây cối nào có thể mọc được, chỉ có những tảng đá khổng lồ hình thù kỳ dị nằm dọc theo lối đi.

 

Người hướng đạo cho biết có một thạch tự (rock monastery) xây khuất trong hẻm núi cách đó không xa. Vì trời gần tối nên tôi quyết định ghé vào đó xin trọ một đêm thay vì ngủ giữa trời như mấy hôm trước. Chúng tôi dắt lừa đi theo con đường nhỏ hẹp ngoằn ngoèo nhưng chỉ được một lúc không hiểu sao bầy lừa không chịu đi nữa. chúng tôi đành cột lừa vào gốc đá rồi theo con đường nhỏ gập ghềnh để tiến vào tu viện.

 

Đó là một tu viện hoàn toàn xây bằng đá nằm sâu trong một hẻm núi, quanh tu viện có hàng trăm tháp nhỏ (Chorten) nhấp nhô theo triền núi, nhiều tháp còn treo những lá cờ rách nát với những dòng chữ lạ lùng. Cửa tu viện mở rộng nhưng bên trong vắng lặng, không một bóng người. Tôi đang loay hoay không biết phải làm gì thì người dẫn đạo đã bước đến bên một tảng đá lớn phẳng phiu dựng bên cánh cửa, y nhặt một hòn đá cạnh đó rồi gõ mạnh lên tảng đá. Một âm thanh thanh trầm trầm vang lên, thì ra đó là một cái chuông bằng đá. Chúng tôi đứng chờ một lúc nhưng không thấy ai bước ra. Vì biết những ngôi nhà hẻo tại Tây Tạng đều nuôi chó, một loại chó thấp nhỏ nhưng rất dữ nên tôi e ngại không dám bước vào. Sau mấy lần gõ chuông mà vẫn không thấy ai, tôi bèn đánh bạo bước vào trong sân. Cảnh vật bên trong im lìm một cách kỳ lạ, tôi rón rén đi dọc theo chiếc sân hẹp để vào chánh điện nhưng vừa đi được vài bước thì có tiếng chó sủa vang. Là một người sợ chó, tôi nhẩy nhôm toan bỏ chạy thì thấy một vị lạt ma già, mặt đầy những vết nhăn ở đâu bước ra.

 

Tôi cung kính chấp tay chảo, định lên tiếng xin trú ngụ qua đêm nhưng nhìn thấy bộ áo tăng bào trên người tôi, vị lạt ma đã nhanh nhẩu lên tiếng trước mời tôi vào chánh điện lễ Phật.

 

Tôi bước theo vị lạt ma qua một dẫy hành lang hẹp, chánh điện là một hang động rất lớn với rất nhiều hình vẽ lạ lùng khắc trên vách đá. Chính giữa chánh điện là một bức tượng Phật Di Lặc rất lớn, hai bên có nhiều pho tượng Bồ Tát bằng đá trông rất linh động. Sau khi làm lễ trước chánh điện, tôi được mời vào một căn phòng nhỏ, vị lạt ma già cho biết đó là căn phòng dành riêng cho một vị khách quý mỗi khi ngài ghé qua đây.

 

Trong lúc tôi đang đàm đạo với vị Lạt Ma già thì người hướng đạo mang hành trang của tôi vào phòng, theo sau là một số tăng sĩ trong chùa tò mò muốn biết mặt vị tu sĩ từ phương xa đến.

 

Tôi mở hành lý lấy ra cái lò đốt để chuẩn bị nấu trà, mọi người xúm quanh nhìn chiếc lò bằng sắt. Có lẽ họ chưa bao giờ thấy một chiếc lò như thế, khi tôi đổ dầu hôi vào bếp và châm lửa thì tất cả chợt im bặt. Những con mắt thao láo đổ dồn lên chiếc lò như tự hỏi làm sao người ta có thể tạo ra lửa từ một chất lỏng như nước kia. Nhiều người lắc đầu như không tin, có lẽ họ nghĩ vị Lạt Ma này hẳn phải là một vị phù thủy, vài người tò mò dơ tay trước ngọn lửa như sợ rằng đó chỉ là một trò ảo thuật nhưng họ đã rút tay lại khi chạm phải hơi nóng.

 

Nếu tôi bay bổng lên không trung hay hô phong hoán vũ cũng không làm họ ngạc nhiên bằng việc đổ một chất lỏng như nước lên chiếc hộp sắt rồi tạo ra lửa. Nhiều người có vẻ sợ sệt không biết tôi sẽ sử dụng ngọn lửa vào việc gì, một vài người lùi lại lẩm bẩm niệm Phật nhiều rồi họ đều cười ầm lên khi thấy tôi đặt chiếc ấm sắt lên lò rồi bỏ vào đó một nhúm trà. Họ tò mò xem xét cách tôi pha trà nhưng vì đã sống tại Yi Ga Cho-lin nên tôi làm đúng như cách pha trà của người Tây Tạng. Sau cùng thấy không có gì lạ, họ kéo nhau đi để tôi ngồi lại trong chiếc phòng bằng đá đục sâu vào vách núi.

 

Trời chưa tối hẳn và tôi cũng không cảm thấy buồn ngủ. Tôi xếp bằng trên tấm nệm và bắt đầu chuẩn bị nghi thức đọc thần chúTự nhiên tôi cảm thấy căn phòng này phảng phất một cái gì quen thuộc, một không khí bình an, êm tĩnh lạ thường. Bao mệt nhọc của chuyến hành trình dường như tan biến ngay khi tôi vừa đặt chân vào đây. Tôi bắt đầu tụng bài chú thì một sự kỳ lạ diễn ra, bức tường đá trước mặt dường như chuyển động, hình như nó đang sống dậy rồi một linh ảnh hiện ra trước mặt tôi. Trong ánh hào quang sáng rỡ, Đức Di Lặc đang oai nghiêm ngồi trên một tòa sen, hai tay xếp vào nhau theo Đại Tam Muội ấn. Tôi nhắm mắt lại một lúc để trấn tĩnh tâm hồn rồi mở mắt ra thì hình ảnh Đức Di Lặc vẫn hiện ra rõ ràng trước mắtoai nghi và sống động hơn bao giờ hết. Tự nhiên tôi thấy trong lòng dâng lên một cảm xúc khó tả, một sự tĩnh lặng bình an mà tôi chỉ cảm thấy mỗi khi ở gần Hòa thượng Tomo. Tôi cảm thấy sự hiện diện của sư phụ tôi rất gần, ngay ở bên tôi, hình như ngài đang hướng dẫn tôi bước vào luồng hào quang rực rỡ của Đức Di Lạc, tai tôi nghe vang vang những điệu âm của bài chú mà tôi vẫn tụng không biết bao lần.

 

Tôi quay lại nhìn căn phòng, đồ đạc vẫn y nguyên không thay đổi và rõ ràng tôi không hề mê ngủ vì tôi có thể kiểm soát được tay chân một cách dễ dàng, tôi quay lại nhìn bức tường đá và thấy một ánh sáng rực rỡ tỏa lan khắp nơi, trong luồng ánh sáng đó có hằng hà sa số chư Phật, chư Bồ Tát đang thuyết pháp… diệu âm vang lừng không gian. Tôi thấy rõ ràng mình đang đứng trước hải hội chư Phật đó, đang cúi đầu đảnh lễ và dâng lên những bông hoa Mạn Đà La rực rỡ cúng dường chư Phật. Tôi nghe rõ từng lời kinh, từng câu thần chú quen thuộc và thấy những tòa sen liên kết thành hình những đàn tràng Mạn Đà La, những biểu tự ngoằn ngoèo chói sáng tác động mạnh mẽ vào tâm thức tôi làm tôi thấy mình như rơi vào một biển ánh sáng quang minh rực rỡ. Tôi phải nhằm mắt lại một lúc mới giữ được cho tâm không xúc động.

 

Khi tôi mở mắt ra thì cái linh ảnh đã biến mất, trên tường chỉ còn lại một tia nắng ấm áp từ cửa sổ rọi vào. Tôi thấy người nhẹ nhàng sảng khoái một cách lạ lùng, bên ngoài cửa sổ cảnh vật hiện ra rõ ràng dưới ánh nắng của buổi chiều tà. Có tiếng chuông thu không ở đâu vọng lại, ngân dài trong không gian…

 

Sáng hôm sau tôi thức dậythu xếp hành trang để chuẩn bị lên đường. Tôi muốn gặp vị Lạt Ma già đã tiếp tôi hôm trước để ngỏ lời cám ơn nhưng cả tu viện đều vắng tanh, không một bóng người.

 

Tôi bước dọc theo dãy hành lang dài nơi có vẽ những hình ảnh các vị Bồ Tát, các vị Phật cũng như các biểu tự ngoằn ngoèo…

 

Người dẫn đạo nhìn thấy tôi đang trầm ngâm bèn lên tiếng:

 

– Hình như chỗ này làm ông không được vui hay sao?

 

– Không đâu, tôi rất thích cái không khí nơi đây, ít chỗ nào lại êm đềm thanh tịnh như ngôi thạch tự này.

 

– Đã hẳn, ông ngủ trong căn phòng đá đó thì dĩ nhiên phải yên tĩnh rồi.

 

– Tại sao vậy?

 

Người dẫn đạo kể lể:

 

– Hôm qua các vị tăng trong chùa này bàn cãi với nhau rất lâu về việc để ông ngủ trong căn phòng đó. Đó không phải một căn phòng thông thường nhưng được dành riêng cho một vị khách quý của chùa mà thôi. Vị này đã có công xây dựng lên ngôi thạch tự này, thỉnh thoảng ngài có ghé qua đây thuyết pháp và chỉ dẫn cho các tăng sĩ trong chùa…

 

Tự nhiên tôi giật nẩy mình, một ý tưởng bất ngờ nổi lên khiến tôi vội vã hỏi dồn:

 

– Nhưng… nhưng vị đó là ai?

 

– Tôi không biết rõ tên ngài nhưng mọi người thường gọi ngài là vị hòa thượng làng Tomo, ngài thường đi khắp Tây Tạng thuyết pháp và dựng chùa thờ Phật Di Lặc, vị Phật tương lai sẽ chuyển kiếp xuống trần trong một thời gian nữa…

 

Tôi buột miệng la lớn:

 

– Đó là sư phụ tôi…

 

Thốt nhiên tôi bỗng ý thức rõ rệt bầu không khí an tĩnh của tu viện này cũng như cái linh ảnh mà tôi chiêm ngưỡng hôm qua. Cái linh ảnh đó là một kinh nghiệm tâm linh cho thấy rằng tôi vừa được điểm đạo lần thứ hai (second initiation).

 

 

 

Trong buổi lễ điểm đạo lần đầu cách đây bốn năm tại Yi Ga Cho-lin, Hòa thượng Tomo đã dặn tôi: “Một ngày nào đó, con sẽ thấy được những hóa thân (transcedantal bodies) của chư Phật và chư Bồ Tát, vốn là những điểm linh quang hiện hữu trong tâm con. Dĩ nhiên hiện nay đó chỉ là một quan niệm trừu tượng vì nghiệp chướng con còn dày, con chưa thể ý thức rõ rệt được. Nhờ trì tụng bài thần chú khẩu truyền (oral mantra) con sẽ tiêu trừ được những nghiệp chướng này và đến khi đó con sẽ quán chếu mọi sự một cách rõ ràng hơn. Nhờ suy ngẫm về tánh không của sự vật cũng như phát triển tâm bồ đề rộng lớn mà con sẽ nhập được pháp giới, thấy được những hải hội chư Phật, chư Bồ Tát rồi hóa thân để cúng dường. Khi nào con thấy chư Phật hiện ra rõ ràng như thật trước mặt con thì con sẽ ý thức rằng cái thế giới bên trong cũng như bên ngoài có thể chuyển biến được (interchangeable). Lúc đó tùy con lựa chọn muốn sống trong thế giới nào, hướng ra bên ngoài hay quay vào bên trong, muốn trở thành nô lệ của xác thân, chìm đắm trong sinh tử luân hồi hay biết tận dụng khả năng giác ngộ vẫn có sẵn trong người để chuyển mê khải ngộ, vượt ra khỏi xiềng xích kiềm tỏa của vòng luân hồi.

 

Hơn bao giờ hết, tôi cảm thấy rõ rệt sự hiện diện của Hòa thượng Tomo trong tâm thức mình, lúc đó tôi mới thực sự tin tưởng một cách chắc chắn về cái cầu tâm thức giữa tôi và ngài. Chính ngài đã giúp sức cho tôi vượt qua những rặng núi cao cực kỳ hiểm trở để đến ngôi chùa mà ngài đã xây dựng nhiều năm trước đó. Chính ngài đã hướng dẫn vị Lạt Ma trụ trì đưa tôi trú ngụ trong căn phòng đặc biệt dành riêng cho ngài. Tôi cúi đầu chú tâm vào bài thần chú mà ngài đã truyền riêng cho tôi, đầu óc tôi trở nên thông suốt một cách lạ thường, dường như có một tiếng nói vô thanh nổi lên giải đáp mọi thắc mắc vẫn có từ trước đến nayTự nhiên tôi ngửng đầu nhìn lên những bức tranh vẽ trên vách đá và chợt hiểu…

 

Điều mà trong lúc trú ngụ tại tu viện Yi Ga Cholin tôi vẫn thắc mắc nay đã được giải đáp. Những bức tranh vẽ trên tường, những chủng tự ngoằn ngoèo thần bí không phải chỉ là những hình thức trang trí nghệ thuật mà còn tượng trưng cho một ý nghĩa cao siêu mầu nhiệm xuất phát từ những kinh nghiệm nội tâm của người họa sĩ. Họ đã vẽ lại một cách chính xác những sự rung động của làn sóng quang minh của tâm thức. Nói một cách giản dị hơn, các chủng tự đó là một ngôn ngữ thần bí mà chỉ có những bậc đạo đồ đã được điểm đạo, đã có những kinh nghiệm tâm linh, đã mở được đạo nhãn thì mới có thể hiểu được.

 

Tôi cũng ý thức rằng sư phụ tôi. Hòa thượng Tomo đã vén màn bí mật này cho tôi với một mục đích rõ rệt. Ngài có ý muốn tôi mang những bức tranh này, những biểu tự này truyền ra ngoài nhưng vào mục đích gì thì lúc đó tôi chưa thể hiểu được. Dĩ nhiên đối với một người thường thì đó chỉ là những bức tranh, những dòng chữ ngoằn ngoèo nhưng với những người đã gia công tu trì Mật Tông bằng cách quán chiếu những chủng tự thì nó mang một ý nghĩa khác hẳn, mầu nhiệm và huyền bí vô cùng.

 

Vì lý do này, tôi đã sưu tầm những bức họa cổ Tây Tạng và đặc biệt tô lại (pencil tracing) những bức họa khắc trên vách đá tại những hang động của các bậc tu chứng, những công trình sưu tập của tôi là hình vẽ tám mươi bốn vị La Hán Tây Tạng hiện được trưng bày tại bảo tàng viện Allahabad.

 

Như có một bàn tay vô hình hướng dẫn, chuyến du hành đã đưa tôi đến nhiều tu viện cổ, nơi lưu trữ những kinh điểntài liệu soạn thảo từ thế kỷ 11. Khí hậu Tây Tạng tuy lạnh nhưng khô ráo nên những bức họa cổ, những bức khắc bằng gỗ trải qua hàng ngàn năm mà vẫn còn nguyên vẹn. Tôi chắc chắn rằng ngày nay, người ta còn có thể tìm được nhiều tài liệu quý báu trong những tu viện bị bỏ hoang hay những hang động nằm trong những địa điểm bí mật, ít ai đặt chân đến. Cũng trong chuyến du hành này, tôi đã mang về được nhiều bộ kinh điển quý giá phiên dịch bởi Đại sư Rinchen Zangpo, nhà dịch giả nổi tiếng đã truyền bá Phật giáo vào Tây Tạng trong thế kỷ 11. Chính Đại sư là người đã phiên dịch hai bộ kinh quan trọng nhất của Mật Tông, bộ Kangjur và Tangjur mà gần như người Tây Tạng nào cũng trì tụng. Hiện nay những bộ sách này đang được lưu trữ tại thư viện thành phố Dharamsala.

 

Khu chúng tôi vượt qua đỉnh Karakorum thì khí hậu bỗng trở nên ấm áp một cách bất ngờ. Tôi vội cởi bỏ ngay chiếc áo choàng dài cho thoải mái nhưng chỉ một lúc sau tôi biết mình đã lầm. Khí hậu Tây Tạng thay đổi vô cùng đột ngột, ngoài nắng nhiệt độ có thể lên gần đến một trăm độ nhưng trong bóng mát nó lại xuống gần không độ là chuyện thường. Ngồi trên ngựa, mặt và tay tôi sưng phồng lên vì nắng nhưng chân tôi ủ trong đôi giầy lại tê cóng vì lạnh. Mặc dù đã bôi đủ loại thuốc nhưng da tôi vẫn bị rộp lên, đau đớn vô cùng. May thay chỉ một thời gian sau, cơ thể tôi quen dần với khí hậu nơi đây nên không còn khó chịu nữa.

 

Bình nguyên Aksai là một trong những nơi hoang vu nhất Tây Tạng, rất ít ai đặt chân đến kể cả những người dân bản xứ. Trong cảnh thiên nhiên hùng vĩ bao la này tôi mới thực sự ý thức danh từ “tự do”, một danh từ thường bị lạm dụng trong đời sống “văn minh” ngày nay.

 

Làm sao có thể gọi là tự do khi từng chi tiết nhỏ nhặt của đời sống đều được hoạch định cẩn thận? Làm sao có thể gọi là tự do khi mỗi giây phút đều được kiểm soát bởi những thời khóa biểu hay cái đồng hồ? Tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm, muốn đi đâu thì đi nhưng là khả năng chấp nhận tất cả mọi sự, kể cả những sự đến một cách bất ngờ. Tự do là đón nhận sự sống với vòng tay mở rộng, là khả năng thay đổi theo hoàn cảnh chung quanh nhưng vẫn không mất đi lòng tin vững chắc nơi mình. Tự do là kinh nghiệ tất cả với một tinh thần khách quan vô tư, là quan sát một cách hồn nhiên không thành kiếnCon người đã phát minh ra đồng hồ để đo lường thời gian nhưng họ cũng vô tình chia cắt sự sống đang cuồn cuộn chảy khắp nơi thành những mảnh vụn nhỏ rời rạc. Họ càng cố gắng tiết kiệm thời giờ chừng nào thì lại càng mất đi sự sống mầu nhiệm chừng đó. Tự do thật sự là sống từng giờ, từng phút khi qúa khứ trở thành hiện tại và hiện tại chính là tương lai hay một thứ hiện tại vĩnh cửu.

 

Từ khi bước chân vào Tây Tạng, tôi ý thức được một sự chuyển hóa kỳ lạ diễn ra trong người. Công phu tu hành của tôi bỗng tiến bộ vượt bậc, tôi có thể nhập định, quán tưởng những điều đã được chỉ dạy một cách dễ dàng. Tôi tự hỏi phải chăng Tây Tạng có cái gì đặc biệt hơn những nơi khác chăng? Sau này suy nghĩ mãi tôi mới tìm được một cách giải thích mà tôi cho là có lý hơn cả: Hòa thượng Tomo đã truyền dạy cho tôi phương pháp thiền định trong đó hơi thở (Pranayama) phải đi đôi với cử chỉ, hành động (Asana) và đặt dưới sự kiểm soát của ý chí.

 

Trên độ cao của bình nguyên Aksai, không khí rất lỏng nên người ta phải hít vào thật sâu mới có đủ dưỡng khí. Sự thở hít thật sâu một cách vô tình này không khác cách kiểm soát hơi thở Pranayama là bao nhiêu. Trên đường thiên lý, người ta không thể ngồi mãi trên lưng ngựa mà có khi phải đi bộ cho lừa ngựa được nghỉ ngơi. Nhưng người ta không thể đi nhanh chậm tùy ý mà phải cố gắng tiết kiệm sức lực bằng cách đi thật đều và giảm bớt các cử chỉ vung tay, vung chân thừa thãi. Sự kiểm soát cử chỉ này cũng không khác các tư thế Asana là mấy. Ngoài ra lúc nào tôi cũng cố gắng định tâm để niệm các bài thần chú khẩu truyền (Mantra) ngày cũng như đêm. Nói tóm lại, tôi đã vô tình thực hiện phương pháp thiền định mà Hòa thượng Tomo truyền dạy trong suốt cuộc hành trình, có lẽ vì thế công phu tu hành của tôi tự nhiên tiến bộ một cách bất ngờ như vậy.

 

Trong sự tĩnh lặng bao la của thiên nhiên, khả năng tập trung tư tưởng để quan sát nội tâm trở nên dễ dàng hơn vì không còn bị chi phối bởi ngoại cảnh. Bầu trời rộng rãi trở nên một cái gương lớn phản chiếu tất cả những tư tưởng thầm kín bên trong và khuếch đại nó lên hàng trăm lần. Chính trong sự yên lặng này mà đầu óc con người trở thành vô cùng mẫn cảm, điều này giải thích hiện tượng “thần giao cách cảm” thường có ở các giống dân du mục miền này.

 

Nhà thám hiểm Sven Hedin đã viết trong cuốn du ký rằng ông đã theo chân một đoàn khách thương vượt bình nguyên Chang Tang để vào Tân Cương. Đoàn lữ hành mướn một người hướng đạo nhưng anh này thường cưỡi ngựa đi trước khoảng một dặm đường vì anh không thể tập trung tư tưởng dẫn đường khi đầu óc bị chi phối bởi những tiếng động ồn ào, náo nhiệt của đám khách thương. Đoàn người đi được ít lâu thì người hướng đạo bị bệnh rồi chết. Dĩ nhiên đoàn khách thương đành quay ngược về lối cũ chứ không thể đi thêm. Vừa đi được ít lâu họ gặp một thanh niên khác hối hả đi đến, anh này xưng là em ruột của người hướng đạo vừa chết. Anh cho biết trước khi chết, người hướng đạo đã tập trung tư tưởng chuyển một thông điệp cho em để nhờ người này hướng dẫn đoàn khách thương vượt qua giải bình nguyên như chương trình dự định.

 

Khi đọc cuốn sách của Sven Hedin, tôi không lấy gì làm tin tưởng cho lắm nhưng một trường hợp xảy ra đã làm tôi phải suy nghĩ nhiều: Trong lúc du lịch tại Tây Tạng, tôi vẫn lo lắng cho mẹ tôi ở nhà. Tôi lo rằng bà cụ có thể đau ốm hoặc chết trước khi tôi có thể về thăm bà lần cuối. Lần đó LiGotami, người bạn đồng hành của tôi đã bầy tỏ chuyện nầy cho những người hướng đạo. Hôm sau, một người hướng đạo cho biết mẹ tôi vẫn mạnh khoẻ như thường nhưng bà cụ ít khi đi đâu vì chân bị phong thấp. Dĩ nhiên tôi không tin tưởng gì vào một điều tiên đoán vu vơ như vậy nhưng vài tuần lễ sau, tôi nhận thư mẹ tôi nói là bà vẫn mạnh khỏe nhưng khó đi đứng vì chân bên trái bị sưng to.

 

Li Gotami, Anagariki Govinda, Nyanaponika Thera vào cuối những năm 1960 hoặc đầu những năm 1970 (ảnh wikipedia)

 

Sau này tôi mới biết rằng chỉ trong sự tĩnh lặng, con người mới có thể đạt được những quyền năng khác thường. Sự yên lặng loại bỏ những chi phối của ngoại cảnh và tạo ra một khoảng trống mà tư tưởng có thể tập trung. Khi tinh thần lúc nào cũng tập trung, bất cứ một tư tưởng nào nẩy sinh cũng đều được khuếch đại lên, và tới một sự tập luyện cẩn thận người ta có thể làm được nhiều điều phi thường. Từ đó tôi nghiệm thêm rằng sự nghỉ ngơi trong yên lặng vô cùng cần thiết cho những người hoạt động bằng trí óc. Xã hộ văn minh đã bắt buộc con người phải làm việc một cách quay cuồng để kiếm sống. Sau đó người ta đã đặt ra đủ thứ giải trí để giúp con người được thoải mái hơn, nhưng đa số phương tiện giải trí lại còn ồn ào, náo nhiệt và quay cuồng hơn nữa. Làm sao cái thể xác mong manh đang mệt mỏi lại có thể chịu đựng thêm những sự náo nhiệt này được? Do đó xã hội càng văn minh càng nẩy sinh những căn bệnh thần kinh, sự khủng hoảng tinh thần hoặc các chứng bệnh nan y kỳ lạ.

 

Tóm lạicon người đã thực sự không biết nghỉ ngơi. Nếu họ biết tìm một chỗ vắng vẻ, ngồi yên cho thân thể tự động thanh lọc các chất ô nhiễm cặn bã tạo ra bởi nhịp độ quay cuồng của hoàn cảnh đường thì nhiều bệnh tật ắt đã không xảy ra.

 

– Tso! Tso! Pagong Tso…

 

Hai người hướng đạo reo lớn chỉ về phía trước. Trên bình nguyên mênh mông có một đống đá xếp cao như một cái tháp. Từ đây người ta có thể nhìn thấy hồ Pagong ở đàng trước. Đó là một cái hồ kỳ lạ màu xanh biếc như ngọc, lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời như một tấm gương lớn. Chúng tôi ngả trại ở ven hồ, nước hồ trong vắt nhưng không thể uống được vì nhiễm chất muối diêm. Cũng vì chứa chất này, rong rêu không thể mọc được nên nước hồ lúc nào cũng trong suốt đến đáy.

 

Phong cảnh tại đây tuyệt đẹp nên tôi quyết định nghỉ ở đây ít hôm. Tôi rút tập giấy nhỏ và bắt đầu phác họa vài nét vẽ sơ sài về phong cảnh miền này nhưng rồi tôi không thể ngưng tay được. Hình như có một cái gì hấp dẫn lôi cuốn khiến tay tôi say mê và hết tấm này đến tấm khác. Tôi cở bỏ chiếc áo choàng dầy và đôi ủng nặng như đá, khí hậu ấm áp làm tôi thấy nhẹ nhõm khác thường. Tôi lang thang quanh hồ và bắt đầu vẽ tất cả những gì hấp dẫn nhãn quang của tôi.

 

Tôi không biết mình đã đi bao xa nhưng tôi nhìn thấy một bầy ngựa hoang đang tụ tập gần đó. Đây là một giống ngựa đặc biệt gọi là “Kyang”, thân hình chắc nịch với những chiếc bờm dài và bộ lông màu đỏ thẫm. Không như những loài ngựa khác có thể được huấn luyện, giống Kyang vô cùng bất khuất và không chịu sự kiềm chế của bất cứ ai. Bị bắt, ngựa Kyang không ăn uống cho đến chết. Tôi đã nghe kể ngày trước hoàng đế Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn chỉ thèm có được một con ngựa lông đỏ này. Ông đã dùng đủ mọi cách để ghép giống loài ngựa này nhưng vô ích. Giống Kyang chỉ thích hợp trên bình nguyên bao la rộng rãi và đặc biệt không chịu giao hợp với loài ngựa khác không cùng nòi.

 

Tôi rón rén gần đến bầy ngựa để quan sát cho kỹ. Đám hoang mã cũng ý thức sự hiện diện của tôi nên chúng ngửng cổ lên thở phì phì như đe dọa. Tôi leo lên một ngọn đồi nằm sát ven hồ và tìm một nơi kín đáo để sửa soạn vẽ. Phong cảnh nơi đây thật là lý tưởng, tôi có thể nhìn thấy chiếc hồ rộng trong suốt trải dài ở dưới, những cánh đồng cỏ rộng bao la với bầy ngựa đang thản nhiên chạy nhảy, xa xa là những rặng núi phủ đầy tuyết trắng.

 

Đó là một ngọn đồi dốc với rất nhiều tảng đá khổng lồ hình thù kỳ lạ. Một phía dốc thoai thoải nhưng phía quay ra hồ lại dựng đứng như một bức tường thành. Tôi đang mon men leo lên một tảng đá nghiêng sang một bên, lôi kéo theo những tảng đá khác, rồi cả sườn đồi chuyển động. Thì ra những tảng đá này chồng lên nhau một cách bấp bênh, chỉ một chấn động nhỏ cũng đủ làm nó sụp đổ. Trong giây phút bất ngờ, tôi vội tung người nhẩy lên một tảng đá gần đó nhưng nó cũng nghiêng đi rồi lăn xuống dốc núi. Tôi hoảng hốt cố gắng vận sức để nhẩy lên một nơi khác nhưng cả ngọn đồi đều chuyển động, hàng chục tảng đá từ trên cao ùn ùn lăn xuống. Như có một mãnh lực vô hình nào xui khiến, tôi thấy toàn thân tôi nhẹ hẳn đi, chân tôi vẫn bước nhưng dường như nó không đi bằng những cử động bình thường nữa mà được kiểm soát bởi động lực kỳ lạ. Tôi thấy mình như đang mê ngủ, hai bên vách núi cát bay đá chạy mờ mịt nhưng thân hình tôi vẫn nhẹ nhàng ung dung tách qua những tảng đá to lớn một cách dễ dàng. Tôi thấy rõ chân mình dẫm lên những tảng đá đang di chuyển nhưng không hiểu sao tôi không còn chịu sự chi phối của trọng lực nữa. Có lúc tôi tưởng như sắp bị nghiền nát giữa những tảng đá khổng lồ nhưng chỉ một cái nhún chân, tôi đã tránh được hiểm nguy một cách dễ dàng. Đầu óc tôi trở nên mơ hồ, tôi không biết mình đang mê hay tỉnh nhưng mắt tôi vẫn thấy những tảng đá lăn xuống hồ làm nước bắn lên tung tóe…

 

Một lúc sau tôi nhìn thấy mình đang đứng ở một khoảng cách an toàn khá xa hồ nước. Tôi vẫn còn thấy những tảng đá tiếp tục lăn xuống hồ và khắp ngọn đồi cát bụi vẫn bay mù mịt. Chuyện gì đã xẩy ra? Tôi đứng lặng người rồi cố gắng đọc một bài thần chú có công hiệu nhiếp tâm, lòng tôi vô cùng xúc động. Trong lúc hốt hoảng tôi đã vô tình sử dụng một quyền năng đặc biệt mà người Tây Tạng gọi là “đi trên không” hay Khinh Công (Lung Gom).

 

Người Tây phương nghe nói đến phương pháp khinh công lần đầu tiên qua cuốn sách của bà Alexandra David Neel. Trong cuốn Huyền Thuật và Các Đạo Sĩ Tây Tạng (Mystics and Magicians of Tibet), bà David Neel đã viết: “Hôm đó trong khi đang đi ở một bình nguyên rộng, tôi nhìn thấy một cái chấm đen đang di chuyển trước mặt. Tôi bèn lấy ống nhòm ra quan sát thì thấy đó là người Tây Tạng cao lớn đang di chuyển với vận tốc hết sức nhanh. Hai chân của y nhún nhẩy gần như không chạm đất và thân hình của y cử động hết sức nhẹ nhàng như người đi tản bộ. Khi đến gần, tôi nhìn thấy rõ khuôn mặt của y vô cùng bình thản như người đang ở sâu trong trạng thái thiền định, cặp mắt y nhìn thẳng lên trời, hình như trụ cả vào một vì tinh tú nào đó. Y không có vẻ vội vã nhưng bước đi của y nhẹ nhàng đều đặn như quả lắc đồng hồ, không hiểu sao cứ mỗi bước thân hình của y lại bay bổng lên không trung như được một sợi dây vô hình nào đó kéo lên…”

 

Phải chăng trong lúc hoảng hốt, một tiềm năng huyền bí nào đó đã thức động khiến tôi bước vào trạng thái đặc biệt của những đạo sĩ khinh công? Tôi vẫn thắc mắc mãi về vấn đề này cho đến năm 1946, có dịp đến viếng tu viện Nyangto Kyi Phug, tôi mới hiểu biết thêm về quyền năng lạ lùng của môn khinh công.

 

Bà Alexandra David neel đã diễn tả rất đúng tình trạng của những đạo sĩ khinh công, nghĩa là tập trung tư tưởng vào một vì tinh túTuy nhiên bà Alexandra đoán rằng các đạo sĩ này đã sử dụng một loài dược thảo làm tê liệt thần kinh chân vì chỉ có thế chân họ mới chịu đựng nổi cuộc hành trình như vậy. Nói như vậy thì chân họ phải sưng lên hoặc bị bầm dập, thâm tím nhưng trường hợp xảy ra cho tôi tại hồ Phangong lại khác hẳn. Tôi không hề thấy chân mình có dấu vết trầy nào.


____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 996)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 952)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 759)
26 Tháng Chín 202012:09 CH(Xem: 35)
Một thời Đức Thế Tôn ở tại Sāvatthi. Ở đó Đức Thế Tôn gọi các vị Tỳ-kheo và nói như vầy: “Này các Tỳ-kheo, khởi đầu của vòng luân hồi (samsara) này là không thể khám phá ra được. Điểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với các chúng sinh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, phải lưu chuyểnxoay quanh trong vòng luân hồi
25 Tháng Chín 202012:58 CH(Xem: 74)
Hiện nay, phong trào hành thiền tại Việt Nam và trên thế giới đang ngày càng được phát triển, tại Myanmar có nhiều trung tâm Thiền Minh Sát (Vipassanà), nơi đó các nhà Sư và các Phật tử đang ngày đêm thực hành Thiền Quán để thanh lọc thân tâm, ở Âu Mỹ
24 Tháng Chín 20208:34 CH(Xem: 83)
HỎI: Đề mục của Tứ Niệm Xứ là cái gì? - ĐÁP: Dạ thưa, đề mục của Tứ Niệm Xứ là bất cứ cái gì mà anh quan sát nó, anh ghi nhận nó, anh kiểm soát nó bằng chánh niệm. Còn cái gì anh theo đuổi nó mà không phải bằng chánh niệm thì cái đó gọi là hướng ngoại. Thí dụ như mình đi vệ sinh, mình biết rõ là mình đang đi vệ sinh,
23 Tháng Chín 20202:07 CH(Xem: 149)
"Đời Sống Quả Thật Bấp Bênh, Vô Định, Cái Chết Sẽ Đến, Chắc Như Thế." Đó là một câu nói rất quen thuộc trong Phật Giáo. Đã thấu rõ rằng chết là diễn biến chắc chắn phải đến và là hiện tượng thiên nhiên mà mỗi người đều phải đối phó, tuy nhiên, theo bẩm sinh tự nhiên, tất cả chúng ta đều sợ chết bởi vì ta không hiểu biết
21 Tháng Chín 20209:57 CH(Xem: 211)
Vào năm 1999, trên một diễn đàn Phật giáo quốc tế, người chủ diễn đàn là ông Lee Yu Ban – một Phật tử Malaysia – đề nghị các thành viên đóng góp vài dòng về lý do tại sao mình chọn theo đạo Phật. Sau đó, ông tổng hợp lại, đưa vào trang web của ông với tựa đề “Finding the Way” (Tìm thấy Con đường). Tôi giới thiệu đến Sư Thiện Minh
20 Tháng Chín 20209:46 CH(Xem: 200)
Trong tất cả các câu hỏi người ta đặt ra với người phương Tây và nhà sư Phật giáo, câu hỏi thường gặp nhất đó là: "Tại sao bạn trở thành Phật tử?". Để trả lời, chúng tôi cần chứng minh thực chất câu hỏi này không được chuẩn lắm. Ở đây không đơn giản chỉ nhằm giải quyết một vấn đề thách thức hay hóc búa, nhưng vì, đối với chính tôi
19 Tháng Chín 20207:06 CH(Xem: 250)
Phật giáođạo công truyền chứ không phải bí truyền, là đạo trí tuệ chứ không phải giáo điều, lại càng không chấp nhận sự cuồng tín. Chính Đức Phật đã bác bỏ quan điểm độc quyền của Bà La Môn cho rằng chỉ có giáo sĩ Bà La môn mới có quyền đọc Thánh kinh Vệ Đà. Phật còn dạy: "Tin Ta mà không hiểu Ta, tức là hủy báng Ta".
18 Tháng Chín 202012:37 CH(Xem: 307)
Bởi vì muốn đánh thức thế gian vẫn đang ngủ say quá lâu trong căn phòng tối tăm của vô minh nên tác giả đã đặt tựa đề của quyển sách này là “Thức Tỉnh Đi, Thế Gian Ơi!”. Khởi đầu của vòng luân hồi (saṃsāra) là không thể tìm ra. Điểm đầu tiên thì không thấy được và không thể nhận biết. Tất cả chúng ta đang đi lang thang và thơ thẩn
17 Tháng Chín 20207:54 CH(Xem: 293)
HỎI: Làm phước cách nào mới gọi là đại thí? - ĐÁP: Không hẳn bỏ ra nhiều mới là đại thí, mà đại thí ở đây có nghĩa là: 1. Tâm mình lúc bỏ ra hoàn toàn không có sự nuối tiếc. 2. Đối tượng nhận sự cúng dường, sự bố thí đó nếu là đối tượng cá nhân phải là đức độ, hoặc là đối tượng tập thể. 3. Tác dụng của vật thí đó, thí dụ như mình
16 Tháng Chín 20208:41 CH(Xem: 304)
Từ năm 1951 Ngài Thiền Sư U Pandita đã dạy hằng ngàn thiền sinh và châu du hoằng pháp, hướng dẫn những khóa thiền trong nhiều quốc gia Á Đông cũng như ở Âu châu, Úc châu và Hoa Kỳ. Hiện nay Ngài là Tăng Trưởng Thiền Viện Panditarama tại Rangoon, Miến Điện, nơi đây Ngài dạy những bậc xuất gia và hàng tại gia cư sĩ.
14 Tháng Chín 202010:04 CH(Xem: 278)
As regards the Abhidhamma, this is an exposition of all realities in detail. 'Abhi' literally means 'higher', thus 'Abhidhamma' means 'higher dhamma'. The form of this part of the Tipitaka is different, but the aim is the same: the eradication of wrong view and eventually of all defilements. Thus, when we study the many enumerations of realities,
12 Tháng Chín 20207:06 CH(Xem: 331)
Theo truyền thống của Phật giáo Nguyên thủy thì Tạng Vi Diệu Pháp (A tỳ Đàm) được Đức Phật thuyết vào hạ thứ bảy tại cung trời Đạo lợi (Tàvatimsa) với tác ý trả hiếu cho thân mẫu. Ngày nay chúng ta đến hành hươngẤn độ để chiêm bái bốn chỗ Động tâm: Đản sanh, Thành đạo, Chuyển pháp luân và nơi Phật nhập diệt.
11 Tháng Chín 20207:52 SA(Xem: 341)
Toàn bộ mục đích của việc nghiên cứu Phật Pháp là để tìm con đường giải thoát khổ, đạt đến hạnh phúcbình an. Dù chúng ta nghiên cứu các hiện tượng thân hay tâm, tâm vương (citta) hay tâm sở (cetasikā), chỉ khi lấy sự giải thoát khổ làm mục đích cuối cùng thì chúng ta mới ở trên con đường chánh – không gì khác. Khổ có mặt là
10 Tháng Chín 20208:43 CH(Xem: 343)
Các bạn, những người đi tìm kiếm thiện pháp, tụ hội ở đây ngày hôm nay, xin hãy lắng nghe với sự bình an. Nghe pháp với sự bình an là lắng nghe với sự tập trung, chú ý tới những gì bạn nghe và rồi buông bỏ. Nghe pháplợi ích vô cùng. Khi nghe pháp, chúng ta an trú thân tâm mình trong sự định tĩnh, bởi vì đây cũng chính là
09 Tháng Chín 202010:56 CH(Xem: 323)
Bạn đừng quên rằng việc thực tập không dễ dàng chút nào. Uốn nắn thứ gì khác thật không mấy khó khăn, đôi khi còn dễ dàng nữa là khác, nhưng uốn nắn tâm con người quả thật là thiên nan vạn nan. Đức Thế Tôn đã điều phục tâm của mình một cách viên mãn. Tâm là quan trọng nhất. Mọi bộ phận trong hệ thống thân tâm này
08 Tháng Chín 20205:26 CH(Xem: 353)
Hôm nay đề tài mà tôi muốn nói với các bạn là tỉnh giác hay hiểu biết sáng suốt trong khi ăn. Cơ thể chúng ta cần thức ăn mỗi ngày, bởi vậy hàng ngày chúng ta cần phải ăn để sống. Thức ăn trở thành một nhu cầu thiết yếu và lớn lao của cuộc sống. Chúng ta phải bỏ ra nhiều thì giờ để ăn, nghĩa là phải tốn thì giờ để kiếm thức ăn,
06 Tháng Chín 20207:02 CH(Xem: 386)
Chùa rất đơn sơ, đúng như tinh thần tri-túc-tiện-túc nhưng lại có một bảo vật vô giá mà nơi cất giữ chỉ Sư và bẩy đệ tử biết thôi. Đó là một xâu chuỗi mà tương truyền là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng đeo. Một ngày kia, sau thời công phu tối, Sư vừa băn khoăn, vừa buồn rầu nói với các đệ tử: - Xâu chuỗi không còn đó! Trong các con,
05 Tháng Chín 20209:47 CH(Xem: 388)
Tôi có một đệ tử xuất gia, người tây phương. Hễ mỗi khi thấy các sư hay tập sự người Thái xả y hoàn tục, anh liền nói: “Ồ, thật là xấu hổ làm sao! Tại sao họ lại làm thế chứ? Tại sao có quá nhiều sư và tập sự Thái hoàn tục như thế?” Anh ta cảm thấy sốc. Anh ta buồn khi thấy các sư và tập sự Thái hoàn tục bởi vì anh chỉ mới đến tiếp xúc
04 Tháng Chín 20202:19 CH(Xem: 540)
Ngày 25-9-2019 chùa chúng ta xẩy ra một sự cố, sự cố lớn – đấy là chuyện "có một ông sư" đã cuổm hết tiền của quỹ Tam Bảo, quỹ xây dựng, quỹ sinh hoạt, quỹ du học… để đi đánh bạc (có lẽ) thua sạch. Thế rồi chúng ta phải còng lưng trả những món nợ bên ngoài. Chuyện ấy cũng cần nói rõ ràng ra không cần phải giấu diếm nữa.
03 Tháng Chín 20209:05 CH(Xem: 472)
Một hôm, Đức Phật ngồi trò chuyện cùng các môn đồ của mình. Ngài kể cho họ về chuyện một người đàn ông muốn qua sông song lại bị kẹt lại ở trên bờ. Ở bờ bên này đang có một hiểm nguy lớn đang chờ ông ta. Ở bờ sông bên kia thì rất an toàn. Nhưng chẳng có cây cầu hay chiếc phà nào để qua sông. Vậy phải làm sao?
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1774)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3443)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4958)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
02 Tháng Chín 20209:24 CH(Xem: 657)
Đây là cuốn sách sọan dịch từ những bài pháp ngắn mà Hòa thượng Sīlānanda đã giảng trong những khóa thiền ngắn ngày, và dài ngày ở nhiều nơi trên thế giới rất hữu ích cho những người mới hành thiền cũng như đã hành thiền lâu ngày. Người mới hành thiền biết hành thiền đúng theo những lời dạy của Đức Phật. Người hành thiền
01 Tháng Chín 20206:32 CH(Xem: 734)
Từ những ngày đầu bước chân vào con đường tu học Phật, tôi đã cảm thấy mạnh mẽ rằng thế nào tôi cũng sẽ tìm được cho mình một lối sống chân thậtan lạc. Vào thời ấy, cuộc sống của tôi bị chi phối bởi nhiều rối rensợ hãi. Tôi cảm thấy xa lạ với tất cả mọi người, với thế giới chung quanh, và ngay cả với những kinh nghiệm
31 Tháng Tám 20209:43 CH(Xem: 559)
Thiền Quán, Con Đường Hạnh Phúc (It's Easier Than You Think) là một quyển sách vui tươi và rất dễ đọc. Tác giả trình bày giáo lý của đức Phậtphương pháp tu tập, bằng các mẩu chuyện về những kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Bà Sylvia Boorstein là một nhà tâm lý trị liệu (psychotherapist) và cũng là một giáo thọ
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1428)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1342)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 1500)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1735)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 2031)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1864)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.