Phần 1B - Giáo Sư Sylvia Cranston và Carey Williams

17 Tháng Bảy 20209:15 SA(Xem: 423)
Phần 1B - Giáo Sư Sylvia Cranston và Carey Williams


NhungChuyenLuanHoi_ANhững Chuyện Luân Hồi Hiện Đại
Tỳ kheo Thích Tâm Quang trích dịch
Nguồn: budsas.org

 

____________________


3-

 

BÀ SHAKUNTALA DEVI, MỘT NHÀ TOÁN HỌC ĐẠI TÀI

 

Tác Giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

 

Bà Shakuntala Devi, Nhà Toán Học Thần Đồng này đã được cả Quốc Tế công nhận và biết đến. Bà là người sanh trưởng tại Ấn Độ. Bà đã du hành qua nhiều nước trên thế giới và đã làm cho các nhà toán học sửng sốt ngỡ ngủng với tài năng xuất chúng của Bà.

 

Bà đã tìm được đáp số của các bài toán còn nhanh hơn cái máy điện tử tối tân nhất. Trong chuyến du hành sang nước Mỹ năm 1977, tài nghệ siêu việt của Bà đã được các báo chí ca ngợi. Bà đã được US National Standard trao giải thưởng Univac 1108 vì tính được 23 căn số của 201 con số trong 50 giây. Tên Bà đã được ghi trong cuốn Guiness Book of World Records (Cuốn Sách Ghi các Thành Tích Kỷ Lục Trên Thế Giới). Bà có thể tính nhanh hơn máy điện tử mà không phải chuẩn bị trước. Muốn được như Bà, máy điện tử cần phải có 13,466 chỉ dẫn và 4,883 dữ kiện. Nếu nói là may mắn, theo máy điện tử thì kết quả sự may mắn đó là 1 trong 598 triệu lần.

 

Tài năng của Bà đã được khám phá khi Bà mới lên 3 tuổi. Lúc ấy cha mẹ Bà thấy Bà có tài năng kỳ lạ về những con số nên đã đem Bà đến Học Viện Địa Phương để tìm hiểu. Trước mặt các vị Giáo Sư của Đại Học Đường Bengalore, Bà đã chứng tỏ tài năng phi thường qua những đáp số về Logarithms (Đối Số) về căn số của con số phức tạp và về tổng số chỉ trong ít phút. Tên tuổi của Bà đả trở nên lừng lẫy. Học vấn của Bà chỉ ở mức trung bình nhưng Bà cho biết: "Tôi rất thích các con số và say mê các con số, mọi sự trên đời dù là nghệ thuật, khoa học hay triết lý, tất cả đều căn cứ trên những con số". Khi còn nhỏ tuổi, tài năng phi thường của Bà được coi như thiên phú và Bà cứ tưởng rằng tất cả mọi người đều giống như Bà nghĩa là cũng có tài như Bà về toán học và Bà đã ngạc nhiên vô cùng khi thấy sự thực không phải như vậy.

 

Người ta đặt câu hỏi: Bà du lịch vòng quanh thế giới để phô trương tài năng của Bà mục đích để kiếm tiền phải không? Không phải như vậy.

 

Ngày 3 Tháng 1 Năm 1974, tờ báo Ottawa Citizen phỏng vấn Bà với tựa đề: "NGƯỜI ĐÀN BÀ TÍNH TOÁN GIỎI BẬC NHẤT TRÊN THẾ GIỚI". Bà nói: "Tôi tin rằng những thành tích của loài người là quan trọng nhất, điều đó chứng tỏ con người vẫn còn siêu việt hơn máy móc. Thế giới còn chưa hiểu hết được khả năng của trí tuệ con người, nó vô cùng tận, tôi đã chứng tỏ cái khả năng ấy".

 

Trong một cuộc phỏng vấn khác trên Đài Vô Tuyến Truyền Hình tại Ottawa của chương trình "This Day" (Ngày Nay) để trả lời câu hỏi tại sao Bà lại có tài năng đặc biệt đó, Bà cho biết người Ấn Độ giải thích là bởi sự "LUÂN HỒI", kiếp trước Bà ở Ai Cập. Điều không thể chối cãi là đã có rất nhiều các nhà toán học kỳ tài trên đất nước của các vị Pharaohs (Những nhà Vua nổi tiếng Ai Cập). Kim Tự Tháp Cheops (Một kỳ quan trên thế giới) với lối kiến trúc hoàn toàn dựa trên căn bản toán học phức tạp đến nỗi các điều tra viên, 1 thế kỷ qua đã cố nặn óc mà vẫn chưa tìm được hết mọi bí ẩn.

 

-ooOoo-

 

-4-

 

CÔ BÉ BLANCHE BATTISTA

 

Tác Giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

 

Câu chuyện Luân Hồi này do Bác Sĩ người Anh Raynor Johnson điều tra và chính Bác Sĩ Johnson đã giới thiệu gia đình Battista với Mục Sư Tiến Sĩ Leslie Weatherhead, Cựu Chủ Tịch Hội Methodist Conference Anh tại Melbourne, Úc Đại Lợi. Tiến Sĩ Weatherhead đã kể lại trong một bài thuyết giảng về đề tài: "Một Trường Hợp Luân Hồi".

 

Đại Úy Battista và vợ, đều là người Ý có sanh một người con gái tại La Mã và đặt tên là Blanche. Đại Úy Battista có mướn một người vú em Thụy Sĩ nói tiếng Pháp tên Marie để trông nom Bé Blanche. Marie thỉnh thoảng dạy bộ Blanche bài hát ru con bằng tiếng Pháp. Bé Blanche rất thích bài này thường hát đi hát lại mỗi ngày nên thuộc lòng. Chẳng may Bé Blanche bị chết nên Marie phải trở về Thụy Sĩ.

 

Đại Úy Battista viết: "Tiếng hát Ru con từ nay đã im bặt trong gia đình nhưng âm vang của nó vẫn nhắc nhỡ chúng tôi nỗi đau buồn về cái chết của đứa con nên chúng tôi cố tránh không nghĩ đến các kỷ niệm."

 

Bé Blanche chết được 3 năm, người mẹ, Bà Signora Battista mang thai. Lúc thai được 4 tháng, Bà đã thấy một giấc mơ lạ lùng trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Bà cả quyết thấy rõ ràng Bé Blanche hiện ra và nói với Bà bằng giọng quen thuộc như hồi nào: "Mẹ ơi con sẽ trở về với mẹ". Rồi Bé Blanche biến mất. Đại Úy Battista hoài nghi, nhưng đến tháng 2 năm 1906, vợ ông sanh một bộ gái và ông cũng đặt tên cho đứa con gái này là Blanche. Đứa con mới sanh giống hệt như đứa con gái trước.

 

Chín năm sau cái chết của đứa con gái đầu, khi đứa thứ hai được 6 tuổi thì một việc bất ngờ đã xảy đến. Đây là lời của ông:

 

"Trong khi tôi và vợ tôi đang ở trong phòng đọc sách kế cận phòng ngủ thì cả hai chúng tôi đều nghe thấy giọng hát ru con bằng tiếng Pháp vẳng ra từ phòng ngủ của đứa con gái chúng tôi đang ngủ. Lấy làm lạ chúng tôi liền vào xem thì thấy con gái chúng tôi đang ngồi trên giường và hát bài ru con với một giọng Pháp rất tự nhiên. Bài hát này chưa được ai trong chúng tôi dạy cho con gái cả. Vợ tôi hỏi con đang ca bài gì đó thì nó trả lời đang ca bài hát bằng tiếng Pháp. Tôi liền hỏi: "Ai dạy con bài hát hay vậy?" Nó đã trả lời: "Không ai dạy con cả, bài hát này đã có sẵn trong đầu óc của con".

 

Blanche, người con gái Ý Đại Lợi, khi luân hồi đã báo cho mẹ biết là sẽ trở lại và Blanche hãy còn nhớ bài hát bằng tiếng Pháp mà trước Blanche đã được Marie, người trông nom em dạy em ở tiền kiếp.

 

-ooOoo-

 

-5-

 

"LÀ MỘT QUÂN NHÂN, TÔI CHIẾM CỬA THÀNH"

 

Tác Giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

 

Câu chuyện sau đây được giải thưởng hạng nhất trong một cuộc thi toàn quốc với chủ đề: "Một sự trùng hợp lạ lùng mà tôi biết".

 

Cuộc thi này do Tạp Chí "The American Magazine" tổ chức và câu chuyện được đăng trong Tháng Bảy Năm 1915. Dù chỉ là một sự trùng hợp hay một sự gì khác nữa, độc giả có thể tự mình phán xét lấy. Người kể lại chuyện này là một thiếu phụ tại Minneapolis.

 

Nội dung của câu chuyện ngắn có thực này rất đơn giản nhưng rất giá trị vì được ghi lại trung thực từ nhiều năm qua, tài liệu lịch sử hiện còn lưu trữ là những bút tích hiện hữu đã chứng minh cụ thể.

 

Người đàn bà đáng tin cậy nhất kể lại câu chuyện ấy như sau:

 

"Anne, cô em gái cùng mẹ khác cha của tôi nhỏ hơn tôi 15 tuổi là một đứa bộ kỳ quặc ngay từ tấm bộ. Nó không giống một ai trong gia đình, da nó ngăm ngăm trong khi mọi người khác đều trắng trẻo dòng dõi thừa hưởng Tô Cách Lan - Ái Nhĩ Lan của cha ông.

 

"Ngay khi biết nói rành rẽ, nó thường kể những câu chuyện hoang đường về nó. Vì thấy khá ngộ nghĩnh, tôi đã dùng bút chờ ghi lại những điều nó nói trong nhật ký của tôi. Tôi có bổn phận phải trông nom nó - mẹ tôi rất bận rộn - và tôi rất hãnh diện về bà. Ở một đứa trẻ như nó không thể nào có được những câu chuyện hoang đường, với lại cái trí óc non nớt của nó làm sao có thể hiểu được những việc đại loại như thế.

 

Điều đáng nói nữa là tất cả mọi việc nó làm đều như một thói quen; nó chẳng bao giờ giải thích là tại sao nó lại làm như vậy. Nếu bạn nhìn cách thức nó cầm ly sửa lên và uống một hơi cạn ly sửa thì bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên và bật cười vì nó mới có 3 tuổi đầu.

 

Những việc như thế làm mẹ tôi khó chịu và bà thường quở trách nó. Là một đứa trẻ ngoan, cố gắng vâng lời, nhưng rồi sau đó lại đâu vào đó.

 

"Mẹ à! Con không thể làm hơn thế được, từ trước đến nay con vẫn làm như vậy mà". Nó nói với mẹ tôi bằng giọng trẻ thơ pha nước mắt.

 

Qúa nhiều việc xảy ra do thói quen về cách ăn nói, cách suy nghĩ và cách hành động của nó nên cuối cùng chúng tôi không để ý đến nữa và cho nó là một đứa trẻ hoàn toàn khác hẳn những đứa đồng tuổi.

 

Năm nó lên 4 tuổi một hôm cha tôi làm nó phẫn uất điều gì đó, nó tức mình ngồi ngay dưới đất trước mặt chúng tôi và bảo rằng nó có ý định đi xa.

 

" -Trở về thiên đường, nơi con từ đó đến đây hả?" Cha tôi châm biếm hỏi. Nó lắc đầu

 

"-Con không đến với Cha từ thiên đường". Nó bình thản xác nhận. Thái độ này vẫn thường thấy ở nó.

 

" -Trước tiên con sẽ lên mặt trăng - Cha có biết gì về mặt trăng không? Trên đó cũng có người nhưng muốn lên rất khó".

 

Đó là một dự định hoang đường, tôi lấy bút ghi vào nhật ký.

 

Cha tôi tiếp: "-Vậy ra con từ mặt trăng đến với chúng ta à?

 

"-Ồ! Không phải " Nó trả lời cha tôi với một thái độ điềm tĩnh.

 

- Con đã ở đấy nhiều lần, có khi là đàn ông, có khi là đàn bà.

 

Vẻ bình thản của nó khiến cha tôi bật cười làm nó tức giận. Nó không thích bị diễu cợt.

 

"-Đúng vậy, đúng vậy." Nó phản đối ngay:

 

"Một lần con đã đến Gia Nã Đại lúc đó con là đàn ông, ngay cả tên con con còn nhớ nữa mà".

 

Cha tôi chế nhạo:

 

"- Ái Chà! Ái Chà! Một đứa con gái nhỏ tại Hoa Kỳ lại là một người đàn ông Gia Nã Đại Thế con còn nhớ tên là gì?" Nó suy nghĩ một chút rồi trả lời:

 

- "Lishus Faber", Nó nhắc lại và cả quyết đúng là tên Lishus Faber. Nó nói rõ rành rẽ nên tôi đã ghi lại trong nhật ký của tôi cái tên "Lishus Faber".

 

"-Này Lishus Faber, thời đó anh làm nghề gì? Cha tôi vẫn hỏi nó với điệu bộ diễu cợt.

 

"- Con là quân nhân và con đã chiếm được cửa thành". Nó trả lời cha tôi một cách cao ngạo của một người thắng trận.

 

Tất cả đều đã được tôi ghi vào nhật ký. Đã rất nhiều lần, chúng tôi cố gắng hỏi nó giải nghĩa thêm các câu nói của nó nhưng nó một mực chỉ nhắc lại câu trên và tỏ vẻ tức giận vì chúng tôi đã không hiểu. Trí tưởng tượng của nó ngừng lại khi nói đến giải nghĩa. Dù chúng tôi sống trong một cộng đồngkiến thức và tìm mọi cách để tìm hiểu câu chuyện như một người tìm hiểu câu chuyệnliên quan đến những đến những đứa con yêu quý của mình nhưng không một ai có thể ức đoán được.

 

Vài người khuyến khích tôi cố gắng đi xa hơn nữa và tôi đã bỏ một năm để nghiên cứu lịch sử Gia Nã Đại với hy vọng tìm thấy một trận chiến nào đó có người "chiếm được cửa thành". Tất cả đều vô vọng. Cuối cùng tôi được một quản thủ thư viện giới thiệu với tôi một cuốn tài liệu, một cuốn sách dầy cũ và rất ngộ nghĩnh với chữ s's viết giống như f's. Đã một năm qua tôi không còn hy vọngtìm hiểu được. Thế mà một cuốn sách cổ xưa sống động vì có nhiều hình vẽ với nhiều truyện ngắn đã giúp tôi tìm thấy câu chuyện thật bất ngờ.

 

Câu chuyện nói về thành tích chiến đấu của một đội quân nhỏ, chiếm đánh một thành phố cũng không có gì quan trọng. Một viên Trung Úy trẻ với toán quân của ông - với giòng chữ hiện ra trước mắt tôi - "Chiếm Cửa Thành"; Viên Trung Úy này tên là "Aloysius Le Febre" (Trùng hợp với tên và câu nói của đứa em nhỏ ngây thơ của tôi đã nói trước đây với cha tôi! ).

 

Về việc em gái tôi cho rằng con người đã có lần sống trên mặt trăng thật là kỳ lạ, tuy nhiên theo quan điểm của các nhà thông thiên học, sự việc rất có thể vì mặt trăng trước đây là một hành tinh có người sanh sống và là nơi ở xa xưa của chúng ta. Điều đáng quan tâm là giờ đây người ta đã khám phá ra những viên đá do các phi hành gia mang về từ mặt trăng đều đã có lâu đời hơn các viên đá hiện tại trên trái đất.

 

-ooOoo-

 

-6-

 

CÓ PHẢI VỊ BÁC SĨ TÂM LÝ NGƯỜI HOA KỲ ĐÃ SỐNG Ở THẾ KỶ THỨ 17
TẠI ÂU CHÂU KHÔNG?

 

Tác giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

 

Không phải chuyện bình thường khi một nhà tâm lý học viết khảo luận, nhất là cuốn sách đó nói về luân hồi. Và nhất định một câu chuyện như vậy phải được nghiên cứu kỹ lưỡng - nếu không cũng là chính kinh nghiệm bản thân của tác giả về tiền kiếp, khiến cho tác giả mạnh dạn viết thành sách. Nhà Tâm Lý Học này là Bác Sĩ Tâm Lý Frederic F. Flach; ông là giáo sư chuyên khoa tâm lý của Đại Học Y Khoa Nữu Ước và cũng là Bác Sĩ Tâm Lý của Dưỡng Đường Payne Whitney ở Bệnh Viện Nữu Uớc. Ông có phòng mạch riêng rất đông khách. Cuốn sách của Bác Sĩ Flach có tựa đề "Fridericus" được xuất bản vào năm 1980.

 

Đầu tiên Bác Sĩ Flach chú ý đến luân hồi trong lúc khảo cứu đề tài "Sức Mạnh Kỳ Bí Của Phiền Muộn". Thật là hy hữu - một đồng sự của ông đã khám phá ra bản luận án số 1620 bằng tiếng La Tinh của một Bác Sĩ người Thụy Sĩ cùng tên Frederich F. Flacht nghiên cứu một đề tài như ông. Lúc đó ông cho chỉ là một sự trùng hợp lạ lùng nhưng ông không khỏi không nghĩ phải chăng vị Bác Sĩ Thụy Sĩ kia chính là ông thời nay.

 

Sau khi phát hành cuốn sách Fridericus, Bác Sĩ Flach đã kể với phóng viên ông tin tưởng mãnh liệt chính ông là Bác Sĩ Fridericus.

 

Vị Bác Sĩ Thụy Sĩ ở tại Basel " là một Bác Sĩ chuyên về tâm lý giống như tôi hành nghề này rất hiếm ở thời ấy. Có một sự trùng hợp lạ lùng giữa những điều vị Bác Sĩ Thụy Sĩ viết và điều tôi nghiên cứu". Ông nói: "Còn một sự trùng hợp khác nữa là miền Âu Châu mà Fridericus tới,những thành phố mà Fridericus đi qua trong đời cũng chính là những nơi mà gia đình tôi đã sống. Gia đình tôi một phần gốc ở gần Zurich. Có một thị xã mang tên Flach. Một phần khác ở ngay phía Bắc biên giới, tức là phía nam của Đức Quốc bây giờ. Một phần khác nữa thì từ Strasbourg đến. Nếu bạn khoanh tràn khu vực đó thì thấy đúng là Bác Sĩ Thụy Sĩ đã đến từ vùng đó.Ông là một Bác Sĩ hành nghề tại Thị Xã Worms ngay phía bắc Strasbourg, và ở tại Basel, Heidelberg và Mulhouse. Lại nữa ông lấy vợ hai lần. Tôi cũng lấy hai lần vợ. Ông ta có ba người con, tôi cũng có ba con.

 

Năm 1977, Bác Sĩ Flach đi Âu Châu để tìm hiểu thêm về Fridericus (Bác Sĩ Thụy Sĩ). Bác Sĩ Flach nói:

 

"Mục đích chính của tôi là tìm mọi dấu vết của Fridericus. Tôi đã đến Basel, Worms, Heidelberg,Strasbourg và Mulhouse.Tôi muốn biết cảm nghĩ của tôi khi đến các vùng này. Tại Basel tôi cảm thấy rất quen thuộc - một cảm giác ấm cúng như được về nhà."

 

Cuốn sách "Fridericus" được viết theo quan điểm của một Bác Sĩ Tâm Lý được huấn luyện kỹ càng, có nhiều kinh nghiệm. Và thật là thích thú khi theo dõi các lập luận để giải quyết vấn đề chính được nêu lên bởi bốn chuyên gia khác nhau. Trong đó đa số cuộc đối thoại xoay quanh vấn đề có hay không có luân hồi.

 

Trường hợp của Bác Sĩ Flach không có nhiều chi tiết không là một trường hợp đặc biệt nhưng cũng là dấu hiệu đáng quan tâm trong hiện đại. Điều chắc chắn là 50 năm về trước đây không một nhà tâm lý nào lại dám đề cập đến vấn đề (Luân Hồi) như vậy.

 

-ooOoo-

 

-7-

 

MỘT TRƯỜNG HỢP KỲ LẠ TẠI LEBANON

 

Tác Giả: Sylvia Cranston và Carey Williams

 

Vào năm 1962 khi Tiến Sĩ Stevenson đến Ba Tây để điều tra một vụ luân hồi gặp một người di cư gốc Lebanon cho Tiến Sĩ biết rằng ở làng anh ta, làng Kormayel có rất nhiều trường hợp tái sanh. Anh ta có viết thư giới thiệu Tiến Sĩ với người anh họ của anh ta hiện còn đang sống ở đó, nhưng mọi đến 2 năm sau Tiến Sĩ mới đến thăm được. Vào thượng tuần tháng 3 năm 1964, Tiến Sĩ Stevenson, không báo truớc đã tự đến nơi đó và được biết người mà Tiến Sĩ Stevenson muốn gặp đã đi Beirut để tránh mùa đông lạnh lẽo của miền quê hương rừng núi này.

 

Dân làng Kormayel biết được nhiệm vụ của Tiến Sĩ Stevenson đã báo cho Tiến Sĩ biết có một em bộ 5 tuổi tên Imad Elawar đã luôn luôn nhắc về tiền kiếp của em từ khi một tuổi. Đối với dân bản xứ, việc này không xa lạ vì có nhiều trường hợp tương tự. Trên thực tế Tiến Sĩ Stevenson thấy dân nơi đây không theo Hồi Giáo mà theo đạo Druse và tỷ lệ luân hồi tại đây được coi như cao nhất thế giới. Hai trăm ngàn người Druse phần lớn sống tại Lebanon, Syria, miền Bắc Do TháiJordan. Còn một thiểu số di cư sang Hoa Kỳ và Ba Tây.

 

Tiến Sĩ Stevenson đã tìm được người cha em Imad và ông này lại chính là người anh họ với người bạn của ông tại Ba Tây. Câu chuyện trở nên hấp dẫn và có giá trị đặc biệt vì ông có thể điều tra trước hai gia đình liên hệ về cả quá khứ lẫn hiện tại để biết rõ sự tồn tại của mỗi gia đình. Vén đươc màn bí mật ông có thể quan sát em nhỏ ngay tại nhà về tính tình của em và cũng về việc lần đầu em gặp lại những người thân tiền kiếp của em. Sau hết trước khi đi kiếm những người này, Tiến Sĩ Stevenson đã ghi 50 dữ kiện mà em Imad đã nhớ được.

 

Bây giờ bắt đầu vào chuyện.

 

Imad sanh ngày 21 tháng 12 năm 1958, khi bắt đầu biết nói thì lời nói đầu tiên của em là những tên Jamileh và Mahmoud. Khi biết nói trôi chảy rồi thì em tiết lộ nhiều chuyện ở kiếp trước, tên những người mà em biết, tài sản mà em có và vài biến chuyển có xảy ra trong đời em. Em kể lại em là người của gia đình Bouhamzy sống ở làng Khriby cách làng Kormayel một con đường núi khúc khuỷu dài 25 dậm. Trong gia đình hiện thời của em chỉ có cha em là người đã đến Khriby để dự tang lễ của một người Druse nổi tiếng.

 

Imad đã nói về những người mà em nêu tên và lớn tiếng hỏi họ sống với nhau ra sao. Trong giấc ngủ em cũng nói như vậy. Cả thảy có 14 tên em nhắc đến. Người được nhắc nhiều nhất là Jamileh, một phụ nữ đẹp mà em say sưa so sánh với người mẹ kém hấp dẫn hiện tại. Em nói Jamileh mặc bộ quần áo mầu đỏ do em mua tặng và mang giầy cao gót - loại giầy mà ngày nay các phụ nữ trong làng cũng ít dùng. Mẹ của Imad cho biết khi lên 3 tuổi em có nói em muốn cao bằng Jamileh và một hôm nằm trên giường với mẹ em đã yêu cầu mẹ hãy cư xử như Jamileh.

 

Em còn nhớ thời tiền kiếp em thích đi săn em có một cây súng hai nàng. Để mô tả cây súng có hai nàng em dùng hai ngón tay chập lại với nhau. Về tài sản em có một căn nhà, một xe hơi nhỏ mầu vàng, một chiếc xe buýt và một chiếc xe vận tải chở đá.

 

Về những chuyện ở kiếp trước em nhớ một lần em có đánh một con chó. Nhưng chuyện làm em khổ tâm nhất là một tai nạn xe cộ nghiêm trọng đã xảy ra. Một chiếc xe vận tải đã đụng phải một người đàn ông (tức là em) làm gãy hai chân và cán nát bụng. Người đàn ông được chở đi Bác Sĩ và đã phải giải phẫu. Bà mẹ và Bà Nội của em cho rằng việc này rất đáng quan tâm vì ngay khi mới biết đi em vẫn hay nói rằng em sung sướng biết mấy khi có thể đi lại được! Người cha em cho tất cả những chuyện trên là nhảm nhí và gọi em là đứa điêu ngoa, vì vậy em chỉ dám kể cho những người đàn bà trong nhà mà thôi.

 

Tuy nhiên mọi người trong nhà đều thấy một hôm lúc Imad lên 2 tuổi đã chận một người lạ mặt ngoài đường ôm chầm lấy ông ta mừng rỡ. Người lạ mặt liền hỏi "Em biết tôi sao?" - "Vâng, ông là người hàng xóm của tôi " em trả lời. Người này là Salim Aschar, người làng Khriby ngày xưa ở cạnh nhà Imad sự thực này mãi sau mới khám phá ra được chứ vào lúc này cũng chưa ai biết em là người của gia đình Bouhamzy. Tuy nhiên điều này không ngăn cản gia đình hiện tại của em đi đến kết luậnhòan toàn không chính xác như chúng ta sẽ biết sau này. Nghĩa là lúc đầu Tiến Sĩ Stevenson đã được người ta cung cấp những tin tức sai lạc.

 

Đây là câu chuyệncha mẹ em đã cung cấp:

 

Những lời nói đầu tiên khi em mới biết nói là Mahmoud và Jamileh, chính là tiền thân của em và người vợ. Mahmoud đã bị xe vận tải đụng chết. Chuyện này không những đã do Imad kể lại mà chính em là một đứa trẻ rất sợ hãi mỗi khi nhìn thấy xe vận tải lớn và các xe buýt. Ngay cả lúc còn chập chững biết đi em vẫn thường chạy trốn khi nhìn thấy 2 loại xe trên.

 

Một chuyện nhỏ nữa là ngày hôm sau Tiến Sĩ Stevenson cùng Imad và cha em đến Khriby. Em đã tỏ ra xúc động như là em đã xa cha mẹ lâu năm nay mới được về thăm lại. Trên đường đi em đã cho Tiến Sĩ Stevenson biết thêm về ký ức của em. Nhưng cuộc viếng thăm này không mang lại một kết quả cụ thể nào để chứng minh câu chuyện bí mật về tiền kiếp của Imad vì đúng là có Mahmoud Bouhamzy, nhưng hiện nay người này còn đang sống. Vợ anh ta không mang tên Jamileh và căn nhà cũng không như Imad đã mô tả.

 

Ngày hôm sau đó, Tiến Sĩ Stevenson quyết định một mình đến Khriby để điều tra lấy. Tiến Sĩ đã thấy một người Bouhamzy tên Haffez có người cha bị xe cán gẫy hai chân và đè nát bụng. Và mặc dầu đã phải giải phẫu hai lần song ông ta vẫn chết. Vợ ông ta cũng không phải là Jamileh và căn nhà cũng không giống như Imad mô tả. Sự điều tra của Tiến Sĩ Stevenson cho đến ngày ấy cũng chưa đi đến kết quả cụ thể.

 

Bất ngờ một tia sáng tự nhiên lóe lên! Haffez cho biết ông ta có một người anh họ rất quyến luyến với cha của Haffez và vô cùng đau xót trước tấm thảm kịch tai nạn ấy. Người này tên Ibrahim Bouhamzy có một người chú tên Mahmoud có một người tình nhân tên Jamileh. Mối quan hệ giữa hai người Mahmoud và Jamileh đã làm cho dư luận xôn xao. Vẻ đẹp của Jamileh rất thanh tú, nàng ăn diện theo thời trang đúng như Imad đã mô tả. Hơn thế nữa căn nhà mà Imad nói đến đúng là căn nhà của Ibrahim Bouhamzy. Ibrahim đã chết vì bệnh lao vào khoảng trên 20 tuổi và đã bị bán thân bất toại lối một năm trước khi chết. Imad sung sướng biết bao khi được đi vòng quanh nơi này! Sau khi Ibrahim chết, Jamileh đã lấy chồng và chuyển đến một làng khác.

 

Bình luận về sự thất bại lúc đầu Tiến Sĩ Stevenson nói: "Vì sự suy luận sai lầm của gia đình Imad cộng thêm vào sự quá tin tưởng vào lòng thành thật của họ khi họ cung cấp các tin tức, hơn nữa giữa đám người Hồi và người Cơ Đốc Giáo xung quanh thì người Druse vẫn được tiếng là thành thực".

 

Khi Tiến Sĩ Stevenson quay trở lại gia đình Imad và báo cho họ kết quả điều tra của mình, cha mẹ Imad không được vui vì quan hệ của Imad với Jamileh ở tiền kiếp làm gương mặt của Bà mẹ Imad sa sầm đau khổ.

 

Hôm sau Tiến Sĩ Stevenson dẫn Imad và người cha đến nhà Ibrahim để xem Imad có thể nhận ra được điều gì kể từ khi Ibrahim chết vào năm 1949.

 

Theo lời Imad trước khi đi nhà này có hai cái giếng, một cái đầy nước còn một cái thì cạn. Tiến Sĩ Stevenson đã đích thân đi xem những cái giếng này. Cả hai đều đã bị lấp từ khi Ibrahim chết. Thực ra đây không phải là giếng nước mà là 2 cái hầm xây bằng bê tông để chứa nước cốt nho. Theo như Tiến Sĩ Stevenson miêu tả, có một bộ phận đặc biệt được chế ra để hầm được luân phiên điều chỉnh nghĩa là hầm này đầy thì hầm kia cạn.

 

Đến lúc này thì xuất hiện 3 người đàn bà cùng dẫn Imad đi vòng quanh nhà. Ba người này là mẹ, chị của Ibrahim và người hàng xóm. Imad đã trả lời đúng 13 câu hỏi liên quan đến những người thân ở tiền kiếp. Tuy nhiên, Imad không nhận ra người mẹ mặc dù Imad vẫn thường nói rất thương yêu mẹ. Giờ đây người mẹ đã già và thay đổi hẳn. Người chị liền hỏi: "Thế em có biết ta là ai không?" Imad trả lời ngay: "Chị Huda". Rồi chỉ một bức tranh sơn dầu trên tường và bảo đó là em Fuad. Một bức ảnh lớn được đưa ra và chỉ vào Imad họ hỏi: "Ai đây? Em của em hay là người chú của em? " Imad trả lời: "Tôi đấy "

 

Người chị tiền kiếp lại hỏi Imad: "Trước khi chết em có nói một câu gì em còn nhớ không?"

 

Imad trả lời: "Chị Huda! Gọi Fuad cho em". Đúng như vậy, Người em Fuad vừa ra khỏi nhà một lúc Ibrahim muốn gặp em lần cuối nhưng không kịp, Ibrahim đã chết liền sau đó. Ibrahim rất thương em, một tấm hình nhỏ của Fuad được trao cho Imad để làm kỷ niệm. Imad nâng niu và hôn tấm hình này rất là âu yếm.

 

Trong khi đi xem nhà, Huda đã được Imad cho biết bà mẹ có lần bị cái cửa dẫn ra sân kẹp ngón tay. Tiến Sĩ Stevenson nhận thấy ngón tay của Bà mẹ hiện nay hãy còn bị dẹp vì tai nạn này.

 

Một người hỏi Imad: "Khi em ngủ thì chiếc giường được đặt như thế nào?" Imad cho biết cái giường để theo hình chữ thập. Rồi một câu hỏi thích hợp khác được nêu lên: "Khi em đau ốm, những người bạn đến nói chuyện với em bằng cách nào?" Imad trả lời:

 

"Qua cửa sổ".

 

-"Tại sao?"

 

-"Vì họ không dám vào phòng sợ lây bệnh Và cũng vì thế mà cái giường được kê như trên." Imad trả lời.

 

Một câu hỏi thử thách khác:

 

"Thế cây súng được dấu ở đâu?" Imad chỉ đằng sau cái tủ quần áo trong một cái hộc trên tường. Mẹ của Ibrahim xác nhận là đúng và thêm vào chỉ có Bà Cô và Ibrahim là biết chỗ dấu súng mà thôi.(Việc này được giữ bí mật; ở thời đó có súng là bất hợp pháp).

 

Trường hợp này có hai diễn biến rất hay. Những diễn biến này được khám phá bởi Mahmoud, người chú của Imad trong một vài lần tiếp xúc với Tiến Sĩ Stevenson khi Tiến Sĩ Stevenson trở lại Lebanon để phỏng vấn các nhân chứng.

 

Mahmoud là tên một trong hai người mà Imad thường nhắc đến lần đầu tiên khi còn nhỏ. Khi Imad đến Khriby, Imad đã không gặp được Mahmoud, nhưng đến mùa hè năm 1970, Imad 12 tuổi, Mahmoud, người chú bất thần đến thăm nhà Imad. Imad không nhận được ra là Mahmoud. Khi Mahmoud đưa một tấm hình cho Imad coi, tấm hình này Mahmoud có bộ ria mép, hỏi Imad hình này là ai thì Imad đã trả lời: "Đó là hình Chú Mahmoud". Sau đó người chú có mời Imad về Khriby ở với ông ta vài ngày. (Imad đã không đến Khriby từ khi Tiến Sĩ Stevenson và Imad đến đó vào năm 1964).

 

Diễn biến thứ hai khiến người chú xúc động vô cùng xảy ra khi Imad và ông ta đang đi bộ tại Khriby. Thấy một người đàn ông trên đường, Imad đã chặn lại và xin phép nói chuyện. Người chú hỏi Imad: "Con muốn nói gì với người đó? Ông ta là một cựu quân nhân đấy" Imad trả lời chính là lý do mà Imad muốn trò chuyện. Imad đã nói chuyện rất lâu với người này và người này cho biết Imad chính là Ibrahim tái sanh và nhắc lại với người này về những thời trước đã cùng sống với nhau như thế nào. Người cựu quân nhân này đã xác nhận với người chú Mahmoud là chính ông ta và Ibrahim đã gia nhập Quân Đội Pháp một ngày và đã cùng sống với nhau trong quân ngũ.

 

Trong phần kết luận, Tiến Sĩ Stevenson đã báo cáo trong số 57 điều Imad nói về tiền kiếp trước khi gặp những người thân có thì Imad đã nói trúng 51 điều. Những điều đúng này gồm có cả cái xe hơi mầu vàng, xe buýt, xe vận tải mà Imad thường nhắc tới và nói những thứ trên là thuộc của Imad ở tiền kiếp.


____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 931)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 835)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 675)
19 Tháng Chín 20207:06 CH(Xem: 29)
Phật giáođạo công truyền chứ không phải bí truyền, là đạo trí tuệ chứ không phải giáo điều, lại càng không chấp nhận sự cuồng tín. Chính Đức Phật đã bác bỏ quan điểm độc quyền của Bà La Môn cho rằng chỉ có giáo sĩ Bà La môn mới có quyền đọc Thánh kinh Vệ Đà. Phật còn dạy: "Tin Ta mà không hiểu Ta, tức là hủy báng Ta".
18 Tháng Chín 202012:37 CH(Xem: 63)
Bởi vì muốn đánh thức thế gian vẫn đang ngủ say quá lâu trong căn phòng tối tăm của vô minh nên tác giả đã đặt tựa đề của quyển sách này là “Thức Tỉnh Đi, Thế Gian Ơi!”. Khởi đầu của vòng luân hồi (saṃsāra) là không thể tìm ra. Điểm đầu tiên thì không thấy được và không thể nhận biết. Tất cả chúng ta đang đi lang thang và thơ thẩn
17 Tháng Chín 20207:54 CH(Xem: 76)
HỎI: Làm phước cách nào mới gọi là đại thí? - ĐÁP: Không hẳn bỏ ra nhiều mới là đại thí, mà đại thí ở đây có nghĩa là: 1. Tâm mình lúc bỏ ra hoàn toàn không có sự nuối tiếc. 2. Đối tượng nhận sự cúng dường, sự bố thí đó nếu là đối tượng cá nhân phải là đức độ, hoặc là đối tượng tập thể. 3. Tác dụng của vật thí đó, thí dụ như mình
16 Tháng Chín 20208:41 CH(Xem: 115)
Từ năm 1951 Ngài Thiền Sư U Pandita đã dạy hằng ngàn thiền sinh và châu du hoằng pháp, hướng dẫn những khóa thiền trong nhiều quốc gia Á Đông cũng như ở Âu châu, Úc châu và Hoa Kỳ. Hiện nay Ngài là Tăng Trưởng Thiền Viện Panditarama tại Rangoon, Miến Điện, nơi đây Ngài dạy những bậc xuất gia và hàng tại gia cư sĩ.
14 Tháng Chín 202010:04 CH(Xem: 116)
As regards the Abhidhamma, this is an exposition of all realities in detail. 'Abhi' literally means 'higher', thus 'Abhidhamma' means 'higher dhamma'. The form of this part of the Tipitaka is different, but the aim is the same: the eradication of wrong view and eventually of all defilements. Thus, when we study the many enumerations of realities,
12 Tháng Chín 20207:06 CH(Xem: 156)
Theo truyền thống của Phật giáo Nguyên thủy thì Tạng Vi Diệu Pháp (A tỳ Đàm) được Đức Phật thuyết vào hạ thứ bảy tại cung trời Đạo lợi (Tàvatimsa) với tác ý trả hiếu cho thân mẫu. Ngày nay chúng ta đến hành hươngẤn độ để chiêm bái bốn chỗ Động tâm: Đản sanh, Thành đạo, Chuyển pháp luân và nơi Phật nhập diệt.
11 Tháng Chín 20207:52 SA(Xem: 170)
Toàn bộ mục đích của việc nghiên cứu Phật Pháp là để tìm con đường giải thoát khổ, đạt đến hạnh phúcbình an. Dù chúng ta nghiên cứu các hiện tượng thân hay tâm, tâm vương (citta) hay tâm sở (cetasikā), chỉ khi lấy sự giải thoát khổ làm mục đích cuối cùng thì chúng ta mới ở trên con đường chánh – không gì khác. Khổ có mặt là
10 Tháng Chín 20208:43 CH(Xem: 172)
Các bạn, những người đi tìm kiếm thiện pháp, tụ hội ở đây ngày hôm nay, xin hãy lắng nghe với sự bình an. Nghe pháp với sự bình an là lắng nghe với sự tập trung, chú ý tới những gì bạn nghe và rồi buông bỏ. Nghe pháplợi ích vô cùng. Khi nghe pháp, chúng ta an trú thân tâm mình trong sự định tĩnh, bởi vì đây cũng chính là
09 Tháng Chín 202010:56 CH(Xem: 165)
Bạn đừng quên rằng việc thực tập không dễ dàng chút nào. Uốn nắn thứ gì khác thật không mấy khó khăn, đôi khi còn dễ dàng nữa là khác, nhưng uốn nắn tâm con người quả thật là thiên nan vạn nan. Đức Thế Tôn đã điều phục tâm của mình một cách viên mãn. Tâm là quan trọng nhất. Mọi bộ phận trong hệ thống thân tâm này
08 Tháng Chín 20205:26 CH(Xem: 215)
Hôm nay đề tài mà tôi muốn nói với các bạn là tỉnh giác hay hiểu biết sáng suốt trong khi ăn. Cơ thể chúng ta cần thức ăn mỗi ngày, bởi vậy hàng ngày chúng ta cần phải ăn để sống. Thức ăn trở thành một nhu cầu thiết yếu và lớn lao của cuộc sống. Chúng ta phải bỏ ra nhiều thì giờ để ăn, nghĩa là phải tốn thì giờ để kiếm thức ăn,
06 Tháng Chín 20207:02 CH(Xem: 253)
Chùa rất đơn sơ, đúng như tinh thần tri-túc-tiện-túc nhưng lại có một bảo vật vô giá mà nơi cất giữ chỉ Sư và bẩy đệ tử biết thôi. Đó là một xâu chuỗi mà tương truyền là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng đeo. Một ngày kia, sau thời công phu tối, Sư vừa băn khoăn, vừa buồn rầu nói với các đệ tử: - Xâu chuỗi không còn đó! Trong các con,
05 Tháng Chín 20209:47 CH(Xem: 307)
Tôi có một đệ tử xuất gia, người tây phương. Hễ mỗi khi thấy các sư hay tập sự người Thái xả y hoàn tục, anh liền nói: “Ồ, thật là xấu hổ làm sao! Tại sao họ lại làm thế chứ? Tại sao có quá nhiều sư và tập sự Thái hoàn tục như thế?” Anh ta cảm thấy sốc. Anh ta buồn khi thấy các sư và tập sự Thái hoàn tục bởi vì anh chỉ mới đến tiếp xúc
04 Tháng Chín 20202:19 CH(Xem: 444)
Ngày 25-9-2019 chùa chúng ta xẩy ra một sự cố, sự cố lớn – đấy là chuyện "có một ông sư" đã cuổm hết tiền của quỹ Tam Bảo, quỹ xây dựng, quỹ sinh hoạt, quỹ du học… để đi đánh bạc (có lẽ) thua sạch. Thế rồi chúng ta phải còng lưng trả những món nợ bên ngoài. Chuyện ấy cũng cần nói rõ ràng ra không cần phải giấu diếm nữa.
03 Tháng Chín 20209:05 CH(Xem: 405)
Một hôm, Đức Phật ngồi trò chuyện cùng các môn đồ của mình. Ngài kể cho họ về chuyện một người đàn ông muốn qua sông song lại bị kẹt lại ở trên bờ. Ở bờ bên này đang có một hiểm nguy lớn đang chờ ông ta. Ở bờ sông bên kia thì rất an toàn. Nhưng chẳng có cây cầu hay chiếc phà nào để qua sông. Vậy phải làm sao?
02 Tháng Chín 20209:24 CH(Xem: 536)
Đây là cuốn sách sọan dịch từ những bài pháp ngắn mà Hòa thượng Sīlānanda đã giảng trong những khóa thiền ngắn ngày, và dài ngày ở nhiều nơi trên thế giới rất hữu ích cho những người mới hành thiền cũng như đã hành thiền lâu ngày. Người mới hành thiền biết hành thiền đúng theo những lời dạy của Đức Phật. Người hành thiền
01 Tháng Chín 20206:32 CH(Xem: 582)
Từ những ngày đầu bước chân vào con đường tu học Phật, tôi đã cảm thấy mạnh mẽ rằng thế nào tôi cũng sẽ tìm được cho mình một lối sống chân thậtan lạc. Vào thời ấy, cuộc sống của tôi bị chi phối bởi nhiều rối rensợ hãi. Tôi cảm thấy xa lạ với tất cả mọi người, với thế giới chung quanh, và ngay cả với những kinh nghiệm
31 Tháng Tám 20209:43 CH(Xem: 471)
Thiền Quán, Con Đường Hạnh Phúc (It's Easier Than You Think) là một quyển sách vui tươi và rất dễ đọc. Tác giả trình bày giáo lý của đức Phậtphương pháp tu tập, bằng các mẩu chuyện về những kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Bà Sylvia Boorstein là một nhà tâm lý trị liệu (psychotherapist) và cũng là một giáo thọ
30 Tháng Tám 202011:15 CH(Xem: 399)
Khi bàn luận một vấn đề cần giải quyết: * Không trách móc phiền hà. * Tuyệt đối không nêu khuyết điểm của người. * Chỉ nêu cái khó chung để cùng giải quyết. * Lắng nghe ý người. Khuyến khích, thừa nhận ý kiến đóng góp của người. * Hướng đến việc giải quyết vấn đề, trước mắt, không nhắc việc bất đồng đã qua. * Để người nói nhiều
29 Tháng Tám 202011:05 SA(Xem: 553)
Tình cờ một quyển sách nằm trong tầm tay. A Glimpse of Nothingness – chợt nhận, thoáng nhận ra Không tính – tên tác giả lạ hoắc, không phải hàng Sư tổ của thiền. Chính vì chỗ này mà cách diễn tả gần gũi. Một tục gia cư sĩ, thương gia người Hà Lan, đi theo con đường của chính mình, tự tìm ra câu giải đáp, cùng với các bạn
28 Tháng Tám 20209:03 CH(Xem: 426)
Thời đức Phật, có ngài Kassapa, mẹ của ngài là một Tỳ-kheo ni. Do bà đi nghe phápphát tâm đi tu. Chồng của bà cũng hoan hỷ để bà đi. Sau khi được nhập vào ni đoàn, thì bụng của bà ngày một lớn lên. Mọi người họp nhau lại và định đuổi bà ra khỏi hội chúng. Bà cảm thấy mình bị oan ức nên mới đến kêu cứu với Phật.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1710)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3392)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4916)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
02 Tháng Chín 20209:24 CH(Xem: 536)
Đây là cuốn sách sọan dịch từ những bài pháp ngắn mà Hòa thượng Sīlānanda đã giảng trong những khóa thiền ngắn ngày, và dài ngày ở nhiều nơi trên thế giới rất hữu ích cho những người mới hành thiền cũng như đã hành thiền lâu ngày. Người mới hành thiền biết hành thiền đúng theo những lời dạy của Đức Phật. Người hành thiền
01 Tháng Chín 20206:32 CH(Xem: 582)
Từ những ngày đầu bước chân vào con đường tu học Phật, tôi đã cảm thấy mạnh mẽ rằng thế nào tôi cũng sẽ tìm được cho mình một lối sống chân thậtan lạc. Vào thời ấy, cuộc sống của tôi bị chi phối bởi nhiều rối rensợ hãi. Tôi cảm thấy xa lạ với tất cả mọi người, với thế giới chung quanh, và ngay cả với những kinh nghiệm
31 Tháng Tám 20209:43 CH(Xem: 471)
Thiền Quán, Con Đường Hạnh Phúc (It's Easier Than You Think) là một quyển sách vui tươi và rất dễ đọc. Tác giả trình bày giáo lý của đức Phậtphương pháp tu tập, bằng các mẩu chuyện về những kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Bà Sylvia Boorstein là một nhà tâm lý trị liệu (psychotherapist) và cũng là một giáo thọ
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1340)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1274)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 1418)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1674)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1894)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1728)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.