“Không Chắc Thật!”, Tiêu Chuẩn Của Bậc Thánh - "Not Sure!", The Standard Of The Noble Ones

05 Tháng Chín 20209:47 CH(Xem: 344)
“Không Chắc Thật!”, Tiêu Chuẩn Của Bậc Thánh - "Not Sure!", The Standard Of The Noble Ones

AjahnChah100_B


“Không Chắc Thật!”, Tiêu Chuẩn Của Bậc Thánh
"Not Sure!", The Standard Of The Noble Ones
Ajahn Chah - Thường Huyễn chuyển dịch
Source-Nguồn: ajahnchah.org, sutamphap.com


__________________

“Không Chắc Thật!”, Tiêu Chuẩn Của Bậc Thánh

Tôi có một đệ tử xuất gia, người tây phương. Hễ mỗi khi thấy các sư hay tập sự người Thái xả y hoàn tục, anh liền nói: “Ồ, thật là xấu hổ làm sao! Tại sao họ lại làm thế chứ? Tại sao có quá nhiều sư và tập sự Thái hoàn tục như thế?” Anh ta cảm thấy sốc. Anh ta buồn khi thấy các sư và tập sự Thái hoàn tục bởi vì anh chỉ mới đến tiếp xúc với đạo Phật. Anh rất sốt sắngkiên quyết. Với anh, đã xuất gia làm một vị Tăng thì phải đi cho hết con đường và anh nghĩ anh sẽ không bao giờ xả y hoàn tục. Những ai hoàn tục anh đều cho là khờ dại cả! Anh thấy người Thái xuất gia thọ giới đắp y đầu mùa An cư làm Tăng hay tập sự xuất gia và rồi xả y vào cuối Hạ… anh thương hại: “Ồ, thật là buồn! Tôi cảm thấy thương hại cho những vị Tăng và tập sự Sa-di Thái ấy. Làm thế nào họ có thể làm chuyện như vậy chứ?”

 

Thế rồi, thời gian trôi qua, có một vài vị Tăng tây phương bắt đầu hoàn tục, anh ta thấy đó không còn quan trọng gì lắm. Buổi đầu, khi mới khởi sự thực tập, nhiệt huyết trong anh dâng cao. Anh cho rằng việc trở thành một vị Tăng hết sức quan trọng và không khó khăn gì.

 

Khi con người ta hứng khởi đều xem mọi chuyện dường như rất đúng và tốt đẹp. Không có gì có thể diễn bày được cảm giác của họ lúc đó, họ tiến về phía trước và tự quyết định chính mình. Nhưng họ không thật sự hiểu biết thực tập gì đây. Những người hiểu biết sẽ có một nền tảng kiên định trong tâm, tuy nhiên họ im lặng không cần nói cho ai biết cả.

 

Với chính tôi, khi lúc mới thọ giới, tôi thật sự không thực tập gì nhiều, nhưng tôi có niềm tin. Cũng không hiểu tại sao, có lẽ nó có mặt từ lúc tôi mới chào đời. Những vị Tăng và tập sự Sa-di xuất gia cùng lúc với tôi, đến cuối mùa An cư đều hoàn tục hết. Tôi tự nghĩ, “Ơ kìa? Chuyện gì đến với những người này vậy?” Tuy nhiên tôi không dám nói gì với họ bởi vì tôi không rõ cảm giác của tôi lúc đó, tâm tôi rối lên. Trong tâm, tôi cảm thấy tất cả họ thật dại dột: “Xuất gia được rất khó, hoàn tục thật dễ dàng. Những người này không có đủ công đức, họ nghĩ rằng sống đời thế tục ý nghĩa hơn sống trong Pháp”. Nghĩ như thế nhưng tôi không nói gì cả, chỉ quán sát tâm mình.

 

Tôi chứng kiến những vị Tăng xuất gia cùng lúc với tôi tuần tự hoàn tục. Đôi khi họ ăn mặc bảnh bao rồi đến tự viện khoe mẽ. Nhìn thấy cảnh ấy, tôi nghĩ họ thật khùng điên, thế nhưng họ lại tự cho rằng họ rất ư thức thời. Khi hoàn tục, bạn phải làm chuyện này chuyện nọ…. Tôi thầm nghĩ họ đã suy nghĩ chọn sai đường rồi. Nhưng tôi không nói gì, bởi vì bản thân tôi vẫn không chắc chắn mà. Tôi vẫn không chắc niềm tin của tôi sẽ kéo dài đến bao lâu.

 

Khi các bằng hữu của tôi hoàn tục hết, tôi không quan tâm gì nữa, cũng không có ai để tôi quan tâm. Tôi thọ giới pháp (Pāṭimokkha) [55] và bận bịu học giới. Không ai làm tôi phiền lòng hay mất thời gian nên tôi dồn hết tâm lực vào việc thực tập. Tôi vẫn không nói gì cả, bởi vì tôi cảm thấy thực tập là việc suốt cả cuộc đời, làm sao có thể đến lúc 70, 80 hay 90 tuổi vẫn luôn giữ vững tinh tấn, không thuyên giảm hay đánh mất quyết tâm của mình dường như là một điều cực kỳ khó làm.

 

Những người đã xuất gia sẽ đi tiếp con đường xuất gia, những người hoàn tục đi con đường thế tục. Tôi chỉ quán sát mọi việc xung quanh. Tôi không quan tâm chính tôi dù lúc trụ một chỗ hay đi đâu. Nhìn bằng hữu lần lượt rời tự viện, trong tôi chỉ khởi lên một niệm vì họ không có nhận thức rõ ràng. Vị Tăng tây phương có lẽ cũng nghĩ giống như thế. Anh ta thấy mọi người trở thành tu sĩ chỉ một mùa An cưcảm thấy buồn.

 

Sau này anh ta đến một giai đoạn, còn gọi là … “bị chán”, chán nản đời sống Thánh thiện này. Anh ta lơ là trong việc thực tập rồi cuối cùng xả y hoàn tục.

 

“Tại sao anh xả y hoàn tục? Trước đây khi thấy những sư Thái hoàn tục, anh từng nói, ‘Ồ, thật là xấu hổ làm sao! Thật buồn, thật tiếc thay!’ Bây giờ, chính anh muốn hoàn tục, tại sao anh không cảm thấy đáng thương lắm thay?”

 

Anh ta không trả lời, chỉ gượng cười.

 

Khi bước vào tu để thuần phục tâm mình, thật không phải dễ dàng tìm gặp một phương cách phù hợp nếu bạn chưa khai thác ra một chứng nhân trong bạn. Hầu hết các chuyện bên lề chúng ta dựa vào người khác để phản hồi lại, có những quy ướctiền lệ. Nhưng khi áp dụng giáo pháp như một chuẩn mực nhất định… liệu chúng ta có chút vốn giáo pháp nào chưa? Chúng tasuy nghĩ đúng đắn hay chưa? Và dù có suy nghĩ đúng rồi chúng ta có biết làm thế nào để thực tập thật đúng đắn hay lại cố chấp đối với pháp mình đang thực tập…?

 

Phải nghiền ngẫm cho đến khi nào bạn thấu đạt mục đích đến, đây là điểm quan trọng… khi nào bạn đến được mục đích, nơi ấy không còn gì bận tâm, không còn tốt hay xấu. Bạn đã quăng bỏ hết rồi. Đây có nghĩa là bạn đã xả bỏ tất cả. Nếu xả bỏ tất cả cũng đồng nghĩa là không gì còn sót lại, nếu còn chút gì sót lại tức chưa phải đã xả bỏ hết đâu vậy.

 

Thế nên rèn luyện tâm, đôi khi chúng ta nói việc đấy thật dễ. Nói thì rất dễ nhưng làm mới là khó, rất khó nữa là đằng khác. Thật rất khó trong việc thuần phục tâm, nó không thuận theo kỳ vọng của chúng ta. Đôi lúc dường như có thiên sứ [56] giúp, mọi thứ suông sẻ rất tốt, bất cứ chúng ta suy nghĩ hay nói dường như là đúng đắn. Thế rồi, chúng ta tiếp tục thực tập nhưng cố chấp vào cái gọi là đúng đắn ấy, không lâu sau chúng ta lệch lạc dần và mọi thứ trở thành tệ hại. Khó là như vậy. Chúng ta không có một chuẩn mực để đánh giá, định mức mọi thứ cho thích hợp.

 

Những người giàu niềm tin, họ được trời ban cho nghị lực tự tin và niềm tin nhưng thiếu trí tuệ, có thể rất tốt trong tu định nhưng họ không có trí năng. Họ nhận diện sự việc phiến diệnchấp nhận một cách dễ dàng. Họ không quán sát. Đấy là niềm tin mù quáng. Trong đạo Phật, chúng ta gọi đây là Saddha adhimokkha, nghiã là cuồng tín. Họ có niềm tin, điều đó rất tốt nhưng nó không được phát sinh từ trí tuệ. Không nhận ra điều này ngay, họ tin tự thân đã có trí tuệ nên không nhận thức ra mình sai chỗ nào.

 

Do vậy, Năm Lực (Bala) được liệt kê như sau: Tín (saddha), tấn (viriya), niệm (sati), định (samādhi), tuệ (paññā). Saddha là lòng tin, viriya là sự nỗ lực tinh tấn, sati là chánh niệm, samādhi là tâm bất động, paññā là sự hiểu biết toàn diện. Đừng nói rằng paññā là sự hiểu biết đơn thuần – paññā là hiểu biết tất cả, thấu triệt, hoàn toàn.

 

Trí tuệ được hình thành từ năm yếu tố này, chúng ta có thể nối kết chúng. Trước nhất nó như một đối tượng của sự nghiên cứu, thứ đến nó như một một phương tiện để so sánh trạng thái thực tập của chúng ta đúng y như thế. Ví dụ, saddha là lòng tin, chúng talòng tin không? Chúng ta đã phát huy nó chưa? Viriya là tinh tấn, chúng tatinh tấn hay không? Sự tinh tấn của chúng ta trong chiều hướng đúng hay sai? Chúng ta phải tư duy điều này. Mọi người có những loại tinh tấn, nhưng tinh tấn của chúng ta có gồm thâu trí tuệ hay không?

 

Sati cũng vậy. Ngay con mèo cũng có sati đấy. Khi nó thấy con chuột, tức sati đã có mặt ở đó. Mắt con mèo chằm chằm bất động vào con chuột. Đây là sati của con mèo. Mọi người đều có sati, động vật cũng có, kẻ phạm tội có sati, các bậc hiền nhân đều có sati.

 

Samādhi, tâm bất độngmọi người cũng đều có đặc tính này. Con mèo cũng có khi nó tập trung chuẩn bị chụp và ăn con chuột. Nó rất chú tâm. Sati của con mèo là một loại của sati; chú tâm vào việc đang làm, tức samādhiđang có mặt. Paññā là trí tuệ giống cái biết của mọi loài hữu tình. Cái biết giống như cái biết của một con vật đủ hiểu biết để bắt chuột làm thức ăn.

 

Năm đặc tính này được gọi là những năng lực. Năm Lực có phát sinh từ Chánh kiến (sammādiṭṭhi) hay không? Saddha, viriya, sati, samādhi, paññā – có phải phát sinh từ Chánh kiến hay không? Chánh kiến là gì? Tiêu chuẩn đánh giá Chánh kiến là gì? Chúng ta phải nhận diện, hiểu biết tường tận tất cả.

 

Chánh kiếnhiểu biết tất cả sự vật đều không chắc chắn. Do vậy, Đức Phật và các bậc Thánh không cố nắm giữ chúng. Họ ghi nhận, hiểu thấu nhưng không phải bo bo cố chấp. Họ không để bị đồng hoá vào sự hiểu thấu ấy. Sự ghi nhận hiểu biết không dắt dẫn đến sở hữu, không bị tham ái làm nhơ uế, bại hoại. Không mưu cầu theo đuổi cho có được thứ này hay thứ kia, đó là cách thực tập đơn thuần. Khi bạn hiểu rõ điều gì đó rất đặc biệt, bạn có sung sướng hạnh phúc không? Nếu có sung sướng, bạn có cố bám giữ hạnh phúc đó không? Nếu không thích bạn có cố níu giữ thứ không thích đó không?

 

Một số quan điểm có thể được xem là những nguyên tắc trong việc đánh giá sự tu tập của chúng ta chính xác hơn. Những quan điểm đánh giá người này hơn người kia, họ bình đẳng như nhau, hay những người này ngu xuẩn hơn bọn người kia đều là tà kiến cả. Chúng ta biết những điều này nhưng chúng ta cũng biết với trí tuệ rằng chúng phát sinh rồi sẽ tan hoại mất đi. Nhận thấy rằng, chúng ta tốt hơn người khác là không đúng, nhận thấy ta và người như nhau là không đúng, thấy chúng ta thấp kém hơn người khác cũng không đúng.

 

Quan điểm đúng đắn là đốn sạch những thứ này. Chúng ta phải làm gì? Nếu nghĩ rằng chúng ta tốt hơn người khác, kiêu ngạo lập tức khởi lên. Kiêu mạn có mặt ở đó nhưng chúng ta không nhận diện ra nó mà thôi. Nếu nghĩ mình và người khác như nhau, chúng ta quên tỏ ra tôn trọng và khiêm tốn khi đúng thời. Nếu nghĩ, mình thua kém người khác, chúng ta sẽ mặc cảm nhu nhược nghĩ rằng mình thấp hèn, sinh trong một vận mệnh thấp thỏi, xấu xa, v.v…. Chúng ta vẫn bám níu chấp chặt vào Năm Uẩn (Khandhas), [57] đó chỉ đơn giản là hữu và sanh vậy.

 

Đây là một tiêu chuẩn để tự đánh giá tự thân. Một tiêu chuẩn khác là: khi gặp việc vui vẻ, cảm thọ hạnh phúc khởi lên trong ta, và khi gặp việc đau khổ, cảm thọ buồn bã liền xuất hiện. Chúng ta có thể quán sát xem tầng số dao động của hai luồng cảm thọ khiến tâm hoan hỷ và không hoan hỷ ấy có bằng nhau không? Hãy tự mình lượng xét dựa theo tiêu chuẩn này xem sao. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta kinh qua nhiều cảm thọ khác nhau, nếu nghe âm thanh gì đó chúng ta thích, liệu bản tính của chúng ta có thay đổi không? Hay tâm của ta bất động? Quán sát ngay ở đây chúng ta đưa ra nhận định.

 

Nhận diện nơi chính mình, đấy là nhân chứng của bạn. Đừng làm quyết định gì khi bạn đang lệ thuộc vào sức mạnh của lòng tham ái. Tham ái có thể thổi vào tư tưởng chúng ta thứ gì đó mà vốn trước đây chưa từng có mặt trong chúng ta. Chúng ta phải rất cẩn trọng.

 

Có nhiều góc độ và lĩnh vực để suy tư, nhưng cách đúng đắn thẳng tắt là không chiều theo tham ái của bạn, trừ Sự thật. Chúng ta nên nhận diện cả hai tốt và xấu và khi nhận biết chúng, hãy tiếp tục quán sát. Nếu không quán sát, chúng ta vẫn dậm chân một chỗ, cái tôi trong chúng ta đang có mặt, đang hiện hữu. Nếu cái tôi còn nguyên đó, thế có nghĩa chúng ta còn có cái lưu lại, vẫn còn hữu và sanh trong kho chứa này.

 

Do vậy, Đức Thế Tôn bảo phải thẩm xét chính mình, đừng thẩm xét người khác, họ thiện hay ác không mắc mớ gì đến bạn. Đức Thế Tôn chỉ ra con đường, và bảo rằng “Chân lý là như vậy”. Bây giờ tâm của chúng ta đang như thế hay không?

 

Giả sử có một vị Tăng lấy vài món đồ của một vị Tăng khác, vị Tăng đó cáo tội vị Tăng này: “Huynh lấy trộm đồ của tôi”.

 

“Tôi không có lấy trộm, tôi chỉ lấy chúng thôi mà”.

 

Thế rồi, họ đến hỏi vị Tăng thứ ba để phân xử. Vị Tăng thứ ba quyết định như thế nào đây? Vị ấy phải hỏi vị Tăng có tội trước hội đồng Tăng chúng. “Vâng, tôi lấy nó nhưng tôi không phải ăn cắp nó”. Liên quan đến tội này, trong phần Pārājika hay Saṅghādisesa có đề cập một số trường hợp tội tương tự: “Đúng tôi lấy nó nhưng tôi không cố ý”. Làm sao bạn tin được điều đó? Thật rắc rối. Nếu bạn không tin vị Tăng có tội nói, tất cả các bạn có thể đặt gánh nặng cho người tạo tác, gánh nặng đặt hết lên vị ấy.

 

Nhưng bạn nên biết rằng chúng ta không giấu được tư tưởng khởi lên trong tâm mình. Bạn không thể che dậy chúng được, dù việc ấy là sai hay đúng, dù hành động thiện hay ác, bạn không thể xua đuổi chúng dễ dàng bằng cách lãng quên chúng đi, bởi vì những hành động này chính nó có khuynh hướng bộc lộ ra ngoài. Tự chúng che giấu, tự chúng phơi bày, xuất hiện, tồn tại hay biến mất. Tất cả rất tự nhiên. Đây là bản chất vận hành của các pháp.

 

Đừng cố gắng đoán chừng hay suy biện về những pháp này. Khi còn vô minh (avijjā), chúng vẫn chưa dừng lại. Một lần có vị hội trưởng … hỏi tôi: “Thưa Thượng toạ, tâm của một một vị chứng quả A-na-hàm (anāgami) [58] đã hoàn toàn thanh tịnh chưa?”

 

“Đã có phần thanh tịnh”.

 

“Thưa tại sao vậy? Một vị A-na-hàm đoạn sạch mọi dục lạc, sao tâm vị ấy chưa thanh tịnh được?”

 

“Vị ấy đã xả bỏ hết mọi tham dục khát ái, nhưng vẫn còn chút sót lại có đúng không? Đó là vô minh còn sót lại. Nếu vẫn còn chút xíu rơi rớt lại tức là vẫn còn khiếm khuyết. Cũng giống như cái bát dùng để đi khất thực của một Tỳ-kheo. Có bát kích cỡ rất to, có cái trung bình, có cái nhỏ; loại bát cỡ trung bình là trung bình, loại bát nhỏ thì vẫn là nhỏ,… Không quan trọng là nhỏ như thế nào, nó vẫn là một cái bát có đúng thế không? Cũng vậy thôi… với vị chứng quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hoàn, quả A-na-hàm… đúng là họ đã loại trừ phiền não nhưng chỉ ở trong cấp độ của họ mà thôi. Cái gì vẫn còn sót lại, những vị Thánh ấy không thấy được. Nếu có thể xả bỏ hoàn toàn, họ đã thành bậc A-la-hán rồi. Họ vẫn chưa nhận diện thông suốt tất cả. Avijjā chính là sự không thấy biết ấy. Nếu tâm của bậc A-na-hàm hoàn toàn thẳng tắp, vị ấy không còn là bậc A-na-hàm nữa mà vị ấy đã tròn xong phận sự. Nhưng đằng này vẫn còn chút sót lại nơi họ”.

 

“Tâm của vị ấy thanh tịnh chưa?”

 

“Ồ, thanh tịnh nhưng chưa đạt 100%”.

 

Tôi có thể trả lời như thế nào nữa đây? Sau đó, vị ấy lại đến và hỏi tôi những điều xa rộng hơn. Vị ấy có thể quán sát nó, tiêu chuẩn đang ở đấy.

 

Đừng dễ duôi. Hãy tỉnh giác. Đức Thế Tôn luôn nhắc nhở động viên chúng ta phải tỉnh giác. Trong việc rèn luyện tâm mình, có thời gian tôi cũng bị cám dỗ, tôi nhận ra điều đó. Tôi thường bị xúi giục làm nhiều chuyện mà dường như những chuyện ấy toàn dắt dẫn đi trên con đường sai trái. Thật sự đó là một loại tâm sở ngang ngược, một loại tâm sở tự phụ kiêu ngạo. Diṭṭhi là quan kiến, và māna là kiêu ngạo đang ở đó. Thật hết sức khó mà tỉnh thức cảnh giác hai tâm sở này.

 

Có người muốn xuất gia ở đây. Anh ta mang y hậu và quyết định xuất gia để tưởng niệm và báo ơn người mẹ quá cố của mình. Anh ta vào tự viện, đặt y hậu xuống và không mấy cung kính chư Tăng ở đó, rồi anh bắt đầu thực tập thiền hành ngay trước chánh điện,… lui tới, tới lui, giống như đang biểu diễn.

 

Tôi nghĩ, “Ồ, xung quanh đây cũng còn có những con người giống thế này!” Đây gọi là saddha adhimokkha – niềm tin mù quáng. Anh ta quyết định đạt được mục tiêu giác ngộ trước lúc mặt trời lặn hay gì gì đó, anh nghĩ điều đó thật quá dễ dàng. Anh không nhìn thấy ai hết, chỉ cắm cúi bước như thể cuộc đời anh thuộc về nó. Tôi cứ để anh ta tự nhiên, nhưng trong lòng nghĩ: “Ồ, con người này, anh cho rằng việc ấy dễ như thế hay sao?” Sau cùng, không biết anh ta ở đó bao lâu, tôi không nghĩ anh ta đã thọ giới.

 

Ngay khi tâm khởi lên suy nghĩ gì đó, chúng ta đã đi ra ngoài rồi, lúc nào cũng hướng tâm ra ngoài. Chúng ta không nhận ra sự linh hoạt của thói quen rất thường trong tâm này. Nó tự cải trang như trí tuệ hay lợi khẩu. Sự linh hoạt của tâm như thế này có vẻ rất là thông minh, nếu không biết chúng ta sẽ lẫn lộn nó với trí tuệ ngay. Một điều trải qua sự suy tư, sắp xếp thì không còn là thật tướng nữa. Rồi khi đau khổ phát sinh, cái được gọi trí tuệ ấy đang ở đâu? Nó có ích lợi gì không? Sau rốt chỉ làm khổ gia tăng thêm.

 

Cho nên hãy ở bên cạnh Đức Phật. Như nhiều lần trước đây tôi đã nói, trong việc thực tập chúng ta phải quay về bên trong tìm Đức Phật. Đức Phật ở đâu? Ngài vẫn đang hiện hữu đến ngày nay, hãy quay về tìm Ngài. Ngài đang ở đâu? Nơi vô thường (aniccam), hãy quay về tìm Ngài ở đó, đến và quỳ đảnh lễ Ngài: vô thường (aniccam), không chắc thật. Chúng ta có thể dừng ngay nơi đó trước khi mọi ý nghĩ khởi động.

 

Nếu tâm cho bạn biết, “Tôi là một vị Tu-đà-hoàn rồi”, hãy quay về đảnh lễ vị Tu-đà-hoàn đây. Chính vị ấy sẽ nói cho bạn biết, “điều này không chắc chắn đâu”. Nếu bạn gặp một vị Tư-đà-hàm hãy đến đảnh lễ vị ấy. Khi vị ấy thấy bạn, vị ấy sẽ nói ngay “sự tình không chắc đâu!” Nếu có một vị A-na-hàm, hãy đến đảnh lễ vị ấy. Vị ấy cũng sẽ nhắc nhở chỉ một câu… “không chắc chắn”. Ngay cả khi bạn gặp một vị A-la-hán, hãy đến đảnh lễ và vị ấy cũng sẽ dạy cho bạn câu này trong tinh thần khẳng quyết hơn, “Tất cả mọi thứ đều không bền vững”.

 

Đừng cho rằng Đức Thế Tôn là một người thờ ơ. Đừng bám víu thứ gì cả, chỉ quán sát cẩn thận. Quán sát mọi sự từ vẻ biểu hiện bên ngoài cho đến bản thể siêu tột bên trong chúng. Đấy là điều bạn cần phải thực tập. Thấu triệt sự vật nơi hiển hiện bên ngoài và bản thể siêu việt bên trong.

 

Thế nên tôi nói, “Hãy đến diện kiến Đức Thế Tôn”. Ngài đang ở đâu? Ngài đang trụ nơi Pháp. Tất cả giáo pháp trong thế giới đều có thể hàm tàng trong lời dạy duy nhất này: Vô thường. Hãy nghiền ngẫm đạo lý này. Một nhà sư như tôi đã tìm kiếm hơn bốn mươi năm và nhận chân được chỉ có thế. Vô thường và lòng kiên nhẫn. Đấy là cách tiếp cận với giáo pháp của Đức Thế Tôn… aniccam: tất cả không bền vững.

 

Chúng ta không cần biết chắc tâm đang muốn gì, chỉ bảo nó “Không chắc thật!” Bất cứ khi nào tâm muốn theo đuổi đối tượng xem đó như thể chắc thật, hãy nói với nó: “Không chắc thật đâu, phù du lắm”. Dùng cách này thuyết phục nó. Hãy đem giáo pháp của Đức Thế Tôn soi sáng tất cả mọi sự. Không chỉ thế giới hiện tượng này là phù du, khi đứng, đi, ngồi, nằm bạn đều thấy trong mọi hành hoạt đều có sự hiện diện Đức Thế Tôn và sẽ thấy thật gần với giáo pháp.

 

Tôi nhận thấy đây là một phương pháp thực tập rất hữu hiệu. Suốt khoảng thời gian tu tập từ những ngày đầu cho đến bây giờ, tôi gặt hái được kết quả này. Thực sự tôi không dựa vào kinh điển nhưng không phải tôi không quan tâm học kinh. Tôi không dựa vào vị thầy nhưng không hẳn là tôi “tu một mình”. Việc thực tập của tôi “không nghiêng về bên này cũng không phải nghiêng về bên kia”.

 

Thành thật mà nói, việc thực tập hoàn tất đó là khi thực tập tinh cầnnhận diện rõ ràng cả Ngoại tướng và Tính siêu việt của vạn pháp.

 

Tôi đã từng trình bày về điều này, song có thể hữu ích cho một số vị ở đây nghe lại: nếu bạn thực tập thường xuyênnghiền ngẫm mọi việc thấu đáo, bạn sẽ thành tựu…. Đầu tiên, bạn hấp tấp tiến về phía trước, rồi vội vã quay trở lại, vội vã thôi tu. Bạn tiếp tục thực tập như thế thì biết đến khi nào đạt được mục đích. Dường như đang tiến về phía trước nhưng thật sự không phải đang tiến về phía trước mà là quay trở lại, nhưng thật sự cũng không phải là quay trở lại, dường như là đang ngừng nghỉ, nhưng thật ra không phải là ngừng nghỉ. Việc thực tập đích thực đã hoàn tất. Đây chính là điểm cuối cùng. Đừng mong chờ điều gì hơn là điều này nữa, điểm cuối dừng ngay đây. Khinasavo – có nghĩa là một người đã hoàn tất mọi phận sự. Vị ấy không tiếp tục, không ẩn dật, và cũng không đứng dừng. Không có sự dừng lại, không tiếp tục tiến bước, cũng không bước lui. Việc đã xong. Suy ngẫm điều này, nhận diện nó một cách rõ ràng trong tâm của bạn. Ngay đó bạn sẽ tìm thấy sự thật là không có cái gì hết.

 

Điều này cũ rích hay mới mẻ tuỳ thuộc vào trí tuệnhận thức của bạn. Người không có trí tuệ, không nhận thức sáng suốt sẽ không thể hiểu biết rõ ràng được. Chỉ cần nhìn cây cối xung quanh, cây xoài hay cây mít chẳng hạn, giáo pháp ở ngay đấy. Nếu nó lớn lên trong lùm bụi, một cây có thể to lớn, nhưng những cây khác sẽ bị vong vẹo và chúng mọc nghiêng ra bên ngoài tách khỏi cây to kia. Tại sao điều này xảy ra? Ai bảo chúng làm chuyện đó? Đấy là Tự nhiên. Tự nhiên gồm chứa cả tốt và xấu, đúng và sai. Nó có thể nghiêng theo đúng, cũng có thể nghiêng theo sai. Nếu chúng ta trồng bất cứ loại cây gì gần nhau, khi phát triển lớn dần, những cây nhỏ yếu hơn sẽ chỉa cành lách khỏi cây lớn. Sự tình này diễn ra như thế nào? Ai quyết định điều đó như vậy? Đấy là Tự nhiên, là Pháp.

 

Cũng thế, tham ái (taṇhā) dẫn dắt chúng ta đến chỗ khổ đau. Nếu chúng ta biết ngẫm suy lại điều đó sẽ giúp chúng ta thoát khỏi tham ái, loại bỏ được tham ái. Bằng cách quán sát tham ái, chúng ta sẽ làm nó rơi rụng, khiến nó vơi bớt dần cho đến khi hoàn toàn mất hẳn. Giống như đám cây này: Có ai ra lệnh cho chúng lớn theo ý muốn của họ không? Họ không thể nói hay di chuyển chúng và họ biết việc ép cây phát triển theo ý muốn con ngưòi là khó khăn, trở ngại. Chỗ nào bị gò ép và chật chội, sự phát triển gặp khó khăn, chúng sẽ uốn cong hướng ra.

 

Đấy là Pháp, nhưng chúng ta không chịu khó ngắm kỹ chúng. Những ai thông minh, sâu sắc sẽ thấy Pháp ngay đây. Cây sống tự nhiên không nhận thức gì cả, chúng vận hành theo bản tính tự nhiên, chúng không đủ ý thức tránh nguy hiểm để phát triển, hướng đến nơi thích hợp.

 

Người biết suy nghĩ cũng giống như thế. Chúng ta xuất gia, sống đời không gia đình bởi vì chúng ta muốn thoát khỏi khổ đau. Cái gì làm chúng ta đau khổ? Nếu chúng ta hướng vào trong thân quán sát chúng ta sẽ thấy ngay. Hễ khi chúng ta khởi tâm thích hay không thích là khổ đến rồi đấy. Nếu họ đang đau khổ đừng nên đến quá gần họ. Bạn có muốn bi luỵ trong sự yêu mến hay thù hận các duyên xung quanh đó không?… Tất cả chúng không chắc chắn. Khi chúng ta hướng về Đức Thế Tôn, tất cả đau khổ này đều chấm dứt. Đừng lãng quên điều này. Hãy kiên trì và nhẫn nại. Chỉ hai đức tính này là đủ. Nếu bạn có sự hiểu biết như thế là rất tốt.

 

Thật ra trong việc thực tập của riêng mình, tôi không có một vị thầy giảng dạy cho tôi nhiều như tôi hướng dẫn giảng dạy cho bạn. Tôi không có nhiều thầy hướng dẫn. Tôi thọ giới trong một ngôi chùa nhỏ ở làng quê đơn sơ và sống ở những chùa làng mấy năm. Tôi nuôi nấng lòng khát khao thực tập, tôi muốn rèn luyện để tâm trở thành thuần thục. Những chùa quê tôi ở, không có vị thầy nào hay vị Tăng nào giảng dạy giáo pháp cả, nhưng niềm đam mê thực tập luôn thôi thúc trong tôi. Tôi đi đó đây học hỏi. Tai tôi luôn chú tâm lắng nghe, mắt tôi luôn chú tâm quan sát. Những gì nghe người ta nói, tôi tự nhắc tôi: “Chưa chắc”. Những gì thấy được, tôi cũng tự nhắc nhở mình: “Chưa chắc”. Hay khi lưỡi nếm vị ngọt, chua, mặn, vị thích hay không thích, cảm giác dễ chịu hay khó chịu phát sinh trên thân, tôi cũng tự nhắc nhở: “Cảm thọ này không bền đâu!” Và cứ như thế tôi luôn sống trong Pháp.

 

Sự thật, không gì bền vững cả nhưng tham muốn của chúng ta muốn chúng thường còn. Chúng ta có thể làm được gì? Chúng ta phải kiên nhẫn thôi. Điều quan trọng nhất là kiên trì nhẫn nại (khanti). Đừng đánh mất vị Phật, nguyên lý mà tôi gọi tên, đó là “không bền vững” – đừng làm nó rơi rớt mất.

 

Thỉnh thoảng tôi đến chiêm bái những di tích Phật giáo cổ, nơi đây chỉ còn lại những tự viện lâu đời được các kiến trúc sư, nghệ nhân tiền bối xây cất chạm khắc công phu. Nhiều chỗ đã bị nứt bể, trầy trụa. Có lẽ một trong số bằng hữu của tôi đã nhận xét: “Thật tệ xấu và đáng thẹn làm sao? Bị nứt bể hết rồi”. Tôi trả lời: “Nếu không có sự vô thường như vậy, đã không có Phật pháp”. Vào sâu bên trong di tích, tôi thật rất buồn khi thấy nhiều chỗ đổ nát nhưng tôi nén dằn ngay xúc cảm uỷ mị của mình và cố gắng lựa lời an ủi huynh đệ cũng như chính mình. Mặc dù, cũng cảm thấy tiếc nuối, lưu luyến, tôi vẫn hướng tâm mình về với giáo pháp.

 

“Nếu không có sự bất toàn, sẽ không có vị Phật nào ra đời cả!”

 

Tôi nói điều đó thật sự mang lại lợi ích rất lớn cho các bằng hữu huynh đệ của tôi…, cũng có lẽ họ không nghe tôi nói, song vẫn còn có tôi đang lắng nghe lời nhắn nhủ của chính mình.

 

Đây là cách tư duy đối với mọi hiện tượng rất là hữu ích. Ví dụ, nói làm cho ai đó bực mình, bảo rằng: “Bạch Thượng toạ! Ngài có biết người ta nói gì về ngài không?” hay “Cậu ta nói như thế, như thế về ngài đấy…”. Có thể bạn sẽ nổi cơn thịnh nộ ngay. Vừa khi nghe những lời phê bình này, bạn bắt đầu phản ứng theo thói quen nổi nóng như lâu nay. Mới nghe những lời này qua tai, chúng ta đã sẵn sàng trả đũa, nhưng quán chiếu chân tướng sự việc, chúng ta có thể phát hiện ra rằng: “… Ồ không, sau đó họ đã nói khác rồi”.

 

Cũng có trường hợp “không chắc chắn” khác, vậy tại sao chúng ta lại vội vàng tin tưởng sự kiện ấy? Tại sao chúng ta đặt hết niềm tin vào những gì người ta nói vậy? Nghe bất cứ gì, chúng ta nên nhớ và kiên nhẫn quan sát sự việc một cách thận trọng…

 

Không phải bất cứ gì hiện ra trong đầu, chúng ta viết xuống hết xem đó là sự thật. Lời nói nào không nhắc đến sự thật vô thường thì không phải lời nói của các bậc hiền nhân. Hãy ghi nhớ điều này. Là người có trí, chúng ta không phải thực tập dài lâu. Bất cứ thấy hay nghe điều gì, chuyện ấy khiến sung sướng hay buồn bực, chỉ cần nhủ lòng “Điều này không thật!” Nói thật mạnh với lòng, tất cả mọi hiện tượng đều lấy đó soi chiếu. Đừng đắp xây những điều ấy khiến trở nên to lớn trầm trọng hơn, hãy nhìn chúng ung dung nhẹ nhàng với quan điểm này. Đây là điểm hết sức quan trọng. Ngay tại chỗ này, mọi phiền não đều chấm dứt. Các hành giả đừng bao giờ bỏ qua điều này nhé.

 

Nếu không thận trọng điểm này, bạn chỉ còn cách chờ đau khổ đến, chờ sai lầm đến. Nếu không lấy điều này làm nền tảng cho việc tu tập, bạn sẽ đi sai đường ngay… nhưng rồi sau đó bạn sẽ trở lại đúng đường, bởi vì phương pháp này thật sự là một phương pháp tu tập hiệu quả tốt.

 

Thật ra, về giáo pháp đúng đắn, ý chính tôi muốn trình bày hôm nay không quá huyền bí khó hiểu. Những gì bạn trải nghiệm chỉ là một trạng huống rất bình thường, cảm giác bình thường, nhận thức thô thiển, ý nguyện giản dị và ý thức bình dị. Những đặc tính căn bản này có chút bền vững chắc chắn nào trong đó không?

 

Nếu chúng ta hiểu rõ tính tự nhiên trong vạn pháp giống như thế này, tham vọng, mê đắm, chấp giữ phai lạt ngay. Tại sao chúng phai lạt? Bởi vì chúng ta hiểu rõ, chúng ta ý thức rõ. Chúng ta chuyển vô minh thành trí tuệ. Từ vô minh mới có trí tuệ, từ vô tri mới có hiểu biết, từ bất tịnh mới sinh thanh tịnh. Các pháp vận hành như thế.

 

Đừng quên nguyên lý aniccam (vô thường), đấy là một vị Phật. Điều này mang ý nghĩa Đức Phật luôn hiện hữu. Quan niệm Đức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn là không đúng. Ý nghĩa thâm diệu hơn là Đức Thế Tôn vẫn luôn có mặt. Cũng như khi định nghĩa Tỳ-kheo, nếu chúng ta định nghĩa rằng Tỳ-kheo (Bhikkhu) là “người đi xin”, [59] ý nghĩa này vô cùng rộng. Chúng ta có thể định nghĩa theo cách này nhưng lúc nào cũng nói như thế thì không ổn lắm. Chúng ta không biết khi nào mới dừng đi xin!  Vậy nên, chúng ta định nghĩa từ ngữ này theo cách thâm diệu hơn – “Tỳ-kheo là người thấy được sự nguy hiểm của vòng luân hồi”.

 

Định nghĩa như thế có phải thâm diệu hơn không? Nó không cùng nghĩa với cách định nghĩa trước, ý nghĩa này sâu sắc hơn rất nhiều. Thực tập giáo phải là như thế. Nếu bạn không hiểu thông suốt, nó trở nên gì gì khác. Ngược lại, nếu hiểu rõ giáo pháp, nó trở nên vô giá, nơi phát nguyên hoà bình an lạc.

 

Khi có chánh niệm tức chúng ta đang gần với Pháp. Nếu có chánh niệm, chúng ta sẽ nhận chân vô thường, tính tạm thời ngắn ngủi trong tất cả các pháp. Chúng ta diện kiến Đức Thế Tôn và vượt thoát ngoài vòng luân hồi đau khổ, nếu không ngay bây giờ thì một lúc nào đó trong tương lai.

 

Nếu chúng ta phó mặc hết cho chư Hiền Thánh, chư Phật hay giáo pháp, việc thực tập của chúng ta như cánh đồng hoang vu, không có kết quả gì cả. Chúng ta phải duy trì việc thực tập thường xuyên, dù lúc chúng ta đang làm việc hay ngồi nghỉ, thậm chí cả lúc nằm. Khi mắt chúng ta thấy cảnh sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi thấy mùi hương, lưỡi nếm vị hay cơ thể cảm giác … lúc nào cũng đừng đánh mất vị Phật của mình, đừng ở xa vị Phật của mình.

 

Hãy là người gần gũi với Đức Thế Tôn, là người lúc nào cũng tôn kính Đức Thế Tôn. Chúng ta có nhiều khóa lễ tụng niệm tán thán tôn ngưỡng Đức Thế Tôn, như thời tụng kinh buổi sáng đảnh lễ tán thán Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh đẳng chánh giác… Đấy là một cách bày tỏ lòng tôn kính Đức Thế Tôn nhưng như vậy chưa phải là tôn kính Đức Thế Tôn thật sự theo nghĩa thâm diệu như ý tôi muốn nói ở đây. Cũng giống như từ ngữ “Tỳ-kheo”, nếu chúng ta định nghĩa nó là người đi xin vậy thì họ cứ mãi xin… bởi vì được định nghĩa như thế. Để định nghĩa từ ngữ “Tỳ-kheo” theo ý nghĩa đúng nhất, chúng ta nên nói: “Tỳ-kheo là người đã nhận thấy rõ sự nguy hiểm của vòng luân hồi”.  

 

Ở đây, ý nghĩa tôn kính Đức Thế Tôn cũng thế. Tôn kính Đức Thế Tôn bằng cách tụng niệm những đoạn kinh Pāli trong những khoá lễ sáng tối cũng giống như định nghĩa “Tỳ-kheo là người đi xin” vậy thôi. Nếu trong mọi lúc chúng ta luôn quán chiếu vô thường annicam, khổ dukkham và vô ngã anattā[60] bất cứ khi nào mắt thấy sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, tâm suy tưởng, thực tập này cũng ví như định nghĩa “Tỳ-kheo là vị đã thấy được nguy hiểm của vòng luân hồi”. Cách định nghĩa sau thật đúng đắn, thâm thuý hơn nhiều, loại bỏ nhiều ý tưởng thiển cận. Nếu chúng ta nhận chân thông suốt giáo lý này, hiểu biếttrí tuệ trong chúng ta sẽ tiến triển nhanh.

 

Đây còn gọi là patipada. Phát triển nhận thức như thế trong thực tập, bạn sẽ luôn đi trên con đường đúng đắn. Nếu bạn suy nghĩquán chiếu trong cách này, cho dù đang ở xa vị thầy của mình, bạn cũng có thể được xem như vẫn đang rất gần vị thầy. Nếu trên hình thức bạn đang ở gần thầy nhưng tâm bạn không gặp được thầy, bạn chỉ mất thời gian dòm ngó lỗi lầm của thầy hay chỉ lo chăm sóc, nịnh hót thầy mà thôi. Nếu vị thầy làm việc gì cho hợp ý bạn, bạn bảo thầy không tốt –  và mãi cho đến bây giờ bạn vẫn đang ở mức thực tập này. Bạn sẽ không thành tựu được gì cả chỉ vì lãng phí thời gian quan sát người khác. Tuy nhiên nếu bạn hiểu rõ giáo lý này, bạn có thể trở thành một vị Thánh ngay giây phút hiện tại đây.

 

Đó là nguyên nhân tại sao năm nay,[61] tôi giữ khoảng cách giữa tôi với đệ tử kể cả cũ và mới, và không giảng dạy nhiều: để bạn có thể quán sát mọi thứ chính bạn trong khả năng của mình. Đối với các tân Tỳ-kheo, tôi đặt ra thời khoá và thanh quy tu viện như là: “Đừng nói quá nhiều”. Đừng vượt quá giới hạn các tiêu chuẩn đã đặt để, con đường thực tập, kết quả và Niết-bàn. Bất cứ ai vượt quá tiêu chuẩn này không phải là một hành giả thực sự, không phải là người hoàn toàn chú tâm vào thực tập. Một người như thế hy vọng có thể chứng đạt điều gì? Cho dù anh ta có ngủ bên cạnh tôi mỗi ngày, anh ta cũng không thấy tôi. Cho dù anh ta ngủ bên Phật cũng không thể nào thấy được Phật nếu anh ta không chịu thực tập.

 

Vì vậy, nhận thứcgiáo pháp hay thấu hiểu giáo pháp tuỳ thuộc vào thực tập. Hãy tự tin, tự thanh lọc tâm mình. Nếu tất cả Tăng chúng trong tu viện này chánh niệm tỉnh thức trong từng tâm hành, chúng ta sẽ không bao giờ khiển trách hay ca tụng ai hết. Chúng ta cũng sẽ không hoài nghi hay ái luyến ai hết. Nếu sân hận hay không vừa lòng khởi lên, hãy để chúng tự nhiên trong tâm nhưng quan sát nhận biết rõ chúng.

 

Luôn kiên trì quán sát mọi vật. Chừng nào vẫn còn cái gì ở đó, có nghĩa chúng ta vẫn phải tiếp tục đào xới và nghiền ngẫm rèn luyện ngay điểm đó. Có người bảo rằng “Tôi không thể cắt đứt nó, tôi không thể làm điều đó”. Nếu chúng ta khởi tâm nói những điều như vậy quả thật vô nghĩa, không khác nào mớ rác rưởi vô giá trị ở đây mà thôi, bởi vì chưa có ai đoạn hết phiền não cấu uế nơi mình cả.

 

Bạn phải nỗ lực. Nếu bạn không thể diệt trừ, hãy tiếp tục tinh tấn đào xới quán chiếu sâu hơn nữa. Đào xới quán sát những phiền não khổ đau, nhổ bật gốc chúng lên. Đào tung chúng lên ngay cả chúng rất cứng chắc và hết sức khó khăn. Giáo pháp không phải là cái gì đó mà ta muốn là có thể đạt được. Tâm của bạn có thể đang ở lối này nhưng chân lý, sự thật lại ở một lối khác. Bạn phải quán sát phía trước và còn phải thận trọng mặt sau nữa. Đó là nguyên nhân tại sao tôi nói: “Không có gì chắc chắn, bền vững, tất cả đều phù du, thay đổi cả”.

 

Sự thật về nguyên lý không bền vững này rất bình thường dễ hiểu, và cũng rất thâm trầm, toàn hảo, song người ta lại lãng quên. Họ chú ý quan sát những thứ khác. Đừng tham chấp vào cái tốt, cái thiện, cũng đừng chấp chặt cái xấu cái ác. Chúng chỉ là thuộc tính tượng trưng trong thế giới này. Chúng ta đang thực tập viễn ly khỏi thế giới nên chấm dứt, đừng cưu mang những thứ này nữa. Đức Thế Tôn dạy chúng ta hãy đặt chúng xuống, bỏ chúng đi, bởi vì chúng là nguồn gốc mọi sự đau buồn khổ não.

____________________

  

[55] Nền tảng chính yếu của giới luật trong Tăng đoàn Phật giáo thường được tụng đọc mỗi nửa tháng bằng tiếng Pāli.

 

[56] Devaputta Māra  – Một loại Ma, kẻ cám dỗ xúi giục xuất hiện trong hình dáng dường như rất hiền lành, tốt bụng.

 

[57] Năm uẩn: Sắc (rūpa), thọ (vedanā), tưởng (saññā), hành (saṅkhāra) và thức (viññāṇa). Chúng kết hợp tạo nên khối tâm vật lý này được gọi là “cái ta”.

 

[58] Anāgami  (vị không còn trở lại): Tầng chứng đắc giác ngộ thứ ba. Ở giai đoạn này, hành giả đoạn trừ hết năm hạ phần kiết sử (trong mười kiết sử) – kiết sử này làm tâm mê muội  đối với cuộc sống thế gian. Hai tầng chứng đầu là Sotāpanna (dự lưu) và Sakadāgāmi (còn một lần trở lại). Tầng chứng cuối cùng là bậc Araham(A-la-hán) (vị Ứng cúng hay Toàn giác).

 

[59] Đó là người sống hoàn toàn nhờ vào lòng bao dung thiện thí của người khác.

 

[60] Sự ngắn ngủi, bất toàn và vô chủ.

 

[61] Năm 2522 theo kỷ nguyên Phật giáo hay năm 1979 theo kỷ nguyên Thiên Chúa giáo.

"Not Sure!", The Standard Of The Noble Ones

There was once a Western monk, a student of mine. Whenever he saw Thai monks and novices disrobing he would say, ''Oh, what a shame! Why do they do that? Why do so many of the Thai monks and novices disrobe?'' He was shocked. He would get saddened at the disrobing of the Thai monks and novices, because he had only just come into contact with Buddhism. He was inspired, he was resolute. Going forth as a monk was the only thing to do, he thought he'd never disrobe. Whoever disrobed was a fool. He'd see the Thais taking on the robes at the beginning of the Rains Retreat as monks and novices and then disrobing at the end of it... ''Oh, how sad! I feel so sorry for those Thai monks and novices. How could they do such a thing?''

 

Well, as time went by some of the Western monks began to disrobe, so he came to see it as something not so important after all. At first, when he had just begun to practice, he was excited about it. He thought that it was a really important thing, to become a monk. He thought it would be easy.

 

When people are inspired it all seems to be so right and good. There's nothing there to gauge their feelings by, so they go ahead and decide for themselves. But they don't really know what practice is. Those who do know will have a thoroughly firm foundation within their hearts - but even so they don't need to advertise it.

 

As for myself, when I was first ordained I didn't actually do much practice, but I had a lot of faith. I don't know why, maybe it was there from birth. The monks and novices who went forth together with me, come the end of the Rains, all disrobed. I thought to myself, ''Eh? What is it with these people?'' However, I didn't dare say anything to them because I wasn't yet sure of my own feelings, I was too stirred up. But within me I felt that they were all foolish. ''It's difficult to go forth, easy to disrobe. These guys don't have much merit, they think that the way of the world is more useful than the way of Dhamma.'' I thought like this but I didn't say anything, I just watched my own mind.

 

I'd see the monks who'd gone forth with me disrobing one after the other. Sometimes they'd dress up and come back to the monastery to show off. I'd see them and think they were crazy, but they thought they looked snappy. When you disrobe you have to do this and that... I'd think to myself that that way of thinking was wrong. I wouldn't say it, though, because I myself was still an uncertain quantity. I still wasn't sure how long my faith would last.

 

When my friends had all disrobed I dropped all concern, there was nobody left to concern myself with. I picked up the pātimokkha2 and got stuck into learning that. There was nobody left to distract me and waste my time, so I put my heart into the practice. Still I didn't say anything because I felt that to practice all one's life, maybe seventy, eighty or even ninety years, and to keep up a persistent effort, without slackening up or losing one's resolve, seemed like an extremely difficult thing to do.

 

Those who went forth would go forth, those who disrobed would disrobe. I'd just watch it all. I didn't concern myself whether they stayed or went. I'd watch my friends leave, but the feeling I had within me was that these people didn't see clearly. That Western monk probably thought like that. He'd see people become monks for only one Rains Retreat, and get upset.

 

Later on he reached a stage we call... bored; bored with the Holy Life. He let go of the practice and eventually disrobed.

 

''Why are you disrobing? Before, when you saw the Thai monks disrobing you'd say, 'Oh, what a shame! How sad, how pitiful.' Now, when you yourself want to disrobe, why don't you feel sorry now?''

 

He didn't answer. He just grinned sheepishly.

 

When it comes to the training of the mind it isn't easy to find a good standard if you haven't yet developed a ''witness'' within yourself. In most external matters we can rely on others for feedback, there are standards and precedents. But when it comes to using the Dhamma as a standard... do we have the Dhamma yet? Are we thinking rightly or not? And even if it's right, do we know how to let go of rightness or are we still clinging to it?

 

You must contemplate until you reach the point where you let go, this is the important thing... until you reach the point where there isn't anything left, where there is neither good nor bad. You throw it off. This means you throw out everything. If it's all gone then there's no remainder; if there's some remainder then it's not all gone.

 

So in regard to this training of the mind, sometimes we may say it's easy. It's easy to say, but it's hard to do, very hard. It's hard in that it doesn't conform to our desires. Sometimes it seems almost as if the angels3 were helping us out. Everything goes right, whatever we think or say seems to be just right. Then we go and attach to that rightness and before long we go wrong and it all turns bad. This is where it's difficult. We don't have a standard to gauge things by.

 

People who have a lot of faith, who are endowed with confidence and belief but are lacking in wisdom, may be very good at samādhi but they may not have much insight. They see only one side of everything, and simply follow that. They don't reflect. This is blind faith. In Buddhism we call this saddhā-adhimokkha, blind faith. They have faith all right but it's not born of wisdom. But they don't see this at the time, they believe they have wisdom, so they don't see where they are wrong.

 

Therefore they teach about the five powers (bala): saddhā, viriya, sati,  samādhi, paññā. Saddhā  is  conviction;  viriya  is  diligent  effort;  sati  is  recollection;  samādhi  is  fixedness  of  mind;  paññā  is  all-embracing  knowledge.  Don't  say  that  paññā  is  simply  knowledge  -  paññā  is  all-embracing,  consummate  knowledge.

 

The wise have given these five steps to us so that we can link them, firstly as an object of study, then as a gauge to compare to the state of our practice as it is. For example, saddhā, conviction. Do we have conviction, have we developed it yet? Viriya: do we have diligent effort or not? Is our effort right or is it wrong? We must consider this. Everybody has some sort of effort, but does our effort contain wisdom or not?

 

Sati is the same. Even a cat has sati. When it sees a mouse, sati is there. The cat's eyes stare fixedly at the mouse. This is the sati of a cat. Everybody has sati, animals have it, delinquents have it, sages have it.

 

Samādhi, fixedness of mind - everybody has this as well. A cat has it when its mind is fixed on grabbing the mouse and eating it. It has fixed intent. That sati of the cat's is sati of a sort; samādhi, fixed intent on what it is doing, is also there. Paññā, knowledge, like that of human beings. It knows as an animal knows, it has enough knowledge to catch mice for food.

 

These five things are called powers. Have these five powers arisen from right view, sammā-ditthi, or not? Saddhā, viriya, sati, samādhi, paññā - have these arisen from right view? What is right view? What is our standard for gauging right view? We must clearly understand this.

 

Right view is the understanding that all these things are uncertain. Therefore the Buddha and all the Noble Ones don't hold fast to them. They hold, but not fast. They don't let that holding become an identity. The holding which doesn't lead to becoming is that which isn't tainted with desire. Without seeking to become this or that there is simply the practice itself. When you hold on to a particular thing is there enjoyment, or is there displeasure? If there is pleasure, do you hold on to that pleasure? If there is dislike, do you hold on to that dislike?

 

Some views can be used as principles for gauging our practice more accurately. Such as knowing such views as that one is better than others, or equal to others, or more foolish than others, as all wrong views. We may feel these things but we also know them with wisdom, that they simply arise and cease. Seeing that we are better than others is not right; seeing that we are equal to others is not right; seeing that we are inferior to others is not right.

 

The right view is the one that cuts through all of this. So where do we go to? If we think we are better than others, pride arises. It's there but we don't see it. If we think we are equal to others, we fail to show respect and humility at the proper times. If we think we are inferior to others we get depressed, thinking we are inferior, born under a bad sign and so on. We are still clinging to the five khandhas4, it's all simply becoming and birth.

 

This is one standard for gauging ourselves by. Another one is: if we encounter a pleasant experience we feel happy, if we encounter a bad experience we are unhappy. Are we able to look at both the things we like and the things we dislike as having equal value? Measure yourself against this standard. In our everyday lives, in the various experiences we encounter, if we hear something which we like, does our mood change? If we encounter an experience which isn't to our liking, does our mood change? Or is the mind unmoved? Looking right here we have a gauge.

 

Just know yourself, this is your witness. Don't make decisions on the strength of your desires. Desires can puff us up into thinking we are something which we're not. We must be very circumspect.

 

There are so many angles and aspects to consider, but the right way is not to follow your desires, but the Truth. We should know both the good and the bad, and when we know them to let go of them. If we don't let go we are still there, we still ''exist,'' we still ''have.'' If we still ''are'' then there is a remainder, there are becoming and birth in store.

 

Therefore the Buddha said to judge only yourself, don't judge others, no matter how good or evil they may be. The Buddha merely points out the way, saying ''The truth is like this.'' Now, is our mind like that or not?

 

For instance, suppose a monk took some things belonging to another monk, then that other monk accused him, ''You stole my things.'' ''I didn't steal them, I only took them.'' So we ask a third monk to adjudicate. How should he decide? He would have to ask the offending monk to appear before the convened Sangha. ''Yes, I took it, but I didn't steal it.'' Or in regard to other rules, such as pārājika or sanghādisesa offenses: ''Yes, I did it, but I didn't have intention.'' How can you believe that? It's tricky. If you can't believe it, all you can do is leave the onus with the doer, it rests on him.

 

But you should know that we can't hide the things that arise in our minds. You can't cover them up, either the wrongs or the good actions. Whether actions are good or evil, you can't dismiss them simply by ignoring them, because these things tend to reveal themselves. They conceal themselves, they reveal themselves, they exist in and of themselves. They are all automatic. This is how things work.

 

Don't try to guess at or speculate about these things. As long as there is still avijjā (unknowing) they are not finished with. The Chief Privy Councilor once asked me, ''Luang Por, is the mind of an anāgāmī5 pure yet?''

 

''It's partly pure.''

 

''Eh? An anāgāmī has given up sensual desire, how is his mind not yet pure?''

 

''He may have let go of sensual desire, but there is still something remaining, isn't there? There is still avijjā. If there is still something left then there is still something left. It's like the bhikkhus' alms bowls. There are 'a large-sized large bowl, a medium-sized large bowl, a small-sized large bowl; then a large-sized medium bowl, a medium-sized medium bowl, a small-sized medium bowl; then there are a large-sized small bowl, a medium-sized small bowl and a small-sized small bowl'.... No matter how small it is there is still a bowl there, right? That's how it is with this... sotāpanna, sakadāgāmī, anāgāmī... they have all given up certain defilements, but only to their respective levels. Whatever still remains, those Noble Ones don't see. If they could they would all be arahants. They still can't see all. Avijjā is that which doesn't see. If the mind of the anāgāmī was completely straightened out he wouldn't be an anāgāmī, he would be fully accomplished. But there is still something remaining.''

 

''Is his mind purified?''

 

''Well, it is somewhat, but not 100%.''

 

How else could I answer? He said that later on he would come and question me about it further. He can look into it, the standard is there.

 

Don't be careless. Be alert. The Lord Buddha exhorted us to be alert. In regards to this training of the heart, I've had my moments of temptation too, you know. I've often been tempted to try many things but they've always seemed like they're going astray of the path. It's really just a sort of swaggering in one's mind, a sort of conceit. Ditthi, views, and māna, pride, are there. It's hard enough just to be aware of these two things.

 

There was once a man who wanted to become a monk here. He carried in his robes, determined to become a monk in memory of his late mother. He came into the monastery, laid down his robes, and without so much as paying respects to the monks, started walking meditation right in front of the main hall... back and forth, back and forth, like he was really going to show his stuff.

 

I thought, ''Oh, so there are people around like this, too!'' This is called saddhā adhimokkha - blind faith. He must have determined to get enlightened before sundown or something, he thought it would be so easy. He didn't look at anybody else, just put his head down and walked as if his life depended on it. I just let him carry on, but I thought, ''Oh, man, you think it's that easy or something?'' In the end I don't know how long he stayed, I don't even think he ordained.

 

As soon as the mind thinks of something we send it out, send it out every time. We don't realize that it's simply the habitual proliferation of the mind. It disguises itself as wisdom and waffles off into minute detail. This mental proliferation seems very clever, if we didn't know we would mistake it for wisdom. But when it comes to the crunch it's not the real thing. When suffering arises where is that so-called wisdom then? Is it of any use? It's only proliferation after all.

 

So stay with the Buddha. As I've said before many times, in our practice we must turn inwards and find the Buddha. Where is the Buddha? The Buddha is still alive to this very day, go in and find him. Where is he? At aniccam, go in and find him there, go and bow to him: aniccam, uncertainty. You can stop right there for starters.

 

If the mind tries to tell you, ''I'm a sotāpanna now,'' go and bow to the sotāpanna. He'll tell you himself, ''It's all uncertain.'' If you meet a sakadāgāmī go and pay respects to him. When he sees you he'll simply say, ''Not a sure thing!'' If there is an anāgāmī go and bow to him. He'll tell you only one thing... ''Uncertain.'' If you meet even an arahant, go and bow to him, he'll tell you even more firmly, ''It's all even more uncertain!'' You'll hear the words of the Noble Ones... ''Everything is uncertain, don't cling to anything.''

 

Don't just look at the Buddha like a simpleton. Don't cling to things, holding fast to them without letting go. Look at things as functions of the apparent and then send them on to transcendence. That's how you must be. There must be appearance and there must be transcendence.

 

So I say, ''Go to the Buddha.'' Where is the Buddha? The Buddha is the Dhamma. All the teachings in this world can be contained in this one teaching: aniccam. Think about it. I've searched for over forty years as a monk and this is all I could find. That and patient endurance. This is how to approach the Buddha's teaching... aniccam: it's all uncertain.

 

No matter how sure the mind wants to be, just tell it, ''Not sure!'' Whenever the mind wants to grab on to something as a sure thing, just say, ''It's not sure, it's transient.'' Just ram it down with this. Using the Dhamma of the Buddha it all comes down to this. It's not that it's merely a momentary phenomenon. Whether standing, walking, sitting or lying down, you see everything in that way. Whether liking arises or dislike arises you see it all in the same way. This is getting close to the Buddha, close to the Dhamma.

 

Now I feel that this is a more valuable way to practice. All my practice from the early days up to the present time has been like this. I didn't actually rely on the scriptures, but then I didn't disregard them either. I didn't rely on a teacher but then I didn't exactly ''go it alone.'' My practice was all ''neither this nor that.''

 

Frankly it's a matter of ''finishing off,'' that is, practicing to the finish by taking up the practice and then seeing it to completion, seeing the apparent and also the transcendent.

 

I've already spoken of this, but some of you may be interested to hear it again: if you practice consistently and consider things thoroughly, you will eventually reach this point... At first you hurry to go forward, hurry to come back, and hurry to stop. You continue to practice like this until you reach the point where it seems that going forward is not it, coming back is not it, and stopping is not it either! It's finished. This is the finish. Don't expect anything more than this, it finishes right here. Khīnāsavo - one who is completed. He doesn't go forward, doesn't retreat and doesn't stop. There's no stopping, no going forward and no coming back. It's finished. Consider this, realize it clearly in your own mind. Right there you will find that there is really nothing at all.

 

Whether this is old or new to you depends on you, on your wisdom and discernment. One who has no wisdom or discernment won't be able to figure it out. Just take a look at trees, like mango or jackfruit trees. If they grow up in a clump, one tree may get bigger first and then the others will bend away, growing outwards from that bigger one. Why does this happen? Who tells them to do that? This is nature. Nature contains both the good and the bad, the right and the wrong. It can either incline to the right or incline to the wrong. If we plant any kind of trees at all close together, the trees which mature later will branch away from the bigger tree. How does this happen? Who determines it thus? This is nature, or Dhamma.

 

Likewise, tanhā, desire, leads us to suffering. Now, if we contemplate it, it will lead us out of desire, we will outgrow tanhā. By investigating tanhā we will shake it up, making it gradually lighter and lighter until it's all gone. The same as the trees: does anybody order them to grow the way they do? They can't talk or move around and yet they know how to grow away from obstacles. Wherever it's cramped and crowded and growing will be difficult, they bend outwards.

 

Right here is Dhamma, we don't have to look at a whole lot. One who is astute will see the Dhamma in this. Trees by nature don't know anything, they act on natural laws, yet they do know enough to grow away from danger, to incline towards a suitable place.

 

Reflective people are like this. We go forth into the homeless life because we want to transcend suffering. What is it that makes us suffer? If we follow the trail inwards we will find out. That which we like and that which we don't like are suffering. If they are suffering then don't go so close to them. Do you want to fall in love with conditions or hate them?... they're all uncertain. When we incline towards the Buddha all this comes to an end. Don't forget this. And patient endurance. Just these two are enough. If you have this sort of understanding this is very good.

 

Actually in my own practice I didn't have a teacher to give as much teachings as all of you get from me. I didn't have many teachers. I ordained in an ordinary village temple and lived in village temples for quite a few years. In my mind I conceived the desire to practice, I wanted to be proficient, I wanted to train. There wasn't anybody giving any teaching in those monasteries but the inspiration to practice arose. I traveled and I looked around. I had ears so I listened, I had eyes so I looked. Whatever I heard people say, I'd tell myself, ''Not sure.'' Whatever I saw, I told myself, ''Not sure,'' or when the tongue contacted sweet, sour, salty, pleasant or unpleasant flavors, or feelings of comfort or pain arose in the body, I'd tell myself, ''This is not a sure thing!'' And so I lived with Dhamma.

 

In truth it's all uncertain, but our desires want things to be certain. What can we do? We must be patient. The most important thing is khanti, patient endurance. Don't throw out the Buddha, what I call ''uncertainty'' - don't throw that away.

 

Sometimes I'd go to see old religious sites with ancient monastic buildings, designed by architects, built by craftsmen. In some places they would be cracked. Maybe one of my friends would remark, ''Such a shame, isn't it? It's cracked.'' I'd answer, ''If that weren't the case then there'd be no such thing as the Buddha, there'd be no Dhamma. It's cracked like this because it's perfectly in line with the Buddha's teaching.'' Really down inside I was also sad to see those buildings cracked but I'd throw off my sentimentality and try to say something which would be of use to my friends, and to myself. Even though I also felt that it was a pity, still I tended towards the Dhamma.

 

''If it wasn't cracked like that there wouldn't be any Buddha!''

 

I'd say it really heavy for the benefit of my friends... or perhaps they weren't listening, but still I was listening.

 

This is a way of considering things which is very, very useful. For instance, say someone were to rush in and say, ''Luang Por! Do you know what so and so just said about you?'' or, ''He said such and such about you...'' Maybe you even start to rage. As soon as you hear words of criticism you start getting these moods every step of the way. As soon as we hear words like this we may start getting ready to retaliate, but on looking into the truth of the matter we may find that... no, they had said something else after all.

 

And so it's another case of ''uncertainty.'' So why should we rush in and believe things? Why should we put our trust so much in what others say? Whatever we hear we should take note, be patient, look into the matter carefully... stay straight.

 

It's not that whatever pops into our heads we write it all down as some sort of truth. Any speech which ignores uncertainty is not the speech of a sage. Remember this. As for being wise, we are no longer practicing. Whatever we see or hear, be it pleasant or sorrowful, just say ''This is not sure!'' Say it heavy to yourself, hold it all down with this. Don't build those things up into major issues, just keep them all down to this one. This point is the important one. This is the point where defilements die. Practicers shouldn't dismiss it.

 

If you disregard this point you can expect only suffering, expect only mistakes. If you don't make this a foundation for your practice you are going to go wrong... but then you will come right again later on, because this principle is a really good one.

 

Actually the real Dhamma, the gist of what I have been saying today, isn't so mysterious. Whatever you experience is simply form, simply feeling, simply perception, simply volition, and simply consciousness. There are only these basic qualities, where is there any certainty within them?

 

If we come to understand the true nature of things like this, lust, infatuation and attachment fade away. Why do they fade away? Because we understand, we know. We shift from ignorance to understanding. Understanding is born from ignorance, knowing is born from unknowing, purity is born from defilement. It works like this.

 

Not discarding aniccam, the Buddha - this is what it means to say that the Buddha is still alive. To say that the Buddha has passed into Nibbāna is not necessarily true. In a more profound sense the Buddha is still alive. It's much like how we define the word ''bhikkhu''. If we define it as ''one who asks6'', the meaning is very broad. We can define it this way, but to use this definition too much is not so good - we don't know when to stop asking! If we were to define this word in a more profound way we would say: ''Bhikkhu - one who sees the danger of samsāra.''

 

Isn't this more profound? It doesn't go in the same direction as the previous definition, it runs much deeper. The practice of Dhamma is like this. If you don't fully understand it, it becomes something else again. It becomes priceless, it becomes a source of peace.

 

When we have sati we are close to the Dhamma. If we have sati we will see aniccam, the transience of all things. We will see the Buddha and transcend the suffering of samsāra, if not now then sometime in the future.

 

If we throw away the attribute of the Noble Ones, the Buddha or the Dhamma, our practice will become barren and fruitless. We must maintain our practice constantly, whether we are working or sitting or simply lying down. When the eye sees form, the ear hears sound, the nose smells an odor, the tongue tastes a flavor or the body experiences sensation... in all things, don't throw away the Buddha, don't stray from the Buddha.

 

This is to be one who has come close to the Buddha, who reveres the Buddha constantly. We have ceremonies for revering the Buddha, such as chanting in the morning Araham Sammā Sambuddho Bhagavā... This is one way of revering the Buddha but it's not revering the Buddha in such a profound way as I've described here. It's the same as with that word ''bhikkhu.'' If we define it as ''one who asks'' then they keep on asking... because it's defined like that. To define it in the best way we should say ''Bhikkhu - one who sees the danger of samsāra.''

 

Now revering the Buddha is the same. Revering the Buddha by merely reciting Pāli phrases as a ceremony in the mornings and evenings is comparable to defining the word ''bhikkhu'' as ''one who asks.'' If we incline towards annicam, dukkham and anattā7 whenever the eye sees form, the ear hears sound, the nose smells an odor, the tongue tastes a flavor, the body experiences sensation or the mind cognizes mental impressions, at all times, this is comparable to defining the word ''bhikkhu'' as ''one who sees the danger of samsāra.'' It's so much more profound, cuts through so many things. If we understand this teaching we will grow in wisdom and understanding.

 

This is called patipadā. Develop this attitude in the practice and you will be on the right path. If you think and reflect in this way, even though you may be far from your teacher you will still be close to him. If you live close to the teacher physically but your mind has not yet met him you will spend your time either looking for his faults or adulating him. If he does something which suits you, you say he's no good - and that's as far as your practice goes. You won't achieve anything by wasting your time looking at someone else. But if you understand this teaching you can become a Noble One in the present moment.

 

That's why this year8 I've distanced myself from my disciples, both old and new, and not given much teaching: so that you can all look into things for yourselves as much as possible. For the newer monks I've already laid down the schedule and rules of the monastery, such as: ''Don't talk too much.'' Don't transgress the existing standards, the path to realization, fruition and Nibbāna. Anyone who transgresses these standards is not a real practicer, not one who has a pure intention to practice. What can such a person ever hope to see? Even if he slept near me every day he wouldn't see me. Even if he slept near the Buddha he wouldn't see the Buddha, if he didn't practice.

 

So knowing the Dhamma or seeing the Dhamma depends on practice. Have confidence, purify your own heart. If all the monks in this monastery put awareness into their respective minds we wouldn't have to reprimand or praise anybody. We wouldn't have to be suspicious of or favor anybody. If anger or dislike arise just leave them at the mind, but see them clearly!

 

Keep on looking at those things. As long as there is still something there it means we still have to dig and grind away right there. Some say, ''I can't cut it, I can't do it'' - if we start saying things like this there will only be a bunch of punks here, because nobody cuts at their own defilements.

 

You must try. If you can't yet cut it, dig in deeper. Dig at the defilements, uproot them. Dig them out even if they seem hard and fast. The Dhamma is not something to be reached by following your desires. Your mind may be one way, the truth another. You must watch up front and keep a lookout behind as well. That's why I say, ''It's all uncertain, all transient.''

 

This truth of uncertainty, this short and simple truth, at the same time so profound and faultless, people tend to ignore. They tend to see things differently. Don't cling to goodness, don't cling to badness. These are attributes of the world. We are practicing to be free of the world, so bring these things to an end. The Buddha taught to lay them down, to give them up, because they only cause suffering.

 

 

__________________


Footnotes

 

...1

 

An informal talk given at Ajahn Chah's kuti, to some monks and novices one evening in 1980

 

...pātimokkha2

 

The central body of the monastic code, which is recited fortnightly in the Pāli language.

 

... angels3

 

Devaputta Māra - the Māra, or Tempter, which appears in a seemingly benevolent form.

 

...khandhas4

 

The five khandhas: Form (rūpa), feeling (vedanā), perception (saññā), conceptualization or mental formations (sankhārā) and sense-consciousness (viññāna). These comprise the psycho-physical experience known as the ''self''.

 

...anāgāmı5

 

Anāgāmī (non-returner): The third ''level'' of enlightenment, which is reached on the abandonment of the five ''lower fetters'' (of a total of ten) which bind the mind to worldly existence. The first two ''levels'' are sotāpanna (''stream-enterer'') and sakadāgāmī (''once-returner''), the last being arahant (''worthy or accomplished one'').

 

... asks6

 

That is, one who lives dependent on the generosity of others.

 

...anattā7

 

Transience, imperfection, and ownerlessness.

 

... year8

 

2522 of the Buddhist Era, or 1979 CE.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Chín 2020(Xem: 246)
08 Tháng Chín 2020(Xem: 271)
30 Tháng Tám 2020(Xem: 428)
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 43)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 1165)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 919453)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 708)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 718)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 642)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 696)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 768)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 987)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 807)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 857)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 891)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 1191)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 835)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 927)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 933)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 836)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 1365)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 1110)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
09 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 1040)
“Khi hai người đang giận nhau thì trái tim của họ ở rất xa nhau. Trong thâm tâm họ cảm thấy có một khoảng cách rất lớn giữa họ. Vì thế muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sanh để nói thật to. Sự giận dữ càng mãnh liệt thì khoảng cách càng lớn, nên họ càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ có thể khỏa lấp
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1725)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3408)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4930)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
02 Tháng Chín 20209:24 CH(Xem: 560)
Đây là cuốn sách sọan dịch từ những bài pháp ngắn mà Hòa thượng Sīlānanda đã giảng trong những khóa thiền ngắn ngày, và dài ngày ở nhiều nơi trên thế giới rất hữu ích cho những người mới hành thiền cũng như đã hành thiền lâu ngày. Người mới hành thiền biết hành thiền đúng theo những lời dạy của Đức Phật. Người hành thiền
01 Tháng Chín 20206:32 CH(Xem: 610)
Từ những ngày đầu bước chân vào con đường tu học Phật, tôi đã cảm thấy mạnh mẽ rằng thế nào tôi cũng sẽ tìm được cho mình một lối sống chân thậtan lạc. Vào thời ấy, cuộc sống của tôi bị chi phối bởi nhiều rối rensợ hãi. Tôi cảm thấy xa lạ với tất cả mọi người, với thế giới chung quanh, và ngay cả với những kinh nghiệm
31 Tháng Tám 20209:43 CH(Xem: 508)
Thiền Quán, Con Đường Hạnh Phúc (It's Easier Than You Think) là một quyển sách vui tươi và rất dễ đọc. Tác giả trình bày giáo lý của đức Phậtphương pháp tu tập, bằng các mẩu chuyện về những kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Bà Sylvia Boorstein là một nhà tâm lý trị liệu (psychotherapist) và cũng là một giáo thọ
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1366)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1286)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 1437)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1691)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1937)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1767)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.