Chương 23: Tâm Siêu Thế (Lokuttara Citta)

12 Tháng Chín 20208:19 CH(Xem: 510)
Chương 23: Tâm Siêu Thế (Lokuttara Citta)


Abhidhamma_ATâm LýTriết Học Phật Giáo 
Áp Dụng Trong Đời Sống Hàng Ngày 
(Abhidhamma In Daily Life)
Nina Van Gorkom
Đại đức Thiện Minh dịch ra Việt ngữ
Kỳ Viên Tự xuất bản, 2001
Source-Nguồn: budsas.org, thuvienhoasen.org

 

____________________


Chương 23: Tâm Siêu Thế (Lokuttara Citta)

 

-ooOoo-

 

Tạng Vi diệu pháp dạy chúng ta về các loại tâm thiện khác nhau. Có tâm thiện dục giới, tâm thiện sắc giới và tâm thiện vô sắc giới. Tất cả những loại tâm trên đều là tâm thiện, nhưng chúng không đoạn trừ những phiền não ngủ ngầm. Chỉ có tâm thiện siêu thế, hay tâm đạo mới có thể đoạn trừ những phiền não ngủ ngầm. Khi nào tất cả những phiền não được đoạn trừ hoàn toàn lúc đó chúng ta sẽ chấm dứt sanh tử luân hồi. Chúng ta có thể tự hỏi, tâm thiện siêu thế có thật sự đoạn trừ những phiền não hay không, để chúng không còn phát sanh trở lại nữa. Có nhiều thứ phiền não. Chúng ta đầy ấp cả tham sân si. Chúng tatham muốn, ganh tỵ, lo âu, hoài nghi, ngã mạn và nhiều thứ phiền não khác nữa. Người ta bị bản ngã trói buộc rất nhiều: chúng ta cho thân tâmbản ngã. Để hiểu biết làm sao để đoạn trừ tất cả những loại phiền não này, thật là một điều khó khăn. Phiền não có thể được đoạn trừ nếu như chúng ta tu tập, nhưng chúng ta đã tích lũy nhiều phiền não trong một phạm vi nào đó thì chúng không thể nào đoạn trừ ngay lập tức được. Tà kiến thì phải được đoạn trừ trước tiên; chừng nào chúng ta còn cho những pháp chân đế là bản ngã thì lúc đó chúng ta không thể nào đoạn trừ bất cứ loại phiền não nào. Có 4 tầng thánh: Tu đà hườn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán. Ở mỗi tầng thánh này, tâm thiện siêu thế hay tâm đạo phát sanh biết Níp bàn và đoạn trừ phiền não. Bậc thánh Tu đà hườn đã đoạn trừ tà kiến hoàn toàn, nhưng vị ấy vẫn chưa đoạn trừ hoàn toàn các phiền não. Phiền não thì được đoạn trừ từng giai đoạn và chỉ khi nào người đắc được quả thánh A la hán thì tất cả những phiền não được đoạn trừ.

 

Người ta có thể tự hỏi làm cách nào chúng ta có thể biết rằng người đó đã giác ngộ. Tâm siêu thế thì câu hành với trí tuệtrí tuệ thì được hành giả tu tập trong Thiền Quán. Người không giác ngộ vì không có tu tập Thiền Quán. Có nhiều giai đoạn của tuệ minh sát. Trước tiênhoài nghi sự phân biệt về danh sắc được đoạn trừ. Điều này có thể được hiểu theo lý thuyết thì danh là pháp chân đế biết cảnh và sắc là pháp chân đế không biết cảnh. Tuy nhiên hiểu biết theo lý tuyết này thì không giống như sự hiểu biết trực tiếp để nhận chân danh là danh và sắc là sắc. Ví dụ, khi có âm thanhâm thanhsắc pháp, nhưng cũng có sự nghe mà nó là danh, những pháp chân đế này có những tướng trạng khác nhau. Có thể có chánh niệm về một tướng trạng ở một thời điểm và ở thời điểm như vậy, chánh kiến về pháp chân đế có thể được phát huy. Chừng nào không có chánh niệm về pháp chân đế thì sẽ có hoài nghi đối với sự khác biệt giữa danh và sắc. Phải có chánh niệm về những loại danh sắc khác nhau xuất hiện trong đời sống hàng ngày để đoạn trừ hoài nghi. Khi giai đoạn thứ nhất của tuệ minh sát, mà nó chỉ là một giai đoạn bắt đầu được chứng đắc, không có hoài nghi đối với sự phân biệt giữa những tướng trạng của danh và sắc. Những đặc tính của danh và sắc phải được quan sát nhiều lần đến khi nào thấy chúng rõ ràng và lúc đó sẽ không còn tà kiến về danh sắc nữa. Sự nhận biết sanh diệt của danh và sắc là một giai đoạn cao hơn của Tuệ minh sát mà chúng ta chưa thể đạt được cho đ?n khi nào đặc tính của danh pháp chưa được phân biệt với đặc tính của sắc pháp. Tất cả những giai đoạn khác nhau của tuệ minh sát phải đạt được theo thứ tự [1]. Trí tuệ phải liên tục để quan sát những đặc tính của pháp chân đế khi chúng xuất hiện qua 6 môn để tam tướng: vô thường, khổ nãovô ngã chúng ta có thể nhận biết càng ngày càng nhiều hơn. Khi trí tuệ hiểu biết rõ ràng về tam tướng thì chúng tathể đạt được sự giác ngộ; do đó trí tuệ có thể biết được cảnh Níp bàn. Khi trí tuệ được tu tập đến mức độ như thế thì chúng ta không thể nào còn hoài nghi đối với một vị dù có giác ngộ không.

 

Danh từ tiếng Anh "enlightenment" (giác ngộ) có thể có nhiều ý nghĩa khác nhau và do đó nó dễ gây ra sự hiểu lầm. Danh từ Pàli Giác Ngộ là "bodhi". Bodhi theo nghĩa đen có nghĩa là tri kiến hay hiểu biết. Việc chứng đắc quả vị giác ngộ trong đoạn văn của lời Phật dạyliên quan với trí tuệ đã được tu tập đến mức độ mà nó đã trở thành trí tuệ siêu thế, nó câu hành với tâm siêu thế biết cảnh Níp bàn. Giác ngộ thật sự có một vài sát na tâm siêu thế mà nó không tồn tại. Níp bàn không sanh mà cũng không diệt, nhưng tâm siêu thế biết cảnh Níp bàn thì lại diệt và tâm dục giới theo sau; trường hợp những bậc thánh mà chưa chứng đắc quả vị A la hán thì tâm bất thiện vẫn còn phát sanh nữa. Tuy nhiên phiền não đã được đoạn trừ ở từng giai đoạn giác ngộ thì không còn phát sanh nữa.

 

Chỉ có Bát chánh đạo mới có thể dẫn đến sự giác ngộ. Nếu chúng ta tu tập Tà đạo thì mục đích giác ngộ sẽ không thể nào thành tựu được. Khi chúng ta tu tập tà đạo, chúng ta sẽ có tà kiến. Theo Vi diệu pháp phiền não thì được phân tích bằng nhiều cách khác nhau và những loại tà kiến khác nhau cũng được phân tích theo những cách không giống nhau. Ví dụ những loại tà kiến khác nhau này được phân tích dưới những nhóm phiền não là sự chấp thủ (Upàdàna). Ba trong bốn loại chấp thủ được nói đến trong nhóm này là chấp thủ đối với những hình thức không giống nhau của tà kiến; 3 loại chấp thủ này đã được bậc thánh Tu đà hườn đoạn trừ hoàn toàn. Một trong 3 loại đó là: giới cấm thủ (Sìlabbatupàdàna), nó gồm cảviệc thực hành sai lầm về thiền quán. Một số người suy nghĩ rằng, họ có thể chứng đắc quả vị giác ngộ bằng một số con đường ngoài Bát chánh đạo, nhưng đây là sự suy nghĩ si mê. Không có con đường nào khác có thể dẫn đến sự giác ngộ.

 

Bát chánh đạo được tu tập bằng chánh niệm về danh và sắc khi chúng xuất hiện trong đời sống hằng ngày như thấy cảnh sắc, nghe cảnh thinh, suy nghĩ, cảm thọ, tham, sân hoặc những thứ phiền não khác phát sanh. Nếu Bát chánh đạo không được tu tập bằng chánh niệm về những pháp chân đế khi chúng phát sanh trong đời sống hàng ngày, thì tà kiến không thể nào đoạn trừ đuợc và như vậy đạo quả Tu đà hườn không thể chứng đắc được. Do đó không có con đường nào đạt đến sự giác ngộ mà không tu tập chánh kiến về pháp chân đế mà chánh kiếntrí tuệ của Bát chánh đạo.

 

Chánh kiến là gì? Câu trả lời là: thấy danh và sắc là vô thường, khổ nãovô ngã. Như vậy mới có thể gọi là chánh kiến. Khi chúng ta vẫn còn tà kiến, chúng ta chấp pháp chân đếbản ngã: như sự thấy, cảnh sắc, cảm thọ, tưởng, suy nghĩ, phiền nãothiện pháp như chánh niệmtrí tuệ cũng là bản ngã. Chánh niệm về những đặc tính của danh và sắc khi chúng xuất hiện, ngã kiến có thể được đoạn trừ; đây là chánh kiến.

 

Chừng nào chúng ta chưa đạt được đạo quả Tu đà hườn chung ta có thể đi lệch hướng Bát chánh đạo, có thể thực hành sai pháp môn. Ví dụ khi thực hành sai pháp môn chúng ta suy nghĩ rằng chỉ nên chú niệm vào những loại danh và sắc đặc biệt, thay vì chú niệm vào bất cứ loại danh sắcxuất hiện. Ví dụ người ta có thể cho rằng tham sân si không nên hoặc không thể là đề mục của chánh niệm. Tuy nhiên tâm bất thiện là những pháp chân đế phát sanh vì nhân duyên thích ứng của chúng, chúng là thành phần trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Nếu chúng ta chọn đề mục chú niệm, chúng ta sẽ tiếp tục dính mắc vào bản ngã, rồi nó sẽ chi phối đời sống của chúng ta. Một số người cho rằng thiền quán, chỉ có thể tu tập trong khi ngồi ở nơi yên tĩnh mà như vậy chúng ta sẽ đặt ra những qui luật cho việc thực hành và do đó chúng ta sẽ không thể thấy rằng chánh niệm cũng là vô ngã.

 

Ngoài tà kiến, bậc thánh Tu đà hườn cũng đoạn trừ những phiền não khác. Các ngài đã đoạn trừ hoài nghi. Hoài nghi được phân loại như là một trong những triền cái; nó ngăn chận chúng ta làm việc thiện. Chúng ta có thể hoài nghi về Phật, Pháp, Tăng hoặc hoài nghi về việc thực hành chân chánh. Bậc thánh Tu đà hườn không còn hoài nghi nữa.

 

Bậc thánh Tu đà hườn đoạn trừ sở hữu bất thiện khác nữa là bỏn xẻnThanh Tịnh đạo (XXII, 52) có nói đến 5 loại xan tham:

 

Có 5 loại xan thamxan tham chỗ ở, quyến thuộc, lợi lộc, pháp và tiếng khen, có nghĩa là không chịu nổi sự san sẻ những thứ này với người khác.

 

Chú giải bộ Pháp Tụ (tập II, phần II, chương II, 374, 375) có giải thích 5 loại xan tham liên quan với trú xứ, quyến thuộc của vị Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thường viếng thăm những chỗ đó để nhận tứ vật dụng (y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc men), chính tứ vật dụng này liên quan với lợi lộc, hiểu biết về giáo pháplời khen tặng thì nó liên quan với những đức tính cá nhân.

 

Người ta giải thích rằng, nếu người không muốn chia sẻ bất cứ những điều gì với kẻ khác thì đó là bỏn sẻn. Tuy nhiên nếu người không muốn chia sẻ những điều gì với ai mà người đó là người xấu hoặc người đó sống lạm dụng thì đó không phải là bỏn sẻn. Ví dụ nếu chúng ta không dạy giáo pháp cho người phỉ báng pháp thì đó không phải là bỏn sẻn pháp. Như vậy chúng ta thấy rằng việc đoạn trừ bỏn sẻn không có nghĩa là chúng ta chia sẻ điều gì với bất cứ ai. Bậc thánh Tu đà hườn đã đoạn trừ bỏn sẻn; 5 loại bỏn sẻn vừa đề cập ở trên bậc thánh Tu đà hườn không còn phát sanh nữa.

 

Hơn nữa, bậc thánh Tu đà hườn đã đoạn trừ ganh tỵ. Ganh tỵ có thể phát sanh với tâm sân căn. Thanh Tịnh đạo (XIV, 172) có đề cập đến ganh tỵ:

 

Tật đố là ganh tỵ. Nó có đặc tính ganh tỵ với thành công của người khác. Chức năng của nó là bất mãn trước thành công ấy. Nó được biểu hiện bằng sự đối kháng lại thành công ấy. Nhân gần của nó là thành công của người khác...

 

Bậc thánh Tu đà hườn mặc dù các ngài chưa đoạn trừ tất cả những phiền não. Nhưng các ngài là bậc thánh, bởi vì ở thời điểm giác ngộ khi tâm đạo đã phát sanh, các ngài đã trở thành người cao thượng, các ngài không còn phàm tục nữa. Các ngài không còn tà kiến, hoài nghi ngủ ngầm trong tâm và các ngài không còn bỏn sẻn và ganh tỵ nữa.

 

Khuynh hướng ngủ ngầm là gì? Khi chúng ta tham điều gì chúng ta có tâm tham. Khi tâm tham căn diệt, có những loại tâm khác không câu hành với tham. Tuy nhiên tham đã phát sanh trước khi nó được huân tập. Nó còn ngấm ngầm. Khi có những nhân duyên cho sự phát sanh của nó, thì nó có thể phát sanh trở lại với tâm bất thiện. Những khuynh hướng ngủ ngầm được chúng ta huân tập ở mỗi tâm, thậm chí trong tâm hộ kiếp nó không biết cảnh xuyên qua một trong các căn môn và ý môn.

 

Vấn đề đặt ra là tà kiến ngủ ngầm được đọan trừ dần dần hay là đoạn trừ ngay tức khắc. Câu trả lời là trong tiến trình tu tập chánh kiến thì tà kiến được đoạn trừ dần dần cho đến khi nào thành tựu chánh quả thì tà kiến ngủ ngầm đoạn trừ hoàn toàn. Ai không tu tập những điều kiện đúng đắn đó thì không thể nào thành tựu chánh quả được. Chúng ta thấy rằng trong thời của Đức Phật có người thành tựu đạo quả ngay trong một thời pháp; có người thành tựu đạo quả sau khi nghe lời diễn giảng về giáo pháp chi ly hơn, ngược lại có một số người thành tựu đạo quả phải tu tập Bát chánh đạo một thời gian khá lâu. Tất cả những lý do trên đều tùy thuộc vào trí tuệ đã được huân tập trong nhiều kiếp quá khứ. Đối với việc thành tựu đạo quả trong kiếp hiện tại thì phải được người ta tu tập chơn chánh; đạo quả không thể thành tựu một cách ngẫu nhiên được. Nếu có chú tâm vào tất cả các loại danh sắc xuất hiện trong đời sống, trí tuệ có thể quán chiếu những đặc tính của chúng và bằng cách này nó có thể phát huy dần dần. Ở giai đoạn bắt đầu, chúng ta không thể nào mong đợi có nhiều chánh niệmtrí tuệ được. Tuy nhiên, mỗi khoảnh khắc chú tâm chơn chánh là kết quả đấy, bởi vì nó trợ duyên thêm cho những khoảnh khắc chú tâm và do đó nó được tích lũy. Khi trí tuệ nhận chân được hiện tượng danh và sắc, sự cố chấp vào bản ngã dần dần được đoạn trừ, cuối cùng cho đến lúc nào tất cả những tà kiến ngủ ngầm được đoạn trừ bằng tâm đạo (Lokuttara kusala citta) của bậc thánh Tu đà hườn. Đến lúc đó tà kiến sẽ không bao giờ trở lại nữa.

 

Bậc thánh Tu đà hườn chưa đọan trừ tất cả những phiền não. Người ta có thể tự hỏi bậc thánh Tu đà hườn vẫn còn nói chuyện không vui vẻ với những người khác không. Trong 10 loại nghiệp bất thiện, có bốn loại nghiệp bất thiện do khẩu như nói dối, nói đâm thọc, nói lời hung dữ, và nói lời vô ích. Bậc thánh Tu đà hườn đã đọan trừ nói dối. Nhưng các ngài vẫn còn nói những điều không khả lạc hay sử dụng ngôn từ khó nghe với người khác, nhưng không ảnh hưởng đến phạm vi phải tái sanh vào khổ cảnh. Bậc thánh Tu đà hườn không còn tái sanh vào khổ cảnh nữa.

 

Nói vô íchlời nói không có liên quan đến mục đích của bố thí, trì giới hay tham thiền. Lời nói vô ích bậc thánh Tu đà hườn chưa đọan trừ, chỉ có bậc thánh A la hán mới đọan trừ mà thôi.

 

Vấn đề đặt ra là có cần thiết để phân tích phiền não chi ly không. Mục đích của việc học Vi diệu pháp là hiểu đúng đắn về pháp chân đế. Nếu chúng ta không học Vi diệu pháp tí nào thì sẽ không thể biết con đường nào là đúng con đường nào là sai. Chúng ta không có sống trong thời của Đức Phật; cho nên chúng ta không thể nghe Ngài giảng dạy giáo pháp trực tiếp, chúng ta chỉ biết giáo pháp qua Kinh điển mà thôi. Do đó thật là hữu ích để nghiên cứu kinh điển cũng như Vi diệu pháp. Điều đó tùy thuộc phạm vi nào mà chúng ta thích thì chúng ta sẽ nghiên cứu chi tiết về những pháp chân đế. Việc học hỏi về những phương pháp khác nhau cho việc phân tích những phiền não sẽ giúp chúng ta mhận chân đư?c những khía cạnh khác nhau của chúng. Ví dụ, tà kiến được người ta phân tích thành một khối phiền não được biết như là những huynh hướng ngủ ngầm (Anusaya) và cũng được phân tích giống như một trong những lậu hoặc (Àsava). Xa hơn nữa, phiền não được phân tích như là những sự chấp thủ (Upàdana); như chúng ta đã biết, ngoài ba loại tà kiến được phân tích theo những nhóm phiền não trên, phiền não cũng còn được phân tích như là "những sợ dây ràng buộc" (Gantha), hay "những triền cái" (Nìvarana), và nhiều cách nữa. Mỗi cách phân tích như vậy chỉ cho chúng ta thấy rằng có nhiều góc độ khác nhau của phiền não và do đó chúng ta nhận biết phiền não được tích lũy như thế nào và làm sao để đoạn trừ chúng. Chỉ có tâm đạo mới có thể đoạn trừ chúng. Không phải tất cả những phiền não đều được đoạn trừ bằng Tâm đạo Tu đà hườn đâu. Như chúng ta đã biết, có bốn bậc thánh: Tu đà hườn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, và ở mỗi bậc thánh này có tâm đạo biết cảnh Níp bàn và đoạn trừ phiền não khác nhau. Những phiền não được đoạn trừ từng bậc bằng Tâm đạo ở bốn từng Thánh giác ngộ. Do đó có bốn loại tâm đạo và bốn loại tâm quả. Tâm đạo chỉ đoạn trừ phiền não còn tâm quả biết cảnh Níp bàn.

 

Ở khoảnh khắc giác ngộ, Níp bàn là cảnh được người ta thực chứng bằng tâm siêu thế. Có người nghĩ rằng Níp bàn là một nơi mà người ta có thể đạt trong cuộc sống. Để có sự hiểu biết nhiều hơn về Níp bàn là gì, bây giờ chúng ta phải suy xét đời sống của chúng ta là gì: danh và sắc, sanh và diệt. Cuộc đời của chúng tađau khổ, bởi vì cái gì sanh và diệt là khổ. Nếu như Níp bàn sẽ là một nơi mà ở đó chúng ta sẽ tiếp tục sống thì chắc chắn sẽ không thể nào chấm dứt sanh và diệt của sắc pháp, không thể nào chấm dứt được khổ đau. Tuy nhiên Níp bàn là pháp vô vi, nó không sanh và không diệt. Do đó Níp bàn thì chấm dứt sanh diệt của danh và sắc pháp, không còn sanh, già, bịnh, chết nữa. Níp bàn thì chấm dứt khổ đau. Khi chúng ta đạt được bậc thánh Tu Đà hườn thì chắc chắnchúng ta sẽ chấm dứt sanh tử luân hồi.

 

Khi người chết không phải là bậc A la hán, tâm cuối cùng của kiếp sống vị ấy là tâm Tử, thì được nối tiếp bởi tâm Tái tục của kiếp sống tương lai và như vậy đời sống tiếp diễn. Cho đến khi nào còn những phiền não thì đời sống vẫn còn phải tiếp tục. Thực tế cho thấy rằng chúng ta đang sống trong cõi nhân loại này là do những phiền não làm nhân duyên. Cho dù là có tái sanh trong một cõi Trời, trong một cõi Phạm thiên sắc giới, hoặc trong một cõi Phạm thiên vô sắc giới thì nó cũng là do những phiền não làm nhân duyên.

 

Bậc A la hán không còn những phiền não nữa, vị ấy không còn tái sanh trong bất cứ một cõi nào. Bậc A la hán cũng phải chết, bởi vì vị ấy đã sanh ra và sự sanh được đi theo cái tử. Tuy nhiên, đối với vị ấy tâm tử sẽ không còn được nối tiếp bởi tâm tái tục. Do đó, với ngài sẽ không có sự phát sanh danh và sắc trong bất cứ một kiếp sống mới nào nữa, và điều này có nghĩa là chấm dứt sanh tử luân hồi.

 

Đối với một số người thì điều này sẽ có vẻ như là đoạn diệt của kiếp sống, một vài việc thì kinh khủng. Chúng ta có thể tự tạo cho chính mình một niềm tinđời sốngtốt đẹp và như thế nó cần phải tiếp tục mãi mãi, nhưng nếu chúng ta tu tập tuệ quán thì chúng ta sẽ thấy càng lúc càng nhiều hơn là đời sống là những giới danh và những giới sắc phát sanh do những nhân duyên riêng của chúng và sau đó tiêu diệt; chúng vượt ngoài sự kiểm soát, không ai có thể sai khiến chúng tồn tại. Chúng ta không thể làm nhân cho sự phát sanh thọ lạc, nếu nó phát sanh là vì nhân duyên của chúng. Chúng chỉ hiện hữu trong một khoảng thời gian cực kỳ ngắn ngủi và do đó sẽ cảm thọ bất lạc. Những ý nghĩchúng ta từng sử dụng cho cuộc sống và sự hạnh phúc thì dần dần chúng bị vô thường. Nếu chúng ta vẫn còn cố chấp vào bản ngã thì chúng ta sẽ lo âu về điều gì sẽ xảy ra sau cái chết. Đối với bậc A La Hán, vấn đề gì sẽ xảy ra sau khi các ngài viên tịch, các ngài không còn vấn đề gì cả; các ngài không còn phiền não và do đó các ngài không cón cố chấp vào cuộc sống. Bậc A la hán biết rằng điều mà kẻ phàm phu cho là hạnh phúc thì bậc thánh cho là đau khổ; kẻ phàm phu cho là đau khổ thì bậc thánh cho là hạnh phúc. Phát huy trí tuệ sẽ mang lại hạnh phúc mà nó thì khác biệt với những gì mà người ta quen cho là hạnh phúc. Những phiền não của chúng tanguyên nhân chính của sự phiền toái, lo âusợ hãi, tất cả những thứ đó là nguyên nhân của sự đau khổ. Níp bàn thì đoạn trừ tham, sân, si và do đó đoạn trừ tất cả khổ đau.

 

Khi người không phải là bậc thánh, họ không thể hiểu biết thật sự Níp bàn là gì. Nếu chúng ta chưa thực chứng được bản chất thật của pháp hữu vi mà chúng thì sanh và diệt, thì chúng ta không thể thực chứng được pháp vô vi, pháp vô vi không sanh và không diệt.

 

Như chúng ta đã biết, có 4 pháp chân đế: tâm, sở hữu tâm, sắc pháp và Níp bàn. Tâm, sở hữu tâm và sắc pháp là những pháp chân đế mà chúng thì sanh và diệt, chúng là pháp hữu vi và như vậy là khổ đau. Níp bàn không sanh và không diệt; nó không có nhân duyên để phát sanh, vì nó là pháp vô vi. Níp bàn thì chấm dứt khổ đau. Nếu khôngchấm dứt khổ đau thì Đức Phật sẽ không thuyết giảng con đường dẫn đến sự đoạn trừ khổ đau. Tuy nhiên vì có sự chấm dứt khổ đau, Đức Phật mới dạy con đường để hướng đến sự đoạn trừ nó. Chúng ta xem trong Kinh Phật Tự Thuyết (Udàna, chương VIII, 3, Tiểu Bộ Kinh) trong khi Đức Phật đang ngự trong vườn của ông Cấp Cô Độc, ngài dạy cho các thầy Tỳ khưu:

 

"Này các Tỳ khưu, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi (Asankhata). Này các Tỳ khưu nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở đây không thể thuyết giảng sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi (Sankhata).

 

Vì rằng này các Tỳ khưu có cái không sanh... thuyết giảng sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu...

 

Níp bàn có thể được người ta cảm nhận ở giai đoạn giác ngộ, nhưng sự giác ngộ thì không thể nào thành tựu được ngoại trừ trí tuệ của chúng ta đã phát huy ở mức độ mà nó có thể nhận biết pháp hữu vi, vì chúng là: Vô thường, khổ nãovô ngã.

 

Ở giai đoạn giác ngộ, tâm đạo biết trực tiếp cảnh Níp bàn. Khi tâm đạo diệt, ngay lập tức nó được tiếp nối bởi tâm quả siêu thế mà nó thì biết cùng cảnh. Khi chúng ta thực hiện nghiệp thiện dục giới, tâm quả lập tức không theo sau. Dù là tâm quả phát sanh ngay sau nghiệp, nó không bao giờ phát sanh trong cùng tiến trình của tâm. Khi người đạt được thiền sắc giới hoặc thiền vô sắc giới, tâm quả nếu nó phát sanh thì chỉ phát sanh ở kiếp sau. Nó thì khác biệt với tâm đạo, tâm đạo phải được tâm quả theo sau ngay lập tức hai hoặc ba sát na tâm trong cùng một tiến trình tâm, điều này thì tùy thuộc vào từng cá nhân.

 

Khi chúng ta đạt được bậc thánh Tu đà hườn, tâm đạo và tâm quả của bậc thánh Tu đà hườn phát sanh. Tâm đạo của bậc thánh Tu đà hườn đoạn trừ những phiền não mà được đoạn trừ ở giai đoạn đó và chỉ một lần cho tất cả mọi người. Như vậy, tâm đạo của bậc thánh Tu đà hườn chỉ có thể phát sanh một lần trong kiếp sống sanh tử.

 

Tâm quả có thể phát sanh trở lại trong những tiến trình tâm khác nhau, nếu chúng ta đạt được sự gíac ngộ bằng tâm Thiền siêu thế. Có người tu tập Thiềnđạt được sự thuần thục trong Thiền (Thanh Tịnh đạo IV, 131) và người ta cũng tu tập Thiền quán để đạt được sự gíac ngộ bằng tâm Thiền siêu thế, Tâm siêu thế câu hành với những chi thiền của một trong những tầng Thiền. Thật là khó khăn mới đạt được sự tinh thông trong Thiền; ví dụ chúng ta phải xác định khi nào chúng ta nhập Thiền và khi nào xả Thiền. Nếu người ta chỉ đạt được sự tinh thông thì Thiền định có thể là nền tảng cho Thiền quán, đó là đề mục chánh niệm trong Thiền quán. Bằng cách đó sự cố chấp vào bản ngã người đạt được Thiền định có thể được đoạn trừ. Ai đạt được sự giác ngộ mà có những sự huân tập khác nhau và theo những sự huân tập của họ, tâm Thiền siêu thế câu hành bởi những chi Thiền của những tầng Thiền khác nhau. Tâm quả câu hành với những chi thiền có thể phát sanh trở lại nhiều lần, chúng cảm nhận Níp bàn bằng an chỉ định. [2]

 

Tâm có thể được đếm thành 89 hoặc 121. Khi tâm được đếm thành 121 thay vì 8 tâm siêu thế [3] thì có 40 tâm siêu thế và những tâm này là những tâm siêu thế câu hành với những chi thiền của những tầng thiền khác nhau. Như chúng ta đã biết có 5 tầng thiền sắc giới và ở mỗi tầng thiền thì những chi thiền được đoạn diệt lần lần [4] cho đến tầng thiền thứ năm (hoặc tầng thiền thứ tư của 4 bậc) đây là những chi thiền tồn tại của định và xả mà nó phát sanh thay vì thọ lạc. Tâm siêu thế có thể câu hành với những chi thiền của mỗi 5 tầng thiền. Ví dụ khi tâm siêu thế câu hành với những chi thiền của tầng Thiền sắc giới thứ 5 , điều đó có nghĩa là chúng câu hành với định và xả.

 

Đối với những tâm Thiền vô sắc giới, những tâm này có những đề mục thiền mà chúng thì khác biệt với những đề mục Thiền sắc giới, nhưng những chi thiền câu sanh với chúng thì giống như những chi thiền của tầng Thiền sắc giới thứ năm, tức là định và xả. Do đó khi chúng ta phân tích những tâm Thiền siêu thế thì phải chú ý đến những chi thiền của 5 loại Thiền sắc giới, những tâm siêu thế câu hành với những chi thiền của những tầng Thiền sắc giớivô sắc giới khác nhau. Cuối cùng mỗi 8 tâm siêu thế có thể được tính giống như 5 loại và như thế có 40 tâm siêu thế.

 

Khi người ta tính những tâm thành 89 thì chúng được tóm tắt như sau:

12 tâm bất thiện
18 tâm vô nhân
8 tâm đại thiện
8 tâm đại quả
8 tâm đại tố

54 tâm dục giới

15 tâm sắc giới
12 tâm vô sắc giới
8 tâm siêu thế

 


Khi người ta tính tâm thành 121 thay vì 8 tâm siêu thế thì có 40 tâm.

 

Con đường dẫn đến Níp bàn dường như rất xa xôi và chúng ta có thể tự hỏi, bằng cách nào và bao giờ chúng tathể đạt được mục đích. Chúng ta không nên thiếu kiên nhẫn và mong muốn một kết quả xa vời. Thay vào đó chúng ta nên suy xét những gì chúng ta phải làm ở giây phút hiện tại: để phát huy sự hiểu biết đúng đắn về danh và sắc khi chúng xuất hiện trong hiện tại. Như vậy là chúng ta phát triển những điều kiện cho việc đắc chứng Níp bàn.

 

Chú thích:

 

[1] Xem Thanh Tịnh Đạo, chương XX, và Path of Discrimination I, Treatise on Knowledge, chương V & chương X.

 

[2] Việc chứng đắc này được gọi là Phalasamàpatti - Thiền quả.

 

[3] Tâm đạo (tâm thiện siêu thế) và tâm quả siêu thế ở mỗi tầng thánh.

 

[4] Xem Thanh Tịnh Đạo, chương XXII


____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 55)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 180)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 224)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 265)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 255)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 252)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 336)
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5296)
16 Tháng Mười 2020(Xem: 425)
15 Tháng Mười 2020(Xem: 454)
11 Tháng Mười 2020(Xem: 567)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 384)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 487)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 1738)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 944010)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 1238)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 1346)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 1166)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 1257)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 1222)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 1365)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 1101)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 1186)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 1242)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 1560)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 1125)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 1210)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 1312)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 1172)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 1747)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 1574)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2179)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3869)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5486)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 273)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 346)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 374)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 180)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5296)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 436)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 442)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2951)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1961)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng