[13] Bốn chỗ động tâm tại Ấn độ

30 Tháng Chín 20201:28 CH(Xem: 209)
[13] Bốn chỗ động tâm tại Ấn độ


PhatGiaoNhinToanDien_BPhật Giáo, Nhìn Toàn Diện

(The Spectrum of Buddhism)

Mahathera Piyadassi

Dịch: Phạm Kim Khánh

Trung tâm Narada, Seatle, Hoa Kỳ, xuất bản, 1995

Nguồn: budsas.org

 

____________________


-13-

 

LỊCH SỬVĂN HÓA PHẬT GIÁO

 

Bốn Chỗ Động Tâm

 

Trong khi ngự tại Rừng Long Thọ ở Kusinàrà (Câu Thi Na), một vài tiếng đồng hồ trước khi nhập parinibbàna (Đại Niết Bàn), Đức Phật Tối Thượng, lúc ấy tám mươi tuổi thọ, nói với Đức Ànanda, vị thị giả trung tínquý mến nhất của Ngài:

 

"Có bốn nơi, này Ànanda, mà người thiện tín nhiệt tâm đến viếng với những cảm xúc gợi hứng (samvega): nơi mà người ấy có thể nói, 'Tại đây Đức Như Lai đản sanh,' 'Tại đây Đức Như Lai thành đạo,' 'Tại đây Đức Như Lai vận chuyển Pháp Luân,' 'Tại đây Đức Như Lai cuối cùng nhập Parinibbàna (Đại Niết Bàn), Vô Sanh Bất Diệt.' Và này Ànanda, nhiều chư Tăng và chư Ni nhiệt thành trong Giáo Hội, và nhiều chư thiện nam tín nữ, sẽ đến những nơi này."

 

I- Lumbini

 

Lumbini (Lâm Tỳ Ni), hay Rummindei, tên địa phương mà hiện nay người ta quen gọi, là nơi đản sanh của Hoàng Tử Siddhattha Gotama, nằm về hướng Bắc cách Benares một trăm dậm Anh, và từ nơi đây nhìn thấy trọn vẹn dãy núi Himalaya (Hy Mã Lạp Sơn) tuyết phủ trắng phao. Siddhattha Gotama, bậc Toàn Giác, là người sáng lập Phật Giáo. Cha Ngài, Vua Suddhodana Gotama, thuộc giai cấp Kshatriya (chiến sĩ), đóng đô tại Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ) và trị vì toàn thể lãnh thổ của dòng Sakya (Thích Ca) nằm trên biên giới Nepal; Công chúa Mahàmàyà của dân tộc Koliya là hoàng hậu.

 

Vào ngày trăng tròn tháng Năm D.L. (Vesàkha), trong khi đi từ Kapilavatthu về quê cha mẹ tại Devadaha, Hoàng Hậu Mahàmàyà hạ sanh một hoàng nam trong khu Rừng Lumbini xinh đẹp, dưới tàng bóng một cội cây long thọ đang trổ hoa tươi tốt. Công trình khám phánhận ra vườn Lumbini vào năm 1896 được biết là do nhà khảo cổ trứ danh, Tướng Alexander Cunningham. Do nhờ nỗ lực kiên trì và không biết mệt của ông nhiều thánh tích Phật Giáo lúc bấy giờ chưa ai biết và xá lợi của hai vị đại đệ tử, Đức Sàriputta (Xá Lợi Phất) và Đức Mahà Moggallàna (Mục KIền Liên), được đem ra ánh sáng.

 

Tại Lumbini, khách hành hương và khách du lịch đặc biệt chú ý đến trụ đá Asoka vĩ đại, được dựng lên cách nay 2,210 năm về trước. Lịch sử ghi rằng sau khi trở thành Phật tử, Hoàng Đế Asoka (A Dục) từ bỏ Dig-vijaya (cuộc xâm lăng thế gian bằng võ lực) và kiên cố thiết lập Dharma-vijaya (cuộc xâm lăng bằng đường lối chân chánh) và chánh thức hành hương đến các thánh tích. "Những cuộc chánh thức hành hương các thánh tích mà Asoka ra lịnh tổ chức, thay vì những cuộc săn bắn của nhà vua, và những địa điểm thiêng liêng Phật Giáo mà Ngài đến viếng, đều được đánh dấu bằng các đài tưởng niệm có hình ngọn cờ của hoàng đế (dhvaja-stambhas), chạm trổ và gọt giũa khéo léo trên đá và lộng lẩy ghi tạc những dòng chữ thời Asoka thuật lại cuộc viếng thăm nơi này của nhà vua. Những di tích tương tợ vẫn còn, trong tình trạng ít nhiều toàn hảo. [1]

 

Đại Đế Asoka cùng đoàn tùy tùng đến hành hương tại Lumbini với vị thầy và cố vấn mình, Đại Đức Upagupta. Vị này chỉ nơi Hoàng Tử Siddhattha đản sanh và nói, "Nơi đây, tâu Đại Vương, bậc chí tôn chí thánh Sakyamuni đản sanh." Asoka quỳ xuống khấu đầu đảnh lễ thánh tích và truyền lịnh cho xây dựng tại nơi này một trụ đá tưởng niệm để ghi dấu trạm dừng chân đầu tiên của cuộc hành hương. Trên trụ đá có ghi tạc năm hàng gồm 93 chữ thời Asoka như sau:

 

Devàna piyena Piyadasinà làjina visativasàbhistitena, atana àgàcha mahiyita hida Budhe jàte Sàkyamuni ti, silà vigadabhi chà kalàpita silàthabhe cha usapàpite, hida Bhagavam jàte ti Lummini-game yubalike kate, atha-bhagiye cha.

 

"Vua Devanampiya Piyadassi, lúc ấy hai mươi tuổi thọ, đích thân đến tôn vinh địa điểm này. Vì Đức Phật, vị hiền thánh dòng Sakya đản sanh nơi đây, nhà vua hạ lịnh xây dựng một vách thành bằng đá bao quanh nơi này [2] và một trụ cột bên trong. Vì nơi đây Đức Thế Tôn đản sanh, vua giảm sưu thuế cho dân làng Lumbini tám phần mể cốc." [3]

 

II- Buddhagayà (hay Bodh-Gaya)

 

Buddhagayà, hay Bodh-Gaya như người Ấn gọi, là thánh tích thiêng liêng nhất của người Phật tử trên khắp thế giới bởi vì chính tại nơi đây mà Đức Bổnchứng ngộ Đạo Quả Tối Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vào năm ba mươi lăm tuổi thọ.

 

Kinh điển Phật Giáo ghi rằng vào năm lên hai mươi chín tuổi Thái Tử Gotama từ bỏ vợ và con, cha Ngài và ngôi vị quốc vương đầy hứa hẹn quyền thế, vinh quang, và đắp lên mình bộ y của đạo sĩ, rút vào sống đơn độc trong rừng sâu để tìm chân lý vĩnh cửu của đời sống. Cùng với năm vị đạo sĩ khác Ngài thực hành pháp tu khổ hạnh bên bờ sông Neranjara (Ni Liên Thiền) tại Uruvela, gần Gayà. Tận lực cố gắngkiên trì chiến đấu trong sáu năm dài dẳng Ngài đã đến tận ngưỡng cửa của thần chết. Nhưng pháp tu khổ hạnh không đưa Ngài đến mục tiêu mong mỏi. Từ bỏ lối tu ép xác và nhịn đói đến mức cùng cực Ngài bắt đầu dùng trở lại chút ít thức ăn. Năm vị đạo sĩ cùng tu với Ngài thấy vậy chán nản, lìa bỏ Ngài. Chừng đó, không có sự giúp đỡ của một vị thầy ngoài ý chí sắt đá và hạnh tinh tấn không lay chuyển của chính mình, hoàn toàn tin tưởng nơi lòng trong sạchquyền năng dũng mãnh của chính mình, không cùng tu với một ai, Bồ Tát khẳng quyết thành đạt mục tiêu cùng tột trong tình trạng hoàn toàn đơn độc. Ngồi tréo chân dưới cội bồ đề tại Uruvela, một nơi ngoạn mục làm êm dịu giác quankích thích tâm trí, Ngài đi sâu vào pháp hành niệm hơi thở-vào-thở-ra (àna-apàna-sati).

 

Giờ đây vào ngày trăng tròn tháng Năm, khi mặt trời vừa ló dạng trên vùng trời phương Đông và trăng tròn tháng Vesak dần dần khuất bóng ở phương Tây, Bồ Tát giải quyết những khó khăn phức tạp của sự trở thành, vén lên bức màng che dấu những bí ẩn của kiếp sinh tồn: khổ, nguyên nhân sanh khổ, sự chấm dứt đau khổcon đường dẫn đến chấm dứt đau khổ. Vì sự kết hợp thiêng liêng này, địa điểm Gayà (Đạo Tràng) được gọi là Buddha Gayà (Bồ Đề Đạo Tràng), và cội cây che mưa đỡ nắng cho Đức Phật lúc ngồi thiền có tên là Bodhi (Bồ Đề), hay Bo Tree, "cây trí tuệ".

 

Như vậy Ngài trở thành người mà vòng luân hồi (samsàra) đã chấm dứt. Rồi Ngài suy tư: "Tâm ta không còn chút gì ham muốn những kiếp sinh tồn triền miên tiếp diễn. Sự sanh đã được tận diệt, đời sống thánh thiện đã được hoàn tất viên mãn, những gì cần phải làm đã được làm, đối với ta không còn tái sanh nữa. Tri và kiến đã phát sanh đến ta. Trạng thái giải thoát của ta đã bất lay chuyển, đây là lần sanh cuối cùng của ta." [4]

 

Chính lúc ngồi dưới cội Bồ Đề mà đấng Toàn Giác suy gẫm về paticca-samupapàda (pháp tùy thuộc phát sanh, hay thập nhị nhân duyên), phần nòng cốt của giáo huấn Ngài, như sau: "Khi cái này hiện hữu, cái kia hiện hữu; với sự phát sanh của nhân này, quả kia phát sanh; khi nhân này không hiện hữu, quả kia không hiện hữu; với sự chấm dứt nhân này, quả kia chấm dứt."

 

Cội Bồ Đề hiện tại là một trong những cây con cháu của cội Bồ Đề thời Đức Phật. Được biết rằng Công Chúa Sanghamittà, con Hoàng Đế Asoka, đã thỉnh theo với nàng một cây nhỏ, chiết từ một cành hướng về phía Nam của cội Bồ Đề chính, và đem sang Sri Lanka, trồng tại Anuradha-pura. Cội cây này hiện vẫn còn sum sê tươi tốt và là cây Bồ Đề già nhất thế giới được biết.

 

Theo sự ghi nhận của hai nhà hành hương Trung Hoa, Fa-Hien và Hiuen-Tsiang, Hoàng Đế Asoka có thói quen đến viếng cội Mahà Bodhi. Câu chuyện cội Bồ Đề và cuộc viếng thăm của Hoàng Đế được diễn tã trong những tác phẩm điêu khắc của đền Sanchi.

 

Được biết Vua Asoka có cho xây dựng một nơi để tôn thờ thánh tích tại địa điểm mà Đức BổnThành Đạo, và một vách thành bằng đá đẹp đẽ rào quanh. Tuy nhiên, đến nay không còn tàn tích nào của những công trình ấy. "Đền thờ tại Bodh-Gayà khó có thể được xây dựng sớm hơn thế kỷ thứ nhất trước dương lịch, nhưng có lý do để tin rằng nó cũng nhái theo kiến trúc của đền thờ mà Asoka cho xây dựng tại cùng địa điểm này." (Havell, trang 112). Có một liên hệ văn hóa giữa Buddha-Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) và xứ Sri Lanka (Tích Lan). Vào triều đại Samudragupta tại Ấn, Vua Meghavanna xứ Sri Lanka có gởi sứ giả sang với nhiều tặng phẩm quý giá và yêu cầu cho sáng tạo một ngôi chùa tại Buddha-Gayà để cho các nhà sư từ Sri Lanka đến, cư ngụ tại đó. Ngài Hiuen Tsiang đã viết rất sống động về ngôi tự viện này mà Ngài viếng thăm vào khoảng giữa thế kỷ thứ Bảy.

 

"Đây là ngôi Sinhala Sanghàràma (chùa Tích Lan) đầu tiên được xây dựng tại Bắc phần xứ Ấn, nhưng chắc chắn không phải là tự viện đầu tiên của người Tích Lan trên (toàn) xứ Ấn Độ, bởi vì chúng ta biết rằng theo di tích ghi tạc trên đá của Virapurisadatta tại Nàgarjunikonda thì một ngôi chùa thật rộng có tên Sinhala-vihàra đã được xây dựng bên bờ sông Krsnà trong miền Nam xứ Ấn tối thiểumột thế kỷ trước đó. Cơ sở Mahàbodhi Sanghàràma vẫn còn ở ngay bên ngoài cổng phía Bắc của đền thờ Bodhgàya, thách đố những cơn phong ba bão táp của thời gian, mặc dầu đã bị lãng quên từ nhiều thế kỷ." [5]

 

III- Isipatana (nay Sarnath)

 

Kế đến là Isipatana, hiện là Sarnath, nơi mà Đức Bổn Sư vận chuyển Bánh Xe Pháp Bảo. Vừa hai tháng sau khi chứng đắc Toàn Giác thì ngài rời Gayà để đi Benares, cách đó không ít hơn một trăm năm mươi dặm Anh để giáo truyền chân lý đến năm vị đạo sĩ mà xưa kia đã cùng tu với Ngài nhưng đến nay vẫn còn lạc bước trong nếp sống khổ hạnh vô nghĩa lý, cực kỳ kham khổ.

 

Lần hồi đi từng chặng, Đức Thế Tôn đến Vườn Lộc Uyển tại Isipatana, gặp năm đạo sĩ, và nói: "Này chư đạo sĩ, Như Lai [6] là A La Hán, đấng Trọn Lành, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammà Sambuddha). Hãy lắng nghe, này chư đạo sĩ, trạng thái Bất Diệt đã được thành đạt, Như Lai sẽ giảng dạy các thầy. Như Lai sẽ giáo huấn các thầy. Hành theo lời dạy của Như Lai các thầy sẽ thông hiểu và tự mình chứng ngộ, trong chính kiếp sống này, mục tiêu trong sạch tối thượng mà các người con trong những gia đình quý phái rời bỏ gia đình, để theo lối sống không nhà cửa."

 

Lúc ấy năm vị đạo sĩ nói: "Này Đạo Hữu Gotama, mặc dầu đã thực hành lối tu cực kỳ nghiêm khắc, khổ hạnh và tự ép xác, Đạo Hữu đã không thành đạt tri kiếntrí tuệ siêu thế nào. Giờ đây sống đời xa hoa, lợi dưỡngtừ bỏ chiến đấu, làm thế nào Đạo Hữu thành đạt tri kiếntrí tuệ siêu thế?" Rồi Đức Thế Tôn trả lời: "Như Lai không hề từ bỏ cố gắng, trở về lối sống xa hoaphong phú dồi dào. Như Lai là bậc Toàn Giác tối thượng. Hãy lắng nghe, này chư đạo sĩ, trạng thái Bất Diệt đã được thành đạt. Như Lai sẽ giảng dạy các thầy. Như Lai sẽ dạy Giáo Pháp." Lần thứ nhì năm vị đạo sĩ lặp lại thắc mắc như trước, và Đức Phật cũng trả lời như trước lần thứ nhì. Lần thứ ba câu hỏi được lặp lại. Chừng đó Đức Bổn Sư hỏi: "Này chư đạo sĩ, có lần nào trước đây chư đạo sĩ nghe Như Lai nói như vậy không?" "Bạch Ngài, không." Các đạo sĩ trả lời. Lời nói chân thật của Đức Phật đã thuyết phục năm đạo sĩ, giờ đây tin chắc lời của Đức Phật, sẵn sàng lắng nghe Ngài.

 

Lúc bấy giờ nhằm ngày trăng tròn tháng 7 (Àsatha), vào buổi chiều, trong Vườn Lộc Uyển tại Isipatana, thành Benares, Đức Phật ngỏ lời với năm đạo sĩ:

 

"Có hai cực đoan, này chư đạo sĩ, mà người tu hành không nên dung dưỡng trau giồi. Hai ấy là gì? Lối sống lợi dưỡng, duyên theo nhục dục ngũ trần vốn thấp hèn, phàm tục và đưa đến tổn hại; và lối tu ép xác khổ hạnh, vốn đau khổ, thấp hèn và đưa đến tổn hại. Trung Đạo, này chư đạo sĩ, mà Như Lai khám phá, tránh xa hai cực đoan trên và đem lại nhãn quan, tri kiếnNiết Bàn.

 

"Trung Đạo ấy là gì? Đó chính là Bát Chánh Đạo, tức: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định."

 

Rồi Đức Thế Tôn giải thích cho năm vị đạoTứ Diệu Đế: diệu đế về dukkha (đau khổ), diệu đế về nguyên nhân của dukkha, diệu đế về sự chấm dứt dukkha, diệu đế về con đường dẫn đến chấm dứt dukkha. [7]

 

Sarnath, nằm về hướng Bắc cách Vàrànasi năm dặm Anh, là nơi chôn nhau cắt rún của Giáo Pháp, những gì Đức Phật dạy, và Tăng Già, những người được dạy. Bởi vì chính tại nơi đây bậc Toàn Giác lần đầu tiên công bố Giáo Pháp, và từ nơi đây Ngài gởi sáu mươi vị đệ tử đầu tiên tuôn ra khắp nơi.

 

Đại Đế Asoka đến hành hương nơi thánh tích này và cho xây dựng một loạt những đài tưởng niệm và một trụ cột với tượng sư tử trên đỉnh. Sư tử trên đầu cột, hiện được trưng bày tại viện bảo tàng Sarnath, là niềm hãnh diện của nơi này, và ngày nay, cũng sư tử ấy là biểu hiệu của xứ Ấn Độ tự do. Những chữ được ghi tạc trên cột trụ là "... không có bất luận ai, dầu thế nào, có thể chia rẻ tách rời Tăng Già. Bất luận ai, tăng hay ni, chia rẻ Tăng Già phải bị đắp y trắng và ở một nơi khác hơn là chùa chiền."

 

Trong quyển Discovery of India, Sri Nehru viết, "Tại Sarnath, hầu như tôi thấy Đức Phật đang thuyết giảng bài Pháp đầu tiên của Ngài, và vang âm của một vài chữ được ghi nhận hình như còn phảng phất đâu đây cho tôi, xuyên qua hai ngàn năm trăm năm xa xưa. Những thạch trụ Asoka với những chữ được ghi tạc trên đó hầu như nói với tôi trong một ngôn ngữ tuyệt mỹ về một con người, dầu là một hoàng đế, vĩ đại hơn bất cứ vì vua hay hoàng đế nào."

 

Trong khi tìm những trụ cột Asoka, H.G. Rawlinson viết trong quyển India (trang 84): "Những trụ cột này bị hao mòn láng mướt, bằng phẳng gần giống như mặt gương, và tình trạng láng bóng ấy làm những du khách sau này lầm tưởng là kim khí. Chót vót trên đỉnh cao là một cái chuông, và một hình ảnh biểu tượng, mà thường là sư tử. Trong những đầu cột này, cái mà người ta chú ý nhất được thấy ở Sarnath, với bốn sư tử tuyệt đẹp đỡ lên một dharma-cakra, Bánh Xe Pháp Bảo, vốn được vận chuyển tại địa điểm này."

 

John Marshall nói với lòng khâm phục sâu xa về "những tượng sư tử hùng dũng trên đầu trụ, gân guốc nổi phồng lên và bắp thịt nở nang," và ông đi xa đến đỗi tuyên bố rằng cả hai, chuông và đầu cột, là "những kiệt tác về mặt nghệ thuật cũng như về phương diện kỷ thuật -- quả thậttác phẩm điêu khắc hoàn hảo nhất mà xứ Ấn Độ đã sáng tạo và không có chi cùng loại này trong thế giới cỗ xưa có thể hơn."

 

IV- Kusinara (Kusinagara)

 

Từ Sarnath chúng ta đến Kusinara, hay Kusinagara như hiện nay người ta gọi. Địa điểm này nằm trong Uttar Pradesh, khoảng 120 dặm Anh phía Đông Bắc của Bàrànasi. Đây là cảnh Đức Phật nhập diệt, vì lẽ ấy người Phật tửtâm đạo nhiệt thành cùng khắp thế giới đến viếng thánh tích này với tâm xúc động và lòng gợi cảm mạnh mẽ.

 

Vào lúc bấy giờ Đức Thế Tôn được tám mươi tuổi thọ. Hai vị đại đệ tử của Ngài, Sàriputta và Mahà Moggal-làna, đã nhập diệt ba tháng trước. Pajàpati Gotami, mẹ nuôi của Đức Bổn Sư và là vị lãnh đạo Giáo Hội Tỳ Khưu Ni, Yasodharà, và Ràhula cũng đã qua đời. Vì lúc ấy nhằm mùa Nhập Hạ nên Đức Phật, cùng với đông đảo chư tỳ khưu, rời Vesàli đi Beluva để an cư kiết hạ (vassàna). Rồi từ Beluva Ngài đi Mahàvana. Bịnh hoạn làm kiệt sức, chân cẳng yếu kém, Đức Phật giờ đây đi đứng rất khó khăn, theo sauĐại Đức Ànanda và một nhóm đông chư tăng. Chí trong cuộc hành trình dài dẳng và mệt nhọc cuối cùng này Đức Bổn Sư cũng luôn luôn để ý dạy dỗ người khác.

 

Giờ đây Đức Phật đã đến mức tận cùng của cuộc hành trình, trong khu Rừng Long Thọ của người Mallas tại Kusinàrà. Ngỏ lời cùng chư tăng, Đức Phật giảng dạy nhiều điểm quan trọng được ghi trong Mahàparinibbàna Suttanta, Kinh Đại Niết Bàn, bài kinh dài nhất trong kinh điển Phật Giáo. Tất cả những diễn biến xảy ra trong những năm cuối cùng của đời Ngài cũng được ghi nhận trong kinh này.

 

Đây quả thậtbài kinh mà người Phật tử thuần thành cũng như những ai muốn học Phật nên đọc, vì nó chứa đựng nhiều Phật ngôn rất quan trọng và rất hữu ích.

 

Đức Phật nói lên lời khuyên dạy tối hậu, cho những ai vui lòng hành theo Giáo Huấn của Ngài, trong hiện tại và trong tương lai, với những lời như sau:

 

Vayadhammà sankhàra. Appamàdena sampàdetha.

 

"Tất cả các pháp hữu vi (các pháp được cấu tạo) đều vô thường.
Hãy giác tỉnh chú niệm và kiên trì gia công để thành tựu giải thoát"

 

Với những lời cuối cùng ấy Đức Bổnnhập diệt. Ngài thành đạt Mahàparinibbàna, Đại Niết Bàn, hoàn toàn không còn trở thành.

 

Tại Kusinàrà, điểm chánh yếu cần biết là đền thờ với pho tượng Phật nằm (Matha Kunwarka Kot), tháp Phật nhập Đại Niết Bàn (Mahàparinirvàna Stupa) liền kế sau nhà ấy, và tháp Angàra Cetiya, nơi cử hành lễ trà tỳ, hỏa thiêu Đức Phật, khoảng non một dặm Anh cách xa tháp kia. Lẽ dĩ nhiên tháp này đã điêu tàn, nhưng công trình trùng tu đã bắt đầu. Khi A.C. Carlyle khám phá ra pho tượng vào năm 1833, thì chỉ là những mảnh vụn, nhưng ông đã ráp lại một cách rất khéo léo. Pho tượng khổng lồ, dài 20 feet, của Đức Như Lai ở tư thế nằm nghiêng mình bên mặt, đầu hướng về hướng Bắc, khích động mạnh mẽ nguồn gợi hứng và xúc cảm sùng kính (samvega) nơi khách hành hươngtâm đạo nhiệt thành, và hầu như bất luận ai, khi rời khỏi nơi tôn thờ trang nghiêm này lòng cũng nao nao xúc động.

 

Trên tảng đá bồ đoàn nơi Phật nằm có ghi những dòng chữ thời thế kỷ thứ V, cho biết danh tánh của thí chủ và của điêu khắc gia.

 

Deyadharmoyam mahà-vihàraswàmino Haribàlasya Prati-màceyam ghatità Dine Mathurena.

 

"Đây là lễ vật cúng dường của Haribàla Swàmi, chùa Mahà Vihàra. Pho tượng do Dina Mathura thực hiện" [8]

 

Tháp Mahàparinirvàna Stupa (Đại Niết Bàn) được xây dựng trên địa điểm mà Đức BổnĐại Từ Đại Bi trút hơi thở cuối cùng và nhập Đại Niết Bàn, Mahàparinibbàna. Địa điểm này được xác nhận, không còn nghi ngờ gì nữa, nhờ những tài liệu ghi tạc trên đá được khám pháliên quan đến tháp Parinirvàna Caitya.

 

Lịch sử ghi rằng Hoàng Đế Asoka đến đây đảnh lễ thánh tích này và có cho xây dựng một ngôi bảo tháp, nhưng sự kiện này chưa được đưa ra ánh sáng. Tháp Parinirvàna Caitya mà những dòng chữ trên đây đề cập đến, được xây cất từ thời đại Gupta và như vậy, có thể là tháp Asoka đã bị chôn vùi phía dưới công trình này.

 


 

Chú thích:

 

[1] E.B. Havell, The History of Aryan Rule in India, page 96.

 

[2] Hoặc "vua hạ lịnh xây dựng một bức thành bằng đá và gạch," như F.J. Fleet gợi ý trong JRAS, July 1908, trang 832.

 

[3] F.J. Fleet, "The Rummindei Inscription and the Conversion of Asoka to Buddhism." JRAS, April 1908.

 

[4] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm 26.I. 167.

 

[5] B.M. Barua, Ceylon Lectures (1945), trang 18.

 

[6] Như Lai, Tathàgatha, là lối xưng hô của Đức Phật. Một trong những ý nghĩa khác là "Người đã chứng đắc Chân Lý".

 

[7] Dhammacakkappavattana Sutta, Samyutta Nikàya. v. 420.

 

[8] D. Valisingha, trích từ quyển Buddhist Shrines in India, trang 95.



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Mười 2020(Xem: 73)
22 Tháng Mười 2020(Xem: 4857)
16 Tháng Mười 2020(Xem: 263)
15 Tháng Mười 2020(Xem: 257)
11 Tháng Mười 2020(Xem: 357)
07 Tháng Mười 2020(Xem: 335)
06 Tháng Mười 2020(Xem: 363)
04 Tháng Mười 2020(Xem: 393)
28 Tháng Chín 2020(Xem: 406)
10 Tháng Chín 2020(Xem: 573)
08 Tháng Chín 2020(Xem: 656)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 225)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 334)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 1471)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 935600)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 1003)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 1055)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 944)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 1013)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 1007)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 1213)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 974)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 1031)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 1092)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 1416)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 999)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 1094)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 1139)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 1030)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 1558)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 1357)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1973)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3652)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5201)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4857)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2840)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
08 Tháng Mười 202011:06 SA(Xem: 4254)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4857)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 223)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 239)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2588)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1692)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1605)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.