Người Dịch Kinh Phật: Phỏng Vấn Tỳ Khưu Bodhi - Translator For The Buddha: An Interview With Bhikkhu Bodhi

24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 507)
Người Dịch Kinh Phật: Phỏng Vấn Tỳ Khưu Bodhi - Translator For The Buddha: An Interview With Bhikkhu Bodhi

BuddhaStand_B


Người Dịch Kinh Phật: Phỏng Vấn Tỳ Khưu Bodhi
Translator For The Buddha: An Interview With Bhikkhu Bodhi
Bhikkhu Bodhi - Bình Anson dịch
Source-Nguồn: budsas.org


__________________

Người Dịch Kinh Phật: Phỏng Vấn Tỳ Khưu Bodhi

Tỳ khưu Bodhi (Bhikkhu Bodhi) là một tu sĩ người Mỹ và là một dịch giả nổi tiếng về kinh điển Pāli nguyên thủy. Các bản dịch Anh ngữ của ngài về Trung Bộ (Majjhima Nikāya) và Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikāya) đã trở thành những quyển sách tham chiếu căn bản của giới Phật học ở phương Tây. Vào đầu năm 2006, chuyên san Phật giáo Inquiring Mind (inquiringmind.com) thực hiện một cuộc phỏng vấn được ghi lại dưới đây.

 

____________________

 

Hỏi: Do duyên cớ gì Sư chú tâm vào việc dịch kinh?

 

Tỳ khưu Bodhi: Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến Sri Lanka và thọ giới tỳ khưu trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda) vào năm 1972, tôi tích cực học tiếng Pāli để có thể trực tiếp đọc và hiểu được những bài kinh nguyên thủy của Đức Phật. Tôi quyết định theo học với Hòa thượng Balangoda Ananda Maitreya, vì lúc ấy ngài là một trong các vị học giả giỏi nhất ở Sri Lanka. Ngài cũng rất thông thạo tiếng Anh, và là một người rất hiền hòatừ bi.

 

Vào năm 1974, tôi có dịp làm việc chung với vị sư người Đức, Hòa thượng Nyanaponika, chủ nhiệm và chủ bút của Hội Xuất bản Phật giáo (Buddhist Publication Society), thành phố Kandy. Trong thời gian đó, tôi sử dụng cuốn sổ tay của Hòa thượng, do ngài ghi chép từ thập niên 1950, để tăng cường sự hiểu biết về tiếng Pāli chú giải. Cuối năm 1975, tôi đến Kandy và sống với ngài Nyanaponika. Ngài xem qua vài bài dịch riêng của tôi và khuyên tôi nên dịch bài kinh Phạm Võng (Brahmajala Sutta, bài kinh đầu tiên trong Trường Bộ), cùng với những chú giải và phụ chú giải. Bản dịch đó được xuất bản trong tập sách Chú giải kinh Phạm Võng (The Discourse on the All-Embracing Net of View) vào năm 1978, đánh dấu khởi điểm cho “sự nghiệp” dịch thuật của tôi.

 

 

Hỏi: Sư có những nhận xét gì về vai trò của kinh điển đối với các người phương Tây theo học Phật Pháp? Và lý do gì đã thúc đẩyphổ biến những bản dịch Anh ngữ đến với họ?

 

Tỳ khưu Bodhi: Khoảng năm 1972, trước khi tôi rời Hoa Kỳ đi sang châu Á để thọ giới tỳ khưu, quan tâm về đạo Phật của giới trẻ Hoa Kỳ có khuynh hướng phản trí thức (anti-intellectual) – nghĩa là ít chú ý đến việc nghiên cứu kinh sách. Lúc đó, trong khi đa số những người Tây phương đi tu học tại các tự viện Phật giáo Nguyên thủy trong vùng rừng núi ở Thái Lan hoặc tại các trung tâm thiền tập ở Miến Điện; duyên nghiệp lại đưa đẩy tôi đến Sri Lanka, đến với những vị thầy có hiểu biết thâm sâu về kinh điển và sẵn sàng hết lòng dạy tôi.

 

Khi tôi bắt đầu tìm đọc các bài kinh bằng tiếng Pāli, tôi rất hồ hởi bởi tính chất rõ ràng, lý luận sâu sắc, vẻ đẹp tế nhị và tình cảm tinh tế, nằm ngay bên dưới bề mặt trầm lặng của chúng. Tôi bắt đầu phiên dịch những bài kinh và các đoạn chú giải với mục đích duy nhất là để giúp cho mình thông hiểu, chứ không có ý định xuất bản. Nhưng sau một thời gian, tôi nhận thấy rằng người học Phật phương Tây có một khoảng trống rất lớn: đó là thiếu một sự hiểu biết rõ ràng về những lời dạy của Đức Phật. Do đó, tôi nghĩ rằng, điều cực kỳ quan trọng là làm sao phiên dịch những bài kinh này ra một thứ ngôn ngữ hiện đại, trong sáng, kèm theo với những chú thích để trình bày những nghĩa lý thâm sâugiá trị thực tiễn. Đó là sự nghiệp của tôi cho đến ngày hôm nay.

 

 

Hỏi: Sự uyên bác và công việc nghiên cứu kinh điển đã giúp ích được gì trong sự hành trì và phát triển tâm linh của Sư?

 

Tỳ khưu Bodhi: Nhiều Phật tử phương Tây thường cho rằng hành trì đồng một nghĩa với thiền tập, và rồi họ tách biệt, phân chia giữa hai lãnh vực học hỏithực hành. Họ cho rằng, khi một vị tu sĩ chuyên tâm nghiên cứu Phật học, vị ấy không thể nào là một hành giả nghiêm túc; như thể công việc học Phật là đối chọi lại với công phu hành trì chân thật. Tôi phải công nhận rằng sự hành thiền của tôi cũng chưa hoàn toàn như ý mong muốn, nhưng đó là vì điều kiện sức khoẻ của tôi (đây là trở ngại do nghiệp quả mà tôi phải trực diện); chứ hoàn toàn không phải vì tôi chú tâm quá nhiều cho việc nghiên cứuphiên dịch kinh điển.

 

Chúng ta nên nhớ rằng, ở các quốc gia Phật giáo tại châu Á, từ nhiều thế kỷ và hầu như trong mọi tông phái, công tác chính yếu của Tăng đoàngìn giữquảng bá Phật pháp, bằng cách nghiên cứu, học hỏitruyền bá giáo lýkinh điển. Công việc ấy đã dựng nên một nền móng vững chắc, từ đó, những thành đạt cao hơn trong việc tu tập được xây đắp; như thể bộ xương nâng đở bắp thịt và các cơ quan khác trong thân thể Phật pháp. Mặc dù trong mọi truyền thống đều có những tích truyện về những vị thiền giả tuy ít học mà vẫn đạt được những thực chứng thâm sâu, nhưng nổi bật nhất vẫn là những vị có thể phối hợp được cả hai pháp học và pháp hành. Ta cũng có thể nghi ngờ những câu chuyện tiểu sử các bậc hiền triết ít học, như là những phóng đại do tôn sùng quá đáng.

 

Mối tương quan giữa sự học Phật uyên bác và sự thực hành, theo tôi, là một vấn đề rất phức tạp, mà ta không thể nào tìm được một câu trả lời duy nhất có thể thích hợp cho tất cả mọi người. Mỗi người có một khuynh hướng tự nhiên thiên về một phía nào đó. Có một điều ta có thể nói dứt khoát rằng, kiến thức uyên bác mà không có áp dụng thực tế sẽ trở thành cằn cỗi, và hành thiền tinh tấn nhưng thiếu sự hướng dẫn để hiểu rõ các nguyên tắc sẽ trở thành vô hiệu quả. Tôi e rằng nếu khônghiểu biết sâu sắc về kinh điển, chỉ trong vòng vài thế hệ nữa, truyền thống tu tập của chúng ta sẽ bị pha loãng, lấn áp, và nuốt trọn bởi nền văn hóa vây quanh, nhất là khi nền văn hóa ấy có tính duy thần hay có khuynh hướng chuộng vật chất.

 

 

Hỏi: Xin Sư cho biết ý kiến về giá trị của việc học kinh điển trong sự tu tập của Phật tử Âu Mỹ ngày nay.

 

Tỳ khưu Bodhi: Trước khi giải thích về giá trị của việc học kinh điển trong sự tu tập của mình, ta nên đặt câu hỏi: Thế nào là tu tập? Tu tập có nghĩa là gì? Nếu ta không nhấn mạnh về những câu hỏi này, ta có khuynh hướng mang những giả thuyết không được xem xét rõ ràng vào mục đích của sự tu tập. Từ đó, sự tu tập của ta sẽ dễ dàng trở nên tùy tiện cho những ý đồ riêng tư, hoặc là những thiên kiến văn hóa, thay vì là một phương tiện đưa đến mục tiêu giải thoát mà Đức Phật đã đề ra. Theo tôi thấy, đó là điều đang xảy ra cho Phật giáo phương Tây, và đó cũng giải thích được lý do vì sao Phật giáo Âu Mỹ đã thay đổi truyền thống, và có người xem rằng đó như thể đã thỏa hiệp với ngành tâm lý học hiện đại hay với chủ nghĩa nhân bản thế tục.

 

Học Phật pháp không phải là việc khuân vác một mớ văn hóa từ một xứ Ấn Độ cổ xưa đem về đổ xuống sau vườn nhà mình. Nó phải được xem xét, phân tích cẩn thận. Nếu thực hiện nghiêm túc, nghiên cứu Phật họcphương cách để ta học hỏi và hấp thu cơ cấu của Phật Pháp. Đây là cách để ta có được một sự thông hiểu tường tận về các nguyên lý nền tảng của giáo pháp. Quan trọng hơn nữa, đây là cách để ta nuôi dưỡng những hạt giống tuệ giác trong tâm mình.

 

Công việc đầu tiên ta cần làm khi đi theo con đường của Đức Phật là phải có Chánh Kiến, chi đầu tiên của Bát Chánh Đạo, đó là kim chỉ nam cho suốt hành trình tâm linh của ta. Chánh kiến được bắt đầu bằng "văn", gồm có đọc kinh điển, nghe và học hỏi từ những vị thầy có khả năng. Kế đến là "", nghĩa là suy tư, quán chiếu về thực chất của giáo lý, liên quan đến cuộc sống của chính mình. Khi quan kiến của ta được sáng tỏ và sâu sắc, niềm tin nơi Đức Phật trở nên kiên cố. Lúc đó, dựa trên chánh kiến và lòng tín thành này, công phu hành thiền của ta, "tu", sẽ tiến đến đúng mục tiêu.

 

Trí tuệ chân thật chỉ xuất hiện khi ta thẩm sát những gì thiện và những gì bất thiện, nghĩa là những gì đưa ta đến bình an hạnh phúc và đem an vui đến cho người khác, và những gì gây tai hại và đau khổ cho ta và cho người khác. Điều này phát nguồn từ việc học kinh điển nghiêm túc, và đó chỉ là một phần nhỏ những gì ta tìm được trong nguồn kinh điển. Ta cần phải thẩm tra những gì ta học được, suy tư và hấp thu vào nội tâm, và xuyên suốt qua tuệ quán.

 

 

Hỏi: Bằng cách nào chúng ta có thể kết hợp việc nghiên cứu các bài kinh với sự tu tập của mình?

 

Tỳ Khưu Bodhi: Trước hết, ta cần phải biết bắt đầu từ đâu. Cho người mới bắt đầu học kinh, tôi đề nghị tìm đọc tập sách trích lục kinh điển của Hòa thượng Nyanatiloka, "Phật ngôn" (The Word of the Buddha). Hoặc tìm đọc theo hệ thống các bài kinh căn bản trình bày tại trang web "Truy cập Tuệ quán" (Access to Insight, accesstoinsight.org); và tôi cũng đề nghị đọc bài "Làm bạn với kinh điển” ("Befriending the Suttas") của ông John Bullitt, chủ biên trang web. Kế đến, bạn có thể đọc cuốn “Những Lời Dạy của Đức Phật” (In the Buddha’s Words), do tôi trích lục từ kinh tạng. Sau đó, cho những ai muốn đọc đầy đủ hơn, tôi đề nghị tìm đọc Trung Bộ (Majjhima Nikāya). Trang web của Tu viện Bodhi (Bodhi Monastery, bodhimonastery.net) có lưu trữ các bài giảng kinh Trung Bộ của tôi, thu âm trong suốt ba năm thuyết giảng, có thể tải xuống để nghe. Như thế, sẽ giúp người nào muốn tìm hiểu nghiêm túc chi tiết các kinh văn này.

 

Phương pháp học tập: Tôi đề nghị là trong lần đầu, ta gắng đọc lướt qua toàn bài kinh để làm quen với mạch văn. Sau đó, đọc lại lần thứ nhì cẩn thận hơn và ghi chú các chi tiết. Khi đã quen với nhiều bài kinh, liệt kê một số các đề tài có vẻ vượt trộicác chủ đề trùng lặp, và dùng chúng như là các đề mục cho việc học kinh trong tương lai. Khi ta tiếp tục đọc kinh, nên lấy ghi chú và sắp xếp chúng theo từng chủ đề, tạo thêm chủ đề mới nếu cần thiết; nhưng luôn luôn ghi rõ xuất xứ các đoạn kinh. Dần dần – sau một năm hay vài năm – ta sẽ có được một cái nhìn tổng thể về Phật Pháp; cuối cùng, ta sẽ thấy các bài pháp ấy kết hợp với nhau thành một khối đồng nhất, như thể các mảnh hình nhỏ được kết nối lại trong trò chơi ráp hình.

 

Tôi cũng muốn nhấn mạnh ở đây là các bản kinh Pāli bắt nguồn từ thời kỳ cổ xưa nhất của lịch sử kinh văn Phật giáo và vì thế, là một di sản chung cho mọi truyền thống Phật giáo. Vì vậy, học tập các bản kinh này không phải là công việc dành riêng cho Phật tử Nam tông hay những hành giả thiền Minh sát; đó là công việc, và cũng là nhiệm vụ, của mọi Phật tử thuộc tất cả các tông phái, nếu họ thật tâm muốn thông hiểu cội rể của Đạo Phật.

 

 

Hỏi: Có những cạm bẫy hay nguy cơ nào trong việc sử dụng kinh điển không?

 

Tỳ Khưu Bodhi: Có một điều nguy hiểm trong việc sử dụng kinh điển đã được Đức Phật chỉ ra rất rõ ràng trong bài kinh Xà dụ (kinh "Người bắt rắn", Trung Bộ, 22). Đức Phật nói về những người học kinh điển, thay vì đem ra thực hành các lời giảng dạy, lại sử dụng những kiến thức ấy để phê phán kẻ khác, hoặc để khoe tài năng của mình khi tranh luận với kẻ khác. Đức Phật ví dụ họ như người bắt rắn nhưng nắm ở đằng đuôi, họ sẽ bị con rắn quay đầu lại cắn, gây đau đớn trầm trọng hoặc mất mạng. Tôi thấy nhiều Phật tử Tây phương đã rơi vào cạm bẫy này, nhiều lúc có cả chính tôi. Mặc dù ta bắt đầu với ý định tốt nhất, nhưng ta lại nắm bắt Phật Pháp bằng thái độ giáo điều cố chấp, dùng học thức của mình để tranh cãi với kẻ khác, và rồi, dính mắc vào "trận chiến diễn dịch" với những ai có sự giải thích kinh văn khác với mình.

 

Một nguy hiểm khác là ta buông bỏ khả năng suy xét của mình và hoàn toàn tin vào bất cứ những gì ghi lại trong kinh. Thật ra, cũng có những điều trong kinh không còn đúng và thích hợp nữa, qua kiến thức khoa học hiện đại. Ta không thể phê bình những người tin theo thuyết sáng tạo của Ky-tô giáo để rồi mình cũng bị chấp dính vào những thái độ tương tự.

 

 

Hỏi: Có những đoạn kinh nào mà Sư ưa thích nhất?

 

Tỳ Khưu Bodhi: Khi tôi mới bắt đầu đọc kinh điển Phật giáo, lúc còn học đại học, tôi cảm thấy rất hứng khởi với những lời dạy của Đức Phật về lý nhân duyên, ngũ uẩn, vô ngã, v.v., vì chúng đưa ta thẳng vào trọng tâm của Pháp. Nhưng một trong những bài kinh gây ấn tượng nhất cho tôi lại không phải là những bài kinh giảng thâm sâu về hành thiền hoặc về thực chứng giải thoát. Khi đọc những bài kinh giảng về lý duyên khởivô ngã, tôi nghĩ: Đức Phật quả là một bậc giác ngộ, nhưng có lẽ cũng chưa toàn vẹn lắm. Nhưng khi tôi đọc đến bài kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt (Sigalovāda Sutta, Trường Bộ, 31), những nghi ngờ của tôi hoàn toàn tan biến. Khi tôi đọc bài kinh này, đặc biệt là đoạn kinh giảng về “cách lễ lạy sáu phương", tôi nhận thấy rằng mặc dù đã thấu đạt những chân lý sâu xa nhất về sự hiện hữu, Đức Phật vẫn có thể giảng dạy rất chi tiết cho bậc cha mẹ về cách dạy con cái, cho vợ chồng về cách thương yêu tương kính, cho người chủ về cách chăm sóc người làm của mình, v.v.; khi ấy, tôi chợt hiểu rằng, vị Thầy này quả là một bậc giác ngộ hoàn toàn. Trong tâm tôi, bài kinh này chứng minh rằng, Đức Phật không những đã đạt được một “trí tuệ siêu thế" cao quý nhất, mà Ngài còn có cả " trí tuệ hiện thế" với lòng từ bi bao trùm khắp thế gian, mang sự hiểu biết của mình hòa nhập với trình độ của thế tục, để dạy dỗ và hướng dẫn mọi người bằng những phương cách phù hợp với căn cơ của họ.

 

Một trong những đặc điểm của kinh điển mà tôi có ấn tượng nhất, ngay từ khi bắt đầu học kinh và mãi cho đến bây giờ, là các ví dụ so sánh. Dường như Đức Phật có thể đem bất cứ một hiện tượng thiên nhiên nào, hay là bất cứ một việc gì trong đời sống hằng ngày, biến thành một ví dụ sâu sắc để làm sáng tỏ một điểm quan trọng nào đó trong bài giảng. Mặt trời, trăng sao, hoa lá, cỏ cây, sông núi, biển hồ; bốn mùa thay đổi; sư tử, khỉ, voi, ngựa; vua, quan và chiến sĩ; nghệ nhân, y sĩ và đạo tặc – danh sách về những đề tài ví dụ của Đức Phật hầu như nhiều vô tận. Đôi khi chúng ta đọc một loạt những bài kinh có vẻ rất khô khan, rồi đột nhiên ta gặp một ví dụ rất tươi mới và sáng rõ, và hình ảnh ấy không bao giờ phai nhạt trong tâm ta, ngay cả sau nhiều thập niên.

 

 

HỏiKhi dịch kinh điển, Sư gặp những khó khăn đặc biệt nào?

 

Tỳ Khưu Bodhi: Tôi nghĩ rằng bất cứ ngôn ngữ nào cũng có một cấu trúc nhận thức cơ bản của mỗi nền văn hóa, chứa đựng những ẩn dụ để tạo dựng từ ngữ, và bao gồm các ý nghĩa phụ thuộc và sắc thái riêng của từ ngữ. Vi thế, khi chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, lúc nào ta cũng gặp vấn đề không hòa hợp giữa hai cấu trúc nhận thức đó. Điều này dẫn đến các xung đột mà thông thường chỉ giải quyết được bằng cách hy sinh những liên hệ quan trọng về khái niệm trong ngữ văn gốc để chuyển dịch sao cho suông sẻ và dễ hiểu. Vấn đề này trở nên trầm trọng hơn khi ta phải chuyển dịch từ một cổ ngữ, với những ẩn dụ cổ xưa, sang ngôn ngữ hiện đại với một nền văn hóa rất khác biệt.

 

Ta có thể thấy vấn đề này ngay ở những từ Pāli đơn giản. Thí dụ như từ "samādhi" (định), tiếng Anh dịch là: concentration - tập trung; composure - an tĩnhcollectedness - tự chủmental unification - hợp nhất tâm, v.v. nhưng các từ này không chuyển tải được ý nghĩa của samādhi để chỉ một trạng thái luyện tâm đặc biệt, hay một hệ thống các trạng thái luyện tâm, trong hệ thống huân tập tâm ý của đạo Phật (và trong các đạo giáo Ấn Độ).

 

Ngay cả từ "sati" (niệm), tiếng Anh thường dịch là "mindfulness", cũng không phải là không có vấn đề. Từ này phát nguồn từ động từ "sarati", nghĩa là "ghi nhớ", và đôi khi trong ngữ văn Pāli, sati vẫn được hiểu như có liên quan đến ý nghĩa về sự ghi nhớ. Nhưng khi từ ngữ đó được dùng trong các pháp hành thiền, chúng ta không có chữ tiếng Anh nào để dịch cho chính xác. Một dịch giả nào đó đã tạo ra chữ "mindfulness", lúc đó chưa xuất hiện trong cuốn tự điển của tôi. Chữ dịch này cũng khá hay, nhưng tự nó không bảo tồn được ý nghĩa về sự ghi nhớ, đôi khi rất cần thiết để thông hiểu một đoạn kinh.

 

Từ "satipatthāna" thường được dịch là "foundation of mindfulness" (niệm xứ, nền tảng của niệm), nghe có vẻ thanh lịch; nhưng nếu ta hiểu Pāli, ta có thể nghi ngờ, hợp từ ấy không bắt nguồn từ sati + patthāna (từ đó, dịch là niệm xứ), mà là sati + upatthāna, nghĩa là "establishment of mindfulness" (sự thiết lập niệm). Rồi, nếu ta hiểu kinh văn gốc, ta sẽ thấy có rất nhiều câu, trong đó, sati được dùng với những từ có liên hệ đến upatthāna, như upatthitassati (người có niệm được thiết lập), mà không có câu nào kết hợp sati với các từ có liên hệ đến patthāna. Điều này xác minh cho việc chúng ta nên dịch satipatthāna là "sự thiết lập niệm - establishment of mindfulness", hơn là dịch "nền tảng của niệm, niệm xứ". Cho dù từ "niệm xứ - foundation of mindfulness" nghe có vẻ thanh lịch, điểm quan trọng ở đây là tiến trình nội tâm để thiết lập chánh niệm, chứ không phải là về đối tượng của quán niệm.

 

 

HỏiKhi Sư thấy truyền thống Phật giáo Nguyên thủy đang được các vị giáo thọ Tây phương biến đổi để thích nghi trong thời đại mới, những điều nào Sư nghĩ là có ích lợi và những điều nào không có ích lợi?

 

Tỳ Khưu Bodhi: Tôi rất ngần ngại khi phê bình về việc làm của các vị thầy khác, nhưng tôi chỉ xin đề cập đến một vấn đề quan trọng đang xảy ra trong việc giảng dạy thiền quán Vipassana, mà có thể ta không chú ý đến. Tôi có cảm tưởng rằng mục đích của thiền quán niệm, đang được dạy ở Tây phương, đã bị biến đổi rất nhiều, khác xa chức năng truyền thống của nó. Có lẽ là vì đa số các vị giáo thọ Âu Mỹ giảng dạy ra ngoài khuôn khổ của giáo lý Phật giáo cổ điển. Ngày nay, dường như pháp thiền quán niệm được dạy như là một cách thức để làm tăng trưởng kinh nghiệm của ta trong giây phút hiện tại. Mục đích của pháp hành là để giúp ta chấp nhận tất cả những gì xảy đến cho mình mà không phân biệt. Qua sự nâng cao chánh niệm trong giây phút hiện tại, ta học cách chấp nhận mọi việc như tự bản chất chúng là tốt đẹp, nhìn thấy mọi vấn đề như đáng để học hỏi, thể nghiệm mọi sự như đáng ân thưởng. Vì vậy mà ta chỉ cần an trú trong hiện tại, sẵn sàng tiếp nhận bất cứ việc gì xảy ra, hoàn toàn cởi mở đón nhận dòng chảy của các sự kiện luôn tươi mới và luôn bất định.

 

Ở một cấp độ nào đó, đường lối giảng dạy ấy cho ta nhiều bài học giá trị. Đương nhiên, chấp nhận bất cứ những gì xảy đến cho ta bao giờ cũng tốt hơn là sống mà cứ náo nức đeo đuổi lạc thú và sợ sệt trốn tránh khổ đau. Càng khôn ngoan hơn nếu ta thấy được các bài học tích cực trong những nỗi đau, mất mát và đổi thay, thay vì than van, trách móc cho số phận. Thế nhưng, theo quan kiến của tôi, nếu chỉ trình bày những điều này như là điểm chính của lời Phật dạy, thì đó là một sự suy diễn sai lầm về Pháp. Lời dạy của Đức Phật, ghi lại trong các bài kinh, có những luận cứ khác biệt. Mục đích tối hậu của Giáo pháp không phải là để chấp nhận cuộc đời, nhưng là để giúp ta vượt qua giới hạn của kinh nghiệm hữu vi, để thăng hoa cuộc đời, đạt đến trạng thái không có già, không có chết, nghĩa là chấm dứt mọi khổ đau. Nếu ta chỉ đơn giản duy trì nhận thức trong hiện tại để có một sự chấp nhận không ràng buộc về hiện tại, nó có thể gián tiếp đưa ta đến sự thỏa hiệp với cõi Ta-bà luân hồi (samsara), nghĩa là sẽ lại dính mắc vào Ta-bà, chứ không giải thoát khỏi nó.

 

Trong giáo pháp truyền thống, qua chú tâm tỉnh giác trong hiện tại, ta tập trung quán sát tiến trình sinh và diệt của mọi hiện tượng để phát triển tuệ giác về đặc tính vô thường của chúng. Nhưng nếu chúng ta dừng lại ở tính vô thường của mọi vật, thì đó không phải là cách để ta chấm dứt khổ đau. Tuệ giác về vô thường (anicca), phải là cửa ngõ đưa đến tuệ giác về khổ (dukkha)đặc tính bất chu toàn của mọi pháp hữu vi, và về tính vô ngã (anatta) của mọi pháp. Với tuệ giác về ba đặc tính này, ta nhàm chán về mọi pháp hữu vi. Do nhàm chán, xả ly phát sinh. Do xả ly, giải thoát phát sinh, đưa đến thực chứng Niết-bàn tại đây và ngay bây giờ.

 

Cốt lõi của Phật pháp không phải chỉ là luận thuyết cho rằng tháo gỡ được sự dính mắc sẽ giúp ta sống một cuộc đời không có lo sợ và đau buồn. Thật ra, luận thuyết đó chỉ là một phần về sự liên hệ của hai Diệu Đế đầu – Khổ ĐếTập Đế, nhưng chưa đủ sâu sắc. Phân tích thâm sâu hơn về Tứ Diệu Đế là phải thấy rõ rằng dính mắc của năm uẩný nghĩa chính của Khổ Đế; phải thấy rõ rằng hoạn khổ bắt nguồn từ sự thèm khát khoái lạc của các giác quan và sự thèm khát vào một sự hiện hữu tiếp nối; và phải thấy rõ rằng hoạn khổ – đau khổ của dính mắc vào vòng sinh tử luân hồi – chỉ chấm dứt khi nào sự thèm khát hoàn toàn tàn diệt. Nếu không thấy được như thế, giảng dạy về Tứ Diệu Đế, trọng tâm của Phật Pháp, sẽ không đầy đủ.

 

Dĩ nhiên, mỗi vị giáo thọ phải tự quyết định lúc nào là thích hợp để trình bày đầy đủ giáo thuyết ấy. Đức Phật ngày xưa, chỉ giảng dạy Tứ Diệu Đế khi nào Ngài biết thính chúng có khả năng để lĩnh hội. Nhưng nếu ta muốn Phật Pháp được hưng thịnh, ít ra, ta phải chấp nhận ý nghĩa chân chính của các lời dạy trên; cho dù chúng ta quyết định rằng bây giờ cần phải chuẩn bị trước với những phương cách khác, thích nghi hơn, của con đường đưa đến giải thoát.

 

 

HỏiChúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy trong kinh điển, Đức Phật không bao giờ đề nghị người nào đi theo con đường Bồ-tát của Ngài để đắc quả vị Phật, nhưng Ngài chỉ dạy về đạo quả A-la-hán như là mục đích chính. Theo Sư, tại sao như thế?

 

Tỳ Khưu Bodhi: Đây là câu hỏi mà tôi đã từng suy tư rất nhiều, nhưng vẫn chưa tìm được câu trả lời tối hậu. Có nhiều ý tưởng về quả vị Phật tìm thấy trong kinh điển nguyên thủy hướng đến giáo thuyết ban sơ về con đường Bồ-tát trong thời Đức Phật còn tại thế. Trong thời đó, có lẽ cũng có những người hứng khởi về tấm gương của Ngài như là một Bậc Giải thoát Từ bi, và họ, thay vì nhắm đến quả vị A-la-hán, ước nguyện đắc quả vị Chánh Đẳng Giác trong một tương lai nào đó. Cũng có thể họ có đến gặp Đức Phật để xin Ngài hướng dẫn để đạt mục tiêu ấy, và Ngài đã giảng dạy cho họ.

 

Tuy nhiên, trong trường hợp đó, sẽ phát sinh câu hỏi sau đây: -“Tại sao trong các bài kinh, chúng ta không tìm thấy các lời giảng rõ ràng về con đường tiến đến quả vị Phật? Tại sao các lời giảng ấy chỉ được ghi trong kinh văn hậu tác như là Chuyện Tiền thân (Jatakas), Sử tích (Apadānas), và các bộ kinh Đại thừa phát triển về sau?”

 

Tôi không có câu trả lời chính xác về câu hỏi khó khăn nhưng thích thú này, nhưng tôi có thể tạm thời đưa ra hai giả thuyết trái ngược, mặc dù tôi cũng chưa vừa lòng với giả thuyết nào. Đó là: (i) Trong thời kỳ nguyên khai, Đức Phật chỉ được xem như là vị A-la-hán đầu tiên, vượt trội hơn các vị A-la-hán khác về tài năng giảng dạy và uy tín cá nhân của Ngài. Phản biện: Nếu như thế, giả thuyết này ngầm hiểu rằng hầu như tất cả những gì ghi lại trong các bài kinh về các uy lực của Đức Phật, các tuệ giác cao quý và phẩm hạnh cao thượng của Ngài đều được ghi thêm vào sau này, như thế là gián tiếp làm suy giảm giá trị khả tín của các bài kinh. (ii) Các kỳ Kết tập Kinh điển đầu tiên là do các vị tu sĩ có khuynh hướng đi theo con đường A-la-hán tổ chức trùng tuyên; vì thế, các vị ấy đã gạt bỏ những đoạn kinh không liên quan đến con đường của mình, kể cả các bài kinh về con đường Bồ-tát. Phản biện: Giả thuyết nầy không có cơ sở, vì trong kinh tạng nguyên thủy lưu truyền đến ngày nay, có bao gồm nhiều bài giảng của Đức Phật cho hàng cư sĩ tại gia, các bà nội trợ cũng như các vua quan, để chu toàn nhiệm vụ thường ngày của họ, mà không liên quan gì đến sự hành trì của hàng tu sĩ; và như thế, nếu có các bài giảng khác cho những ai ước nguyện theo con đường Bồ-tát thì ắt hẳn chúng cũng được trùng tuyên.

 

Cho nên, hai giả thuyết trên đều không đứng vững. Câu trả lời dễ nhất mà tôi nghĩ ra – mặc dù không phải là lời giải đáp mà tôi hoàn toàn ưng ý – qua đức hạnh của Ngài, Đức Phật là một tấm gương cho những người muốn theo đường Bồ-tát, nhưng bởi vì giáo pháp tối hậu của Ngài là đưa đến giải thoát, Ngài không thể dạy những khái niệm tranh đua nhau để tiến đến mục tiêu cuối cùng. Ở đây, lời giảng của Ngài là phải đề cao những vị đã thực chứng được mục tiêu tối hậu, đó là các vị A-la-hán, và mô tả con đường đưa đến quả vị đó. Dù trong bất cứ trường hợp nào, con đường A-la-hán như đã mô tả trong kinh tạng nguyên thủy vẫn là nền tảng cho con đường Bồ-tát phát triển về sau trong thời kỳ Phật giáo Bộ pháiPhật giáo Đại thừa; cho nên, con đường sau không thể có được nếu khôngcon đường trước.

 

 

HỏiVài người nhận định rằng các bản chú giải, nhất là các chú giải của Luận sư Phật Âm (Buddhaghosa), trình bày một quan kiến khác với các bài kinh – như là một sự diễn dịch hạn hẹp hơn về sự hành trì Pháp. Sư nghĩ thế nào về sự thông hiểu căn bản về pháp nghĩa của các bài kinh, so với các giải thích trong chú giải? Chúng giống nhau hay khác nhau như thế nào?

 

Tỳ Khưu Bodhi: Sự liên hệ giữa các bản kinh và các bản chú giải cực kỳ phức tạp và đây là một điều nguy hiểm nếu ta có những phê phán tổng quát cho sự liên hệ đó. Các chú giải thật ra không phải là các tác phẩm nguyên gốc của ngài Phật Âm, mà là các phiên bản biên tập của các chú giải cổ xưa đã được gìn giữSri Lanka. Nguồn gốc lịch sử của chúng không rõ ràng, nhưng chắc là bắt nguồn từ chính các bản kinh; nghĩa là có những bản kinh mang ý nghĩa chú giải cho các bản kinh khác (thí dụ: Trung Bộ 141, Tương Ưng 12:31; Tương Ưng 22:3,4). Trong thời kỳ ban đầu của sự truyền khẩu, các vị trưởng lão Phật giáo ắt hẳn có triển khai một tập hợp chú giải đi kèm với bản văn gốc, và ắt hẳn các chú giải này đã tích tụ qua nhiều thế hệ, như thể trái banh tuyết lăn tròn và lớn rộng ra với nhiều lớp tuyết dính vào.

 

Các cổ bản chú giải Sri Lanka – không còn hiện hữu – mà ngài Phật Âm dựa vào đó để biên soạn, có lẽ là một kho tàng các tư liệu tích lũy qua nhiều thế kỷ, và có lẽ bắt nguồn từ các vị đại đệ tử của Đức Phật. Ngay cả trong các bản chú giảichúng ta thừa hưởng hôm nay, có những tầng lớp dường như đã hiện hữu trước cả thời kỳ phân chia Tăng đoàn thành các bộ phái, vì chúng có những tư liệu dùng chung cho các bản luận giải của nhiều tông phái khác nhau. Những tư liệu mới hơn thì bắt nguồn các vị thầy tổ của tông phái Theravāda (Trưởng lão bộ) sau khi tông phái nầy thành hình, và vì thế, phản ánh những phương cách diễn dịch riêng biệt. Ngoài ra, còn có một khuynh hướng trao đổi tư liệu diễn giải giữa các tông phái; tuy nhiên, nhờ tính bảo thủ, các vị tu sĩ Theravāda đã nghiêm ngặt tách rời các tư liệu mới nầy ra khỏi phần kinh văn ghi lời Đức Phật giảng.

 

Để hiểu tác động của các chú giải ở cấp độ giáo thuyết, chúng ta nên nhớ rằng các bài kinh thật ra không phải chỉ là kinh văn của tông phái Theravāda. Đây là sự truyền tải của các tu sĩ Theravāda về một hạng kinh điển chung cho các tông phái Phật giáo trong thời kỳ nguyên khai, mỗi tông phái ắt hẳn có phương cách diễn dịch riêng. Những bản chú giảichúng ta có được từ Luận sư Phật Âm (và nhiều vị khác) tiếp tục nhiệm vụ diễn giải các kinh điển này qua quan kiến của tông phái Theravāda. Vì thế, quan kiến của các vị ấy dĩ nhiên là phải hạn hẹp hơn là các kinh văn vì cần phải có tính đặc thù: họ nhìn thế giới tâm ý của các bản kinh qua lăng kính của các phương pháp bình luận thánh thư do các vị thầy tổ Theravāda triển khai, dùng những phương pháp nầy để giải thích chi tiết về các bài giảng của Đức Phật.

 

Nếu ta so sánh ví dụ các bản kinh như là một vùng lãnh thổ đất đai rộng lớn, quan sát từ trên cao để thấy các điểm chính của địa hình nhưng chi tiết lại rất sơ sài; lúc đó, các chú giải có thể ví như một báo cáo chi tiết về phương hướng, vị trí của lãnh thổ đó. Câu hỏi ở đây là: Các chú giải này chỉ đi đến để mô tả phong cảnh với nhiều chi tiết, hay chúng mang theo các toán thợ xây dựng và các dự án xây nhà, xây thương xá và xa lộ trên vùng đất hoang sơ? Câu trả lời, theo tôi, là kết hợp cả hai.

 

Tóm lại, có hai thái độ cực đoan khi chúng ta đánh giá các chú giải. Một cực đoan, thường được các nhà Theravāda chính thống chấp nhận, là xem chúng có giá trị hầu như ngang hàng với các bản kinh. Một cực đoan khác là hoàn toàn gạt bỏ chúng, và cho rằng chúng đại diện cho sự diễn dịch khác với Pháp. Tôi nghĩ rằng thái độ cẩn thận trung dungchúng ta tham khảo các bản chú giảisử dụng chúng, nhưng không chấp dính vào chúng. Các diễn giải thường giúp làm sáng tỏ kinh văn, nhưng ta cũng nên ghi nhận rằng chúng chỉ đại diện cho một sự hệ thống hóa đặc thù của các bài kinh giảng nguyên sơ. Đôi khi, các bài kinh nầy không cần có thêm các chú giải, và có vài điểm, các chú giải có vẻ không tương thích với bài kinh giảng.

 

 

Hỏi: Rất nhiều bài kinh khi kết thúc có ghi rằng những người khi nghe các lời dạy của Đức Phật, thông hiểu, rất hoan hỷ, và đôi khi được giác ngộ chỉ nhờ nghe và hiểu. Điều này quả thật rất kỳ lạ, rất khó suy ngẫm!

 

Tỳ Khưu Bodhi: Chính các bản kinh cũng không giải thích rõ, chỉ nói rằng trong khi Đức Phật giảng dạy, tâm của người nghe trở nên "sẵn sàng, tiếp nhận, không còn những chướng ngại, hoan hỷ và tự tin." Nhưng thông thường, kinh cũng ghi rằng, Đức Phật giảng bài kinh đặc biệt cho một người hay một nhóm người nào đó trong thính chúng, cho nên có thể Đức Phật đã biết trước người ấy hay nhóm người ấy có khả năng thấu đạt chân lý. Theo tôi, sự nhanh nhẹn thấu đạt Chân Pháp của họ là do ba yếu tố.

 

Thứ nhất, họ đã tích lũy được đầy đủ các hạnh ba-la-mật (paramis), hay các phẩm hạnh cao quý, trong nhiều kiếp trước. Tôi tin hoàn toàn vào nguyên lý tái sinh, và tôi tin rằng sự giác ngộ là kết quả của công phu tu tập qua nhiều kiếp sống, kiện toàn những phẩm hạnh như bố thí, trì giới, nhẫn nại, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, từ bi, xả ly, cương quyết, v.v. Vì thế, mặc dù những vị này có thể chưa hành trì Chánh Pháp trong đời này trước khi họ gặp Đức Phật, nhưng họ đã chu toàn các hạnh ba-la-mật với nhiều vị Phật trong quá khứ.

 

Thứ hai là một sự khát khao sâu xa trong tiềm thức, mong đạt được sự thanh tịnh và thấu đạt chân lý. Sự khát khao này có thể không hiển lộ trên bề mặt của tâm – có thể họ đang sống như các thương gia bận rộn, các bà nội trợ khiêm tốn, những người đầy tớ bình dị – nhưng vào những giây phút tĩnh lặng, một sự thúc đẩy nào đó hướng về chân lý, về sự toàn thiệnhoàn mỹ tinh thần đã choáng ngợp tâm các vị ấy, tạo nên một cảm giác bất an sâu đậm trong lòng, một nỗi bức rức chỉ được dập tắt khi họ gặp Đức Phật và nghe Ngài giảng dạy.

 

Thứ ba, trong vài trường hợp, có thể các vị ấy đã trực diện với một khổ đau khắc nghiệt, thô tháo hay vi tế, và khổ đau ấy đã xé toang được tấm màn vô minh trước mắtthúc đẩy họ đi tìm một con đường giải thoát tối hậu.

 

Khi hai hoặc ba yếu tố này được trọn vẹn, các vị ấy như những đóa hoa sen trên mặt hồ, chờ mặt trời mọc để bừng nở. Sự xuất hiện của Đức Phậtmặt trời mọc lên, và Giáo Pháp của Ngài là những tia nắng sáng chói khai mở các đóa hoa sen trong tâm thức để tiếp nhận chân lý tối hậu.

 

Bình Anson dịch
(Perth, Australia, tháng 7-2006)

Translator For The Buddha: An Interview With Bhikkhu Bodhi 

The following is a longer version of the interview that appears in the Spring 2006 issue of "Inquiring Mind", (inquiringmind.com/Articles/Translator.html)

 

____________________

 

 

For the last quarter century the American-born monk Bhikkhu Bodhi has immersed himself in the Pāli Canon and is now a respected interpreter of its content and meaning. His English translations of the Majjhima Nikaya and Samyutta Nikaya (Wisdom Publications, 1995 and 2000) have become favorites of Western students of the dharma. Inquiring Mind conducted an e-mail interview with Bhikkhu Bodhi in the fall of 2005 upon the publication of his new anthology of sutta passages, In the Buddha’s Words (Wisdom, 2005).

 

____________________

 

Inquiring Mind: How did you become interested in translating the suttas?

 

Bhikkhu Bodhi: When I first ordained I did not have any intention to become a translator. My first Buddhist teacher, a Vietnamese monk with whom I lived in California back in the late 1960s, impressed on me the importance of learning the canonical languages of Buddhism, beginning with Pāli, as a tool for understanding the Dhamma. When I arrived in Sri Lanka and took ordination as a Theravāda monk in 1972, I was eager to learn Pāli in order to gain direct access to the original collections of the Buddha’s discourses. I deliberately choose Ven. Balangoda Ananda Maitreya to be my teacher because at the time he was reputed to be one of the top scholar-monks in Sri Lanka. He was certainly the foremost Sinhalese scholar-monk fluent in English and was also a very gentle and lovable person.

 

In 1974, I spent time with the German monk Nyanaponika Mahathera, the president and editor of the Buddhist Publication Society in Kandy. While staying with him, I used his notebook translations from the 1950s to improve my knowledge of commentarial-style Pāli. At the end of 1975, I moved to Kandy to live with Ven. Nyanaponika. He had seen some of my personal translations and suggested I translate the Brahmajala Sutta (the first sutta in the Digha Nikaya) with its commentary and subcommentaries. The resulting work, which commenced my "career" as a translator, was published as The Discourse on the All-Embracing Net of Views (1978).

 

IM: What observations have you made regarding the role of the suttas to Western students of the Dhamma in particular? And how/why has this motivated you to help make English-language translations available to Westerners?

 

BB: During the period immediately preceding my departure for Asia and ordination as a monk in 1972, the interest in Buddhism among young Americans tended to be anti-intellectual. While most Westerners who went to Asia in quest of Theravāda teachings found themselves in forest monasteries in Thailand or meditation centers in Burma, my karmic connections led me to Sri Lanka and to teachers who were steeped in the scriptures and were ready to guide a Western student eager to learn them.

 

When I started to read the Pāli suttas, I was exhilarated by their clarity, intellectual rigor, delicate beauty and subtle emotional fervor, which shimmers just beneath their tranquil surface. I started translating suttas and passages from the commentaries simply to make them intelligible to myself, not to publish them. In time, though, I came to see that Western Buddhism was characterized by a gaping void: lack of a clear knowledge of the Buddha’s own teachings. I thus thought it extremely important that the suttas be translated in lucid, contemporary language accompanied by a body of annotations that brings out their deeper meanings and practical relevance. This to date has been my life’s work.

 

IM: What role has scholarship and study of the suttas had in your own practice and spiritual development?

 

BB: Many new Western Buddhists take the word practice as almost synonymous with meditation and then drive a sharp wedge between study and practice. They assume that if a monk is devoted to scholarship, he can’t be a serious practitioner, as if scholarship were somehow antithetical to real practice. I have to admit that my own meditation practice has fallen far short of my ideal, but I ascribe this largely to a chronic health condition (a personal karmic obstacle with which I must deal) rather than to a dedication to scholarship and a concern to translate the Buddhist scriptures.

 

We should remember that in Buddhist Asia down through the centuries, in virtually all traditions, the main task of the monastic order has been the preservation and transmission of the Buddhist teachings, done primarily through the intensive study, investigation and propagation of Buddhist scriptures and philosophy. This has formed the foundation stone upon which all higher achievements in Buddhist practice have rested, the skeleton that has supported the muscles and organs of Buddhism. While all traditions preserve accounts of unlettered meditators who have attained deep realization, the most outstanding representatives in all traditions have been those who combine both doctrinal sophistication and meditative realization. One suspects that even the hagiographical stories of illiterate sages are pious exaggerations.

 

The interrelationship of study and scholarship with practice is, I feel, a complex issue about which there is no single answer suitable for everyone. Some people will naturally gravitate towards one or another of these two poles. What can be said unequivocally is that scholarly knowledge without practical application is barren; vigorous meditation practice without the guiding light of clear conceptual understanding is futile. Without knowledge of the texts, I fear, within a couple of generations a practice tradition will easily become diluted, chewed up and digested by the surrounding culture, especially when that culture is a theistic or a materialistic one.

 

IM: Please comment on the value of sutta study in the practice of a contemporary Western lay Buddhist.

 

BB: To explain the value of sutta study in one’s practice, let’s first raise the questions: What is practice? What is practice all about? If we don’t press hard on these questions, we’ll instinctively bring into our practice our own unexamined assumptions about the purpose of practice, and then our practice can easily become subservient to our personal agendas or our cultural biases rather than a means to fulfilling the goal set for it by the Buddha. It seems to me that this is what has happened in Western Buddhism and explains why it has been transforming the tradition in ways that some might consider a compromise with modern psychology or secular humanism.

 

Studying the Dhamma, however, isn’t a matter of picking up a load of cultural baggage from ancient India and dumping it in our backyard. It must be done with careful discrimination and critical thought. Properly undertaken, the study of the Dhamma is precisely the way we learn and internalize the framework of the Buddha’s teachings. It is how we acquire a sound understanding of the principles that underlie and permeate the teachings, and even more importantly, how we nurture the seeds of wisdom in our minds.

 

Our first task in treading the Buddha’s path is, after all, to acquire right view, the first factor of the Noble Eightfold Path, our navigator along the entire spiritual journey. Right view initially arises through "hearing," which includes reading Buddhist texts and studying the Dhamma under qualified teachers, and through "reflection," reasoned contemplation of the teachings intrinsically and in relation to our own life. It is when our view is clear and sharp that our faith in the Buddha becomes well established, and it is on the basis of right view and sound faith that meditation practice can move towards its intended aim.

 

True wisdom emerges by investigating what is wholesome and what is unwholesome: what leads to our own true welfare and happiness and promotes the well-being of others, and what leads to harm and suffering for ourselves and others. All this comes from careful study of the scriptures, and this is only a minute fraction of what one finds in the texts. What we learn we have to examine, reflect upon and inwardly absorb through contemplation, and then penetrate by direct insight.

 

IM: What are some ways one might incorporate reading/study of the suttas into one’s practice?

 

BB: First one has to know where to begin. For a newcomer to the suttas, I suggest starting with a little gem, Ven. Nyanatiloka’s anthology, The Word of the Buddha (published by the Buddhist Publication Society, available from pariyatti.com). An alternative is the schematic selection of texts on the Access to Insight website; I also recommend the webmaster’s essay "Befriending the Suttas." As the next step – or perhaps even for beginners – I would throw modesty to the winds and recommend In the Buddha’s Words (after all, they’re mostly his words, not mine). Then, for one who wants to go on to a full collection, I suggest the Majjhima Nikaya. Our Bodhi Monastery website contains almost three years’ worth of my lectures on the Majjhima suttas (bodhimonastery.net/mntalks_audio.html). These can help serious students obtain a detailed understanding of these texts.

 

Then how to study: I suggest the first time one simply read each sutta through to gain an initial acquaintance with it. Then read it a second time and make notes. After one becomes familiar with a range of texts, list a number of topics that seem to be dominant and repeated themes, and use these as the rubrics for future readings. As one proceeds, make notes from the texts and sort them under these topics, adding new topics whenever necessary; always include the textual references. Over time – after a year or a couple of years – one will gradually acquire a "global view" of the Dhamma, so that one can see how virtually all the teachings fit together into a consistent whole, like the pieces of a jigsaw puzzle.

 

I also want to emphasize that the suttas stem from the earliest period of Buddhist literary history and thus constitute the common heritage of the entire Buddhist tradition. So to study them is not a task solely for followers of Theravāda Buddhism or of Theravāda-based vipassana; it is a task, indeed a responsibility, of Buddhists belonging to all schools who want to understand the taproot of Buddhism.

 

IM: What are some pitfalls or potential dangers in the use of the scriptures?

 

BB: One potential danger in the use of the scriptures was clearly pointed out by the Buddha in the Discourse on the Simile of the Snake (Majjhima Nikaya 22). He speaks of those who learn the suttas but instead of practicing the teaching use their knowledge to criticize others and prove their skill in debates. The Buddha compares this to grasping a water snake by the tail: the snake will turn around and bite one’s arm, causing death or critical pain. I have seen numerous Westerners, myself too at times, fall into this trap. Though one starts with the best intentions, one grasps the teaching with a dogmatic mind, uses one’s knowledge to dispute with others, and then becomes locked in a "battle of interpretation" with those who interpret the texts in different ways. Another danger is to let one’s capacity for critical thought fly out the window and buy into everything the suttas say. After all, there is quite a lot in the suttas that can’t stand up against modern scientific knowledge. We can’t criticize Christian creationists while we become Buddhist variants of the same.

 

IM: What are some of your favorite sutta passages?

 

BB: When I first began to read Buddhist texts while I was in graduate school, I was naturally impressed by the Buddha’s teachings on dependent origination, the five aggregates, nonself, etc., which take us to the heart of the Dhamma. But one of the suttas that made the strongest impressions on me is not to be found among these deep texts on meditation and realization. When I read the suttas on dependent origination and nonself, I thought: the Buddha is certainly enlightened, but maybe not perfectly so. However, when I came to the Sigalaka Sutta (Digha Nikaya 31) my doubts were dispelled. When I read this sutta, particularly the section on "worshipping the six directions" (In the Buddha’s Words, pp. 116–18), and saw how one who had fathomed the deepest truths of existence could also teach in detail parents how to bring up their children, a husband and a wife how to love and respect each other, and an employer how to care for his workers, I then knew: This teacher is indeed perfectly enlightened. To my mind, this sutta showed that the Buddha possessed not only the "ascendant wisdom" that rises up to the highest truth, but the "descending wisdom" embraced by compassion that drops down again to the level of the world and, in the light of the fullest realization, teaches and guides others in the way that suits them best.

 

One of the features of the suttas that impressed me the most, when I first read them and even now, are the similes. It seems that the Buddha was capable of picking up any natural phenomenon or any object from everyday life and turning it into a striking simile that conveys an important point about his teaching. The sun, moon and stars; flowers and trees, rivers, lakes and oceans; the changes of the seasons; lions, monkeys, elephants and horses; kings, ministers and warriors; craftsman, surgeons and thieves – the list of things that enter into his similes becomes almost endless. Sometimes you might be reading a series of suttas that seem as dry as dust, and suddenly you come across a simile so fresh and vivid that the image never fades from your mind even after decades.

 

IM: What are some of the particular challenges you face as a translator?

 

BB: Any language, I have found, has an underlying conceptual scheme built into it by the metaphors that govern its vocabulary and by the connotations and nuances of its words. Thus in translating from one language into another, one is always faced with the problem of dissonance between their two underlying conceptual schemes. This leads to conflicts that often can only be resolved by sacrificing important conceptual connections in the original language for the sake of elegance or intelligibility in the target language. This problem becomes all the more acute when one is translating from an ancient language utilizing a somewhat archaic set of conceptual metaphors into a modern language pertaining to a very different culture.

 

We can see this problem in some of the simplest Pāli words. For instance, the word samadhi can be translated as "concentration, composure, collectedness, mental unification, etc.," but none of these renderings convey the idea that samadhi denotes a specific meditative state, or set of meditative states, in the Buddhist (and broader Indian) system of spiritual cultivation. Even the word sati, rendered mindfulness, isn’t unproblematic. The word derives from a verb, sarati, meaning "to remember," and occasionally in Pāli sati is still explained in a way that connects it with the idea of memory. But when it is used in relation to meditation practice, we have no word in English that precisely captures what it refers to. An early translator cleverly drew upon the word mindfulness, which is not even in my dictionary. This has served its role admirably, but it does not preserve the connection with memory, sometimes needed to make sense of a passage.

 

Satipatthana is often translated "foundation of mindfulness," which sounds elegant; but if one knows Pāli one might suspect that the compound represents not sati + patthana (which gives us "foundation of mindfulness"), but sati + upatthana, "establishment of mindfulness" (the u dropping off through union of vowels). Then, if one knows the texts in the original, one will have encountered a number of phrases that pair sati with words related to upatthana, such as upatthitassati, "one with mindfulness established," but no other phrases that pair it with forms related to patthana. And this would confirm the case for "establishment of mindfulness" over "foundation of mindfulness." However more graceful the latter might sound, the accent is on the internal process of setting mindfulness up rather than on the object to which it applies.

 

IM: As you look at the adaptations being made to traditional Theravāda teachings by Western teachers, which ones do you see as being useful and which not so useful?

 

BB: I’m reluctant to make judgments about what other teachers are doing, but I will merely point to one important adaptation that has taken place in the contemporary teaching of vipassana meditation that can easily pass unnoticed. I get the impression that the purpose for which mindfulness meditation is being taught in the West has undergone a sea change from its traditional function, perhaps because many Western teachers are teaching outside the framework of classical Buddhist doctrine. Mindfulness meditation, it seems, is now taught mainly as a means to heighten our experience of the present moment. The aim of the practice is to enable us to accept everything that happens to us without discrimination. Through heightened mindfulness of the present moment, we learn to accept everything as intrinsically good, to see everything as instructive, to experience everything as inherently rewarding. We can thus simply abide in the present, heartily accepting whatever comes, open to the ever-fresh, ever-unpredictable flow of events.

 

Now at a certain level, such a style of teaching does impart valuable lessons to us. It is certainly much better to accept whatever comes than to live eagerly pursuing pleasure and anxiously fleeing pain. It is much wiser to see the positive lessons inherent in pain, loss and transience than to bemoan our miserable fate. However, to present this as the main point of the Buddha’s teaching would be, in my view, a misinterpretation of the Dhamma. The Buddha’s teaching, as given in the suttas, has quite a different logic behind it. The teaching isn’t designed to culminate in acceptance of the world, but to lead out beyond the confines of conditioned experience to that which transcends the world, to the ageless and deathless, which is also the cessation of suffering. Simply maintaining awareness of the present in order to arrive at a detached acceptance of the present could easily lead through the back door to a reconciliation with samsara, to a reaffirmation of samsara, not to release from samsara.

 

In the classical teaching, through mindful attention to the present, we zoom in on the arising and passing away of phenomena in order to gain insight into their impermanence. But we don’t affirm the impermanence of things; it is not in this way that we reach the end of suffering. The insight into impermanence, anicca, becomes, rather, the gateway to the insights into dukkha, the flawed nature of all conditioned things, and anatta, the selfless nature of all phenomena. And insight into these three characteristics brings disenchantment with all conditioned things. From disenchantment comes dispassion, and from dispassion liberation, the realization of nibbana here and now.

 

The core of the Buddha’s teaching is not simply the thesis that removing clinging enables us to live free from anxiety and grief. This is a partial statement of the relationship between the first two Noble Truths, but it doesn’t take us deep enough. A deeper analysis of the Four Noble Truths has to bring in the five aggregates of clinging as the essential meaning of the truth of suffering; it has to bring in the truth that suffering originates from the craving for sense pleasures and the craving for continued existence; and it has to bring in the truth that suffering – the suffering of our bondage to the round of birth and death – ends only with the exhaustion of craving. If this isn’t done, even the teaching of the Four Truths, the heart of the Dhamma, won’t be complete.

 

Of course, any teacher has to determine when it’s appropriate to present such radical teachings full strength. Even the Buddha himself fully taught the Four Noble Truths only when he was sure his audience included people who could comprehend them. But for the proper Dhamma to flourish there has to be at least an acknowledgment of the claims these teachings make upon us, even if we decide that we must first prepare the ground for them with more expedient adaptations of the liberating path.

 

IM: It’s striking in the suttas that the Buddha never recommends to anyone his own path of the bodhisattva leading to buddhahood, but talks instead only of arahantship as the goal. Why do you think this is?

 

BB: This is a question to which I have given a great deal of thought but haven’t been able to arrive at a final answer. Several ideas about the Buddha found in the suttas conjointly point toward an embryonic doctrine of a bodhisattva career during the Buddha’s own lifetime. It thus seems hard to believe that while the Buddha was alive there weren’t people who were inspired by his own example as compassionate liberator and, rather than aim at direct attainment of arahantship, instead aspired to attain the supreme enlightenment of buddhahood at some future time. It also seems hard to believe that they wouldn’t have approached the Buddha to ask for guidance in pursuing this goal and received a fitting reply.

 

But if this is the case, then the question arises: Why don’t we find any teachings on the path to buddhahood in the suttas? Why should they appear for the first time only in later texts like the Jatakas, Avadanas and the early Mahayana sutras?

 

I can’t provide a definite answer to this difficult and tantalizing question, but I can offer two competing hypotheses, neither of which is satisfactory. (1) In the oldest period the Buddha was viewed merely as the first of the arahants, surpassing the others simply in his pedagogic skills and personal charisma. Objection: This hypothesis implies that almost everything that we find in the suttas about the Buddha’s powers, types of knowledge and exalted stature is later accretion, which undercuts the credibility of the texts themselves. (2) The early Buddhist councils were held by monks who pursued the arahant ideal, so they deliberately excluded texts irrelevant to their concerns, including those on the bodhisattva path. Objection: The extant collections include texts giving the Buddha’s advice to householders, housewives and kings on the fulfillment of their respective duties, so they might just as well have included texts giving his advice to bodhisattvas.

 

So neither of these hypotheses works. The easiest answer I’ve been able to come up with – though it’s not an entirely satisfactory one – is that by his character and conduct the Buddha served as the model for bodhisattva-aspirants, but since his teaching is ultimately about the attainment of liberation, he cannot teach competing conceptions of the final goal. Hence his teaching must finally exalt the person who realizes the final goal, the arahant, and describe the path to arahantship. In any case, the arahant’s path described in the early teachings served as the foundation for the bodhisattva path as elaborated in later Sectarian Buddhism and the Mahayana, so that the latter becomes impossible without the former.

 

IM: Some people feel that the commentaries, especially those by Buddhaghosa, present a different viewpoint – a more narrow interpretation of Dhamma practice – than the suttas. How do you see the basic Dhamma understanding of the suttas as compared to that in the commentaries? In what ways are they the same or different?

 

BB: The relationship between the suttas and the commentaries is an extremely complex one and it is risky to make blanket judgments about it. The commentaries are not original works by Buddhaghosa, but edited versions of more ancient commentaries that had been preserved in Sri Lanka. Their historical origins are obscure, but clearly they begin with the suttas themselves; that is, there are suttas that are commentaries on other suttas (e.g. MN 141, SN 12:31, SN 22:3, 4). During the early period of oral transmission, the ancient Buddhist teachers must have developed a body of commentary to go along with the root text, and this no doubt accumulated with each generation in the way a rolling snow ball gathers snow.

 

The old Sri Lankan commentaries upon which Buddhaghosa drew – no longer extant – were probably an archaeological treasure trove of material from several centuries, perhaps beginning with the personal disciples of the Buddha. Even in the commentaries we inherit, the most ancient layers seem to precede the division of the original unitary Sangha into different Buddhist schools, for they contain material that has found its way into the exegetical traditions of various sects. The later material originates from the teachers of the Theravāda lineage after it emerged as a distinct school and thus reflects its own methods of interpretation. There was also a tendency for the schools to exchange interpretative material, but unlike other schools, the conservative Theravadins, to their credit, rigorously kept the newer material outside the canonical works directly ascribed to the Buddha.

 

To understand what the commentaries are doing at the doctrinal level, we have to remember that the suttas themselves are not uniquely Theravāda texts. They are the Theravadin transmission of a class of scriptures common to all the early Buddhist schools, each of which must have had its own way of interpreting them. The commentaries that come to us from Buddhaghosa (and others) take up the task of interpreting these texts from the standpoint of the Theravāda school. Their view is thus necessarily narrower than that of the suttas because it is more specific: they view the thought-world of the suttas through the lens of the methods of exegesis developed by the early Theravadin teachers, using these methods to explicate and elaborate upon the early teachings.

 

If we compare the suttas to a vast expanse of open territory, reconnoitered from above as to the main features of its topography but with its details only lightly sketched, then we might compare the commentaries to a detailed account of the lay of the land. The question is: Are the commentaries simply coming in and describing the landscape in greater detail, or are they bringing in construction crews and building housing schemes, shopping malls and highways on the virgin territory. The answer, I think, would be a combination of both.

 

To be brief, I would say there are two extreme attitudes one could take to the commentaries. One, often adopted by orthodox Theravadins, is to regard them as being absolutely authoritative almost on a par with the suttas. The other is to disregard them completely and claim they represent "a different take on the Dhamma." I find that a prudent middle ground is to consult the commentaries and use them, but without clinging to them. Their interpretations are often illuminating, but we should also recognize that they represent a specific systematization of the early teaching. They are by no means necessitated by the early teaching, and on some points even seem to be in tension with it

 

IM: Many of the suttas end by stating that those listening to these words understood, were very pleased, and oftentimes enlightened by their hearing and understanding. That’s really quite amazing to contemplate.

 

BB: The suttas themselves do not give an explanation, except to say that while the Buddha was speaking, the listener’s mind became "ready, receptive, free from hindrances, elated and confident." But often they say that before he spoke, the Buddha gave the discourse out of consideration for a particular person or group of people in the audience, so he must have known in advance that this person or group of people had the capacity to realize the truth. I would attribute their agility in penetrating to the truth of the Dhamma to three factors. The first is their accumulation of sufficient paramis, or spiritual perfections, in previous births. I fully believe in the principle of rebirth, and I believe that enlightenment is to a great extent the fruit of one’s efforts expended over many lives in the development of such virtues as generosity, moral discipline, patience, energy, meditation, wisdom, lovingkindness, determination and so forth. So although these people might not have practiced Dhamma in this life before they met the Buddha Gotama, they would have fulfilled their paramis under numerous Buddhas of the past.

 

The second factor is a deep but unconscious yearning for purification and understanding of truth. This yearning might not have been operating at the surface level of their minds – they might have been busy merchants, humble housewives or simple servants – but in their quiet moments, some urge towards truth, goodness and spiritual beauty must have gripped their minds and caused a deep feeling of unrest in their hearts, an anguish that was only quenched when they met the Buddha and heard him preach.

 

A third factor, in some cases, could have been a stark encounter with suffering, either gross or subtle, that tore the veil of delusion away from their eyes and set them in quest of a path to final deliverance. When two or three of these factors were fulfilled, they were like lotus flowers at the surface of the pond, awaiting only the rising of the sun to blossom. The appearance of the Buddha was the rising of the sun, and his teaching of the Dhamma was the shedding of the sun’s rays that opened the lotuses of their minds to the ultimate truth.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 492)
08 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 786)
03 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 500)
30 Tháng Mười Một 2020(Xem: 503)
28 Tháng Mười Một 2020(Xem: 525)
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 468)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 635)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 573)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 609)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 545)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 558)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 717)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 693)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 781)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 2128)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 960766)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 1616)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 1732)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 1517)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 1616)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 1439)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 1581)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 1299)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 1354)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 1446)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 1781)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 1280)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 1378)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 1516)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 1316)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 1946)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 1821)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2439)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 4156)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5869)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 703)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 790)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 774)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 635)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5884)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 776)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 789)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 3385)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2415)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng