Truyện Thơ Tiền Thân Đức Phật, Phần 1/4 - Buddhist Tales For Young And Old, Part 1/4

14 Tháng Ba 20178:00 SA(Xem: 5964)
Truyện Thơ Tiền Thân Đức Phật, Phần 1/4 - Buddhist Tales For Young And Old, Part 1/4
Buddha_12-23-2016_A(Picture-Hình: Thus Have I Heard)


Truyện Thơ Tiền Thân Đức Phật, Phần 1/4
Buddhist Tales For Young And Old, Part 1/4

Interpreted by Ven. Kurunegoda Piyatissa. Stories told by Todd Anderson
Truyện Thơ (phỏng dịch): Tâm Minh Ngô Tằng Giao


____________________

MỤC LỤC

 

1) Quỷ Trong Sa Mạc.

2) Tìm Con Suối Mới.

3) Chiếc Đĩa Vàng.

4) Anh Chàng Buôn Chuột.

5) Người Ấn Định Giá Cả.

6) Hoàng Tử Khéo Nói Và Con Thủy Quái.

7) Cậu Bé Hoàng Tử Không Cha.

8) Hoàng Tử Thứ Một Trăm.

9) Vua Với Một Sợi Tóc Bạc.

10) Ông Sư Sung Sướng.

11) Nai Đẹp Và Nai Xám.

12) Nai Chúa Cây Đa.

13) Nai Núi Và Nai Làng.

14) Nai Gió Và Cỏ Mật.

15) Nai Trốn Học.

16) Nai Giả Chết.

17) Gió Và Trăng.

18) Dê Cứu Thầy Tu.

19) Thần Cây Đa.

20) Vua Khỉ Và Thủy Quái.

21) Cây Giống Thợ Săn.

22) Vua Chó Lông Bạc.

23) Ngựa Nòi Thông Minh.

24) Nước Tắm Dơ Bẩn.

25) Đẹp Gái.

 

INDEX

(1) Demons in the Desert [The Correct Way of Thinking] 

 

(2) Finding a New Spring [Perseverance] 

 

(3) The Golden Plate [Greed and Honesty] 

 

(4) The Mouse Merchant [Diligence and Gratitude] 

 

(5) The Price Maker [Foolishness] 

 

(6a) Prince Goodspeaker and the Water Demon [Chapter 1. Rebirth of the Bodhisatta] – (6b) Prince Goodspeaker and the Water Demon [Chapter 2. The Teaching of the Gods]

 

(7) Little Prince No-father [The Power of Truth] 

 

(8) The One-hundredth Prince [Obedience to a Wise Teacher] 

 

(9) The King With One Grey Hair [Ordination] 

 

(10) The Happy Monk [Joys of the Spiritual Life] 

 

(11) Beauty and Grey [A Wise Leader] 

 

(12a) King Banyan Deer [Chapter 1. Compassion] – (12b) King Banyan Deer [Chapter 2. Teaching] 

 

(13) Mountain Buck and Village Doe [Infatuation] 

 

(14) The Wind-deer and the Honey-grass [The Craving for Taste] 

 

(15) The Fawn Who Played Hooky [Truancy] 

 

(16) The Fawn Who Played Dead [Attendance] 

 

(17) The Wind and the Moon [Friendship] 

 

(18) The Goat Who Saved the Priest [Ignorance] 

 

(19) The God in the Banyan Tree [A Bad Promise] 

 

(20) The Monkey King and the Water Demon [Attentiveness] 

 

(21) The Tree That Acted Like a Hunter [Impatience] 

(22) The Dog King Silver [Justice] 

 

(23) The Great Horse Knowing-one [Courage] 

 

(24) Dirty Bath Water [Cleanliness] 

 

(25) Ladyface [Association] 

____________________

LỜI NÓI ĐẦU

Truyện Tiền Thân Đức Phật được ghi chép trong Kinh Bổn Sanh (Jàtaka). Đây là tập thứ 10 trong Tiểu Bộ Kinh. "Tiền thân" là những đời sống trước, những kiếp quá khứ. Mỗi truyện thường gồm: phần truyện hiện tại, phần truyện quá khứ, phần kết hợp và một bài kệ.


Phần "Truyện Hiện Tại" kể một câu truyện được xem là đang xảy ra trong thời Đức Phật còn tại thế. Nhân dịp này Đức Phật nhắc lại một câu truyện trong quá khứliên quan.


Phần "Truyện Quá Khứ" kể một câu truyện từ thời xa xưa có liên hệ đến những nhân vật trong câu truyện hiện tại. Trong truyện quá khứ luôn luôn có sự hiện diện của một vị Bồ Tát, vị này là tiền thân của Đức Phật.


Phong cách đạo đức của các vị Bồ Tát thật toàn hảo từ sự suy tư cho đến lời ăn tiếng nóiviệc làm. Ngài là nhân vật chính cao cả, phi thường với nếp sống chân thiện, hướng thượng. Ngài thường giáo hóa người chung quanh bằng tấm gương đạo đức của chính mình. Ngài có đầy đủ các đức tính như trì giới thanh tịnh, bố thí rộng rãi, Thiền định tinh tấn liên tụchành trì hạnh nhẫn nhục cao độ đến mức xả thân. Các vị Bồ Tát này khi thì làm thú vật, khi thì làm người, đôi khi làm chư thiên, có lúc làm thần cây v.v…


Phần "Kết Hợp" là phần liên kết truyện hiện tại với truyện quá khứ. Chỉ rõ sự liên hệ giữa những nhân vật chính trong hai câu truyện, để rồi "nhận diện tiền thân" tức là nói rõ ra rằng "người này", "sinh vật này" trong truyện quá khứ "là ai" trong truyện hiện tại.


Mỗi truyện tiền thân có một bài "Kệ". Kệ đó thường dựa vào câu truyện để đưa ra lời phê bình.


Tập Truyện Tiền Thân Đức Phật được coi là do các đệ tử của Đức Phật trước tác và mượn tiếng là Phật dạy để phổ biến những lời giáo huấn của Đức Phật. Người ta suy ra rằng các vị này sống trong thời Đức Phật hoặc chỉ sau đó khoảng vài chục năm. Đầu tiên truyện được truyền khẩu, về sau người ta sưu tập lại và ghi chép thành kinh sách.


Các truyện tiền thân thật sự là những tài liệugiá trị cả về mặt văn học, sử học, ngôn ngữ học, đạo đức học và giáo dục Phât giáo... Truyện có mục đích tạo niềm tin vào đạo pháp trong mọi tầng lớp xã hội. Truyện mở ra một kỷ nguyên mới trong cung cách truyền bá đạo Phật.


Các truyện tiền thân này, nhất là các truyện về súc vật, nhiều khi vượt qua biên giới tôn giáotrở thành cổ tích dân gian, nửa thần thoại, nửa thực tế, không lệ thuộc một tôn giáo nào hay xứ sở nào cả. Đây là gia tài chung của nền văn hóa dân gian. Chính vì vậy mà các truyện tiền thân này rất được phổ biến, không những trong giới Phật tử mà còn lan ra khắp cả mọi địa phương và mọi dân tộc nữa. Truyện tồn tại với giá trị độc đáo trong nền văn chương thánh thiện của thế giới. Mặc dù đã hơn hai ngàn năm trăm năm qua kể từ khi những truyện này được kể, ngày nay truyện vẫn chứa đựng sự hấp dẫn và còn có khả năng lôi cuốn làm say mê tâm hồn các độc giả trẻ em cũng như người lớn.


* Các truyện tiền thân Đức Phật đã được nhiều người kể lại, thường là bằng văn xuôi, đôi khi bằng tranh ảnh. Trong cuốn sách này, và có lẽ đây là lần đầu tiên, truyện được kể lại bằng một ngôn ngữ bình dị dưới hình thức thơ, những vần thơ "lục bát" có tính cách thuần túy dân tộc, để người đọc và người nghe dễ hiểu và dễ nhớ.


1) 106 truyện đầu tiên đã dựa vào tài liệu là hai cuốn: "Buddhist Tales For Young And Old" của Ven. Kurunegoda Piyatissa Maha Thera và Todd Anderson. Phần tranh phụ họa trong cuốn thứ nhất (1995) là do Sally Bienemann, Millie Byrum và Mark Gilson. Phần tranh phụ họa trong cuốn thứ nhì (1996) là do John Patterson. Vì truyện kể nhắm cho các độc giả phương Tây nên các tranh vẽ hầu như thiếu sắc thái Á Đông.


2) 8 truyện sau dựa vào "The Stories Of Buddha’s Former Births" của Anjali Pal và "Stories Of The Buddha" của Caroline A.F. Rhys Davids.


Tài liệu trên đây không đề cập tới phần "Truyện Hiện Tại" mà chỉ đơn giản đề cập đến phần "Truyện Quá Khứ" của các truyện tiền thân mà thôi.


Cuối sách là phần "Nhận Diện Tiền Thân Đức Phật" giới thiệu cho mọi người được biết người nào, sinh vật nào, thần nào là vị Bồ Tát (tức tiền thân Đức Phật) trong câu truyện quá khứ đã kể ở trên.


Tác giả khi kể truyện lại bằng thơ cũng đã tham khảo thêm các truyện về tiền thân Đức Phật của Hòa thượng Thích Minh Châucư sĩ Nguyên Tâm Trần Phương Lan dịch từ nguyên bản tiếng Pali và tiếng Anh, do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành.


Bộ "Truyện Thơ Tiền Thân Đức Phật" của cư sĩ Tâm Minh Ngô Tằng Giao gồm 4 tập:


- Tập số 1 (từ truyện số 1 đến 25) gồm 25 truyện thơ và có nhan đề là: "Quỷ Trong Sa Mạc".


- Tập số 2 (từ truyện số 26 đến 56) gồm 31 truyện thơ và có nhan đề là: "Kế Hoạch Hoàng Tử".


- Tập số 3 (từ truyện số 57 đến 81) gồm 25 truyện thơ và có nhan đề là: "Khỉ Và Cá Sấu".


- Tập số 4 (từ truyện số 82 đến 114) gồm 33 truyện thơ và có nhan đề là: "Ẩn Sĩ Khổ Hạnh".


Ước mong rằng người đọc cũng như người nghe truyện sẽ ghi nhớ mãi trong tâm cái nếp sống đạo đức chân chính cùng những lời khuyên dạy quý báu của vị Bồ Tát trong truyện để cùng nhau cố gắng noi theo hầu đạt được cái Chân, Thiện, Mỹ trong cuộc sống hàng ngày.


DIỆU PHƯƠNG

Interpreter’s Introduction


It is a pleasure to rewrite the Jataka stories in modern English understandable by western readers. To achieve this goal, the stories are being retold in order to convey the spirit and meaning. They are not scholarly word-for-word translations as have been done by others. The Pali Text Society has published the whole text in English translations a hundred years ago. In Sri Lanka they were translated into Sinhalese in the 14th century, where they were known as Pansiya Panas Jataka.


In all Buddhist countries the Jataka tales were the major sources for developing the character of the people. They were used widely in preaching by monks and lay preachers. King Dutugemunu (2nd century B. C.), in Anuradhapura, paid for  the support of preachers to teach Dhamma, the teachings  of  the Buddha. They usually used these stories in their sermons. Even the Venerable Arahant Maha Mahinda, who introduced Dhamma into Sri Lanka, used these stories to illustrate the truth of the teachings. Some  were  even  used by  the Lord Buddha  in his teachings, and from him his followers learned them and passed them into popular use in society. Even earlier, the same types of stories were present in Vedic literature.


Greek myths, as well as the fables of Aesop, inherited them from the Vedas and Buddhism; Persia also took them from India. They later migrated into the stories of Chaucer in England and Boccaccio in Italy. The stories were used for a variety of purposes. In Sanskrit, the Pancatantra used them to teach Law and Economics, and the Katha Sarit Sagara used them for the development of knowledge, as well as just for enjoyment. In the past, people have been satisfied and fulfilled in many ways by hearing them in forms ranging from lessons to fairy tales.

By reading these stories, children and adults can develop their knowledge and learn how to face the difficult experiences of modern life. They can easily develop  human  values  and good qualities like patience, forbearance,  tolerance  and  the  four sublime states of mind – loving-kindness, compassion, sympathetic joy and equanimity. The major purpose of these stories is to develop the moral and ethical values of the readers. Without them, people cannot be peaceful and happy in their hearts and minds. And the reader will find that these values are very different from those of the wider, violently acquisitive, ego- based society.

In this interpretation, changes are being made to the style of the old  Jataka stories,  and explanations  are added, as is appropriate for children in the modern world. The lovely artwork is also sometimes in a modern setting, to attract young and old to the truths contained in the tales.

The sources used have been as follows:

  1. Jataka Pali (Colombo: Buddha Jayanti Tripitaka Series Publication Board, 1983) – original Pali stanzas.
  2. Jataka Pali (Colombo: Simon Hewavitarane Bequest, 1926) – original Pali Jataka stories in Sinhalese characters.
  3. Sinhala Jataka Pot Vahanse (Colombo: Jinalankara Press, 1928) – Sinhalese translation of Pali Jataka stories.
  4. Sinhala Jataka Pot Vahanse, (Colombo: Ratnakara Bookshop, 1961) – Sinhalese translation of Pali Jataka stories.
  5. Jataka Pota, ed. Lionel Lokuliyana  (Colombo: M. D. Gunasena & Co., 1960) – Sinhalese translation of first fifty Pali Jataka stories.
  6. The Jataka or Stories of the Buddha’s Former Lives, ed. E. B. Cowell (London: Pali Text Society, 1981), 6 vols., index – English translation of Pali Jataka stories.
  7. Pansiyapanas Jataka Pot Vahanse (Bandaragama: H. W. N. Prematilaka, 1987) – Sinhalese summaries of Pali Jataka stories.

In  addition,  “From  the  Storyteller  to the     Listeners” (below), contains a paraphrase taken from “Discourse With Canki,” Middle Length Sayings (Majjhima-Nikaya), trans. I. B. Horner (London: Pali Text Society, 1975), 11, 95, pp. 362-3. The title of the fourth story, “The Mouse Merchant”, was originally in Somadeva, The Ocean of Story (Katha Sarit Sagara),    trans. C. H. Tawney (London: C. J. Sawyer, 1924).

The sequence numbers used for the stories are in the same order as in the Jataka Pali and The Jataka or Stories of the Buddha’s Former Lives (above). Multiple sequence numbers indicate that identical, similar or partial stories are told in one version. The most complex example is “The Curse of Mittavinda” which requires explanation. Here the Losaka (41), the three Mittavinda (82, 104, 369) and the Catu-Dvara (439) Jatakas are combined. This is because the stanzas of 82, 104 and 369 all refer directly to the palaces described in 41 and 439, as well as to the wheel of torture described in 439. The latter retells the four palaces portion of 41, and then leads directly into the wheel of torture (Ussada hell) portion. To allow continuity, the ending of the wheel of torture portion is taken from 369, since in it Mittavinda does not die.

Since the stories include legends which are not actually canonical, the character traditionally said to be the Bodhisatta (the Buddha in a past life) is not necessarily identified in each rewritten story. A complete list is given separately in Appendix A for reference.

Many of the stories indicate several morals. Only one per story was selected for emphasis. Appendix B arranges these morals according to the wholesome qualities, as follows:

  1. Greed (lobha) – generosity (dana).
  2. Anger (dosa) – loving-kindness (metta).
  3. Delusion (moha) – wisdom (panna).

Appendix B can serve as an alternative sequence for reading the stories.

It is hoped that these stories will be picked up by teachers and used to teach children. They can serve as examples in guiding children to use the morals in their daily activities.  By drawing their minds into thinking properly,  their  thinking power will be developed. This will prove invaluable in facing difficulties, unexpected circumstances and disasters, without being confused.

The stories teach valuable lessons to correct our current life style. For instance, the second story, “Finding a New Spring”, teaches the value of perseverance. Today people who are enslaved to the Modern development of science and technology, are lazy due to the easy availability of things they need (and things they don’t need). They become, used to giving up their efforts to achieve goals when there are even minor difficulties. They give up, change their minds, and try something else. Having become lazy, their thinking power declines,  as  does their effort to overcome difficulties.

Consequently, they also do not understand how to solve the problems of living with others, and their human values decline as well.

Mankind has achieved the present level of civilization over a long period of time, by using vast human energy to control his weaknesses. Deep and immeasurable dedication and effort have been required to develop human physical and intellectual skills. We need to preserve these qualities for the future peace and happiness of the world.

Our highest efforts are needed to preserve declining human qualities and values. If not, the future will be a turmoil of quarrels and  conflicts.  Mature  and  compassionate  people of diverse cultures are realising the danger. The cause is the discouragement of the teaching of an internal moral code. Modern educators and psychologists have neglected the function of the moral development  of children. This is the major cause of the world-wide increasing crime rate. Fifty years ago children were taught moral values, but there is no such subject  in  modern schools, while churches and temples are poorly attended. Without such teaching, where will a young child learn what is good and bad, from cartoons, commercials and movies? Why has the subject been neglected in the field of education and in the society at large?

In “Finding a New Spring”, when the caravan lost its way, the leader did not blame others or grumble, he was deter- mined to overcome the unexpected circumstances. In the midst of the weakened thinking of the others, he was the only one who could be depended on to lead the search for water. Even after tiring digging led to the great rock obstacle, he was not to give up. His perseverance broke through the slab and reached the goal. How  joyful they all were! Why do we  not teach our children   to follow such examples in their unexpected encounters? The adults who read these stories to children must point out morals like these and help them to develop the tender minds.

May all beings be well and happy!

 

Kurunegoda Piyatissa

November 30, 1994

____________________

 

From The Storyteller To The Reader

 

When you read or listen to these very old stories, if you wonder how much is really true, the Buddha gave some advice that might help. He said that when you listen to what a monk says you should test the meaning, weigh or consider it, and depend on your own insides to know the truth of it. Then follow and practice what you know to be true.

 

Let us praise

the Exalted, Worthy, Fully Self-Enlightened One and follow the Truth.

____________________



001A_A001B_A001C_A1

(1) Quỷ Trong Sa Mạc 

 

Có hai người bạn lái buôn

Bàn nhau sửa soạn lên đường đi xa

Đem hàng hóa để bán ra

Cùng đi một hướng, cùng qua một vùng,

Cả hai không thể đi chung

Mỗi bên đều có người đông trong đoàn

Lại thêm xe cộ đầy hàng

Khó lòng chen chúc lên đường cùng nhau

Muốn cho di chuyển được mau

Tốt hơn kẻ trước người sau khởi hành.

Người đi trước nghĩ khôn lanh:

“Đường không bị lún, bò giành cỏ tươi,

Quả ngon, rau tốt cho người

Cả đoàn sẽ bái phục tài của ta,

Rồi khi hàng tới phương xa

Nhanh chân bán trước kiếm ra lời nhiều!”

Người kia đồng ý chiều theo

Thâm trầm suy tính đủ điều thiệt hơn:

“Đi sau đỡ phải dọn đường

Cỏ non sẽ mọc lại càng tốt tươi

Rau xanh, quả mới có rồi

Chất hàng cẩn thận, tới nơi an lành

Hàng mình sẽ bán được nhanh

Không còn giá cả điều đình mất công

Theo chân đoàn trước là xong

Khôn ngoan như vậy mới mong nhiều lời.”

* Đoàn đi trước tưởng hơn người

Năm trăm xe cộ nối đuôi đi liền

Vài ngày sau tới một miền

“Sa Mạc Không Nước” là tên nơi này

Đất khô khan, nóng gắt gay

Mênh mông, cằn cỗi. Người đây đồn rằng

Có thêm ma quỷ dữ dằn

Thường hay lai vãng để ăn thịt người.

Khi đoàn đi trước tới nơi

Còn đang khổ sở dưới trời nóng thiêu

Chợt đâu ở phía ngược chiều

Một đoàn xe lạ dập dìu hiện ra

Người thoải mái, bò nhởn nha

Bánh xe bùn dính thật là lấm lem

Nước còn nhỏ giọt ướt mèm

Trên tay khách lạ hoa sen nõn nà

Trong xe cũng chất đầy hoa

Trưởng đoàn khách lạ tỏ ra thạo đời

Nhìn đoàn buôn bỗng bật cười:

“Mang chi nhiều nước vào nơi chốn này

Nặng nề thay, khổ sở thay

Đi thêm chút nữa tới ngay một vùng

Có hồ nước đẹp vô cùng

Trái cây chi chít, nước dùng thỏa thuê!

Đổ đi, giữ nước làm chi

Bò thì kéo mệt, người thì đi lâu!”

Đoàn buôn đi trước ngờ đâu

Đây là quỷ dữ rủ nhau trá hình,

Tưởng người thật có cảm tình

Chỉ đường vạch lối giúp mình tốt sao

Thế là vội vã trước sau

Đem bao nhiêu nước đổ mau tức thì.

Cả đoàn tiếp tục ra đi

Đi hoài chỉ thấy bốn bề cạn khô

Không cây trái! Chẳng nước hồ!

Bấy giờ mới biết mắc lừa quỷ ma

Bắt đầu bực bội kêu la:

“Trưởng đoàn ăn hại, thật là dại ngu!”

Người và súc vật ngất ngư

Đoàn xe mệt nhọc lắc lư trên đường

Cuối ngày nằm nghỉ ngổn ngang

Và rồi cả bọn mơ màng thiếp đi

Trôi vào giấc ngủ li bì

Hay đâu bọn khách lạ kia mò về

Hiện nguyên hình quỷ gớm ghê

Mắt lồi đanh ác, lưỡi thè dữ hung

Răng nanh ngấu nghiến tưng bừng

Tranh nhau ăn thịt đoàn buôn ngon lành,

Ăn xong xương xẩu liệng quanh

Chẳng ai thoát khỏi vuốt nanh bọn này.

* Trưởng đoàn buôn toán thứ hai

Chở hàng đi bán khoảng vài tháng sau

Năm trăm xe cộ nối nhau

Cùng theo lối cũ đoàn đầu đã đi.

Khi đoàn tới chốn hiểm nguy

Trưởng đoàn báo động: “Quỷ thì quanh đây

Vùng ‘Sa Mạc Không Nước’ này

Rất nhiều cạm bẫy lâu nay hại người

Đề phòng thuốc độc mọi nơi

Uống gì hỏi trước để tôi coi chừng

Phải luôn cẩn thận vô cùng

Quỷ thường gieo rắc khắp vùng tai ương!”

Dặn dò xong lại lên đường

Đoàn xe chuyển bánh chở hàng đi xa.

Ít lâu trước mặt hiện ra

Giống như cảnh trước: “Quỷ ma giả người”

Giả làm khách lạ tới nơi

Người thời sũng nước, hoa thời đầy xe

Nói rằng: “Hồ nước gần kề

Mang chi nhiều nước nặng nề cực thân

Khiến bò phải kéo nhọc nhằn

Đổ đi cho nhẹ. Thêm phần đi nhanh!”

Trưởng đoàn buôn rất khôn lanh

Ngờ đây là quỷ hiện hình mà thôi

Giữa vùng khô cạn lâu đời

“Sa Mạc Không Nước” mọi người đặt tên

Làm sao hồ nước hiện lên?

Còn như bọn khách mặt thêm dữ dằn

Mắt lồi ngầu đỏ, hung hăng

Chẳng quân trộm cướp cũng phường quỷ ma

Chàng la: “Mặc kệ chúng ta

Đi buôn cần phải lo xa hàng đầu

Ai hay sắp tới ra sao

Ngu gì đổ nước, ta đâu dại khờ!”

Quỷ kia nấn ná chần chờ

Rồi cùng biến dạng khuất xa chân trời.

Trong đoàn buôn có nhiều người

Tỏ ra chẳng mấy tin lời khuyên răn

Chàng bèn giảng giải thêm rằng:

“Ai thèm nước uống nên hằng ước mơ

Tưởng là hồ nước ở xa

Nào ngờ ảo ảnh hiện ra mập mờ!

Ai nghe có nước bao giờ

Trong vùng sa mạc cạn khô thế này?

Ai nghe gió, ai thấy mây

Mang mưa, mang bão tới đây không nào?

Nước kia cần thiết biết bao

Khát làm yếu mệt còn đâu sức người

Quỷ quay lại cướp dễ thôi

Giết ta ăn thịtđời nào tha

Cho nên ta phải lo xa

Tin người vội vã thật là hiểm nguy!”

* Đoàn buôn tiếp tục ra đi

Khi hoàng hôn xuống bốn bề im hơi,

Cả đoàn vừa ghé tới nơi

Chỗ quân quỷ giữ ăn người trước đây,

Xương người, súc vật vương đầy

Ngổn ngang mặt đất cạnh ngay xe hàng

Mọi người sợ hãi kinh hoàng

Tưởng như địa ngục trần gian chốn này,

Trên xe hàng hóa còn đầy

Dường như tử khí còn bay quanh vùng.

Đêm về sa mạc mênh mông

Đoàn xe tạm nghỉ. Quay vòng chung quanh

Thay phiên nhau thức đứng canh

Đề phòng bọn quỷ hiện hình trở lui,

Trưởng đoàn quả thật hơn người

Khôn ngoan, tinh tấn ít ai sánh cùng.

Sáng sau vừa rạng vầng hồng

Người và súc vật ăn xong lên đường

Trước khi đi, lấy thêm hàng

Hàng đoàn xe trước bỏ vương khắp miền

Lấy theo những món đắt tiền

Vừa đi vừa ngó bốn bên canh chừng

Trưởng đoàn cẩn thận vô cùng

Ít lâu tới bến, vui mừng, bình an.

Sau khi bán hết món hàng

Vui chơi dăm bữa, lên đường trở lui

Chuyến buôn kiếm được nhiều lời

Thành công tốt đẹp nhờ người chỉ huy.

 

1) Quỷ Trong Sa Mạc:

Nhà buôn hiền trí trưởng đoàn thứ hai là tiền thân Đức Phật. Lái buôn ngu siĐề Bà Đạt Đa.

(1) Demons in the Desert [The Correct Way of Thinking] 

 

Once upon a time there were two merchants, who were friends. Both of them were getting ready for business trips to sell their merchandise, so they had to decide whether to travel together. They agreed that, since each had about 500 carts, and they were going to the same place along the same road, it would be too crowded to go at the same time.

 

One decided that it would be much better to go first. He thought, “The road will not be rutted by the carts, the bullocks will be able to choose the best of all the grass, we will find the best fruits and vegetables to eat, my people will appreciate my leadership and, in the end, I will be able to bargain for the best prices.”

 

The other merchant considered carefully and realized there were advantages to going second. He thought, “My friend’s carts will level the ground so we won’t have to do any road work, his bullocks will eat the old rough grass and new tender shoots will spring up for mine to eat. In the same way, they will pick the old fruits and vegetables and fresh ones will grow for us to enjoy. I won’t have to waste my time bargaining when I can take the price already set and make my profit.” So he agreed to let his friend go first. This friend was sure he’d fooled him and gotten the best of him – so he set out first on the journey.

 

The merchant who went first had a troublesome time of it. They came to a wilderness called the ‘Waterless Desert’, which the local people said was haunted by demons. When the caravan reached the middle of it, they met a large group coming from the opposite direction. They had carts that were mud smeared and dripping with water. They had lotuses and water lilies in their hands and in the carts. The head man, who had a know-it-all attitude, said to the merchant, “Why are you carrying these heavy loads of water? In a short time you will reach that oasis on the horizon with plenty of water to drink and dates to eat. Your bullocks are tired from pulling those heavy carts filled with extra water – so throw away the water and be kind to your overworked animals!”

 

Even though the local people had warned them, the merchant did not realize that these were not real people, but demons in disguise. They were even in danger of being eaten by them. Being confident that they were helpful people, he followed their advice and had all his water emptied onto the ground.

 

As they continued on their way they found no oasis or any water at all. Some realized they’d been fooled by beings that might have been demons, and started to grumble and accuse the merchant. At the end of the day, all the people were tired out. The bullocks were too weak from lack of water to pull their heavy carts. All the people and animals lay down in a haphazard manner and fell into a deep sleep. Lo and behold, during the night the demons came in their true frightening forms and gobbled up all the weak defenseless beings. When they were done there were only bones lying scattered around – not one human or animal was left alive.

 

After several months, the second merchant began his journey along the same way. When he arrived at the wilderness, he assembled all his people and advised them – “This is called the ‘Waterless Desert’ and I have heard that it is haunted by demons and ghosts. Therefore we should be careful. Since there may be poison plants and foul water, don’t drink any local water without asking me.” In this way they started into the desert.

 

After getting about halfway through, in the same way as with the first caravan, they were met by the water soaked demons in disguise. They told them the oasis was near and they should throw away their water. But the wise merchant saw through them right away. He knew it didn’t make sense to have an oasis in a place called ‘Waterless Desert’. And besides, these people had bulging red eyes and an aggressive and pushy attitude, so he suspected they might be demons. He told them to leave them alone saying, “We are business men who don’t throw away good water before we know where the next is coming from.”

 

Then seeing that his own people had doubts, the merchant said to them, “Don’t believe these people, who may be demons, until we actually find water. The oasis they point to may be just an illusion or a mirage. Have you ever heard of water in this ‘Waterless Desert’? Do you feel any rain-wind or see any storm clouds?” They all said, “No”, and he continued, “If we believe these strangers and throw away our water, then later we may not have any to drink or cook with – then we will be weak and thirsty and it would be easy for demons to come and rob us, or even eat us up! Therefore, until we really find water, do not waste even a drop!”

 

The caravan continued on its way and, that evening, reached the place where the first caravan’s people and bullocks had been killed and eaten by the demons. They found the carts and human and animal bones lying all around. They recognized that the fully loaded carts and the scattered bones belonged to the former caravan. The wise merchant told certain people to stand watch around the camp during the night.

 

The next morning the people ate breakfast, and fed their bullocks well. They added to their goods the most valuable things left from the first caravan. So they finished their journey very successfully, and returned home safely so that they and their families could enjoy their profits.

 

The moral is: One must always be wise enough not to be fooled by tricky talk and false appearances.


002_A2

(2) Tìm Con Suối Mới 

 

Ngày xưa có một nhà buôn

Dẫn đoàn xe nọ lên đường đi xa

Đem theo hàng hóa bán ra

Lời nhiều muốn kiếm phải qua nước ngoài,

Hành trình gian khổ kéo dài

Một ngày đoàn tới ven nơi hiểm nghèo

Bãi sa mạc nóng như thiêu

Ban ngày cát mịn nóng nhiều như nung

Đi ngang qua khó vô cùng

Xe bò kéo nặng càng không dễ dàng.

Nhà buôn chợt nghĩ khôn ngoan:

“Chờ đêm mát mẻ cát vàng dịu đi

Vượt qua sa mạc khó chi

Tìm đường bằng cách hướng về chòm sao

Sao trời định hướng trên cao

Thuê người thông thạo nhìn sao dẫn đường.”

* Sau khi chuẩn bị kỹ càng

Băng ngang sa mạc cả đoàn xe đi

Vài ngày qua, vào tối kia

Sau khi ăn uống, đợi khuya mát trời

Cả đoàn tụ họp vui chơi

Chờ khi cát nguội mọi người lại đi.

Trời khuya quạnh vắng bốn bề

Anh chàng hướng dẫn ngồi xe dẫn đầu

Nhìn chòm sao ở trên cao

Vui mừng loan báo: “Sắp mau qua rồi

Còn đêm nay nữa mà thôi

Mai qua sa mạc tới nơi an toàn!”

Anh chàng khoái chí mơ màng

Thả hồn vào giấc mộng vàng nửa khuya

Ngủ quên đi chẳng biết chi

Để cho bò kéo xe đi mặc lòng,

Bò đi chệch hướng, quay vòng

Suốt đêm đi mãi cuối cùng trở lui

Quay đầu về chốn cũ rồi

Đến khi trời sáng mọi người hoảng kinh

Thế là hỏng cả lộ trình

Còn đâu đủ nước để dành nữa đây

Chắc là chết khát! Khổ thay!

Lẽ ra đoàn vượt chốn này đã xong

Mọi người than thở não lòng

Khóc thương số phận long đong kiếp người

Trách người lãnh đạo hết lời

Trách người dẫn lối bất tài, bất nhân

Cùng nhau buồn bã phàn nàn:

“Nếu không có nước chẳng làm được chi!”

Nhà buôn tự nhủ: “Thật nguy

Trăm điều khốn đốn, muôn bề gian truân!

Nếu mà ta xuống tinh thần

Xứng đâu lãnh đạo cả đoàn nữa đây

Cứ ngồi than bất hạnh này

Lầm bầm oán trách, bó tay chẳng làm

Thì hàng hóa sẽ tiêu tan

Người và súc vật lại càng lâm nguy

Tử thần sẽ đến rước đi,

Ta cần nghị lực một khi đương đầu!”

* Trưởng đoàn lui tới hồi lâu

Nghĩ suy tìm kế nhiệm mầu cứu nguy

Chợt đâu thấy ít cỏ kia

Nhô trên mặt đất, lá thì vẫn tươi

Nghĩ rằng: “Cây cỏ khắp nơi

Nếu không có nước sống thời được đâu”

Nghĩ xong ra lệnh đào sâu

Ngay nơi cỏ mọc mong sao đúng nguồn,

Đào hoài chẳng thấy nước tuôn

Đụng vào tảng đá chắn luôn mất rồi

Bà con ngừng lại kêu trời

Lại than, lại trách móc nơi trưởng đoàn:

“Đào vô ích! Phí thời gian!”

Trưởng đoàn lên tiếng khuyên can mọi người:

“Anh em chớ có buông xuôi

Nản lòng bỏ cuộc tàn đời còn chi

Cùng nhau cố gắng lên đi

Kẻo mà bỏ mạng, xa lìa vợ con!”

Nói xong nhảy xuống hố luôn

Áp tai vào đá nghe nguồn nước sâu

Chợt nghe dưới đá rì rào

Nhẹ tuôn tiếng nước thì thào vọng lên

Trưởng đoàn mừng rỡ vô biên

Gọi chàng trai trẻ đến bên dặn rằng:

“Nếu ta bỏ cuộc giữa đường

Cả đoàn đều chết thảm thương chốn này

Hãy cầm búa nặng trong tay

Nhắm vào tảng đá đập ngay xem nào!”

Chàng trai nâng búa lên cao

Tập trung sức lực bổ vào đá kia

Mọi người kinh ngạc kể chi

Khi nhìn thấy đá vỡ lìa làm đôi

Một tia nước vọt ra ngoài

Cả đoàn mừng rỡ vái trời tạ ơn

Đun nước uống, nấu đồ ăn

Đua nhau tắm rửa lòng tràn niềm vui,

Lấy thêm nước chứa đủ rồi

Chăm nom súc vật, xong xuôi lên đường.

Lo xa giúp khách thập phương

Sau này có dịp đi ngang chốn này

Dễ dàng tìm nước được ngay

Trưởng đoàn dựng tại nơi đây cột cờ,

Khách buôn dù ở tận xa

Biết đường tới giếng, thật là tiện thay!

Hành trình tiếp nối vài ngày

Cả đoàn mừng chuyến buôn đầy thành công.

 

2) Tìm Con Suối Mới:

Nhà buôn trưởng đoàn là tiền thân Đức Phật.

(2) Finding a New Spring [Perseverance] 

 

Once upon a time a certain tradesman was leading a caravan to another country to sell his goods. Along the way they came to the edge of a severe hot-sand desert. They asked about, and found that during the day time the sun heats up the fine sand until it’s as hot as charcoal, so no one can walk on it – not even bullocks or camels! So the caravan leader hired a desert guide, one who could follow the stars, so they could travel only at night when the sand cools down. They began the dangerous night time journey across the desert.

 

A couple of nights later, after eating their evening meal, and waiting for the sand to cool, they started out again. Later that night the desert guide, who was driving the first cart, saw from the stars that they were getting close to the other side of the desert. He had also overeaten, so that when he relaxed, he dozed off to sleep. Then the bullocks who, of course, couldn’t tell directions by reading the stars, gradually turned to the side and went in a big wide circle until they ended up at the same place they had started from!

 

By then it was morning, and the people realized they were back at the same spot they’d camped at the day before. They lost heart and began to cry about their condition. Since the desert crossing was supposed to be over by now, they had no more water and were afraid they would die of thirst. They even began to blame the caravan leader and the desert guide – “We can do nothing without water!”, they complained.

 

Then the tradesman thought to himself, “If I lose courage now, in the middle of this disastrous situation, my leadership has no meaning. If I fall to weeping and regretting this misfortune, and do nothing, all these goods and bullocks and even the lives of the people, including myself, may be lost. I must be energetic and face the situation!” So he began walking back and forth, trying to think out a plan to save them all.

 

Remaining alert, out of the corner of his eye, he noticed a small clump of grass. He thought, “Without water, no plant could live in this desert.” So he called over the most energetic of his fellow travellers and asked them to dig up the ground on that very spot. They dug and dug, and after a while they got down to a large stone. Seeing it they stopped, and began to blame the leader again, saying “This effort is useless. We’re just wasting our time!” But the tradesman replied, “No no, my friends, if we give up the effort we will all be ruined and our poor animals will die – let us be encouraged!”

 

As he said this, he got down into the hole, put his ear to the stone, and heard the sound of flowing water. Immediately, he called over a boy who had been digging and said, “If you give up, we will all perish – so take this heavy hammer and strike the rock.”

 

The boy lifted the hammer over his head and hit the rock as hard as he could – and he himself was the most surprised when the rock spilt in two and a mighty flow of water gushed out from under it! Suddenly, all the people were overjoyed. They drank and bathed and washed the animals and cooked their food and ate.

 

Before they left, they raised a high banner so that other travellers could see it from afar and come to the new spring in the middle of the hot-sand desert. Then they continued on safely to the end of their journey.

 

The moral is: Don’t give up too easily – keep on trying until you reach the goal.

 


003_A3

(3) Chiếc Đĩa Vàng 

 

Thời xưa ở tại vùng kia

Có hai người nọ chuyên nghề tiểu thương

Bán buôn lặt vặt tầm thường

Đồ dùng bếp núc, nữ trang rẻ tiền.

Một người tốt bụng lành hiền,

Kẻ kia xấu nết chỉ chuyên ăn người,

Vì cùng buôn bán một nơi

Cả hai đều muốn mỗi người đi riêng

Tránh điều tranh chấp gây phiền

Sáng đi buôn bán đôi bên đồng lòng

Người phía Tây, kẻ phía Đông

Mỗi người một phía để không tranh giành,

Chiều thời buôn bán mặc tình

Không chia ranh giới, không giành phần ra.

* Lái buôn tính nết xấu xa

Phía Đông buôn bán đi qua xóm nghèo

Có cô bé thích vòng đeo

Nên cô vội vã hò reo vui mừng

Xin tiền bà để mua vòng

Bà than: “Nhà cửa từ trong ra ngoài

Chổi cùn, rế rách mà thôi

Nhà mình nghèo khó lâu rồi! Tiền đâu?”

Gia đình này trước rất giàu

Về sau sa sút hết mau gia tài.

Bé kia suy nghĩ một hồi

Bèn vào lục lọi khắp nơi kiếm tìm

Lôi ra một đĩa cũ mèm

Phía ngoài bồ hóng đất đen bám vào,

Bà cười: “Thử bán xem sao

Ra thềm tìm khách mời vào nhà trong!”

Lái buôn tham nghĩ trong lòng

Nhà này nghèo mạt nào mong kiếm lời,

Nhìn hai bà cháu chê cười:

“Bà đưa tiền đủ thì tôi đưa vòng!”

Bà già năn nỉ cùng ông:

“Cháu tôi ao ước chiếc vòng đeo tay

Mong ông đổi lấy đĩa này!”

Lái buôn cầm đĩa chê ngay tức thời:

“Đĩa này đáng vứt đi thôi!”

Tiện tay cạo thử đĩa thời ngạc nhiên

Bề ngoài bồ hóng bám đen

Bên trong vàng quý ẩn chìm hiện ra

Lái buôn gian xảo làm lơ

Chê bai đủ chuyện để chờ cướp không:

“Đĩa này đâu xứng đổi vòng

Tôi không thèm nó!”, nói xong ra thềm

Đi luôn, nghĩ bỏ ít tiền

Chiều nay trở lại mua liền được ngay.

Nhà buôn tốt bụng sáng nay

Sau khi buôn bán phía Tây thỏa lòng

Chiều về qua phía bên Đông

Dạo quanh tìm khách cầu mong thêm lời

Loanh quanh cũng ghé tới nơi

Gặp hai bà cháu, chào mời bán buôn

Thấy ông có vẻ hiền lương

Bà bèn lên tiếng mời luôn vào nhà

Lại đem chiếc đĩa cũ ra

Đổi vòng tặng cháu làm quà cho vui,

Sau khi xem xét kỹ rồi

Nhà buôn tốt bụng thốt lời ngạc nhiên:

“Đĩa này quý giá vô biên

Vàng y dưới lớp bẩn đen phía ngoài

Bạc tiền, hàng hóa của tôi

Cộng chung giá trị thua nơi đĩa này”

Bà già kinh ngạc lắm thay

Nào ngờ còn đĩa quý ngay trong nhà

Giờ đây bà biết thêm ra

Nhà buôn này quả thật thà hiền lương

Nên bà nói rất sẵn sàng

Đưa nhà buôn chiếc đĩa vàng ngại chi

Nhận về bất cứ thứ gì

Mà nhà buôn sẵn mang đi chuyến này.

Nhà buôn: “Tôi gửi bà ngay

Nồi niêu, bát đĩa có đây sẵn sàng

Thêm vòng và ít nữ trang

Cộng thêm tiền bạc tôi mang trong người,

Chỉ xin giữ tám đồng thôi

Là tiền đò để cho tôi trở về

Giữ thêm cả cái cân kia

Cùng đồ đựng đĩa vàng khi đi đường.”

Bà đồng ý! Cháu hài lòng!

Nhà buôn vội vã qua sông về nhà.

* Lái buôn tham bạc, xấu xa

Xế chiều mới trở lại bà già kia

Trong đầu tưởng tượng đê mê

Món lời vĩ đại mang về mai đây

Gặp hai bà cháu nhà này

Y lên tiếng nói: “Tôi nay bằng lòng

Đĩa không xứng đổi lấy vòng

Thương bà tôi trả vài đồng xu thôi!”

Bà già bèn đáp: “Ông ơi

Đĩa kia tôi đã bán rồi còn đâu

Tại sao ông nói những câu

Gian manh, xảo trá lừa nhau làm gì!”

Không hề xấu hổ chút chi

Lái buôn thầm nghĩ tái tê đau buồn:

“Đĩa vàng thôi đã mất luôn

Cả trăm ngàn đã lỡ buông trôi rồi!”

Y bèn cố hỏi thăm thôi

Xem người mua đĩa đi nơi hướng nào

Xong y vội chạy theo mau

Bỏ luôn hàng hóa phía sau thiết gì

Chạy ra tới mé sông kia

Như khùng, như dại nghĩ suy rối bời:

“Người ta đã cướp của tôi

Làm tôi điên loạn mất rồi bà con!”

Khi y chạy tới bờ sông

Người mua chiếc đĩa vàng còn tại đây

Đang ngồi phà qua sông này

Phà trôi lờ lững ở ngay giữa dòng

Y kêu người lái: “Này ông

Hãy mau quay lại bến sông tôi nhờ!”

Nhưng người buôn bán thật thà

Thản nhiên thúc giục lái phà cứ đi

Đưa phà qua phía bên kia,

Lái buôn gian xảo tức thì nổi điên

Nổ bùng cơn giận chồm lên

Hai tay đấm ngực máu liền ứa ra

Miệng mồm nhuộm đỏ chan hòa

Tiếc cho của báu lọt qua tay người

Tim ngưng đập, y chết tươi

Thế là chấm dứt một đời gian tham.

 

3) Chiếc Đĩa Vàng:

Nhà buôn lương thiệntiền thân Đức Phật. Lái buôn tham lamngu siĐề Bà Đạt Đa.

(3) The Golden Plate [Greed and Honesty] 

 

Once upon a time in a place called Seri, there were two salesmen of pots and pans and hand-made trinkets. They agreed to divide the town between them. They also said that after one had gone through his area, it was all right for the other to try and sell where the first had already been.

 

One day, while one of them was coming down a street, a poor little girl saw him and asked her grandmother to buy her a bracelet. The old grandmother replied, “How can we poor people buy bracelets?” The little girl said, “Since we don’t have any money, we can give our black sooty old plate.” The old woman agreed to give it a try, so she invited the dealer inside.

 

The salesman saw that these people were very poor and innocent, so he didn’t want to waste his time with them. Even though the old woman pleaded with him, he said he had no bracelet that she could afford to buy. Then she asked, “We have an old plate that is useless to us, can we trade it for a bracelet?” The man took it and, while examining it, happened to scratch the bottom of it. To his surprise, he saw that underneath the black soot, it was a golden plate! But he didn’t let on that he had noticed it. Instead he decided to deceive these poor people so he could get the plate for next to nothing. He said, “This is not worth even one bracelet. There’s no value in this. I don’t want it!” He left, thinking he would return later when they would accept even less for the plate.

 

Meanwhile the other salesman, after finishing in his part of town, followed after the first as they had agreed. He ended up at the same house. Again the poor little girl begged her grandmother to trade the old plate for a bracelet. The woman saw that this was a nice tender looking merchant and thought, “He’s a good man, not like the rough-talking first salesman.” So she invited him in and offered to trade the same black sooty old plate for one bracelet. When he examined it, he too saw that it was pure gold under the grime. He said to the old woman, “All my goods and all my money together are not worth as much as this rich golden plate!”

 

Of course the woman was shocked at this discovery, but now she knew that he was indeed a good and honest fellow. So she said she would be glad to accept whatever he could trade for it. The salesman said, “I’ll give you all my pots and pans and trinkets, plus all my money, if you will let me keep just eight coins and my balancing scale, with its cover to put the golden plate in.” They made the trade. He went down to the river, where he paid the eight coins to the ferry man to take him across.

 

By then the greedy salesman had returned, already adding up huge imaginary profits in his head. When he met the little girl and her grandmother again, he said he had changed his mind and was willing to offer a few cents, but not one of his bracelets, for the useless black sooty old plate. The old woman then calmly told him of the trade she had just made with the honest salesman, and said, “Sir, you lied to us.”

 

The greedy salesman was not ashamed of his lies, but he was saddened as he thought, “I’ve lost the golden plate that must be worth a hundred thousand.” So he asked the woman, “Which way did he go?” She told him the direction. He left all his things right there at her door and ran down to the river, thinking, “He robbed me! He robbed me! He won’t make a fool out of me!”

 

From the riverside he saw the honest salesman still crossing over on the ferry boat. He shouted to the ferry man, “Come back!” But the good merchant told him to keep on going to the other side, and that’s what he did.

 

Seeing that he could do nothing, the greedy salesman exploded with rage. He jumped up and down, beating his chest. He became so filled with hatred towards the honest man, who had won the golden plate, that he made himself cough up blood. He had a heart attack and died on the spot!

 

The moral is: “Honesty is the best policy.”

 


004_A4

(4) Anh Chàng Buôn Chuột 

 

Một ông quan lớn thời xưa

Giữ vai cố vấn cho vua một vùng

Trên đường đi đến hoàng cung

Cùng vua, quan hội họp chung bữa này

Ông già liếc mắt qua đây

Thấy con chuột chết vứt ngay bên đường

Ông bèn bảo đám tùy tùng:

“Với con chuột chết cũng đừng coi khinh

Một người trẻ tuổi nhiệt tình

Nếu đầy nghị lực cũng thành công ngay

Tạo ra của cải trong tay

Nếu mà chăm chỉ đêm ngày làm ăn

Và dùng cái trí khôn ngoan

Khởi đầu tính toán bán buôn chân thành

Sẽ nuôi được bản thân mình

Và nuôi thêm cả gia đình dễ sao!”

Một chàng trẻ tuổi chợt đâu

Đi ngang nghe nói cúi đầu nghĩ suy

Biết rằng người nói câu kia

Là ông cố vấn quyền uy thạo đời

Nên chàng quyết định theo lời

Nhặt con chuột chết ở nơi vệ đường

Cầm đuôi chuột, sách theo luôn

Nhủ lòng: “Ta thử đi buôn chuột này!”

Khởi đầu sự nghiệp thật may

Mới đi một quãng qua ngay cửa hàng

Một ông chủ tiệm chặn chàng

Than rằng suốt buổi sáng đang bực mình

Con mèo quấy nhiễu thực tình:

“Bán tôi con chuột, trả anh hai đồng!”

Bán xong chuột chàng hài lòng

Lấy tiền mua nước ngọt cùng bánh ngon

Anh chàng tiếp tục bán buôn

Ra ngồi chờ đợi ở luôn lề đường.

Một đoàn người chợt đi ngang

Họ là người hái hoa đang trở về

Đều cùng đói khát kể chi

Nên mua bánh với nước kia hết liền

Trả bằng hoa thay cho tiền

Anh chàng mua bán quả nhiên lời nhiều.

Thế rồi cho đến buổi chiều

Chàng vào thành phố mang theo hoa này

Bán hoa ra lấy tiền ngay

Lại mua bánh, nước bán ngày hôm sau

Cho đoàn khách lúc ban đầu,

Mua đi rồi bán lại bao nhiêu lần

Vốn, lời cứ thế tăng dần

Chàng lo buôn bán chuyên cần mãi thôi.

* Một hôm gặp buổi xấu trời

Cơn giông gầm thét tơi bời xảy ra

Sấm vang, gió táp, mưa sa

Đến khi trời tạnh thật là tan hoang

Khu vườn thượng uyển thênh thang

Cành cây gãy đổ ngổn ngang bộn bề

Chàng đi ngang thấy cảnh kia

Bèn dừng chân lại nghĩ suy mọi đường

Sau khi tính toán thiệt hơn

Xin vào gặp kẻ làm vườn của vua

Nói rằng chàng sẽ chăm lo

Cây cành dọn dẹp giúp cho ông này

Chỉ xin được giữ cành cây,

Ông làm vườn vốn lâu nay đã lười

Nghe xong đồng ý tức thời

Thân mình được khỏe, lòng người được vui.

Chàng nhìn thấy trẻ con chơi

Ở bên kia phố phía ngoài công viên

Bèn nhờ chúng lượm cây liền

Chất thành đống củi ở bên lối vào,

Trẻ con cả đám lao xao

Giỡn đùa làm việc ồn ào chóng xong,

Mỗi em một bánh trả công

Chúng vui đón nhận và cùng rất ưa.

Người làm đồ gốm của vua

Đang đi tìm củi cũng vừa tới đây

Tráng men lò cần củi ngay

Nên khi thấy củi chất đầy một bên

Ông ta ngỏ ý mua liền

Trả cho chàng một số tiền lớn lao

Tặng thêm đồ gốm! Vui sao!

Bạc tiền bỗng chốc đã vào đầy tay.

* Tiền hoa, tiền củi sẵn đây

Chàng bèn tính toán dùng ngay tiền lời

Đem ra mở tiệm tức thời

Chuyên lo giải khát cho người địa phương.

Người cắt cỏ, kẻ làm vườn

Một hôm rộn rã trên đường đi xa

Ghé vào trong tiệm chàng ta

Chàng hào phóng biếu họ quà xã giao

Bánh thơm ngon, nước ngọt ngào

Ngạc nhiên họ mới cùng nhau hỏi chàng:

“Chúng tôi giúp được gì chăng?”

Chàng ôn tồn đáp ngay rằng: “Giờ đây

Thời chưa có việc nhờ ngay

Tương lai tôi sẽ cho hay biết liền!”

Tuần sau chàng bỗng nghe tin

Có người buôn ngựa đang đem nhiều hàng

Năm trăm ngựa, cả một đoàn

Bán buôn sẽ ghé mau sang tỉnh này,

Thế là chàng liên lạc ngay

Với đoàn cắt cỏ quen đây bữa nào

Nhờ đoàn giúp có là bao

Mỗi người một bó cỏ đâu đáng gì,

Còn bao nhiêu họ giấu đi

Chờ chàng bán trước cỏ kia kiếm lời

Xong xuôi mới đến mọi người

Cỏ đem ra bán tức thời tiếp theo,

Nghĩ suy tính toán thuận chiều

Anh chàng bán cỏ lời nhiều biết bao.

* Thời gian lặng lẽ trôi mau

Bên trong cửa tiệm bỗng đâu một ngày

Vài ông khách chợt cho hay

Có tàu buôn nọ tới ngay cảng này

Bỏ neo, buôn bán tại đây

Chàng mừng rỡ nói: “Vận may đến rồi

Đây là cơ hội của tôi!”

Chàng ngồi nghĩ cách kiếm lời khôn ngoan

Vạch ra kế hoạch kỹ càng

Thoạt tiên mua một nhẫn vàng đeo tay

Cẩn hồng ngọc quý vào đây

Mua nơi chủ tiệm vùng này, bạn thân

Nên tiền mua hạ vô ngần,

Nhẫn làm quà tặng kết thân cùng người,

Biết rằng tàu ở nước ngoài

Nơi không hồng ngọc, vàng thời giá cao

Chàng nhờ đưa chiếc nhẫn vào

Biếu ông thuyền trưởng bước đầu kết thân

Coi như ứng trước một phần

Tiền hoa hồng trả cho lần về sau,

Riêng phần thuyền trưởng con tàu

Thời bao hành khách gửi mau tới chàng

Chàng làm một kẻ trung gian

Đưa hành khách tới cửa hàng quanh đây

Nơi buôn bán tốt vùng này

Tiệm thêm đông khách, mỗi ngày lời thêm

Ơn chàng họ sẽ chẳng quên

Trả công môi giới bằng tiền bạc ngay!

Làm trung gian theo cách này

Tàu sau vài chuyến ghé đây bán hàng

Chàng đưa đón khách rộn ràng

Tiền vào đầy túi, chàng càng giàu lên.

* Thành công kiếm được nhiều tiền

Anh chàng nào có dễ quên bước đầu

Nhớ lời cố vấn từ lâu

Khôn ngoan, sáng suốt mới giàu thêm ra

Cho nên chàng chẳng nề hà

Nhủ lòng quyết định tặng quà cho ông

Tiền vàng một trăm ngàn đồng

Nửa phần gia sản chàng không tiếc gì,

Nhờ người dàn xếp mọi bề

Một ngày ước nguyện trên kia đạt thành

Ông già cố vấn tiếp anh

Chàng mang quà tặng chân thành kính dâng

Ngỏ lời cảm tạ ân cần

Khiến ông cố vấn vô ngần ngạc nhiên

Tò mò lên tiếng hỏi liền:

“Làm sao anh kiếm được tiền nhiều thay

Để đưa ta món quà này

Món quà hậu hĩnh như ngày hôm nay?”

Chàng lần lượt kể lại ngay,

Đầu đuôi sự việc trước đây thế nào

Lời ông cố vấn khởi đầu

Chàng nghe lóm được vội mau theo liền

Từ con chuột chết đầu tiên

Đến con mèo đói gây phiền chủ gia,

Rồi bánh, rồi nước, rồi hoa

Cành cây gãy bởi phong ba trong miền

Rồi con trẻ trong công viên,

Người làm đồ gốm lành hiền của vua,

Cửa hàng giải khát khách ưa

Năm trăm con ngựa cỏ vừa đủ ăn,

Nhẫn hồng ngọc quý vô vàn

Rồi giao kèo tốt lời mang về nhiều,

Sau cùng quý biết bao nhiêu

Một gia tài lớn sớm chiều dựng gây.

* Sau khi nghe rõ chuyện này

Ông già cố vấn nghĩ ngay trong lòng:

“Thanh niên nghị lực vô cùng

Tài năng như vậy đáng mừng lắm thay

Đừng nên bỏ phí người này,

Phần ta tài sản trong tay nhiều rồi

Gái yêu chỉ có một thôi

Anh thời chưa vợ, đẹp đôi vô cùng

Gả cho anh xứng vợ chồng

Gia tài anh sẽ hưởng chung sau này

Gồm phần tài sản ta đây

Thêm phần gia sản trong tay anh chàng

Con ta sẽ được an nhàn

Được chồng chăm sóc lo toan tận tình.”

* Mọi điều lần lượt tiến hành

Chàng và cô gái kết thành lứa đôi.

Khi ông cố vấn qua đời

Chàng trai được hưởng gia tài của ông

Trở nên giàu có nhất vùng

Lại thêm được tuyển vào trong triều đình

Thay chân bố vợ của mình

Giữ vai cố vấn nổi danh có tài.

Thế rồi trong suốt cuộc đời

Chàng lo hạnh phúc cho người vợ yêu

Tận tình giúp đỡ dân nghèo

Hạt mầm phúc đức mãi gieo kiếp này.

 

4) Anh Chàng Buôn Chuột:

Quan cố vấn cho vua là tiền thân Đức Phật.

(4) The Mouse Merchant [Diligence and Gratitude] 

 

Once upon a time, an important adviser to a certain king was on his way to a meeting with the king and other advisers. Out of the corner of his eye, he saw a dead mouse by the roadside. He said to those who were with him. “Even from such small beginnings as this dead mouse, an energetic young fellow could build a fortune. If he worked hard and used his intelligence, he could start a business and support a wife and family.”

 

A passerby heard the remark. He knew this was a famous adviser to the king, so he decided to follow his words. He picked up the dead mouse by the tail and went off with it. As luck would have it, before he had gone even a block, a shopkeeper stopped him. He said, “My cat has been pestering me all morning. I’ll give you two copper coins for that mouse.” So it was done.

 

With the two copper coins, he bought sweet cakes, and waited by the side of the road with them and some water. As he expected, some people who picked flowers for making garlands were returning from work. Since they were all hungry and thirsty, they agreed to buy sweet cakes and water for the price of a bunch of flowers from each of them. In the evening, the man sold the flowers in the city. With some of the money he bought more sweet cakes and returned the next day to sell to the flower pickers.

 

This went on for a while, until one day there was a terrible storm, with heavy rains and high winds. While walking by the king’s pleasure garden, he saw that many branches had been blown off the trees and were lying all around. So he offered to the king’s gardener that he would clear it all away for him, if he could keep the branches. The lazy gardener quickly agreed.

 

The man found some children playing in a park across the street. They were glad to collect all the branches and brush at the entrance to the pleasure garden, for the price of just one sweet cake for each child.

 

Along came the king’s potter, who was always on the lookout for firewood for his glazing oven. When he saw the piles of wood the children had just collected, he paid the man a handsome price for it. He even threw into the bargain some of his pots.

 

With his profits from selling the flowers and the firewood, the man opened up a refreshment shop. One day all the local grass mowers, who were on their way into town, stopped in his shop. He gave them free sweet cakes and drinks. They were surprised at his generosity and asked, “What can we do for you?” He said there was nothing for them to do now, but he would let them know in the future.

 

A week later, he heard that a horse dealer was coming to the city with 500 horses to sell. So he got in touch with the grass mowers and told each of them to give him a bundle of grass. He told them not to sell any grass to the horse dealer until he had sold his. In this way he got a very good price.

 

Time passed until one day, in his refreshment shop, some customers told him that a new ship from a foreign country had just anchored in the port. He saw this to be the opportunity he had been waiting for. He thought and thought until he came up with a good business plan.

 

First, he went to a jeweler friend of his and paid a low price for a very valuable gold ring, with a beautiful red ruby in it. He knew that the foreign ship was from a country that had no rubies of its own, where gold too was expensive. So he gave the wonderful ring to the captain of the ship as an advance on his commission. To earn this commission, the captain agreed to send all his passengers to him as a broker. He would then lead them to the best shops in the city. In turn, the man got the merchants to pay him a commission for sending customers to them.

 

Acting as a middle man in this way, after several ships came into port, the man became very rich. Being pleased with his success, he also remembered that it had all started with the words of the king’s wise adviser. So he decided to give him a gift of 100,000 gold coins. This was half his entire wealth. After making the proper arrangements, he met with the king’s adviser and gave him the gift, along with his humble thanks.

 

The adviser was amazed, and he asked, “How did you earn so much wealth to afford such a generous gift?” The man told him it had all started with the adviser’s own words not so long ago. They had led him to a dead mouse, a hungry cat, sweet cakes, bunches of flowers, storm damaged tree branches, children in the park, the king’s potter, a refreshment shop, grass for 500 horses, a golden ruby ring, good business contacts, and finally a large fortune.

 

Hearing all this, the royal adviser thought to himself, “It would not be good to lose the talents of such an energetic man. I too have much wealth, as well as my beloved only daughter. As this man is single, he deserves to marry her. Then he can inherit my wealth in addition to his own, and my daughter will be well cared for.”

 

This all came to pass, and after the wise adviser died, the one who had followed his advice became the richest man in the city. The king appointed him to the adviser’s position. Throughout his remaining life, he generously gave his money for the happiness and well being of many people.

 

The moral is: With energy and ability, great wealth comes even from small beginnings.


005_A5

(5) Người Ấn Định Giá Cả 

 

Nơi miền bắc Ấn Độ xưa

Trong vương quốc nọ có vua trị vì

Giúp vua là vị quan kia

Có tài định giá những gì bán buôn

Đưa ra giá xứng hợp luôn

Thật thà, chính xác, chuyên môn, lành nghề.

Riêng nhà vua lại thường chê

Vì tiền lời chẳng mang về đầy tay

Khi quan định giá kiểu này

Vua không được lợi, muốn thay quan rồi,

Khi mua muốn trả ít thôi

Đến khi bán lại muốn lời thật cao.

Một hôm may mắn làm sao

Có chàng trẻ tuổi lọt vào mắt vua

Nhìn chàng vua thấy rất ưa

Nghĩ thầm: “Chọn hắn rất ư hợp tình

Làm quan định giá triều đình

Chắc là hợp ý với mình lắm đây!”

Thế là vua cách chức ngay

Ông quan già cả bị thay tức thì

Nhà vua chỉ định chàng kia

Làm quan định giá, đưa về hoàng cung.

Anh chàng trẻ nghĩ trong lòng:

“Ta nên tìm cách chiều ông vua này

Mua vào định giá thấp thay,

Bán ra thời định giá này thật cao!”

Thật khôi hài biết là bao

Ông quan định giá cả sao lạ kỳ

Chẳng cần đếm xỉa chút gì

Thực ra giá trị hàng kia thế nào!

Tiền lời như nước tuôn vào

Tham lam vua nọ biết bao hài lòng

Trong khi các kẻ quanh ông

Từ quan cho tới dân không vui

Mỗi khi họ có hàng chi

Nghe chàng định giá tức thì buồn thay.

* Thế rồi cho đến một ngày

Có ông buôn ngựa tới đây bán hàng

Năm trăm ngựa, cả một đoàn

Một bầy đủ giống sẵn sàng bán đi.

Vua mời ông lái buôn kia

Vào hoàng cung để dễ bề bán buôn

Cho mời chàng trẻ tuổi luôn

Vào theo định giá những con ngựa này.

Anh chàng vội nghĩ ngợi ngay

Làm sao cho vị vua đây hài lòng

Nên chàng nói chẳng ngại ngùng

“Năm trăm con ngựa hợp chung lại rồi

Giá bằng một chén gạo thôi!”

Vua nghe thỏa mãn, tức thời chuẩn y

Lệnh mang một chén gạo kia

Trả cho ông lái, còn chi chần chừ

Lệnh mang đám ngựa vừa mua

Vào trong chuồng ngựa của vua ngay liền.

Tất nhiên ông lái buồn phiền

Nhưng ngay lúc đó lặng yên, cam đành,

Sau này ông được nghe danh

Về quan định giá chân thành trước đây

Công bằng liêm khiết xưa nay

Nên ông tìm gặp quan này luôn thôi

Và ông kể hết đầu đuôi

Việc mua bán ngựa vừa rồi trong cung

Muốn quan cho ý kiến chung

Để rồi đòi hỏi vua cùng phải theo.

* Quan bèn nói khó chi nhiều

Hãy làm theo đúng những điều sau đây

Thời vua phải biết đến ngay

Bao nhiêu giá trị của bầy ngựa kia:

“Quay tìm chàng trẻ tuổi đi

Biếu chàng một món quà chi đắt tiền

Rồi nhờ chàng chịu cảm phiền

Vào cung định giá gạo thêm một lần

Trước nhà vua và quần thần

Nếu chàng đồng ý muôn phần tốt thay

Chúng ta chuẩn bị vào ngay

Gặp vua giải quyết chuyện này dễ thôi!”

Ông buôn ngựa y theo lời

Tìm chàng tuổi trẻ, đến chơi, tặng quà

Món quà giá trị, xa hoa

Khiến chàng bất chợt thật là mừng vui

Chàng bèn nghĩ cách chiều người

Chiều người buôn ngựa lời ôi dễ dàng.

Ông buôn ngựa nói với chàng

“Khi anh định giá cho đoàn ngựa tôi

Trước đây, tôi thoả mãn rồi

Nay về chén gạo tôi thời nhờ anh

Làm sao định giá khôn lanh

Và rồi thuyết phục vua đành phải nghe”

Chàng trai trẻ nói: “Khó gì

Dù vua có mặt, sá chi chuyện này!”

Anh chàng nghĩ thật thơ ngây

Nghĩ rằng ông lái buôn đây hài lòng

Bán đi đoàn ngựa thật đông

Nhận về chén gạo là xong chuyện rồi.

Chàng xin ngày gặp vua thôi

Vì ông buôn ngựa sắp rời nơi đây.

* Ông buôn ngựa quay lại ngay

Trình quan định giá trước đây sự tình

Cả hai cùng đến triều đình

Gặp vua chờ đợi tình hình diễn ra.

Hôm nay phòng họp hoàng gia

Tụ về đông đủ vua và các quan

Ông buôn ngựa tới thưa rằng:

“Bữa này tôi đã sẵn sàng về thôi

Biết là bầy ngựa của tôi

Giá bằng một chén gạo nơi chốn này,

Trước khi đi, thật quý thay

Nếu ngài chỉ dạy cho hay một lời:

‘Tại nơi vương quốc của ngài

Gạo kia một chén giá thời là bao?’”

Nhìn chàng “tuổi trẻ tài cao”

Là người định giá từ lâu trung thành

Nhà vua bèn hỏi: “Này khanh

Gạo trong vương quốc của mình giá sao?”

Vẻ ngông nghênh, dáng tự hào

Sau khi quà đã nhận vào đầy tay

Muốn làm vui nhà buôn này

Anh chàng bèn đáp vẻ đầy nghiêm trang:

“Xin tâu bệ hạ hay rằng

Gạo kia một chén giá ngang kinh thành

Thành Ba La Nại của mình

Bao gồm thêm cả cung đình hoàng gia

Thêm vùng phụ cận gần xa

Nói chung giá trị thật là lớn lao

Sánh ngang vương quốc kém đâu

Nước Ba La Nại trước sau giá bằng!”

Khi nghe vừa dứt lời chàng

Tức thời toàn thể các quan triều đình

Cùng người có mặt chung quanh

Khắp trong phòng họp phá nhanh ra cười

Sau khi bình tĩnh lại rồi

Họ cùng lên tiếng: “Chúng tôi biết là

Từ lâu vương quốc chúng ta

Coi là vô giá vậy mà giờ đây

Lâu đài cung điện đẹp xây

Cùng toàn thể đất nước này cộng chung

Giá sao nghe thật lạ lùng

Chỉ bằng một chén gạo không hơn gì

Anh chàng định giá ngồi kia

Được vua lựa chọn thật kỳ cục thay

Anh ta chỉ giỏi nịnh hay

Làm cho bệ hạ lâu nay hài lòng

Có đâu chính xác mà mong

Khả năng định giá hắn không biết gì!”

Triều đình vang tiếng cười chê

Nhà vua nghe vậy mặt thì đỏ gay

Trong lòng thấy xấu hổ ngay

tham lam khiến lâu nay mê mờ.

Vua mời quan định giá xưa

Đặt vào chức vụ cũng như thuở nào

Quan già lương thiện lắm sao

Đưa ra giá cả biết bao công bằng

Ngựa kia định giá đàng hoàng

Nhà vua xét lại vội vàng chuẩn y.

Từ bài học đó trở đi

Nhà vua sáng suốt trị vì quốc gia

Công minh, chính trực, thật thà

Nơi nơi thịnh vượng, nhà nhà ấm êm.

 

5) Người Ấn Định Giá Cả:

Quan già ấn định giá cả là tiền thân Đức Phật.

(5) The Price Maker [Foolishness] 

Long ago and far away, their was a king who ruled in Benares, in northern India. One of his ministers was called the Royal Price Maker, and he was a very honest man. His job was to set a fair price for anything the king wanted to buy or sell.

 

On some occasions, the king did not like his price making. He did not get as big a profit as he wanted. He did not want to pay so much when he bought, or sell for what he thought was not enough. So he decided to change the price maker.

 

One day he saw a nice looking young man and he thought, “This fellow will be good for my price making position.” So he dismissed his former honest price maker, and appointed this man to be the new one. The man thought, “I must make the king happy by buying at very low prices and selling at very high prices.” So he made the prices ridiculous, without caring at all what anything was worth. This gained the greedy king a lot of money, and made him very happy. Meanwhile, all the others who dealt with the new price maker, including the king’s other ministers and ordinary people, became very unhappy.

 

Then one day a horse merchant arrived in Benares with 500 horses to sell. There were stallions, mares and colts. The king invited the merchant to the palace, and called upon his Royal Price Maker to set a price for all 500 horses. Thinking only of pleasing the king, he said, “The entire herd of horses is worth one cup of rice.” So the king ordered that one cup of rice be paid to the horse dealer, and all the horses were taken to the royal stables.

 

Of course the merchant was very upset, but he could do nothing at the moment. Later he heard about the former price maker, who had a reputation for being very fair and honest. So he approached him and told him what had happened. He wanted to hear his opinion, in order to get a proper price from the king. The former price maker said, “If you do as I say, the king will be convinced of the true value of the horses. Go back to the price maker and satisfy him with a valuable gift. Ask him to tell the value of one cup of rice, in the presence of the king. If he agrees, come and tell me. I will go with you to the king.”

 

Following this advice, the merchant went to the price maker and gave him a valuable gift. The gift made him very happy, so that he saw the value of pleasing the horse dealer. Then the merchant said to him, “I was very happy with your previous evaluation. Can you please convince the king of the value of one cup of rice?” The foolish price maker said, ‘Why not? I will explain the worth of one cup of rice, even in the presence of the king.”

 

So the price maker thought the horse dealer was satisfied with his cup of rice. He arranged for another meeting with the king, as the merchant was departing for his own country. The merchant reported back to the old price maker, and they went together to see the king.

 

All the king’s ministers and his full court were in the royal meeting hall. The horse merchant said to the king, “My lord, I understand that in this your country, my whole herd of 500 horses is worth one cup of rice. Before I leave for home, I want to know the value of one cup of rice in your country.” The king turned to his loyal price maker and said, “What is the value of one cup of rice?”

 

The foolish price maker, in order to please the king, had previously priced the herd of horses at one cup of rice. Now, after receiving a bribe from the horse dealer, he wanted to please him too. So he replied to the king, in his most dignified manner, “Your worship, one cup of rice is worth the city of Benares, including even your own harem, as well as all the suburbs of the city. In other words, it is worth the whole kingdom of Benares!”

 

On hearing this, the royal ministers and wise men in the assembly hall started to roar with laughter, slapping their sides with their hands. When they calmed down a little, they said, “Earlier we heard that the kingdom was priceless. Now we hear that all Benares, with its palaces and mansions, is worth only a cup of rice! The decision of the Royal Price Maker is so strange! Where did your highness find such a man? He is good only for pleasing a king such as you, not for making fair prices for a merchant who sells his horses from country to country.”

 

Hearing the laughter of his whole court, and the words of his ministers and advisers, the king was ashamed. So he brought back his former price maker to his official position. He agreed to a new fair price for the herd of horses, as set by the honest price maker. Having learned a lesson, the king and his kingdom lived justly and prospered.

 

The moral is: A fool in high office can bring shame even to a king.

 

 


006_A6

(6) Hoàng Tử Khéo Nói Và Con Thủy Quái 

 

Ngày xưa có một ông vua

Trị vì đất nước rất ư công bằng

Cạnh bên hoàng hậu đoan trang

Vua yêu, vua quý, chứa chan hương tình.

Thế rồi hoàng hậu hạ sinh

Một trai kháu khỉnh đẹp xinh vô cùng

Nhà vua sung sướng vui mừng

Nghĩ suy chọn lựa tìm đường đặt tên

Mong cho con lúc lớn lên

Vẻ vang ngôi vị, êm đềm tương lai

Vua bèn đặt tên con trai

Hoàng tử Khéo Nói, nhiều tài mai sau.

Quả nhiên hoàng tử lạ sao

Khác xa bất cứ trẻ nào gần bên,

Đây không là kiếp đầu tiên

Đã đưa cậu bé ra miền nhân gian

Cậu loanh quanh cả triệu năm

Đạo vàng tắm gội vô vàn từ bi

Diệt trừ dần “tham, sân, si”

Con đường “thập thiện” quyết đi nhiệt tình

Cậu qua nhiều đợt tái sinh

Trải qua nhiều kiếp quẩn quanh luân hồi

Khi là thú, lúc là người

Khi thành thần thánh, để rồi đổi thay

Lang thang khắp nẻo cuồng quay

Cậu luôn rút tỉa ra ngay lỗi lầm

Dần dần tu luyện bản thân

Để rồi hiển lộ ra tâm trong lành.

* Thời gian thấm thoắt trôi nhanh

Một ngày hoàng hậu lại sinh con rồi

Thêm một trai nữa tốt tươi

Dung nhan rạng rỡ như nơi bóng hằng

Đặt tên hoàng tử Mặt Trăng

Vua vui khi có hai hoàng tử con.

Đến khi đôi trẻ lớn khôn

Chơi đùa chạy nhảy được luôn một mình

Thời hoàng hậu bất thình lình

Bị lâm bệnh nặng lìa nhanh cõi trần.

Nhà vua buồn bã vô ngần

Hai con còn nhỏ đang cần trông coi

Nên vua vội vã tìm người

Phong làm hoàng hậu thế ngôi vợ mình.

Một vài năm thoáng trôi nhanh

Bà hoàng hậu mới lại sinh con rồi

Thêm hoàng tử nữa ra đời

Đặt tên hoàng tử Mặt Trời đúng sao

Đẹp xinh, sáng sủa, hồng hào

Nỗi niềm vui sướng dạt dào hoàng cung,

Muốn cho hoàng hậu vui lòng

Lại thêm vừa để thưởng công vợ mình

Trông nom ba trẻ tận tình

Nhà vua tuyên bố muốn dành đặc ân

Cho bà ước nguyện một lần

Và vua hứa thực hiện luôn điều này

Nghe xong hoàng hậu thưa ngay:

“Tạ ơn bệ hạ, hiện nay chưa cần

Thiếp xin được hưởng đặc ân

Nói điều ước muốn ngày gần đây thôi!”

* Thời gian lặng lẽ dần trôi

Cả ba hoàng tử tới thời thanh niên

Bà hoàng hậu chợt thấy liền

Hoàng tử Khéo Nói sẽ lên ngai vàng

Là con trưởng lại giỏi giang

Ngôi vua chắc chắn do chàng kế ngay

Bà thầm nghĩ ngợi loay hoay:

“Vì hai hoàng tử lớn này còn đây

Con ta chẳng có cơ may

Leo lên ngôi báu một ngày tương lai

Ta nên cố gắng lựa lời

Xin cho hoàng tử Mặt Trời kế ngôi.”

Một hôm nhân lúc vua vui

Bà hoàng hậu nhắc khéo lời hứa trên

Vua hoan hỷ trả lời liền:

“Ước chi hãy nói, chớ nên ngại ngùng!”

Bà liền thỏ thẻ nỗi lòng:

“Muôn tâu điều thiếp ước mong một đời

Sau này hoàng tử Mặt Trời

Sẽ lên kế nghiệp nối ngôi trị vì!”

Vua nghe sửng sốt kể chi

Và rồi cơn giận tức thì bùng ra:

“Hai con trai lớn của ta

Tựa như sao sáng ai mà sánh ngang

Sao ta lại để ngai vàng

Truyền cho hoàng tử đứng hàng thứ ba

Toàn dân sẽ trách cứ ta

Điều nàng ước muốn quả là cuồng điên!”

* Bà hoàng hậu giữ lặng yên

Vua từ lúc đó muộn phiền lắm thay

Thảnh thơi sung sướng trước đây

Nay vừa lo sợ vừa đầy hoài nghi

Nghi hoàng hậu bất mãn kia

Âm mưu thâm độc có chi nề hà

Sẽ dùng thủ đoạn xấu xa

Hại hai con lớn để mà giành ngôi

Bao tai ương sắp tới rồi

Phải đưa hai trẻ lánh nơi an toàn!

Vua cho gọi hai hoàng nam

Cả chàng Khéo Nói lẫn chàng Mặt Trăng

Đến bên buồn bã nói rằng:

“Bà hoàng hậu muốn ngai vàng giành ngôi

Cho riêng hoàng tử Mặt Trời

Nên hai con phải mau rời chốn đây

Vì bao nguy hiểm giăng đầy

Chỉ nên sửa soạn sau này quay lui

Khi ta từ giã cõi đời

Trở về mà nắm lấy ngôi vị mình

Ngôi vua chính đáng hợp tình

Giúp cho đất nước thanh bình nở hoa!”

Hai hoàng tử tuân lệnh cha

Cùng nhau chuẩn bị rời xa cung vàng

Trong vài ngày đã sẵn sàng

Thốt lời từ biệt vội vàng ra đi

Giã từ cha với bạn bè

Lánh nơi nguy hiểm tìm về chốn xa,

Trên đường đi họ ghé qua

Vào vườn thượng uyển thiết tha ngỏ lời

Giã từ hoàng tử Mặt Trời

Cậu em khác mẹ, thường chơi thân tình,

Cậu em quý hai anh mình

Thấy hai anh bỏ kinh thành ra đi

Nên lòng buồn bực kể chi

Xin theo anh, cũng quyết lìa hoàng cung

Ba hoàng tử cùng đi chung

Tình thân trong trắng nở bừng trong tâm.

* Đi vài tháng họ dừng chân

Nơi vùng Hy Mã Lạp Sơn chập chùng

Núi cao hùng vĩ vô cùng

Cả ba mệt nghỉ dưới từng cây cao

Miệng khô, chân mỏi biết bao

Nên người anh lớn chỉ vào hồ bên

Sai em út xuống đó liền:

“Em đi lấy nước lá sen hồ này

Mang lên để uống tại đây

Chúng mình giải khát hết ngay nhọc nhằn!”

Ba hoàng tử đâu biết rằng

Bao nhiêu nguy hiểm hiện đang đợi chờ

Cái hồ xanh đẹp như mơ

Thuộc quyền thủy quái dạ xoa lâu đời

Quỷ thường dụ dỗ mọi người

Hễ ai xuống nước nó thời hỏi luôn:

“Biết thiên pháp là gì không?”

Nếu ai không biết khó lòng thoát ra

Nó thường ăn thịt người ta

Cái hồ thơ mộng thật là hiểm nguy!

Khi hoàng tử Mặt Trời kia

Tới bờ hồ đẹp liền đi xuống liền

Chẳng hề xem xét gì thêm

Và rồi con quỷ nhô lên tóm đầu

Bắt luôn chàng, nó hỏi mau:

“Luật trời, thiên pháp tối cao là gì?”

Chàng hoàng tử nói: “Khó chi

Mặt trăng với mặt trời kia sáng ngời

Là thiên pháp, luật nhà trời!”

Dạ xoa thủy quái tức thời hét lên:

“Trả lời sai, vậy cho nên

Giờ đây mi đã thuộc quyền của ta!”

Nói xong quỷ dang tay ra

Kéo hoàng tử xuống nước và giam ngay

Nhốt hang sâu đáy hồ này

Để chờ ăn thịt một ngày mai sau.

Thấy người em út đi lâu

Anh chàng Khéo Nói nào đâu hay gì

Sai hoàng tử Mặt Trăng kia

Xuống hồ lấy nước mang về giải lao.

Mặt Trăng nào khác gì đâu

Cũng đi ngay xuống hồ sâu vội vàng

Không hề xem xét kỹ càng

Và rồi bị quỷ lẹ làng bắt giam,

Quỷ nêu câu hỏi khó khăn:

“Luật trời thiên pháp vẻ vang là gì?”

Chàng hoàng tử nói: “Khó chi!

Đông, Tây, Nam, Bắc hướng về bốn nơi

Là thiên pháp luật nhà trời!”

Dạ xoa thủy quái tức thời hét lên:

“Trả lời sai, vậy cho nên

Giờ đây mi đã thuộc quyền của ta!”

Nói xong quỷ chẳng nề hà

Kéo luôn hoàng tử thật là lẹ tay

Vào hang sâu chốn đọa đày

Nơi em bị nhốt trước đây dưới hồ.

* Anh chàng Khéo Nói âu lo

Thấy hai em chợt tù mù biệt tăm

E điều nguy hiểm khó khăn

Cho nên chàng quyết đích thân xuống tìm

Khôn ngoan, thận trọng, tự tin

Nên chàng không vội xuống liền nước sâu

Ven bờ quan sát hồi lâu

Thấy chân in dấu đi vào hồ xa

Nhưng không thấy vết trở ra

Chàng bèn vội rút kiếm mà phòng thân

Cung tên cũng chuẩn bị luôn

Đi quanh, nhìn khắp xa gần điều tra.

Quỷ nhìn hoàng tử nhà ta

Thấy không xuống nước để sa bẫy mình

Cho nên quỷ vội hiện hình

Làm người chất phác thân tình hỏi han:

“Bạn trông mệt mỏi vô vàn

Áo quần lấm láp, dung nhan bơ phờ

Hồ kia mát mẻ đang chờ

Xuống mà tắm táp, xuống mà giải lao

Nước hồ uống thật ngọt ngào

Củ sen tươi nõn ăn vào khoẻ ngay!”

Tinh anh, sáng suốt lâu nay

Quỷ kia lừa bịp chàng này dễ đâu

Nên chàng Khéo Nói lắc đầu

Chỉ tay quát mắng: “Khai mau rõ ràng

Chắc mi là quỷ bạo tàn

Lừa người giả dạng dân làng mà thôi

Hai em ta hiện đâu rồi

Đừng mong giấu giếm lựa lời chối quanh!”

Bị người nhận diện quá nhanh

Nên con thủy quái hiện hình dạ xoa

Trả lời: “Quyền lực của ta

Bắt em ngươi lại ai mà cản ngăn!”

Anh chàng Khéo Nói hỏi gằn:

“Sao mi làm vậy? Nói năng điên cuồng!”

Quỷ la hét, giọng hung hăng:

“Ta đây được phép Quỷ Vương ban quyền

Hồ này ai xuống bắt liền

Nếu mà thiên pháp, luật trên cõi trời

Không hay biết để trả lời

Những sinh vật đó tàn đời với ta!”

Chàng hoàng tử hỏi thêm ra:

“Mi cần biết rõ để mà làm chi

Luật trời mang lợi ích

Khiến cho loài quỷ như mi bận lòng?”

Quỷ kia nói: “Ta cầu mong

Biết thời lợi lộc vô cùng tốt thay!”

Chàng hoàng tử bèn nói ngay:

“Vậy ta sẽ giảng điều này cho ngươi

Hiện ta bụi bẩn thân người

Chuyến đi vất vả vừa rồi gây ra

Ta cần tẩy sạch thân ta

Trước khi tuyên giảng cao xa pháp mầu!”

Bây giờ quỷ nhận ra mau

Rằng chàng Khéo Nói trước sau khác người

Khôn ngoan, tinh tế, thạo đời

Quỷ bèn sửa soạn đón mời nghiêm trang,

Mời chàng tắm mát ao vàng

Mời chàng uống nước trên hàng lá sen,

Củ sen tươi nõn dâng lên

Lót lòng hoàng tử ăn thêm khoẻ người

Lại còn sửa soạn chỗ ngồi

Trang nghiêm, thoải mái gần nơi ven hồ

Muôn hoa đẹp đẽ điểm tô

Mời chàng an tọa ban cho lời thiền.

Dẹp ngay vũ khí qua bên

Anh chàng Khéo Nói tâm hiền nở hoa

Lên ngồi giảng pháp cao xa

Quỷ kia ngồi dưới như là trò ngoan

Lắng tai nghe những lời vàng

Khơi nguồn giác ngộ âm vang lòng người:

“Theo như thiên pháp, luật trời

Ta nên hổ thẹn với đời, với ta

Khi làm những việc gian tà

Và nên hãi sợ tránh xa việc này.

Ta nên luôn thực hiện ngay

Việc làm chính đáng hàng ngày sáng tươi

Mới mang hạnh phúc cho người

Giúp cho nhân loại sống đời thăng hoa

Và ta mới thấy được ra

Niềm vui sáng tỏ chan hòa trong tâm

An lành, tốt đẹp muôn phần!”

Quỷ nghe lời pháp vô ngần sướng vui

Lòng từ bừng sáng thốt lời:

“Nghe ông giảng pháp khiến tôi hài lòng

Nên tôi trả lại cho ông,

Em ông nhận lại một trong hai người

Vậy ông quyết định chọn ai?”

“Thả ngay hoàng tử Mặt Trời cho ta

Đó là em út trong nhà!”

Quỷ nghe nói vậy quả là ngạc nhiên:

“Ông giao giảng những lời hiền

Nhưng không thực hiện! Não phiền thêm thôi!

Bỏ người anh lớn lại rồi

Cứu người em nhỏ ông thời lầm sai

Không theo thiên pháp rạng ngời

Không hề quý trọng những người tuổi cao!”

Chàng hoàng tử: “Mi nói sao?

Bao lời thiên pháp ta nào quên đâu

Ba anh em ta cùng nhau

Tới đây cũng chỉ mong cầu bình yên!”

Rồi chàng thuật lại nỗi niềm

Việc giành ngôi báu đảo điên trong triều

Việc mình lánh nạn hiểm nghèo

Việc hoàng tử út xin theo vào rừng

tình bạn chốn thâm cung,

Rồi chàng nhấn mạnh: “Vô cùng khó nghe

Nếu bây giờ ta trở về

Mà người em út không kề một bên

Ta mà nói chẳng ai tin

Bao nhiêu câu chuyện ở trên hồ này

Người đời sẽ nghĩ ngợi ngay

Rằng em út bị ta đây hại rồi

Để trừ mối họa tày trời,

Chúng ta xấu hổ khi đời cười chê

Và vương quốc chẳng vui chi

Thật là tai hại! Cũng vì lẽ trên

Mà ta muốn mi thả liền

Để hoàng tử út bình yên trở về!”

Quỷ nghe ưng ý mọi bề

Thốt lời ca tụng: “Khó chê được nào

Ông thời đức hạnh biết bao

Luật trời thiên pháp tối cao biết rành

Lại đem thực hiện nhiệt thành

Nỗi niềm thán phục dâng nhanh lòng này

Thật vui thay! Thật lành thay!

Tôi xin hoan hỷ thả ngay tức thời

Thả em ông, cả hai người!”

Nói xong quỷ lặn xuống nơi đáy hồ

Mang hai hoàng tử lên bờ

Trao cho anh lớn đang chờ phía trên.

Ba hoàng tử đều bình yên

Cùng nhau đoàn tụ trong niềm vui chung

Lánh mình ẩn chốn núi rừng

Quỷ kia cũng rất vui mừng lắm thay

Có người kề cận hàng ngày

Sẵn lòng khuyên bảo lời hay, ý lành.

Quỷ kia chuyển hoá tâm thành

Nên chàng Khéo Nói tâm tình nhủ khuyên:

“Hỡi anh bạn mới thân quen

Chắc là quanh quẩn trong tiền kiếp thôi

Bạn làm nhiều việc ác rồi

Kiếp này thành quỷ sống nơi hồ này

Ăn tươi, nuốt sống đọa đày

Bạn nên mau chấm dứt ngay! Chờ gì!

Làm lành, tránh ác mau đi

Kiếp sau tốt đẹp còn chi vui bằng

Tái sinh vào chỗ huy hoàng!”

Quỷ nghe được những lời vàng tuyệt hay

Chân tâm bừng ngộ ra ngay

Cùng ba hoàng tử nơi này sống chung.

Ba chàng rất đỗi vui mừng

Quỷ kia che chở trong rừng bình yên.

* Một ngày chợt nhận được tin

Vua cha già yếu cho nên qua đời

Cả ba hoàng tử nhớ lời

Bèn quay trở lại về nơi triều đình

Cùng chàng thủy quái thân tình

Giờ đây quỷ đã tâm thành hoàn lương.

Triều đình mời nối ngai vàng

Ông hoàng Khéo Nói lên hàng quốc vương

Phó là hoàng tử Mặt Trăng

Ông hoàng trẻ nhất vẻ vang được mời

Cầm đầu quân đội khắp nơi

Đó là hoàng tử Mặt Trời thân thương,

Còn chàng thủy quái hoàn lương

Được nuôi đầy đủ, tránh đường sát sinh

Về cư trú cạnh cung đình

Sống đời lương thiện, an bình về sau.

Nói chung cả nhóm cùng nhau

Hướng theo thiên pháp nhiệm mầu luôn thôi

Mãi cho tới lúc qua đời

Tái sinh vào được cõi trời quang vinh.

 

6) Hoàng Tử Khéo Nói Và Con Thủy Quái:

Hoàng tử Khéo Nói là tiền thân Đức Phật. Mặt Trời là Ananda, Mặt TrăngXá Lợi Phất.

(6a) Prince Goodspeaker and the Water Demon [Chapter 1. Rebirth of the Bodhisatta] 

 

Once upon a time, there was a very righteous king. He had a lovely queen who gave birth to a beautiful baby. This made the king very happy. He decided to give his son a name that might help him in later life. So he called him Prince Goodspeaker.

 

It just so happened that the prince was no ordinary baby. This was not his first life or his first birth. Millions of years before, he had been a follower of a long-forgotten teaching ‘Buddha’ – a fully ‘Enlightened One’. He had wished with all his heart to become a Buddha just like his beloved master.

 

He was reborn in many lives – sometimes as poor animals, sometimes as long-living gods and sometimes as human beings. He always tried to learn from his mistakes and develop the ‘Ten Perfections’. This was so he could purify his mind and remove the three root causes of unwholesomeness – the poisons of craving, anger and the delusion of a separate self. By using the Perfections, he would someday be able to replace the poisons with the three purities – nonattachment, loving-kindness and wisdom.

 

This ‘Great Being’ had been a humble follower of the forgotten Buddha. His goal was to gain the same enlightenment of a Buddha – the experience of complete Truth. So people call him ‘Bodhisatta’, which means ‘Enlightenment Being’. No one really knows about the millions of lives lived by this great hero. But many stories have been told – including this one about a prince called Goodspeaker. After many more rebirths, he became the Buddha who is remembered and loved in all the world today.

 

 

(6b) Prince Goodspeaker and the Water Demon [Chapter 2. The Teaching of the Gods] 

 

In time, the queen gave birth to another son, who was named Prince Moon. Shortly after both children began walking about, their mother suddenly became very sick, and died.

 

To help him look after his playful children, the king found a princess to become his new queen. In a few years, this queen gave birth to a beautiful bright little boy. He was named Prince Sun. Since the king was so happy, he wanted to please his queen, and reward her for bringing up all three children. So he promised to grant her one wish. The queen considered, and said, “Thank you my lord, I will make my wish at some time in the future.”

 

As time went on, the three princes grew into wonderful playful youngsters. The queen saw that Prince Goodspeaker was intelligent and understanding. She thought, “If these two older princes remain in the palace, my son, Prince Sun, will never get a chance to be king. Therefore, I must do something to make him the next king.”

 

One day, when the king was in a good mood, the queen respectfully approached him and reminded him of the promised wish. He was very happy and said, “Ask whatever you want!” The queen said, “Oh my husband and king, grant that after the course of your life is over, my son, Prince Sun, will be the next king.”

 

The king was shocked by this request. He became angry and said, “My first two children are like bright stars! How can I give the kingdom to my third son? All the people will blame me. That cannot be done!” The queen kept silent.

 

As happy as the king had been, he now became just as unhappy. He was afraid and filled with doubt. He suspected that the queen might destroy his first-born children by some wicked means. He decided that he must make sure his children were safe.

 

Secretly, the king called Prince Goodspeaker and Prince Moon to him. He told them of the queen’s dangerous desire. He sadly said that the only safe thing for them to do was to leave the kingdom. They should return only after their father’s death, and take their rightful places ruling the kingdom. The two obedient princes accepted their father’s order and prepared to leave.

 

In a few days they were ready. They said their sad good-byes to their father and friends, and left the palace. On their way through the royal gardens, they came upon Prince Sun. He had always been very affectionate and friendly towards his two older half-brothers. He was upset to hear that they were leaving for a very long time. So he decided that he too would leave the kingdom. The three friendly princes departed together.

 

For several months they travelled, until they reached the forest country of the mighty Himalayas. They were very tired and sat down under a tree. The oldest brother, Prince Goodspeaker, said to the youngest, Prince Sun, “Please go down to the nearby lake and fill some lotus leaves with water. Bring them back here so we all can drink.”

 

They did not know that the beautiful dark blue lake was possessed by a water demon! He was permitted by his demon ruler to eat any beings that he could convince to go into the water. There was also one condition. He could not eat anyone who knew the answer to the question, ‘What is the teaching of the gods?”

 

When Prince Sun arrived at the shore of the lake, being dry and dirty and tired, he went directly into the water without any investigation. Suddenly the water demon rose up from under the water and captured him. He asked him, “What is the teaching of the gods?” Prince Sun said, “I know the answer to that! The sun and the moon are the teachings of the gods.” “You don’t know the teaching of the gods, so you belong to me!” said the water demon. Then he pulled Prince Sun under the water and locked him up in a deep cave.

 

Since Prince Sun was delayed, Prince Goodspeaker asked the second brother, Prince Moon, to go down to the lake and bring back water in lotus leaves. When he got there, he too went directly into the water without examining. Again the water demon appeared, grabbed him, and asked, “What is the teaching of the gods?” Prince Moon said, “I know the answer to that! The four directions – North, East, South and West – these are the teachings of the gods.” “You don’t know the teaching of the gods, so you belong to me!”, replied the water demon. Then he locked up Prince Moon in the same underwater cave with Prince Sun.

 

When both his brothers did not return, Prince Goodspeaker began to worry that they might be in some danger. So he himself went down to the beautiful dark blue lake. As he was a wise and careful person, he did not go directly into the water. Instead, he investigated and saw that there were two sets of footprints leading into the lake – but not coming out again! To protect himself, he got his sword and bow and arrows ready. He began to walk around the lake.

 

Seeing that this prince did not go straight into the lake, the water demon appeared to him disguised as a humble villager. He said to him, “My dear friend, you look tired and dirty from much walking. Why don’t you get into the water and bathe, drink, and eat some lotus roots?”

 

Remembering the one-way footprints, Prince Goodspeaker said, “You must be some kind of demon disguised as a human! What have you done with my brothers?” Surprised at being recognized so quickly, the water demon returned to his true ferocious appearance. He replied to the wise prince, “By my rights, I have captured your brothers!”

 

The prince asked, “For what reason?” “So that soon I can gobble them up!”, the demon answered, “I have permission from my demon ruler to eat all those who go into this lake who do not know the teaching of the gods. If anyone does know the teaching of the gods, I am not allowed to eat him.”

 

The Prince asked, “Why do you need to know this? What is the advantage to a demon like you, to know the teaching of the gods?” The water demon replied, “I know there must be some advantage to me.” “Then I will tell you what the gods teach,” said Prince Goodspeaker, “but I have a problem. Look at me. I am covered with dust and dirt from travelling. I cannot speak about wise teachings in this condition.”

 

By now, the water demon realized that this prince was especially wise. So he washed and refreshed him. He gave him water to drink from lotus leaves, and tender lotus roots to eat. He prepared a comfortable seat for him, decorated with pretty wildflowers. After laying aside his sword and bow and arrows, the Enlightenment Being sat on the adorned seat. The ferocious demon sat by his feet, just like a student listening to a respected teacher.

 

Prince Goodspeaker said, “This is the teaching of the gods:

 

You should be ashamed to do unwholesome deeds.

You should be afraid to do unwholesome deeds.

You should always do wholesome deeds –

that bring happiness to others, and help mankind.

Then you will shine with the inner light of calm and peacefulness.”

 

The water demon was pleased with this answer, and said, “Worthy prince, you have completely satisfied my question. You have made me so happy that I will give you back one of your brothers. Which one do you choose?”

 

Prince Goodspeaker said, “Release my younger brother, Prince Sun.” To this the demon replied, “My lord prince, wise one, you know the teaching of the gods but

you do not practice it!” The prince asked, “Why do you say that?” The demon said, “Because you leave the older one to die, and save the younger. You do not respect

elders!”

 

The prince then said, “Oh demon, I know the teaching of the gods, and I do practise it. We three princes came to this forest because of the youngest brother. His mother requested our father’s kingdom for him. So it was for our protection that our father sent us here. The young Prince Sun joined us out of friendship. But if we return to the court without him, and say he was eaten by a water demon who wanted to know the teaching of the gods, who would believe us? They would think we killed him because he was the cause of our danger. This would bring shame to us and unhappiness to the kingdom. Fearing such unwholesome results, I tell you again to release the young Prince Sun.”

 

The water demon was so pleased with this answer that he said, “Well done, well done, my lord. You know the true teaching of the gods, and you do practice that true teaching. I will gladly give back both your brothers!” So saying, he went down into the lake and brought both princes back to shore. They were wet, but unharmed.

 

Later on, the Bodhisatta gave further helpful advice to the demon. He said, “Oh water demon, my new friend, you must have done many unwholesome deeds in your previous lives, so that you were born as a flesh eating demon. And if you continue in this way, you will be trapped in a terrible state even in later lives. For unwholesome deeds lead to shame, fear and unpleasant rebirth. But wholesome deeds lead to self-respect, peace and pleasant rebirth. Therefore, it would be much better for you to do pure deeds, rather than impure deeds, from now on.” This turned the demon from his past ways, and the princes lived together happily under his protection.

 

One day, word came that the king had died. So the three princes, as well as their friend the water demon, returned to the capital city. Prince Goodspeaker was crowned as king. Prince Moon became the chief minister, and Prince Sun became commander of the army. The water demon was awarded a safe place to live, where he was well fed, cared for and entertained for the rest of his life. In this way they all acquired wholesome meritorious thoughts, leading to rebirth in a heaven world.

 

The moral is: Unwholesome actions bring shame and fear. Wholesome actions bring self-respect and peace.

 

 


007_A7

(7) Cậu Bé Hoàng Tử Không Cha 

 

Thành Ba La Nại thuở xưa

Một ngày rảnh rỗi nhà vua du hành

Dạo chơi trong chốn rừng xanh

Ngắm bông hoa với cây cành tốt tươi

Lòng ông sung sướng thảnh thơi

Mải mê lê gót khắp nơi thoả lòng,

Đi sâu vào khuất nẻo trong

Lạc đường núi thẳm, mình ông giữa rừng

Tách rời khỏi đám tùy tùng

Rụt rè chân bước, mịt mùng lối ra.

Chợt vua nghe vọng nẻo xa

Tiếng ai đang hát thật là trẻ trung

Giọng sao êm dịu vô cùng

Nhà vua định hướng tìm đường lần theo

Muốn ra thoát chốn hiểm nghèo

Nhiều mầm nguy hại, lắm điều gian truân,

Cuối cùng khi vua tới gần

Thấy ngay người hát vô ngần đẹp xinh

Một cô gái tuổi xuân xanh

Đang lo lượm củi, gom cành luôn tay

Du dương tiếng hát nhẹ bay

Khiến vua xao xuyến, ngất ngây, bồi hồi

Aí tình từ đó lên ngôi

Đôi bên kết hợp ca bài ái ân.

Vầng dương mọc lặn bao lần

Tình duyên kết trái muôn phần tốt tươi

Một ngày nàng báo tin vui:

“Chúng mình sắp có con rồi! Lành thay!”

* Giờ đây vua kể lại ngay

Chuyện ông đi lạc trước đây trong rừng

Rằng ông là vị quốc vương

Thành Ba La Nại vẻ vang hiện thời.

Cô nàng lượm củi nghe rồi

Tuy rằng lòng dạ bồi hồi vấn vương

Vẫn tìm cách vội chỉ đường

Cho ông về chốn hoàng cung nẻo nhà.

Vua bèn tặng lại món quà

Nhẫn đeo, dấu ấn hoàng gia của mình

Rồi ông căn dặn chân tình:

“Nếu là con gái khi sinh ra rồi

Hãy đem bán nhẫn đi thôi

Lấy tiền nhẫn quý mà nuôi trẻ này!

Nếu sinh trai thì càng hay

Hãy mang đứa trẻ về ngay triều đình

Mang theo nhẫn để chứng minh

Rằng hài nhi nọ quả tình con ta.

Nói xong vua cất bước ra

Theo đường chỉ dẫn để mà về cung.

* Một ngày tốt đẹp vô cùng

Cô nàng lượm củi vui mừng hạ sinh

Một trai kháu khỉnh thật tình

Mặt mày xinh xắn, dáng hình dễ thương.

Cô nàng bản chất bình thường

Đơn sơ, mộc mạc, chân phương, thẹn thùng

Nên e sợ, nên ngại ngùng

Dám đâu mang trẻ về cung bao giờ

Thành Ba La Nại xa mờ

Rất là quyền quý, rất là cao sang,

Chỉ riêng chiếc nhẫn vua ban

Thời cô vẫn giữ làm bằng cho con.

Hài nhi dần đã lớn khôn

Trở thành cậu bé chẳng còn như xưa

Mỗi khi cậu bé chơi đùa

Trẻ con quanh đó thường ưa trêu chòng

Bày trò ngược đãi đau lòng

Đôi khi kiếm chuyện để hòng đánh nhau

Lý do đơn giản từ lâu

Chỉ vì mẹ cậu trước sau không chồng

Cho nên lũ trẻ đồng lòng

Đặt tên cho cậu vô cùng xót xa:

“Thằng con hoang! Thằng không cha!”

Tất nhiên cậu bé thật là khổ đau

Tủi thân, xấu hổ, muộn sầu

Chạy về với mẹ, gục đầu khóc than.

Một hôm cậu kể rõ ràng

Những lời lũ trẻ phũ phàng thốt ra:

“Đồ con hoang! Đồ không cha!”

Mẹ an ủi nói: “Con à! Hãy nghe

Con đừng hổ thẹn làm chi

Con đâu như lũ trẻ kia tầm thường

Cha con là vị quốc vương

Thành Ba La Nại vẻ vang vô cùng!”

Cậu nghe xong thấy lạ lùng

Ngạc nhiên bèn hỏi: “Mẹ không nói đùa?

Cha con là một ông vua

Có gì để chứng tỏ cho chuyện này?”

Mẹ do đó kể lại ngay

Đầu đuôi câu chuyện từ ngày xa xưa

Đưa ra chiếc nhẫn của vua

Nhắc lời vua đã dặn dò khi đi:

“Đẻ con trai hãy đưa về

Mang theo chiếc nhẫn quý kia làm bằng!”

Cậu nghe xong quá ngỡ ngàng

Vội vàng giục mẹ lên đường tìm cha.

Vì bao chuyện mới xảy ra

Tránh cho con cảnh xót xa muộn phiền

Hôm sau mẹ quyết định liền

Về Ba La Nại, về miền chờ mong.

* Mẹ con khi tới hoàng cung

Nhờ quân gác cổng vào trong báo liền,

Quân quay ra với lệnh truyền

Đưa hai người lạ vào bên ngai vàng

Nơi phòng họp rộng thênh thang

Các quan văn võ dàn hàng hai bên.

Cô nàng lượm củi tự tin

Chuyện xưa nhắc lại tình duyên trong rừng

Thương con cô chẳng ngại ngùng

Chỉ cho vua biết con chung hai người:

“Đây con trai chính của ngài

Xin mang con lại như lời dặn xưa!”

Lời cô chấn động cung vua

Triều đình đủ mặt rất ư sững sờ

Vua thời xấu hổ vô bờ

Biết đây sự thực vẫn ưa chối hoài

Rằng đây không phải con ngài.

Mẹ kia lấy nhẫn khoan thai đưa trình

Trưng bằng cớ với triều đình

Vua thêm xấu hổ quẩn quanh chối dài

Nhẫn này chẳng phải của ngài.

Đến đây cô gái thở dài nghĩ suy:

“Trong tay mình chẳng có gì

Dễ đâu minh chứng chuyện kia được liền

Chỉ còn sự thực kề bên

Chỉ còn mãnh lực lòng tin của mình!”

Cho nên cô khẽ thưa trình:

“Tôi tung đứa trẻ lên nhanh trên trời

Nếu con ngài, trẻ chẳng rơi

Tung lên trên đó trẻ thời ở luôn,

Nếu mà không phải là con

Trẻ rơi xuống đất chẳng còn sống thêm!”

Nói xong cô thực hiện liền

Nắm ngay chân trẻ tung lên tức thì.

Hãy xem kìa, thật lạ kỳ!

Trên không lơ lửng trẻ kia xếp bằng

Tréo chân ngồi rất đàng hoàng

Chẳng hề rơi xuống! Vững vàng trên cao!

Mọi người kinh ngạc xiết bao

Nào đâu có được lời nào thốt lên.

* Từ không trung trẻ dịu hiền

Nói cùng vua ngự uy quyền trên ngai:

“Thưa con thật quả con ngài,

Ngài lo chăm sóc muôn người thường dân

Không hề liên hệ xa gần

Không hề có chút quen thân họ hàng,

Ngựa, voi cũng được ngài thương

Cùng bao súc vật trong vương cung này

Vậy mà con của ngài đây

Sao ngài lại chẳng mảy may ngó ngàng

Không nuôi nấng, chẳng cưu mang?

Nay con và mẹ đôi đường chờ trông!”

* Lời sao uy lực vô cùng

Vua nghe xong chợt sáng bừng chân tâm

Đâu còn tự ái bản thân

Vua dang tay nói: “Tới gần lại đây

Con yêu quý! Kể từ nay

Ta thời chăm sóc với đầy tình thương!”

Phép mầu tạo sự ngỡ ngàng

Mọi người quanh đấy vội vàng cùng nhau

Đưa tay ra hứng cho mau

Như mong cậu bé rơi vào vòng tay.

Trẻ đang lơ lửng như bay

Bỗng nhiên rơi thẳng vào ngay ngai vàng

Vào tay cha cậu, nhẹ nhàng

Vua ôm lấy cậu, yêu thương vô cùng.

Với con ngồi ở trong lòng

Vua bèn tuyên bố khắp trong triều đình

Đây là con của chính mình

Và cô gái nọ trọn tình trước sau

Phong ngôi hoàng hậu đứng đầu

Toàn dân chào đón đua nhau tưng bừng.

Lời chân thực mạnh vô cùng

Thật vui biết mấy! Thật mừng lắm thay!

Thành Ba La Nại từ nay

Tiếng đồn công lý nơi này sáng soi.

* Rồi khi vua chợt qua đời

Trẻ kia nay đã tới thời lớn khôn

Trưởng thành và chẳng quên nguồn

Muốn ai cũng phải nhớ luôn lời vàng:

“Mọi người bình đẳng ngang hàng!”

Nên khi nhậm chức quốc vương xong rồi

Vị hoàng tử vừa lên ngôi

Tự xưng danh hiệu vang lời khuyên răn:

“Vua Không Cha”, há ngại ngần.

Nhà vua cai trị muôn dân nước nhà

Công bằng, đứng đắn, thật thà

Tấm lòng quảng đại vang xa khắp miền.

 

7) Cậu Bé Hoàng Tử Không Cha:

Cậu bé hoàng tử không cha là tiền thân Đức Phật. Cô nàng lượm củi là hoàng hậu Ma Da. Vua thành Ba-La-Nại là vua Tịnh Phạn. 

(7) Little Prince No-father [The Power of Truth] 

 

Once upon a time, the King of Benares went on a picnic in the forest. The beautiful flowers and trees and fruits made him very happy. As he was enjoying their beauty, he slowly went deeper and deeper into the forest. Before long, he became separated from his companions and realized that he was all alone.

 

Then he heard the sweet voice of a young woman. She was singing as she collected firewood. To keep from being afraid of being alone in the forest, the king followed the sound of the lovely voice. When he finally came upon the singer of the songs, he saw that she was a beautiful fair young woman, and immediately fell in love with her. They became very friendly, and the king became the father of the firewood woman’s child.

 

Later, he explained how he had gotten lost in the forest, and convinced her that he was indeed the King of Benares. She gave him directions for getting back to his palace. The king gave her his valuable signet ring, and said, “If you give birth to a baby girl, sell this ring and use the money to bring her up well. If our child turns out to be a baby boy, bring him to me along with this ring for recognition.” So saying, he departed for Benares.

 

In the fullness of time, the firewood woman gave birth to a cute little baby boy. Being a simple shy woman, she was afraid to take him to the fancy court in Benares, but she saved the king’s signet ring.

 

In a few years, the baby grew into a little boy. When he played with the other children in the village, they teased him and mistreated him, and even started fights with him. It was because his mother was not married that the other children picked on him. They yelled at him, “No-father! No-father! Your name should be No-father!”

 

Of course this made the little boy feel ashamed and hurt and sad. He often ran home crying to his mother. One day, he told her how the other children called him, “No-father! No-father! Your name should be No-father!” Then his mother said, “Don’t be ashamed, my son. You are not just an ordinary little boy. Your father is the King of Benares!”

 

The little boy was very surprised. He asked his mother, “Do you have any proof of this?” So she told him about his father giving her the signet ring, and that if the baby was a boy she should bring him to Benares, along with the ring as proof. The little boy said, “Let’s go then.” Because of what happened, she agreed, and the next day they set out for Benares.

 

When they arrived at the king’s palace, the gate keeper told the king the firewood woman and her little son wanted to see him. They went into the royal assembly hall, which was filled with the king’s ministers and advisers. The woman reminded the king of their time together in the forest. Finally she said, “Your majesty, here is your son.”

 

The king was ashamed in front of all the ladies and gentlemen of his court. So, even though he knew the woman spoke the truth, he said, “He is not my son!” Then the lovely young mother showed the signet ring as proof.

 

Again the king was ashamed and denied the truth, saying, “It is not my ring!”

 

Then the poor woman thought to herself, “I have no witness and no evidence to prove what I say. I have only my faith in the power of truth.” So she said to the king, “If I throw this little boy up into the air, if he truly is your son, may he remain in the air without falling. If he is not your son, may he fall to the floor and die!”

 

Suddenly, she grabbed the boy by his foot and threw him up into the air. Lo and behold, the boy sat in the cross-legged position, suspended in mid-air, without falling. Everyone was astonished, to say the least! Remaining in the air, the little boy spoke to the mighty king. “My lord, I am indeed a son born to you. You take care of many people who are not related to you. You even maintain countless elephants, horses and other animals. And yet, you do not think of looking after and raising me, your own son. Please do take care of me and my mother.”

 

Hearing this, the king’s pride was overcome. He was humbled by the truth of the little boy’s powerful words. He held out his arms and said, “Come to me my son, and I will take good care of you.”

 

Amazed by such a wonder, all the others in the court put out their arms. They too asked the floating little boy to come to them. But he went directly from mid-air into his father’s arms. With his son seated on his lap, the king announced that he would be the crown prince, and his mother would be the number one queen.

 

In this way, the king and all his court learned the power of truth. Benares became known as a place of honest justice. In time the king died. The grown up crown prince wanted to show the people that all deserve respect, regardless of birth. So he had himself crowned under the official name, “King No-father!” He went on to rule the kingdom in a generous and righteous way.

 

The moral is: The truth is always stronger than a lie.


008_A8

(8) Hoàng Tử Thứ Một Trăm 

 

Ngày xưa có một ông vua

Trong vương quốc nọ rất ư lạ đời

Sinh con trai đủ trăm người

Ông hoàng thứ một trăm thời dễ thương

Kiên trì, nghị lực, hiền lương

Tính tình lại rất khiêm nhường lắm thay.

Triều đình thông lệ lâu nay

Mỗi hoàng tử có một thầy trông nom

Chăm lo dạy dỗ sớm hôm,

Riêng hoàng tử út số luôn hơn người

Có thầy tài giỏi tuyệt vời

Như cha hiền đức dạy lời tinh thông

Nên hoàng tử út trọng ông

Chuyên tâm học hỏivâng lời thầy.

* Cũng theo thông lệ xưa nay

Vua cha lần lượt gửi ngay con mình

Sau khi khôn lớn, học hành

Mỗi người tới một tỉnh thành khác nhau

Để mà phục vụ dài lâu

Giúp dân, giúp nước trước sau nhiều bề

Và chàng hoàng tử út kia

Cũng làm nhiệm vụ vừa khi trưởng thành,

Trước khi đi chàng khôn lanh

Xin thầy ý kiến khuyên mình điều hay

Xem nên chọn tỉnh nào đây,

Nghe xong thầy mới phán ngay đôi lời:

“Đừng đi tỉnh! Ở lại thôi!

Hãy vào yết kiến vua rồi trình tâu

Anh em đi hết còn đâu

Chỉ còn con út muốn hầu cận vua

Con mong ở lại thủ đô

Để mà sớm tối chăm lo cha già!”

Chàng hoàng tử út nghe qua

Vâng lời, vào gặp vua cha tâu trình

Vua nghe hoan hỉ thật tình

Thấy hoàng tử út trung thành lắm thay

Vua cha bèn chấp thuận ngay.

Và hoàng tử út lại quay về thầy

Xin thầy khuyên nhủ điều hay

Làm sao giúp thủ đô này tốt hơn

Giúp vua, giúp nước, giúp dân.

Ông thầy thông thái tinh khôn dạy liền:

“Hãy xin vua ban cho quyền

Đi thâu thuế má, bạc tiền của dân

Đồng thời cứu trợ chia phần

Giúp người khốn khó đang cần tình thương

Nếu vua đồng ý mọi đường

Hãy làm nhiệm vụ với lương tâm mình

Đàng hoàng, thành thật, nhiệt tình

Lòng từ giúp khắp chúng sinh trong vùng!”

Chàng hoàng tử út vui mừng

Y lời thầy dạy, thưa cùng vua cha

Vua đồng ý chẳng chần chờ

Thật là êm chuyện, quả là thuận duyên.

Chàng hoàng tử út lành hiền

Ra ngoài làm việc chẳng quên lời thầy

Khi thu thuế khéo léo thay

Dung hoà luật pháp với đầy từ tâm,

Còn khi phân phát đồ ăn

Cùng bao vật dụng cho dân đói nghèo

Chàng luôn rộng lượng đủ điều

Mọi người quý trọng, thương yêu vô cùng.

* Ngày vua hấp hối trong cung

Các quan thỉnh ý vua mong tìm người

Đưa lên kế vị trên ngôi

Nhà vua suy nghĩ và rồi truyền ra:

“Cả trăm hoàng tử con ta

Có quyền kế vị để mà lên ngôi

Vậy trong vương quốc khắp nơi

Để cho dân chúng chọn người thay ta”

Vua qua đời, tin loan ra

Khắp trong vương quốc gần xa đồng tình

Chọn hoàng tử út tinh anh

Lên ngôi vua tại hoàng thành ngay thôi,

Tôn xưng hoàng tử đẹp lời

Lòng thời bác ái, tính thời công minh.

* Ngờ đâu xảy chuyện chẳng lành

Thấy rằng ngôi báu bị giành mất đi

Chín mươi chín hoàng tử kia

Cho rằng mình bị khinh khi coi thường

Vừa ganh tức, lại giận hờn

Cùng nhau chuẩn bị khơi nguồn chiến tranh

Gửi thông điệp nói ngọn ngành:

“Chúng ta địa vị vai anh hơn người

Các lân bang sẽ chê cười

Nếu em út lại giành ngôi trị vì,

Ngai vàng nhường lại mau đi

Nếu không chinh chiến dễ gì tránh đây.”

Sau khi nhận thông điệp này

Nhà vua trẻ lại đến ngay thăm thầy

Nhờ thầy mách nước chỉ bày,

Thầy bèn dạy: “Tránh đọa đày chiến tranh

Khiêm nhường thưa với các anh

Rằng con chỉ muốn an lành mà thôi

Tránh cho dân chúng khắp nơi

Nhà thời tan nát, người thời mạng vong,

Rằng vương quốc là của chung

Hãy chia ra đủ trăm vùng đều nhau

Phần ai cũng có trước sau

Thế là tốt đẹp, còn đâu tranh giành!”

* Nhà vua trẻ lại tuân hành

Báo tin cho các người anh hay liền

Lúc này họ đã kề bên

Mang quân vây kín, khó yên mọi bề

Ngay khi nhận đề nghị kia

Họ bèn họp lại nghĩ suy, luận bàn:

“Chia trăm phần nhỏ vô vàn!”

Thế là họ thấy chẳng ham muốn

Nên không nhận đề nghị kia

Nhưng rồi nghĩ kỹ lại thì thấy ngay

Dù cho chiến thắng vua này

Cuối cùng cũng lại loay hoay chia phần

Vậy cần gì phải bận tâm

Khiến cho đất nước xoay vần tang thương

Đang hùng mạnh, đang phú cường

Trở nên yếu kém có đường diệt vong

Quốc gia thù nghịch quanh vùng

Từ lâu vẫn chỉ chờ mong chuyện này.

Các hoàng tử họp lại ngay

Cùng nhau quyết định không gây hận thù

Đồng thời phát triển tâm từ

Quây quần chung sống rất ư hoà bình

Còn riêng ngôi báu triều đình

Trao hoàng tử út một mình đảm đang.

 

8) Hoàng Tử Thứ Một Trăm:

Thầy của hoàng tử út là tiền thân Đức Phật.

(8) The One-hundredth Prince [Obedience to a Wise Teacher] 

 

Once upon a time, there was a king who had one- hundred sons. The youngest, the one-hundredth, was Prince Gamani. He was very energetic, patient and kind.

 

All the princes were sent to be taught by teachers. Prince Gamani, even though he was the one-hundredth in line to the throne, was lucky enough to have the best teacher. He had the most learning and was the wisest of them of all. He was like a father to Prince Gamani, who liked, respected and obeyed him.

 

In those days, it was the custom to send each educated prince to a different province. There he was to develop the country and help the people. When Prince Gamani was old enough for this assignment, he went to his teacher and asked which province he should request. He said, “Do not select any province. Instead, tell your father the king that if he sends you, his one-hundredth son, out to a province, there will be no son remaining to serve him in his home city.” Prince Gamani obeyed his teacher, and pleased his father with his kindness and loyalty.

 

Then the prince went again to his teacher and asked, “How best can I serve my father and the people, here in the capital city?” The wise teacher replied, “Ask the king to let you be the one to collect fees and taxes, and distribute benefits to the people. If he agrees, then carry out your duties honestly and fairly, with energy and kindness.”

 

Again the prince followed his teacher’s advice. Trusting his one-hundredth son, the king was glad to assign these functions to him. When he went out to perform the difficult task of collecting fees and taxes, the young prince was always gentle, fair and lawful. When he distributed food to the hungry, and other necessary things to the needy, he was always generous, kind and sympathetic. Before long, the one-hundredth prince gained the respect and affection of all.

 

Eventually, the king came to be on his deathbed. His ministers asked him who should be the next king. He said that all his one-hundred sons had a right to succeed him. It should be left up to the citizens.

 

After he died, all the citizens agreed to make the one-hundredth prince their next ruler. Because of his goodness, they crowned him King Gamani the Righteous.

 

When the ninety-nine older brothers heard what had happened, they thought they had been insulted. Filled with envy and rage, they prepared for war. They sent a message to King Gamani, which said, “We are all your elders. Neighbour countries will laugh at us if we are ruled by the one-hundredth prince. Either you give up the kingdom or we will take it by war!”

 

After he received this message, King Gamani took it with him to his wise old teacher, and asked his advice.

 

It just so happened that this honorable gentle teacher was the reborn Enlightenment Being. He said, “Tell them you refuse to wage war against your brothers. Tell them you will not help them kill innocent people you have come to know and love. Tell them that, instead, you are dividing the king’s wealth among all one-hundred princes. Then send each one his portion.” Again the king obeyed his teacher.

 

Meanwhile the ninety-nine older princes had brought their ninety-nine small armies to surround the royal capital. When they received the king’s message and their small portions of the royal treasure, they held a meeting. They decided that each portion was so small it was almost meaningless. Therefore, they would not accept them.

 

But then they realized that, in the same way, if they fought with King Gamani and then with each other, the kingdom itself would be divided into small worthless portions. Each small piece of the once-great kingdom would be weak in the face of any unfriendly country. So they sent back their portions of the royal treasure as offerings of peace, and accepted the rule of King Gamani.

 

The king was pleased, and invited his brothers to the palace to celebrate the peace and unity of the kingdom. He entertained them in the most perfect ways – with generosity, pleasant conversation, providing instruction for their benefit, and treating all with even-handed courtesy.

 

In this way the king and the ninety-nine princes became closer as friends than they had been as brothers. They were strong in their support of each other. This was known in all the surrounding countries, so no one threatened the kingdom or its people. After a few months, the ninety-nine brothers returned to their provinces.

 

King Gamani the Righteous invited his wise old teacher to live in the palace. He honored him with great wealth and many gifts. He held a celebration for his respected teacher, saying to the full court, “I, who was the one-hundredth prince, among one-hundred worthy princes, owe all my success to the wise advice of my generous and understanding teacher. Likewise, all who follow their wise teachers’ advice will earn prosperity and happiness. Even the unity and strength of the kingdom, we owe to my beloved teacher.”

 

The kingdom prospered under the remainder of the generous and just rule of King Gamani the Righteous.

 

The moral is: One is rewarded a hundred-fold for following the advice of a wise teacher.


009_A9

(9) Vua Với Một Sợi Tóc Bạc 

 

Ngày xưa, ngày xửa, ngày xưa

Con người kiếp sống dây dưa lâu dài

Nhiều ngàn năm một cuộc đời

Rất là khác biệt với thời buổi nay.

* Trẻ kia thật quả là may

Sinh làm hoàng tử nước này vẻ vang

Rồi lên ngự trị ngai vàng

Lúc còn nhỏ tuổi, vinh quang vô vàn,

Nhà vua trẻ sống bình an

Tính ra là tám vạn năm qua rồi

Bấy giờ đặc biệt có người

Chuyên môn cắt tóc ở nơi hoàng thành,

Một hôm vua dặn dò anh

Mỗi khi cắt tóc phải trình báo ngay

Nếu mà trên mái đầu này

Hiện ra sợi bạc một ngày tương lai,

Tất nhiên anh thợ vâng lời

Hứa rằng tuân lệnh, dám đời nào quên.

* Bốn ngàn năm nữa qua thêm

Nhà vua nay đã sống trên cõi đời

Tám mươi tư ngàn năm rồi

Bao nhiêu vật đổi sao dời chốn đây.

Nhà vua cắt tóc một ngày

Anh chàng thợ nọ thấy ngay trên đầu

Tóc kia có sợi bạc mầu

Phất phơ một sợi, có đâu nhiều gì

Mầu thời gian nhuộm trắng đi,

Nhớ lời vua dặn chàng quỳ vội tâu:

“Kính thưa bệ hạ, trên đầu

Hôm nay thấy một sợi mầu trắng phau!”

Nhà vua bèn nói: “Thật sao?

Nhổ ra và đặt tóc vào tay ta!”

Thợ bèn lấy nhíp vàng ra

Nhẹ nhàng nhổ tóc để mà trình vua.

* Thời gian đó thuở xa xưa

Nhà vua còn sống coi như lâu dài,

Mới xong có nửa cuộc đời

Nên nhìn tóc bạc vua thời hoảng lên

Tưởng như thần chết kề bên

Như mình lạc bước vào miền nguy nan

Như trong nhà lửa cháy lan

Mồ hôi vì thế chảy tràn xuống lưng

Vua rùng mình sợ vô cùng

Nhủ thầm: “Mình quả điên khùng ngu si

Cả đời dài phí phạm đi

Giờ đây cái chết đang kề cận bên.

Từ lâu không diệt não phiền,

Diệt tham, sân hận, tỵ hiềm ghét ganh

U mê sống cõi vô minh

Nào đâu chân lý quang vinh thấm nhuần

Để mà thanh lọc thân tâm

Bến bờ giác ngộ tiến gần mãi thêm!”

Ngay khi nghĩ đến chuyện trên

Nội tâm vua trẻ như bên lửa hừng

Mồ hôi vẫn toát trên lưng

Vua liền quyết định vô cùng mừng vui:

“Giờ đây đã tới lúc rồi

Ta nên từ bỏ cuộc đời làm vua

Xuất gia, khoác áo thầy tu

Chăm lo thiền định, ẩn cư non ngàn

Lòng thanh thản, tâm bình an

Tương lai rực rỡ ánh vàng! Lành thay!”

* Anh chàng cắt tóc thật may

Vua ban cho được hưởng ngay bạc tiền.

Vua truyền quan chức dưới quyền

Mời con trai trưởng tới bên dặn lời:

“Con à! Cha đã già rồi

Hãy nhìn sợi tóc bạc nơi mái đầu

Quyền hành, chức tước, sang giàu

Đỉnh cao danh vọng từ lâu cõi trần

Cha từng hưởng thụ bao phần

Giờ đây cái chết tới gần mãi thôi

Cha mong ước lúc qua đời

Tái sinh vào một cõi trời quang vinh

Để mà trọn hưởng cho mình

Niềm vui thiên giới chân tình ước mơ,

Cha rời ngôi báu từ giờ

Và đi thọ giới thầy tu tốt lành

Ẩn cư trong chốn rừng xanh

Trao con trách nhiệm điều hành quốc gia!”

Nghe tin vua sắp rời xa

Các quan văn võ quả là ngạc nhiên

Quỳ tâu với đấng vua hiền

Hỏi sao vua bỏ chức quyền cao sang?

Sao tìm về ánh đạo vàng?

Vua đưa tóc bạc nhẹ nhàng nói ngay:

“Mọi người hãy ngước trông đây

Hãy nhìn sợi tóc bạc này ngẫm ra

Đủ ba giai đoạn đời ta

Trẻ trung, lớn tuổi, về già đấy thôi

Đưa dần tới cuối đường đời

Tóc phô mầu bạc ngay nơi mái đầu

Đó là cái chết chứ đâu

Nơi này ngự trị bao lâu chẳng ngờ

Giờ đây gửi tín hiệu ra

Đóng vai sứ giả cho ta tỏ tường

Nên ta từ bỏ ngai vàng

Bụi trần giũ sạch, tìm đường ẩn tu!”

Toàn dân nghe được tin vua

Thẩy đều rơi lệ, tâm tư muộn sầu.

* Thong dong dấn bước rừng sâu

Nhà vua thoát tục khởi đầu đường tu

Một là phát triển tâm từ,

Hai là trải rộng vô bờ tình thương

Với người đau khổ muôn phương,

Ba là hoan hỉ tìm đường chung vui

Với người hạnh phúc nơi nơi,

Bốn là giữ để lòng người ung dung

Luôn luôn tự tại vô cùng

Dù cho gian khó chập chùng vây quanh,

Đó là bốn bước tu hành

Luyện cho chuyển biến tốt lành cõi tâm.

Sau tám vạn bốn ngàn năm

Dấn chân đường đạo, ẩn thân cửa thiền

Sống đời tu sĩ bình yên

Nhà vua hạnh phúc kia liền mệnh chung

Tái sinh đẹp đẽ vô cùng

Cõi trời cao đó vui mừng bước lên,

Nơi đây vua lại sống thêm

Triệu năm trời nữa êm đềm biết bao.

 

9) Vua Với Một Sợi Tóc Bạc:

Vua là tiền thân Đức Phật. Thợ hớt tóc là Ananda. Con trai kế nghiệp vua là La Hầu La.

(9) The King With One Grey Hair [Ordination] 

 

A very very long time ago, there were people who lived much longer than they do today. They lived many thousand years. At that time, the Enlightenment Being was born as a baby named Makhadeva. He lived 84,000 years as a child and crown prince. At the time of our story, he had been a young king for 80,000 years.

 

One day, Makhadeva told the royal barber, “If you see any grey hair on my head, you must tell me immediately!” Of course, the barber promised to do so.

 

Another 4,000 years passed, until Makhadeva had been a young king for 84,000 years. Then one day, while he was cutting the king’s hair, the royal barber saw just one little grey hair on all the king’s head. So he said, “Oh my lord, I see one grey hair on your head.” The king said, “If this be so, pull it out and put it in my hand.” The barber got his golden tweezers, plucked out the single little grey hair, and put it in the king’s hand.

 

At that time, the king still had at least another 84,000 years left to live as an old king! Looking at the one grey hair in his hand, he became very afraid of dying. He felt like death was closing in on him, as if he were trapped in a burning house. He was so afraid, that the sweat rolled down his back, and he shuddered.

 

King Makhadeva thought, “Oh foolish king, you have wasted all this long life and now you are near death. You have made no attempt to destroy your greed and envy, to live without hating, and to get rid of your ignorance by learning the truth and becoming wise.”

 

As he thought this, his body burned and the sweat kept rolling down. Then he decided once and for all, “It is time to give up the kingship, be ordained as a monk, and practice meditation!” Thinking so, he granted the income of a whole town to the barber. It amounted to one-hundred-thousand per year.

 

Then the king called his oldest son to him and said, “My son, I have seen a grey hair. I have become old. I have enjoyed the worldly pleasures of great wealth and power. When I die, I want to be reborn in a heaven world, to enjoy the pleasures of the gods. So I will be ordained as a monk. You must now take the responsibility of ruling the country. I will live the life of a monk in the forest.”

 

Hearing of this, the royal ministers and the rest of the court rushed to the king and said, “Our lord, why do you suddenly want to be ordained?”

 

The king held up the grey hair in his hand and said, “My ministers and subjects, I have realized that this grey hair shows that the three stages of life – youth, middle age and old age – are coming to an end. This first grey hair was the messenger of death sitting on my head. Grey hairs are like angels sent by the god of death. Therefore, this very day is the time for me to be ordained.”

 

The people wept at the news of his departure. King Makhadeva gave up his royal life, went into the forest, and was ordained as a monk. There he practiced what holy men call the ‘Four Heavenly States of Mind’. First is loving-kindness, tender affection for all. Second is feeling sympathy and pity for all those who suffer. Third is feeling happiness for all those who are joyful. And the fourth state is balance and calm, even in the face of difficulties or troubles.

 

After 84,000 years of great effort meditating and practicing these states as a humble forest monk, the Bodhisatta died. He was reborn in a high heaven world, to live a life a million years long!

 

The moral is: Even a long life is too short to waste.

 


010_A10

(10) Ông Sư Sung Sướng 

 

Ngài từ thuở rất xa xưa

Quyền cao, chức trọng lại dư bạc vàng

Nhưng về già nhận ra rằng

Càng thêm tuổi tác lại càng khổ đau

Trước sau nghèo cũng như giàu

Cái đau già lão như nhau khác gì

Cho nên ngài quyết ra đi

Vào khu rừng vắng chốn kia tu hành

Bỏ tài sản, bỏ công danh

Sống đời ẩn sĩ rừng xanh nghèo nàn.

Ngài thiền định rất chuyên cần

Gắng công để phát triển chân tâm mình

Trừ đen tối, phá vô minh

Trở nên mãn nguyện, an lành, sướng vui,

Ngài thân thiện với mọi người

An nhiên, tự tại, buông lơi não phiền

Dần dần tạo đủ cơ duyên

Năm trăm đệ tử theo liền về đây.

* Các tu sĩ thời buổi này

Đều luôn khắc khổ lại đầy nghiêm trang

Tuy nhiên có chuyện bất thường

Một người đệ tử cứ luôn mỉm cười

Dù khi xáo trộn chuyện đời

Sư luôn thoáng lộ nét tươi rỡ ràng

Còn khi sảng khoái ngập tràn

Thời sư cất tiếng cười vang vô ngần

Dường như hạnh phúc dương trần

Phát ra từ chốn nội tâm của thầy

Mọi người bèn đặt tên ngay

Là “sư sung sướng”! Đúng thay vô cùng!

Các sư khác thấy lạ lùng

Hỏi sư sao lại cứ luôn mỉm cười

Thời “sư sung sướng” trả lời:

“Dù tôi mà nói chẳng người nào tin

Lỡ ai lại nghĩ quàng xiên

Rằng tôi nói láo sẽ thêm muộn phiền

Thêm phần bất kính bề trên

Với sư phụ đã bao phen dạy mình!”

Một người hay rõ ngọn ngành

Chính là sư phụ tinh anh, hiểu người

Hiểu sao trò lại hay cười

Lại luôn lộ nét vui tươi ra ngoài

Nên ngôi thừa kế tương lai

Thời “sư sung sướng” được ngài chọn ngay

* Mùa mưa vừa dứt năm nay

Năm trăm đệ tử theo thầy về kinh

Theo sư phụ về thị thành

Nhà vua tiếp họ và dành đặc ân

Mời đoàn suốt cả mùa xuân

Vào vườn thượng uyển tĩnh tâm tu hành.

Nhà vua rất mực hiền lành

Trị vì vương quốc anh minh, vững bền

Lo kinh tế, lo bạc tiền

Lo cho vương quốc ngày thêm phú cường;

Bề ngoài chống chọi đối phương

Giúp cho đất nước xa đường hiểm nguy

Trông chừng nước láng giềng kia

Thường hay kiếm chuyện, đôi khi gây thù;

Bề trong hòa giải tranh đua

Giữa quan thuộc cấp tính ưa bất đồng;

Ở ngay nội bộ hoàng cung

Các bà hoàng hậu cũng thường đua tranh

Muốn vua để mắt đến mình

Và con trai được vua dành đặc ân;

Ngoài ra còn lắm thần dân

Đôi khi bất mãn gây mầm loạn ly

Khiến vua có thể lâm nguy

Âm mưu phản loạn dễ chi coi thường.

Nói chung bao chuyện nhiễu nhương

Nhà vua lo nghĩ chán chường ngày đêm

Trong tâm náo động triền miên

Xa niềm hạnh phúc, kề bên muộn sầu.

* Xuân qua nhanh, hè tới mau

Các sư sắp sửa cùng nhau đi rồi

Quay về rừng thẳm xa vời

Nhà vua lo lắng cho người già nua

Ghé thăm sư phụ và thưa:

“Giờ đây thầy đã quá ư già rồi

Trở vào rừng thẳm núi đồi

Hại cho sức khoẻ con người lắm thay

Mời thầy ở lại nơi đây

Chỉ riêng đệ tử thầy quay trở về!”

Ý hay! Sư phụ lắng nghe

Để rồi ưng thuậnthi hành liền

Trao “sư sung sướng” toàn quyền

Kế thừa lãnh đạo anh em về rừng.

Năm trăm đệ tử lên đường

Trở về rừng núi, đạo vàng tu thân

“Sư sung sướng” lại chuyên tâm

Hành thiền trong chốn sơn lâm đêm ngày

Để rồi kết quả lành thay

Càng thêm thông thái, càng đầy an nhiên

Niềm sung sướng lại tăng thêm

Suối nguồn hạnh phúc êm đềm thăng hoa.

Nhớ nhung sư phụ ở xa

Một hôm sư muốn tìm ra thăm ngài

Để mong chia sẻ niềm vui

Nên “sư sung sướng” về nơi kinh thành

Thăm ngài cho thắm đạo tình

Hương thơm chánh pháp thấm nhanh đôi lòng.

Gặp ngài sư đảnh lễ xong

Sư ngồi dưới thảm ung dung mỉm cười

Cả hai chẳng nói nhiều lời

Riêng “sư sung sướng” sắc tươi tràn đầy

“Sung sướng thay! Hạnh phúc thay!”

Miệng thầy luôn nói, lời thầy chẳng ngưng.

Ghé thăm, vua bực vô cùng

Nghĩ mình bận chuyện hoàng cung tối ngày

Tuy nhiên vẫn tới chốn này

Mà ông sư nọ hôm nay coi thường

Chẳng hề biết đến quân vương

Thật là đặc biệt lạ lùng lắm thay,

Gặp sư phụ vua nói ngay:

“Sư kia có lẽ vừa đây ăn nhiều

Nên không sáng suốt bao nhiêu

Cứ nằm cười mãi ra điều sướng vui

Nhìn sư thật quả lạ đời

Cứ nằm một cách biếng lười mãi sao?”

Mỉm cười sư phụ lắc đầu

Nói rằng: “Chẳng phải vậy đâu thưa ngài

Tôi xin kể rõ đầu đuôi

Tại sao sư ấy lại cười mãi thôi.

Sư này từng có một thời

Làm vua, giàu có ít người sánh ngang

Lại thêm quyền thế vẻ vang

Để rồi chợt bỏ ngai vàng đi tu

Quyết tâm thọ giới làm sư

Niềm vui vương giả coi như bọt bèo

Giờ đây hạnh phúc hơn nhiều.

Thời xưa sư có bao nhiêu quân hầu

Tay cầm vũ khí đứng chầu

Vây quanh bảo vệ dám đâu lơ là,

Thời nay giữa chốn rừng già

Sư ngồi đơn độc vậy mà bình yên

Không nguy hiểm, chẳng não phiền

Bình yên tột bực, an nhiên vô cùng

Bao quyền hành chốn hoàng cung

Và bao sản nghiệp cũng không sá gì

Chẳng cần lo sợ làm chi

Chẳng cần tiếc nuối nghĩ suy nhọc nhằn

Sự bừng ngộ của chân tâm

Sẽ là vũ khí vô ngần ích thay

Để mà bảo vệ cho thầy

Và bao kẻ khác thoát ngay não phiền

Sư lo thiền định triền miên

Thảnh thơi thân xác, lắng yên cõi lòng.

Nên sư hoan hỉ vô cùng

Thấy mình sung sướng, không ngưng thốt lời!”

* Nhà vua nghe hiểu chuyện rồi

Trong tâm cảm thấy tức thời bình an

Hoa lòng nở đẹp vô vàn

Cùng ngồi đàm đạo, nhẹ lan hương thiền

Hai thầy tu góp lời hiền

Rạng soi đạo lý, khơi thêm trí người

Nhà vua đảnh lễ cáo lui

Mây lành đưa lối về nơi lâu đài.

Một thời gian lặng lẽ trôi

Ông “sư sung sướng” có thời làm vua

Lên đường trở lại chốn xưa

Sau khi từ tạ vị sư phụ già.

Thêm vài năm nữa trôi qua

Thế là sư phụ cũng ra đi rồi

Sinh, già, bệnh, tử dòng đời

Ngài đầy ơn phước, cõi trời tái sinh.

 

10) Ông Sư Sung Sướng:

Sư phụ có 500 đệ tửtiền thân Đức Phật.

(10) The Happy Monk [Joys of the Spiritual Life] 

 

Once upon a time, there was a high class rich man. As he became older, he realized that the suffering of old age was about the same for rich and poor alike. So he gave up his wealth and class position, and went into the forest to live as a poor monk. He practiced meditation, and developed his mind. He freed himself from unwholesome thoughts, and became contented and happy. His peacefulness and friendliness gradually drew 500 followers to his side.

 

At that time, long ago, most monks usually looked pretty serious. But there was one monk who, even though he was quite dignified, always wore at least a little smile. No matter what happened, he never lost this glimmer of inner happiness. And on happy occasions, he had the broadest smile, and the warmest laughter of all.

 

Sometimes monks, as well as others, would ask him why he was so happy that he always wore a smile. He chuckled and said, “If I told you, you wouldn’t believe me! And if you thought I spoke a lie, it would be a dishonor to my master.” The wise old master knew the source of the happiness that could not be wiped from his face. He made this happiest monk his number one assistant.

 

One year, after the rainy season, the old monk and his 500 followers went to the city. The king permitted them to live in his pleasure garden for the springtime.

 

This king was a good man, who took his responsibilities as ruler seriously. He tried to protect the people from danger, and to increase their prosperity and welfare. He always had to worry about neighbouring kings, some of whom were unfriendly and threatening. He often had to make peace between his own rival ministers of state.

 

Sometimes his wives fought for his attention, and for the advancement of their sons. Occasionally, a dissatisfied subject even threatened the life of the king himself! And, of course, he had to worry constantly about the finances of the kingdom. In fact, he had so much to worry about, that he never had time to be happy!

 

As summer approached, he learned that the monks were preparing to return to the forest. Considering the health and welfare of the old leader, the king went to him and said, “Your reverence, you are now very old and weak. What good does it do to go back to the forest? You can send your followers back, while you remain here.”

 

The chief monk then called his number one assistant to him and said, “You are now to be the leader of the other monks, while you all live in the forest. As I am too old and weak. I will remain here as offered by the king.” So the 500 returned to the forest and the old one remained.

 

The number one assistant continued practicing meditation in the forest. He gained so much wisdom and peace that he became even happier than before. He missed the master, and wanted to share his happiness with him. So he returned to the city for a visit.

 

When he arrived, he sat on a rug at the feet of the old monk. They didn’t speak very much, but every so often the number one assistant would say, “What happiness! Oh what happiness!”

 

Then the king came to visit. He paid his respects to the chief monk. However, the one from the forest just kept saying, “What happiness! Oh what happiness!” He did not even stop to greet the king and show proper respect. This disturbed him, and he thought, “With all my worries, as busy as I am looking after the kingdom, I take time out for a visit and this monk does not respect me enough to even recognize me. “How insulting!” He said to the senior of the two monks, “Venerable sir, this monk must be stupid from overeating. That must be why he is so full of happiness. Does he lie around here so lazy all the time?”

 

The head monk replied, “Oh king, have patience and I will tell you the source of his happiness. Not many know it. He was once a king, just as rich and mighty as you! Then he was ordained a monk and gave up his kingly life. Now he thinks his old happiness was nothing compared to his present joy!”

 

He used to be surrounded by armed men, who guarded and protected him. Now, sitting alone in the forest with nothing to fear, he has no need for armed guards. He has given up the burden of worrying about wealth that has to be protected. Instead, free of the worry of wealth and the fear of power, his wisdom protects himself and others. He advances in meditation to such inner peace, that he cannot keep from saying, “What happiness! Oh what happiness!”

 

The king understood at once. Hearing the story of the happy monk made him feel at peace. He stayed for a while and received advice from both of them. Then he honoured them, and returned to the palace.

 

Later the happy monk, who once had been a king, paid his respects to his master and returned to the lovely forest. The old chief monk lived out the remainder of his life, died, and was reborn in a high heaven world.

 

The moral is: Unattached to wealth and power, happiness increases.

 

 


011_A11

(11) Nai Đẹp Và Nai Xám 

 

Ngày xưa có một bầy nai

Nai đầu đàn quả là tài giỏi thay

Một ngàn nai họp thành bầy

Nhởn nhơ chung sống, vui vầy, rong chơi,

Nai đầu đàn có hai trai

Nai anh mảnh khảnh, thân người lại cao

Mắt tinh anh sáng như sao

Bộ lông óng mượt phô màu đỏ hung

Trông nai đẹp đẽ vô cùng

Có tên Nai Đẹp khắp vùng quanh đây.

Nai em lông xám phủ đầy

Cũng cao và lại cũng gầy như anh

Nhưng kém cỏi, chẳng khôn lanh

Có tên Nai Xám quả tình đúng thay.

Tháng năm lần lượt vần xoay

Hai nai thoắt đã tới ngày lớn khôn.

Nai đầu đàn tới một hôm

Gọi hai con tới ôn tồn nhắn nhe:

“Cha bây giờ đã già đi

Thiếu phần khoẻ mạnh, kém bề tinh anh

Việc công chẳng dễ hoàn thành

Đứng ra lãnh đạo quả tình khó sao

Bầy nai đông đúc lớn lao

Hai con sửa soạn thế vào chỗ cha

Để ta an hưởng tuổi già

Thay cha lãnh đạo liệu mà lo toan,

Mỗi con chăm sóc một đoàn

Bầy nai giờ đã sẵn sàng chia hai

Mỗi bầy là năm trăm nai

Hai con khôn lớn đủ tài thay ta!”

Thế rồi mọi việc diễn ra

Đúng theo ý muốn nai cha dự trù.

* Ở bên Ấn Độ thời xưa

Nai thường gặp nạn khi mùa gặt sang

Lúa vươn cao, óng ánh vàng

Muôn phần khêu gợi họ hàng nhà nai

Nai vào ruộng lúa khắp nơi

Tranh nhau ăn lúa của người nông dân

Nhà nông bực bội vô ngần

Bàn nhau đào hố, đào hầm, đặt chông

Đặt thêm bẫy đá khắp đồng

Quyết tâm bắt giết nai cùng thú hoang

Tìm phương bảo vệ mùa màng

Khỏi cơn tàn phá phũ phàng nơi nơi.

Năm nay mùa gặt tới rồi

Nai cha kinh nghiệm cho mời hai con

Tới bên căn dặn ôn tồn:

“Nên đưa nai lánh lên luôn khu rừng

Trên cao đồi núi chập chùng

Xa nơi trồng trọt ruộng đồng nguy nan

Đây là cách cha thường làm

Cứu bầy nai khỏi muôn vàn tai ương

Không còn bị giết, bị thương

Vì ham lúa tại ruộng nương của người,

Sau khi mùa gặt qua rồi

Mới đưa nai trở xuống nơi đồng bằng,

Đóng vai lãnh đạo giỏi giang

Phải cần tiên đoán mọi đường nghe con

Hãy đi! Chuẩn bị tinh khôn!

Phần cha già yếu chẳng còn sức đâu

Khó mà di chuyển được mau

Nên cha ở lại trốn sau bụi bờ!”

Nghe xong lời của cha già

Hai nai thủ lãnh tránh xa ruộng đồng

Đưa bầy lên núi, lên rừng

Mỗi nai quyết định theo từng cách riêng.

* Dân làng ở khắp trong miền

Từ lâu kinh nghiệm cho nên biết rằng

Lúc này nai rời đồng bằng

Kéo nhau lên núi tìm đường ẩn thân

Nên người làng và nông dân

Cùng nhau tính toán vô ngần tinh khôn

Núp rình suốt dọc lối mòn

Giết nai qua lại chẳng còn khó chi.

Chàng Nai Xám thủ lãnh kia

Lơ là chẳng nhớ lời gì cha khuyên

Thay vì tính kế bình yên

Thời chàng di chuyển liên miên không ngừng

Đưa bầy vội vã lên rừng

Khi mặt trời lặn, khi vừng đông lên

Này trưa, này sáng, này đêm

Rộn ràng in dấu khắp trên đường làng

Nông dân do đó dễ dàng

Rình quanh nấp bắn vào đoàn nai kia

Cung tên vun vút phóng đi

Nai phần thì chết, phần thì bị thương

Khi leo lên được tới rừng

Số nai sống sót còn chừng ít con.

* Chàng Nai Đẹp đủ tinh khôn

Để mà nhận biết cội nguồn hiểm nguy

Nên khi chàng dắt đoàn đi

Thời chàng thận trọng nghĩ suy kỹ càng:

“Muốn di chuyển được an toàn

Tránh xa người với xóm làng quanh đây

Không đi vào lúc ban ngày

Không đi vào sáng sớm hay tối trời

Chỉ đi lúc nửa đêm thôi

Vòng quanh đường tắt tới nơi khu rừng

Ẩn thân đồi núi chập chùng

Bình yên vô sự trên vùng non cao

Chẳng hề mất một mạng nào

Hoặc là thương tích tổn hao thân mình!”

Gặp nhau trên chốn an bình

Hai đoàn lưu lại loanh quanh đợi chờ

Tới khi thuận tiện thời cơ

Là khi mùa gặt hái vừa xong xuôi

Hai đoàn sửa soạn trở lui

Quay về chốn cũ dưới nơi ruộng đồng.

* Chàng Nai Xám thật uổng công

Nào đâu học hỏi gì trong chuyến đầu

Nhớ chi kinh nghiệm thương đau

Nên khi khí lạnh giăng mau núi rừng

Là chàng hấp tấp lên đường

Xuống vùng ấm áp ruộng đồng trước kia

Dắt đàn nai vội ra đi

Hoàn toàn bất cẩn giống y lần đầu

Để rồi lại gánh thảm sầu

Bị người nấp giết trước sau cả đoàn

Người ta xẻ thịt nai ăn

Một phần đem bán cho dân trong làng

Riêng chàng Nai Xám trưởng đoàn

Lết về sống sót bình an một mình.

Chàng Nai Đẹp vẫn thông minh

Chàng đưa bầy thú của mình về xuôi

Bình an như trước đây thôi

Năm trăm nai xuống tới nơi trọn bầy.

Hai đoàn nai đã về đây

Một thời chết thảm hết ngay cả đoàn

Riêng nai thủ lãnh bình an.

Một thời đầy đủ vẻ vang trở về

Không hề thiệt hại chút chi

Tài người lèo lái muôn bề giỏi giang.

“Ai theo lãnh đạo tầm thường

Tài thô, trí thiển sẽ vương lụy phiền

Sẽ lâm khổ nạn triền miên

Bước đường tiêu diệt tới liền ngay thôi!

Ai theo lãnh đạo hơn người

Tài cao, trí lớn một đời an vui!”

Nai cha nhận xét ngậm ngùi

Khi hai con xuất hiện nơi mé đồng.

* Thời gian trôi, tuổi chất chồng

Nai cha già yếu rồi không sống còn

Quyền hành trao lại cho con

Anh chàng Nai Đẹp tinh khôn kế thừa

Cả đoàn nai đều mến ưa

Chàng vừa uy tín lại vừa tài năng.

 

11) Nai Đẹp Và Nai Xám:

Nai cha đầu đàn là tiền thân Đức Phật. Nai Đẹp là Xá Lợi Phất. Nai Xám là Đề Bà Đạt Đa.

(11) Beauty and Grey [A Wise Leader] 

 

Once upon a time, there was a deer who was the leader of a herd of a thousand. He had two sons. One was very slim and tall, with bright alert eyes, and smooth reddish fur. He was called Beauty. The other was Grey in color, also slim and tall, and was called Grey.

 

One day, after they were fully grown, their father called Beauty and Grey to him. He said, “I am now very old, so I cannot do all that is necessary to look after this big herd of deer. I want you, my two grown-up children, to be the leaders, while I retire from looking after them all the time. We will divide the herd, and each of you will lead 500 deer.” So it was done.

 

In India, when the harvest time comes, the deer are always in danger. The rice is at its tallest, and the deer cannot help but go into the paddies and eat it. To avoid the destruction of their crops, the human beings dig pits, set sharp stakes in the ground, and build stone traps – all to capture and kill the deer.

 

Knowing this was the season, the wise old deer called the two new leaders to him. He advised them to take the herds up into the mountain forest, far from the dangerous farm lands. This was how he had always saved the deer from being wounded or killed. Then he would bring them back to the low lands after the harvest was over.

 

Since he was too old and weak for the trip, he would remain behind in hiding. He warned them to be careful and have a safe journey. Beauty set out with his herd for the mountain forest, and so did Grey with his.

 

The villagers all along the way knew that this was the time the deer moved from the low lying farm lands to the high countryside. So they hid along the way and killed the deer as they passed by.

 

Grey did not pay attention to his father’s wise advice. Instead of being careful and traveling safely, he was in a hurry to get to the lush mountain forest. So he moved his herd constantly, during the night, at dawn and dusk, and even in broad daylight. This made it easy for the people to shoot the deer in Grey’s herd with bows and arrows. Many were killed, and many were wounded, only to die in pain later on. Grey reached the forest with only a few deer remaining alive.

 

The tall sleek red-furred Beauty was wise enough to understand the danger to his moving herd. So he was very careful. He knew it was safer to stay away from the villages, and from all humans. He knew it was not safe in the daytime, or even at dawn or dusk. So he led his herd wide around the villages, and moved only in the middle of the night. Beauty’s herd arrived in the mountain forest safe and sound, with no one killed or injured.

 

The two herds found each other, and remained in the mountains until well after the harvest season was over. Then they began the return to the farmland country.

 

Grey had learned nothing from the first trip. As it was getting cold in the mountains, he was in a hurry to get to the warmer low lands. So he was just as careless as before. Again the people hid along the way and attacked and killed the deer. All Grey’s herd were killed, later to be eaten or sold by the villagers. Grey himself was the only one who survived the journey.

 

Beauty led his herd in the same careful way as before. He brought back all 500 deer, completely safe. While the deer were still in the distance, the old chief said to his doe, “Look at the deer coming back to us. Beauty has all his followers with him. Grey comes limping back alone, without his whole herd of 500. Those who follow a wise leader, with good qualities, will always be safe. Those who follow a foolish leader, who is careless and thinks only of himself, will fall into troubles and be destroyed.”

 

After some time, the old deer died and was reborn as he deserved. Beauty became chief of the herd and lived a long life, loved and admired by all.

 

The moral is: A wise leader puts the safety of his followers first.

 


012A_A012B_A12

(12) Nai Chúa Cây Đa 

 

Nơi miền bắc Ấn Độ xưa

Gần Ba La Nại có khu rừng già

Nai con vừa mới sinh ra

Dáng hình đẹp đẽ, thật là hiếm hoi

Dù nai to lớn thân người

Mẹ không trở ngại, sinh nai dễ dàng,

Mắt nai lấp lánh rỡ ràng

Tựa như châu báu muôn vàn sáng tươi

Miệng nai thắm đỏ tuyệt vời

Khác chi những trái dâu nơi mé rừng

Móng nai đen bóng vô cùng

Tựa như than quý. Còn sừng nhỏ xinh

Phô ra ánh bạc lung linh,

Thân nai vàng tựa bình minh rạng ngời

Giữa mùa hè đẹp bầu trời

Sắc vàng phô thắm muôn nơi huy hoàng.

Khi nai khôn lớn, họp đoàn

Bầy nai một đám năm trăm tụ về

Bầu nai thống lĩnh mọi bề

Uy quyền nai chúa trị vì vang xa

Nổi danh Nai Chúa Cây Đa

Từ tâm, tài giỏi thật là xứng ngôi.

Cạnh khu rừng đó cùng thời

Có nai khác cũng ra đời vẻ vang

Sắc thân cũng đẹp vô vàn

Đến khi khôn lớn họp đoàn bên nhau

Năm trăm nai họp trước sau

Bầu nai này đứng cầm đầu chỉ huy

Tôn xưng danh hiệu uy nghi

Nai Vương rừng thẳm quyền uy vô bờ.

* Vùng Ba Lại Nại thuở xưa

Quốc vương nổi tiếng rất ưa nai rừng

Ngài luôn săn bắn chẳng ngừng

Giết nai, ăn thịt vô cùng hăng say

Khi làng kia, lúc làng này,

Săn đâu thì cũng đọa đày người dân

Bắt dân phục dịch nhọc nhằn

Phải ngưng công việc đang làm dở dang

Phải ngưng gặt hái mùa màng

Hoặc ngưng cày cấy, sẵn sàng tiếp tay

Giúp ngài săn bắn tại đây

Dân làng vì thế lâu nay muộn phiền

Họ bèn họp, quyết định liền

Lập ra một cái công viên trong vùng

Thật to lớn tựa khu rừng

Nhốt nai vào để quốc vương săn dần

Chẳng cần phiền đến người dân

Quốc vương có thể đi săn một mình.

Vườn nai lập tức hình thành

Ao trong, suối mát, cỏ xanh, trái vàng

Để nai ăn uống dễ dàng

Bốn bề vây kín, một đường vào thôi

Xong rồi tất cả mọi người

Cùng vào rừng rậm lùa nai ra liền

Dùng gậy gộc, dùng cung tên

Cùng bao chuông trống vang rền khua lên

Hai bầy nai sợ cuồng điên

Đua nhau chạy trốn vào liền vườn nai

Vườn yên lặng chẳng có ai

Thế là mắc bẫy. Dân cài cửa ngay

Hai bầy nai bị nhốt đây

Quẩn quanh sống ở trong này mà thôi.

Sau khi nai định cư rồi

Dân làng bèn đến tận nơi thưa trình

Thưa quốc vương mọi sự tình

Bao điều thiệt hại cho mình lâu nay

Vì ngài săn bắn vùng này

Để rồi thỉnh nguyện: “Từ đây xin ngài

Chỉ vào săn trong vườn nai

Là nơi thú vị, thảnh thơi, an toàn

Tự mình săn, tiện vô vàn

Chẳng cần phiền đến dân làng làm chi

Tự mình hưởng thú săn kia

Hạ nai, làm thịt, còn gì thú hơn!”

Quốc vương bèn tới thăm vườn

Nhìn nai chạy nhảy hai đoàn thật đông

Thời ngài cảm thấy hài lòng,

Chợt đâu lại thấy lẫn trong bìa rừng

Hai nai vàng đẹp vô cùng

Sừng vươn cao vút, sắc lông óng vàng

Thật kỳ lạ! Thật bất thường!

Cho nên có lệnh quốc vương giao truyền:

“Hai nai vàng được bình yên

Cấm không ai được lạm quyền giết nai!”

Thế rồi ngày rộng tháng dài

Mỗi ngày ngài tới săn nơi vườn này

Một mình săn bắn dễ thay

Giết nai, làm thịt, mỗi ngày một con

Đôi khi công việc dập dồn

Ngài sai hầu cận săn luôn thay mình

Săn nai, mang xác về dinh

Vào lò xẻ thịt nấu thành món ăn.

Mỗi khi người tới để săn

Bầy nai náo động kinh hoàng trốn mau

Húc vào nhau, đạp lên nhau

Rồi mang thương tích đớn đau vô vàn.

* Một ngày Nai Chúa vội vàng

Mời Nai Vương tới họp bàn cùng nhau

Lo âu Nai Chúa mở đầu:

“Chúng ta bị giết trước sau thoát nào

Vậy thời phải tính làm sao

Đừng thêm thương tích, đớn đau, đọa đày

Quốc vương chỉ muốn vườn này

Một nai làm thịt mỗi ngày mà thôi

Mình nên tự nguyện cho rồi

Mỗi ngày chọn một nai mời ngài sơi,

Hôm nay chọn ở bầy tôi

Ngày mai bầy bạn ta thời luân phiên

Vận xui chỉ tới một bên

Chớ thêm khổ não muộn phiền ích đâu!”

Đôi bên đồng ý biết bao

Kể từ khi đó nai nào tới phiên

Tự mình đến nạp mạng liền

Kê đầu lên thớt lặng yên đợi chờ.

Mỗi ngày đầu bếp ghé qua

Giết nai, nấu nướng thật là tiện tay.

Hai bầy lần lượt vần xoay

Một ngày tới lượt trong bầy Nai Vương

Buồn thay nai lại có mang

Cho nên nai mẹ đau thương vô cùng

Lo thân mình bị mạng vong

Lo thêm con nhỏ chờ mong chào đời,

Sợ con bị hại lây thôi

Cho nên nai mẹ ngỏ lời kêu than

Xin Nai Vương ban đặc ân

Để mình sống sót qua lần này thôi

Đến khi sinh nở xong rồi

Sẽ xin nạp mạng tức thời quản chi

Thế là cứu được thai nhi

Hy sinh một mạng thay vì cả hai.

Nai Vương nghe chẳng thuận lời:

“Tiếc thay luật lệ ta thời phải theo

Hãy tuân hành, chớ nói nhiều

Có thai, sinh đẻ là điều riêng tư

Để ta yên lặng từ giờ

Tới phiên, nạp mạng đừng chờ đợi chi!”

Nghe xong nai mẹ tái tê

Thương đau lệ ứa bờ mi nhạt nhòa

Qua tìm Nai Chúa Cây Đa

Trình bày hoàn cảnh xót xa muộn phiền

Cảm thương Nai Chúa nói liền:

“An tâm! Ta sẽ đổi phiên chuyến này

Tạm thời luật lệ đổi thay

Hoãn phiên bạn lại sau ngày sinh con!”

Sau khi Nai Chúa nói xong

Nhắm nơi lò thịt ung dung tới liền

Kê đầu lên thớt lặng yên

Chờ người đầu bếp tới bên giết mình.

Một bầu trầm lặng phủ quanh

Vườn nai lắng đọng bao tình thân thương.

* Khi người đầu bếp tới vườn

Thấy trên thớt thịt nai đương nằm chờ

Dáng Nai Chúa đẹp vô bờ

Lệnh vua cấm giết nai từ lâu nay

Người đầu bếp ngại ngần thay

Nào đâu dám giết nên quay trở về

Trình cho vua rõ mọi bề

Ngạc nhiên vua vội vã đi tới vườn

Nhìn Nai Chúa nói thân thương:

“Ta từng ra lệnh mở đường tha mi

Chẳng hề bị giết hại chi

Sao mi lại đến làm gì chốn đây?”

Nghiêm trang Nai Chúa thưa ngay:

“Nai kia tới lượt hôm nay nạp mình

Nhưng nai lại sắp sửa sinh

Nghe nai cầu cứu, thương tình mẹ con

Lòng tôi cảm thấy héo hon

Nên tôi nhận giúp cho tròn đạo tâm,

Thật là thương cảm vô ngần

Khi tôi nghĩ đến số phần nai con

Chưa sinh ra đã chết luôn

Nào đâu có dịp ngắm vừng thái dương

Nào đâu được nếm giọt sương

Vương trên đầu cỏ dư hương ngọt ngào

Tôi không thể bắt nai nào

Thay phiên nai mẹ chết vào hôm nay

Thưa ngài vì lý do này

Nên tôi tình nguyện tới đây nạp mình

Cứu nai mẹ thoát điêu linh

Cứu nai con sắp được sinh ra đời!”

Khi Nai Chúa vừa dứt lời

Vua Ba La Nại lệ rơi hai hàng

dũng mãnh, dù hiên ngang

Đại vương cảm động dịu dàng ngợi khen:

“Ôi Nai Chúa! đẹp vô biên!

Loài người dù khắp nơi trên cõi trần

Dễ gì theo được một phần

Như là bạn tỏ lòng nhân hôm này

Nhân từ thay! Đại lượng thay!

Vì tình đồng loại hiến ngay thân mình

Sẵn sàng mạng sống hy sinh

Thật là nhân hậu! Quả tình từ bi!

Hỡi Nai Chúa đứng lên đi

Từ nay bạn sẽ trọn bề an tâm

Chẳng ai hại đến tấm thân,

Mẹ con nai cũng hưởng phần bình an,

Ta ra lệnh khắp dân gian

Cấm không giết hại, phải tuân theo liền!”

Nhưng Nai Chúa vẫn nằm yên

Xót xa thành khẩn nói thêm đôi lời:

“Thế còn nai khác thưa ngài

Và bao nai sống ở ngoài vườn đây?”

Vua ban: “Kể cả nai này

Cấm ai sát hại từ ngày hôm nay!”

Chàng Nai Chúa nói: “Lành thay!

Thưa còn sinh vật quanh đây thế nào

Loài bốn chân khác thì sao?

Loài chim cất cánh bay cao trên trời?

Và loài cá nọ đang bơi

Tung tăng dưới nước sống đời tự do?

Các sinh vật đều âu lo

Bị người sát hại giết cho tàn đời!”

Vẫn nằm trên thớt chẳng rời

Mủi lòng Nai Chúa thốt lời thiết tha.

Tâm từ vua chợt thăng hoa

Vua bèn ban bố lệnh ra tức thời:

“Cấm săn bắn khắp nơi nơi

Cấm người giết hại muôn loài nói chung

Chim trời, cá nước, thú rừng

Tự do sinh sống khắp vùng thong dong!”

* Sau khi tranh đấu thành công

Cho bao sinh vật sống trong đời này

Chàng Nai Chúa đứng dậy ngay

Hết lời ca tụng vua đây nhân từ.

Rồi Nai Chúa khuyến cáo vua

Giữ gìn năm giới từ xưa lưu truyền

Phát huy điều thiện thêm lên

Khơi nguồn hạnh phúc, tạo niềm hân hoan.

Bầy nai gồm cả hai đoàn

Theo chân Nai Chúa bình an vào rừng,

Muôn loài muông thú khắp vùng

Nhởn nhơ chung sống vui mừng hoan ca

Nhờ ơn Nai Chúa Cây Đa

Tâm từ toả ngát thật là chứa chan.

Bao kỳ hoa nở lại tàn

Vua Ba La Nại và chàng Chúa Nai

Yên bình sống đến cuối đời

Chết đi cùng tái sinh nơi cõi lành!

 

12) Nai Chúa Cây Đa:

Nai Chúa Cây Đatiền thân Đức Phật. Vua là Ananda. Nai Vương là Đề Bà Đạt Đa.

(12a) King Banyan Deer [Chapter 1. Compassion] 

 

Once upon a time, an unusual and beautiful deer was born in the forests near Benares, in northern India. Although he was as big as a young colt, it was easy for his mother to give birth to him. When he opened his eyes, they were as bright as sparkling jewels. His mouth was as red as the reddest forest berries. His hoofs were as black as polished coal. His little horns glistened like silver. And his color was golden, like a perfect summer’s dawn. As he grew up, a herd of 500 deer gathered around him, and he became known as King Banyan Deer.

 

Meanwhile, not far away, another beautiful buck deer was born, just as splendidly golden in color. In time, a separate herd of 500 deer came to follow him, and he was known as Branch Deer.

 

The King of Benares, at that time, was very fond of eating venison. So he regularly hunted and killed deer. Each time he hunted, he went to a different village and ordered the people to serve him. They had to stop what they were doing, whether plowing or harvesting or whatever, and work in the king’s hunting party.

 

The people’s lives were upset by these interruptions. They grew less crops, and other businesses also had less income. So they came together and decided to build a large deer park for the king, at Benares. There he could hunt by himself, with no need to command the services of the villagers.

 

So the people built a deer park. They made ponds where the deer could drink, and added trees and grasses for them to eat from. When it was ready, they opened the gate and went out into the nearby forests. They surrounded the entire herds of Banyan and Branch deer. Then, with sticks and weapons and noise makers, they drove them all into the deer park trap, and locked the gate behind them.

 

After the deer had settled down, the people went to the king and said, “Our crops and income have suffered because of your hunting requirements. Now we have made you a pleasant safe deer park, where you can hunt by yourself as you like. With no need of our aid, you can enjoy both the hunting and the eating of deer.”

 

The king went to the new deer park. There he was pleased to see the vast herds. While watching them, his eye was caught by the two magnificent golden deer, with large fully grown antlers. Because he admired their unusual beauty, the king granted immunity to these two alone. He ordered that they should be completely safe. No one could harm or kill them.

 

Once a day the king would come and kill a deer for his dinner table. Sometimes, when he was too busy, the royal cook would do this. The body would then be brought to the chopping block to be butchered for the oven.

 

Whenever the deer saw the bow and arrows, they went into a panic, trembling for their lives. They ran around wildly, some being injured and some wounded, many suffering great pain.

 

One day, King Banyan Deer’s herd gathered around him. He called Branch Deer, and the two herds joined for a meeting. King Banyan Deer addressed them. “Although in the end, there is no escape from death, this needless suffering due to injuries and wounds can be prevented. Since the king only wishes the meat of one deer per day, let one be chosen by us each day to submit himself to the chopping block. One day from my herd, and the next day from Branch Deer’s herd, the victim’s lot will fall to one deer at a time.”

 

Branch Deer agreed. From then on, the one whose turn it was, meekly surrendered himself and laid his neck on the block. The cook came each day, simply killed the waiting victim, and prepared the king’s venison.

 

One day, the turn fell by chance to a pregnant doe in Branch Deer’s herd. Caring for the others as well as herself and the unborn one, she went to Branch Deer and said, “My lord, I am pregnant. Grant that I may live until I have delivered my fawn. Then we will fill two turns rather than just one. This will save a turn, and thereby a single life for one long day.”

 

Branch Deer replied, “No, no, I cannot change the rules in midstream and put your turn upon another. The pregnancy is yours, the babe is your responsibility. Now leave me.”

 

Having failed with Branch Deer, the poor mother doe went to King Banyan Deer and explained her plight. He replied gently, “Go in peace. I will change the rules in midstream and put your turn upon another.”

 

And the deer king went to the executioner’s block, and laid down his own golden neck upon it.

 

A silence fell in the deer park. And some who tell this story even say that silence also fell in other worlds not seen from here.

 

Soon the royal cook came to kill the willing victim on the block. But when he saw it was one of the two golden deer the king had ordered spared, he was afraid to kill him. So he went and told the King of Benares.

 

The king was surprised, so he went to the park. He said to the golden deer, still lying on the block, “Oh king of deer, did I not promise to spare your life? What is the reason you come here like the others?”

 

King Banyan Deer replied, “Oh king of men, this time a pregnant doe was unlucky enough to be the one to die. She pleaded for me to spare her, for the sake of others as well as her unborn baby and herself. I could not help but feel myself in her place, and feel her suffering. I could not help but weep, to think the little one would never see the dawn, would never taste the dew. And yet, I could not force the pain of death on another, relieved to think it was not his turn today. So, mighty king, I offer my life for the sake of the doe and her unborn fawn. Be assured there is no other reason.”

 

The King of Benares was overwhelmed. Powerful as he was, a tear rolled down his cheek. Then he said, “Oh great lord, the golden king of deer, even among human beings, I have not seen any such as you! Such great compassion, to share in the suffering of others! Such great generosity, to give your life for others! Such great kindness and tender love for all your fellow deer! Arise.”

 

“I decree that you will never be killed by me or anyone else in my kingdom. And, so too, the doe and her babe.”

 

Without yet raising his head, the golden one said, “Are only we to be saved? What of the other deer in the park, our friends and kin?” The king said, “My lord, I cannot refuse you, I grant safety and freedom to all the deer in the park.” “And what of the deer outside the park, will they be killed?” asked Banyan. “No my lord, I spare all the deer in my whole kingdom.”

 

Still the golden deer did not raise up his head. He pleaded, “So the deer will be safe, but what will the other four-footed animals do?” “My lord, from now on they too are safe in my land.” “And what of the birds? They too want to live.” “Yes, my lord, the birds too will be safe from death at the hands of men.” “And what of the fish, who live in the water?” “Even the fish will be free to live, my lord.” So saying, the King of Benares granted immunity from hunting and killing to all the animals in his land.

 

Having pleaded for the lives of all creatures, the Great Being arose.

 

(12b) King Banyan Deer [Chapter 2. Teaching] 

 

Out of compassion and gratitude, King Banyan Deer the Enlightenment Being, taught the King of Benares. He advised him to climb the five steps of training, in order to purify his mind. He described them by saying, “It will benefit you, if you give up the five unwholesome actions. These are:

 

destroying life, for this is not compassion;

taking what is not given, for this is not generosity;

doing wrong in sexual ways, for this is not loving-kindness;

speaking falsely, for this is not Truth;

losing your mind from alcohol, for this leads to falling down the first four steps.”

He further advised him to do wholesome actions, that would bring happiness in this life and beyond. Then King Banyan Deer, and both herds, returned to the forest.

 

In the fullness of time, the pregnant doe, who had stayed with Banyan’s herd, gave birth to a fawn. He was as beautiful as a lotus blossom given as an offering to the gods.

 

When the fawn had grown into a young buck deer, he began playing with Branch Deer’s herd. Seeing this, his mother said to him, “Better to die after a short life with the great compassionate one, than to live a long life with an ordinary one.” Afterwards, her son lived happily in the herd of King Banyan Deer.

 

The only ones left unhappy were the farmers and villagers of the kingdom. For, given total immunity by the king, the deer began to fearlessly eat the people’s crops. They even grazed in the vegetable gardens inside the villages and the city of Benares itself!

 

So the people complained to the king, and asked permission to kill at least some of the deer as a warning. But the king said, “I myself promised complete immunity to King Banyan Deer. I would give up the kingship before I would break my word to him. No one may harm a deer!”

 

When King Banyan Deer heard of this, he said to all the deer, “You should not eat the crops that belong to others.” And he sent a message to the people. Instead of making fences, he asked them to tie up bunches of leaves as boundaries around their fields. This began the Indian custom of marking fields with tied up leaves, which have protected them from deer to this very day.

 

Both King Banyan Deer and the King of Benares lived out their lives in peace, died, and were reborn as they deserved.

 

The moral is: Wherever it is found, compassion is a sign of greatness.

 


013_A13

(13) Nai Núi Và Nai Làng 

 

Nơi miền bắc Ấn Độ xưa

Có bầy nai sống bốn mùa bình yên

Nai sinh ra rồi lớn lên

Ngay khu rừng ở cạnh bên xóm làng

Nên nai thông thạo vô vàn

Biết điều nguy hiểm hiện đang đón chờ

Khi nai tới cạnh ruộng bờ

Nhất là vào lúc ngày mùa, lúa cao

Lúa vươn lên mọc ngang đầu

Nông dân giăng bẫy biết bao hiểm nghèo

Ngu ngơ nai bị giết nhiều

Sa chân, lâm nạn đủ điều tang thương.

Vào mùa gặt hái thông thường

Nai làng kinh nghiệm tìm đường an thân

Suốt ngày ẩn chốn sơn lâm

Đêm về mới dám xuống gần làng thôn

Xuống khi tắt bóng hoàng hôn

Bóng đêm dày đặc nhẹ buông khắp trời.

Có nàng nai đẹp dáng người

Cũng thường xuống núi rong chơi kiếm mồi

Nàng Nai Làng trắng phía đuôi

Tấm thân mềm mại, lông thời như tơ

Nâu nâu, hung đỏ mộng mơ

Mắt to trong sáng tựa như sao trời.

* Ở trên ngọn núi cao vời

Sống trong rừng rậm xa nơi xóm làng

Có bầy nai núi lang thang

Trong bầy có một anh chàng trẻ trung

Nhân mùa gặt hái tưng bừng

Chàng Nai Núi lạc xuống vùng cư dân

Xa bầy, bỡ ngỡ vô ngần

Chợt Nai Làng đẹp bất thần hiện ra

Người trẻ trung, sắc mặn mà

Chàng vừa trông thấy hồn đà mê say

Thế là chàng đã yêu ngay

Dù chưa biết rõ cô này là bao

Tưởng chừng yêu tự thuở nào

Tình yêu chất ngất trăng sao mơ màng,

Chàng luôn theo ngắm cô nàng

Dù cô chẳng biết có chàng ở quanh.

Một vài ngày thoáng trôi nhanh

Chàng nai quyết định tự mình làm quen

Lìa rừng ra đứng một bên

Nơi nàng gặm cỏ ngay trên cánh đồng

Chàng nhìn đắm đuối vô cùng

Rồi lên tiếng nói du dương tuyệt vời:

“Nàng tiên nữ của tôi ơi!

Dễ thương như ánh sao trời long lanh

Như trăng rằm sáng đêm thanh

Tình ta sâu đậm xin dành nàng thôi…”

Ngay khi chưa nói dứt lời

Chàng nai vấp ngã ngay nơi vũng lầy

Chân chàng bị vướng rễ cây

Bùn dơ văng khắp lên đầy mặt nai.

Nàng vui nghe nịnh êm tai

Nhìn chàng bùn lấm, hình hài ngô nghê

Nghĩ thầm: “Nai núi ngốc ghê!”

Mỉm cười, trong dạ đã chê anh chàng.

Chàng Nai Núi đâu hay rằng

Trên cây một nhóm thần đang nhìn chàng

Các thần cây chốn rừng hoang

Thấy chàng nghếch mắt ngắm nàng say sưa

Khiến cho vấp ngã bùn dơ

Họ đều cười phá ra từ trên cao

Họ kêu lên: “Dại khờ sao

Quả tình ngớ ngẩn ai nào sánh ngang!”

Riêng một thần lại nghiêm trang

Không cười, chỉ nói: “E rằng rồi đây

Chàng nai trẻ dại khờ này

Lâm nguy sinh mạng, đọa đày xác thân!”.

Chàng nai bối rối một phần

Và rồi tiếp tục bước chân si tình

Theo nàng nai trẻ đẹp xinh

Lang thang như bóng với hình khắp nơi,

Chàng khen nàng chẳng tiếc lời

Rằng nàng nhan sắc tuyệt vời thanh cao

Rằng chàng mê mệt biết bao,

Tiếc thay nàng chẳng chút nào quan tâm.

* Ngày mùa rộn rã xa gần

Một đêm trời tối nông dân đợi chờ

Biết nai sẽ xuống ruộng bờ

Lần theo đường núi từ xưa quen rồi

Thợ săn đặt bẫy khắp nơi,

Kín sau bụi rậm một người nấp đây.

Nàng nai kinh nghiệm lâu nay

Nửa đêm xuống tới nơi này nhìn quanh

Láo liên cặp mắt tinh anh

Anh chàng Nai Núi theo nhanh sau nàng

Miệng ca tụng, mắt mơ màng

Nai Làng thấy vậy vội vàng ngừng chân

Khuyên rằng: “Này hỡi bạn thân

Anh đâu hay biết nông dân làng này

Họ đều nguy hiểm lắm thay

Anh không kinh nghiệm, nơi đây chẳng rành

Chỉ quen sống tận rừng xanh

Biết chi đường lối ở quanh trong vùng

Dù cho đêm tối mịt mùng

Vẫn gây chết chóc vô cùng thảm thương

Đừng theo tôi xuống ruộng nương

Anh nên ở lại trên đường rừng thôi

Còn trẻ trung, chẳng thạo đời

(Và nàng thầm nghĩ: ‘Lại hơi dại khờ!’)

Nhiều nguy hiểm dọc ruộng bờ

Ở nguyên trên đó. Đợi chờ. Yên thân!”

Lời nghe hợp lý vô ngần

Trên cây quanh đó các thần hoan nghênh

Nhưng chàng nai cứ lặng thinh

Nào đâu nghe được âm thanh các thần,

Dù nàng nai cảnh cáo chàng

Chàng không chú ý. Mơ màng đi theo

Tán rằng: “Nàng rất đáng yêu!

Mắt nai lóng lánh diễm kiều dưới trăng!”

Chàng đang mê mẩn vì nàng

Cho nên đầu óc tâm can rối bời,

Nàng khuyên: “Anh chẳng nghe lời

Thời nên yên lặng, im hơi, đừng ồn!”

Chàng bèn ngậm miệng lại luôn

Theo nàng bén gót, thả hồn lên mây.

* Lúc sau đi tới bụi cây

Thợ săn kia sẵn tại đây nấp rình

Thần cây trông thấy hoảng kinh

Cùng nhau lo sợ cho sinh mạng chàng

Họ bay lượn mà bàng hoàng

Cứu nguy không được, nói năng nghẹn lời.

Nai Làng đi trước đánh hơi

Sợ rằng ẩn núp có người trong đây

Bẫy giăng quả thật nguy thay

Mạng mình có thể chốn này lâm nguy

Nên nàng dừng lại chẳng đi

Nhường chàng đi trước, nàng thì theo sau

An toàn một khoảng cách nhau

Có chi nguy hiểm người đầu chịu thôi.

Thợ săn trông thấy nai rồi

Chàng nai đi trước dáng thời lơ ngơ

Ông ta lợi dụng thời cơ

Lấy cung tên bắn bất ngờ giết ngay,

Nàng nai phách lạc hồn bay

Đi sau thấy vậy vội quay đầu liền

Nhắm rừng nàng chạy cuồng điên

Ba chân bốn cẳng thoát miền hiểm nguy.

Thợ săn vội lượm mồi kia

Nhóm lên củi lửa, tức thì lột da

Thịt nai một ít cắt ra

Nướng lên ăn uống thật là no nê

Xác nai còn lại vác về

Vợ con được hưởng thoả thuê thịt này.

Trên cao các vị thần cây

Thấy chàng Nai Núi giờ đây chết rồi

Người thời thương tiếc ngậm ngùi

Người thời trách cứ nặng lời nàng nai

Gây ra chết chóc bi ai

Đẩy đưa đồng loại vào nơi tàn đời.

Thần cây chỉ có một người

Trước từng cảnh cáo thốt lời khuyên răn

Giờ đây lên tiếng than rằng:

“Say mê, bồng bột như chàng nai kia

Quả là khờ dại muôn bề

Để rồi mất mạng thảm thê tức thời!

Ngẫm ra dục vọng ở đời

Vô vàn giả tạo con người nào hay

Niềm vui dù đạt được ngay

Hay đâu vui đó đong đầy hư không

Rồi tàn lụi, rồi suy vong

Đớn đau, khổ cực, khốn cùng, bi ai!”

 

13) Nai Núi Và Nai Làng:

Vị thần thuyết pháptiền thân Đức Phật.

(13) Mountain Buck and Village Doe [Infatuation] 

 

Once upon a time, in northern India, there was a herd of village deer. They were used to being near villages; they were born there and grew up there. They knew they had to be very careful around people. This was especially true at harvest time, when the crops were tall, and the farmers trapped and killed any deer who came near.

 

At harvest time, the village deer stayed in the forest all day long. They only came near the village during the dark of the night. One of these was a beautiful young doe. She had soft reddish-brown fur, a fluffy white tail and big wide bright eyes.

 

During this particular season, there was a young mountain buck who had strayed into the same low forest. One day, he saw the beautiful young doe, and immediately became infatuated with her. He didn’t know anything about her. But he imagined himself to be deeply in love with her, just because of her reddish-brown fur and her fluffy white tail and her big wide bright eyes. He even dreamed about her, although she did not know he existed!

 

After a few days, the young mountain buck decided to introduce himself. As he was walking out into the clearing where she was grazing, he was entranced by her appearance and could not take his eyes off her. He began speaking: “Oh my sweet beauty, as lovely as the stars and as bright as the moon, I confess to you that I am deeply” – Just then the young buck’s hoof got caught in a root, he tripped and fell, and his face splashed in a mud puddle! The pretty village doe was flattered, so she smiled. But inside, she thought this mountain buck was really rather silly!

 

Meanwhile, unknown to the deer, there was a clan of tree fairies living in that part of the forest. They had been watching the mountain buck, while he secretly watched the village doe. When he walked out into the clearing, began his speech, and fell in the mud puddle – the fairies laughed and laughed. “What fools these dumb animals are!” they cried. But one fairy did not laugh. He said,”I fear this is a warning of danger to this young fool!”

 

The young buck was a little embarrassed, but he did not see it as any kind of warning. From then on, he followed the doe wherever she went. He kept telling her how beautiful she was and how much he loved her. She didn’t pay much attention.

 

Then night came, and it was time for the doe to go down to the village. The people who lived along the way knew the deer passed by at night. So they set traps to catch them. That night a hunter waited, hiding behind a bush.

 

Carefully, the village doe set out. The mountain buck, who was still singing her praises, went right along with her. She stopped and said to him, “My dear buck, you are not experienced with being around villages. You don’t know how dangerous human beings are. The village, and the way to it, can bring death to a deer even at night. Since you are so young and inexperienced (and she thought to herself, ‘and foolish’), you should not come down to the village with me. You should remain in the safety of the forest.”

 

At this, the tree fairies applauded. But of course, the deer could not hear them.

 

The young buck paid no attention to the doe’s warning. He just said, “Your eyes look so lovely in the moonlight!” and kept walking with her. She said, “If you won’t listen to me, at least be quiet!” He was so infatuated with her, that he could not control his mind. But he did finally shut his mouth!

 

After a while, they approached the place where the hunter was hiding behind a bush. The fairies saw him, and became agitated and frightened for the deer’s safety. They flew nervously around the tree, branches, but they could only watch.

 

The doe could smell the hiding man. She was afraid of a trap. So, thinking to save her own life, she let the buck go first. She followed a little way behind.

 

When the hunter saw the unsuspecting mountain buck, he shot his arrow and killed him instantly. Seeing this, the terrified doe turned tail and ran back to the forest clearing as fast as she could.

 

The hunter claimed his kill. He started a fire, skinned the deer, cooked some of the venison and ate his fill. Then he threw the carcass over his shoulder and carried it back home to feed his family.

 

When the fairies saw what happened, some of them cried. As they watched the hunter cut up the once noble looking buck, some of them felt sick. Others blamed the careful doe for leading him to the slaughter.

 

But the wise fairy, who had given the first warning, said, “It was the excitement of infatuation that killed this foolish deer. Such blind desire brings false happiness at first, but ends in pain and suffering.”

 

The moral is: Infatuation leads to destruction.

 


014_A14

(14) Nai Gió Và Cỏ Mật 

 

Thành Ba La Nại thuở xưa

Có vườn ngự uyển của vua trong này

Ông làm vườn chăm chỉ thay

Hàng ngày chăm sóc luôn tay chẳng ngừng.

Cạnh bên là một khu rừng

Mỗi khi súc vật tìm đường qua đây

Vào vườn phá phách cỏ cây

Ông làm vườn báo vua hay biết liền

Thấy ông bực tức than phiền.

Nhà vua bèn phán: “Rừng bên thú nhiều

Thú qua phá chẳng bao nhiêu

Nếu là giống lạ hãy theo bắt về!”

Ông làm vườn một ngày kia

Thấy con nai giống lạ kỳ hiện ra

Cuối vườn ở tận phía xa

Thấy người thoáng hiện nai ta biến rồi

Chạy nhanh như gió ngoài trời

Gọi là “Nai Gió” ông thời đặt tên

Nai nhút nhát, nai lành hiền

Giống này rất quý, khắp miền hiếm thay.

Ông làm vườn báo vua ngay

Vua bèn hỏi: “Bắt nai này khó chăng?”

Ông làm vườn vội thưa rằng:

“Mật ong nếu có, dễ dàng bắt nai

Đưa nai vào tận lâu đài

Không gì trở ngại, xin ngài an tâm!”

Vua nghe ưng ý vô ngần

Vội vàng truyền lệnh cho quân triều đình

Mật ong đem đựng đầy bình

Đưa ông xử dụng, mặc tình thoả thuê.

* Chú Nai Gió rất say mê

Cỏ non, hoa quả xum xuê vườn này

Lân la nai đến ăn đây

Thấy người thấp thoáng hàng ngày mà thôi

Ông làm vườn tránh mặt rồi

Để nai quen chỗ, quen người, an tâm

Rồi ông lấy mật âm thầm

Trét lên trên cỏ chỗ gần nai ăn,

Hương thơm cỏ ngọt nhẹ lan

Mon men nai đến ăn càng thêm ưa

Càng thèm khát, càng say sưa

Quẩn quanh lảng vảng sớm trưa vườn này

Chỉ ham cỏ mật hương bay

Ngoài ra không thích đổi thay món gì.

Ông làm vườn chẳng vội chi

Lân la đến cạnh nai kia thêm gần.

Thoạt tiên nai bỏ chạy luôn

Nhưng rồi hết sợ thấy không hại gì

Từ thân thiện đến cận kề

Dù ông cầm cỏ nai thì vẫn ăn

Còn đâu trở ngại khó khăn

Lòng tin nai đã gia tăng nhiều rồi.

Ông làm vườn ngầm sai người

Dựng lên phên chắn dọc nơi con đường

Từ xa mãi phía cuối vườn

Dẫn vào đến tận trong sân lâu đài

Hai bên phên chắn kín rồi

Nai đâu còn thấy bóng người ở quanh!

Sau khi kế hoạch hoàn thành

Ông làm vườn vội đeo bình mật ong

Tay ôm bó cỏ thong dong

Dụ nai ăn cỏ theo ông dần dà

Tiến vào đường đã vẽ ra

Để rồi kết thúc thật là đẹp thay

Nai theo cỏ mật trên tay

Cuối cùng bị lọt vào ngay lâu đài,

Lính canh đóng cửa nhốt nai

Con mồi vào bẫy có tài nào ra.

Khi nai trông thấy người ta

Đột nhiên xuất hiện, thật là hoảng kinh

Quay đầu nai chạy loanh quanh

Mong tìm đường thoát ra nhanh chốn này.

* Nhà vua ghé tới nơi đây

Ngắm con Nai Gió loay hoay cuống cuồng

Vua bèn nói: “Thật lạ thường

Làm sao nai lại bị vương thảm sầu!

Thấy người ở tại chốn nào

Cả tuần nai chẳng dám bao giờ về

Còn nơi hiểm hóc gian nguy

Nai thường hoảng sợ, lánh đi cả đời,

Nhưng nhìn kìa! Nai khổ rồi!

Thú hoang nhút nhát quen nơi núi rừng

Bỗng thành nô lệ bi thương

Cho mùi vị ngọt thơm vương cỏ làn

Để rồi xa chốn non ngàn

Vào thành, nằm bẫy, điêu tàn xác thân!”

Vua kêu gọi: “Hỡi thần dân

Đạo sư cao cả bao lần nhắc ta

Đừng nên quyến luyến thiết tha

Đừng nên tham đắm! Cố mà buông nhanh!

Này hương vị, này sắc thanh

Đều như gió thoảng qua mành mà thôi!”

Với từ tâm, với tình người

Vua ra lệnh thả chú nai tức thì.

Kể từ ngày đó trở đi

Nai không lai vãng trở về vườn vua.

Tiếc chi mùi vị xa xưa

Hương thơm cỏ mật đã thừa đớn đau!

 

14) Nai Gió Và Cỏ Mật:

Vua thành Ba La Nạitiền thân Đức Phật.

(14) The Wind-deer and the Honey-grass [The Craving for Taste] 

 

Once upon a time, the King of Benares had a gardener who looked after his pleasure garden. Animals sometimes came into the garden from the nearby forest. The gardener complained about this to the king, who said, “If you see any strange animal, tell me at once.”

 

One day, he saw a strange kind of deer at the far end of the garden. When he saw the man, he ran like the wind. That is why they are called ‘wind-deer’. They are a rare breed, that are extremely timid. They are very easily frightened by human beings.

 

The gardener told the king about the wind-deer. He asked the gardener if he could catch the rare animal. He replied, “My lord, if you give me some bee’s honey, I could even bring him into the palace!” So the king ordered that he be given as much bee’s honey as he wanted.

 

This particular wind-deer loved to eat the flowers and fruits in the king’s pleasure garden. The gardener let himself be seen by him little by little, so he would be less frightened. Then he began to smear honey on the grass where the wind-deer usually came to eat. Sure enough, the deer began eating the honey-smeared grass. Soon he developed a craving for the taste of this ‘honey-grass’. The craving made him come to the garden every day. Before long, he would eat nothing else!

 

Little by little, the gardener came closer and closer to the wind-deer. At first, he would run away. But later, he lost his fear and came to think the man was harmless. As the gardener became more and more friendly, eventually he got the deer to eat the honey-grass right out of his hand. He continued doing this for some time, in order to build up his confidence and trust.

 

Meanwhile, the gardener had rows of curtains set up, making a wide pathway from the far end of the pleasure garden to the king’s palace. From inside this pathway, the curtains would keep the wind-deer from seeing any people that might scare him.

 

When all was prepared, the gardener took a bag of grass and a container of honey with him. Again he began hand-feeding the wind-deer when he appeared. Gradually, he led the wind-deer into the curtained-off pathway. Slowly, he continued to lead him with the honey-grass, until finally the deer followed him right into the palace. Once inside, the palace guards closed the doors, and the wind-deer was trapped. Seeing the people of the court, he suddenly became very frightened and began running around, madly trying to escape.

 

The king came down to the hall and saw the panic-stricken wind-deer. He said, “What a wind-deer! How could he have gotten into such a state? A wind-deer is an animal who will not return to a place where he has so much as seen a human, for seven full days. Ordinarily, if a wind-deer is at all frightened in a particular place, he will not return for the whole rest of his life! But look! Even such a shy wild creature can be enslaved by his craving for the taste of something sweet. Then he can be lured into the center of the city and even inside the palace itself.

 

“My friends, the teachers warn us not to be too attached to the place we live, for all things pass away. They say that being too attached to a small circle of friends is confining and restricts a broad outlook. But see how much more dangerous is the simple craving for a sweet flavour, or any other taste sensation. See how this beautiful shy animal was trapped by my gardener, by taking advantage of his craving for taste.”

 

Not wishing to harm the gentle wind-deer, the king had him released into the forest. He never returned to the royal pleasure garden, and he never missed the taste of honey-grass.

 

The moral is: “It is better to eat to live, than to live to eat.”

 


015_A15

(15) Nai Trốn Học 

 

Ngày xưa có một bầy nai

Cùng nhau vui sống giữa nơi non ngàn

Nai già khả kính, khôn ngoan

Lại thêm khéo léo, giỏi giang, làm thầy

Bao nhiêu nai nhỏ trong bầy

Được thầy dạy dỗ điều hay, điều lành

Tài tháo vát, sự khôn lanh

Để khi nguy biến thoát nhanh được liền.

Thầy nai có một cô em

Một hôm cô trịnh trọng đem con mình

Đến thăm anh, nói tâm tình:

“Con trai em đó, mong anh chỉ bày

Dạy cho cháu học điều hay

Những điều khôn khéo lâu nay thường dùng

Để mà thoát bẫy diệt vong

Thoát mưu thâm độc, thoát vòng hiểm nguy!”

Thầy nai nói: “Đâu khó gì

Ngày mai cháu đến ta thì dạy cho!”

Đầu tiên theo đúng dự trù

Chú nai đến học cứ như bình thường

Nhưng rồi lòng chú vấn vương

Ham chơi, ham nghịch, chẳng màng học chi

Đua đòi theo các nai kia

Không hề đến lớp, thiết gì thầy đâu,

Thời gian sau chẳng bao lâu

Chú nai trốn học, lao đầu rong chơi

Hiểu đâu nguy hiểm ở đời

Biết bao cạm bẫy con người giăng ra

Thế mà chú chẳng thiết tha

Chẳng ham học hỏi để mà thoát thân.

* Một ngày vô phước bội phần

Chú nai mắc bẫy, sa chân mé rừng

Kẹt luôn chẳng thể vẫy vùng

Ở nhà mẹ chú vô cùng lo âu

Chờ hoài nào thấy con đâu

Mẹ bèn vội vã tới mau hỏi thầy:

“Con em từ bấy lâu nay

Cùng anh theo học giờ đây thế nào?

Khôn ngoan học được là bao

Để mà tránh khỏi sa vào nguy nan?”

Thầy nai chán nản than van:

“Con em dạy khó vô vàn em ơi

Không thích học! Chỉ ham chơi!

Luôn luôn trốn học mặc lời khuyên răn

Nể em anh cố can ngăn

Nhưng mà nó chẳng ăn năn sửa mình,

Em thời ngoan ngoãn, chân tình,

Nó thì ngược lại! Anh đành bó tay

Làm sao dạy nổi nó đây

Chắc rồi thảm họa đọa đày tới nơi!”

Thế là quả đúng như lời

Mẹ nai nghe được tin người con hoang

Ham chơi rong ruổi lang thang

Đã sa vào bẫy bủa giăng dọc đường

Thợ săn bắt giết thảm thương

Lột da, xẻ thịt, lóc xương, chặt đầu

Thật là tai nạn thảm sầu

Mẹ đau! Thầy cũng buồn rầu khôn nguôi.

 

15) Nai Trốn Học:

Nai anh tức nai Thầy là tiền thân Đức Phật.

(15) The Fawn Who Played Hooky [Truancy] 

 

Once upon a time, there was a herd of forest deer. In this herd was a wise and respected teacher, cunning in the ways of deer. He taught the tricks and strategies of survival to the young fawns.

 

One day, his younger sister brought her son to him, to be taught what is so important for deer. She said, “Oh brother teacher, this is my son. Please teach him the tricks and strategies of deer.” The teacher said to the fawn, “Very well, you can come at this time tomorrow for your first lesson.”

 

At first, the young deer came to the lessons as he was supposed to. But soon, he became more interested in playing with the other young bucks and does. He didn’t realize how dangerous it could be for a deer who learned nothing but deer games. So he started cutting classes. Soon he was playing hooky all the time.

 

Unfortunately, one day the fawn who played hooky stepped in a snare and was trapped. Since he was missing, his mother worried. She went to her brother the teacher, and asked him, “My dear brother, how is my son? Have you taught your nephew the tricks and strategies of deer?”

 

The teacher replied, “My dear sister, your son was disobedient and unteachable. Out of respect for you, I tried my best to teach him. But he did not want to learn the tricks and strategies of deer. He played hooky! How could I possibly teach him? You are obedient and faithful, but he is not. It is useless to try to teach him.”

 

Later they heard the sad news. The stubborn fawn who played hooky had been trapped and killed by a hunter. He skinned him and took the meat home to his family.

 

The moral is: Nothing can be learned from a teacher, by one who misses the class.

 


016_A16

(16) Nai Giả Chết 

 

Ngày xưa có một bầy nai

Cùng nhau vui sống giữa nơi non ngàn

Nai già khả kính, khôn ngoan

Lại thêm khéo léo, giỏi giang, làm thầy

Bao nhiêu nai nhỏ trong bầy

Được thầy dạy dỗ điều hay, điều lành

Tài tháo vát, sự khôn lanh

Để khi nguy biến thoát nhanh được liền.

Thầy nai có một cô em

Một hôm cô trịnh trọng đem con mình

Đến thăm anh, nói tâm tình:

“Con trai em đó, mong anh chỉ bày

Dạy cho cháu học điều hay

Những điều khôn khéo lâu nay thường dùng

Để mà thoát bẫy diệt vong

Thoát mưu thâm độc, thoát vòng hiểm nguy!”

Thầy nai nói: “Đâu khó gì

Ngày mai cháu đến ta thì dạy cho!”

* Thế rồi theo đúng dự trù

Chú nai đến học rất ư chuyên cần

Nghe lời thầy dạy, chuyên tâm

Trong khi nai khác quây quần rong chơi,

Chỉ sau khi học xong xuôi

Chú nai mới ghé đến nơi bạn bè,

Bầy nai nhỏ thích rủ rê

Chú nai nhất quyết chẳng hề nghe theo.

Chú luôn kiên nhẫn đủ điều

Giúp bè, giúp bạn với nhiều từ tâm,

Chú tôn kính thầy vô ngần

Vì thầy kiến thức uyên thâm vô cùng

Dạy cho con cháu hết lòng

Ơn thầy to lớn chú không quên nào.

* Một hôm bên mé rừng sâu

Chú nai vô ý kẹt vào bẫy kia

Kêu la đau đớn kể chi

Bạn bè sợ hãi tức thì trốn ngay

Chạy về báo mẹ nai hay

Mẹ nai kinh hoảng tìm thầy than van:

“Con em mắc bẫy thợ săn

Làm sao cứu nó? Khó khăn vô vàn!”

Thầy nai vội vã trấn an:

“Chắc rằng cháu sẽ an toàn mà thôi

Đừng lo gì nữa em ơi

Trước đây cháu học hành thời siêng năng

Tận tâm, cẩn thận, đàng hoàng

Cho nên cháu đã khôn ngoan lắm rồi

Đủ tài đối phó với đời

Thợ săn muốn hại cháu thời dễ đâu

Đừng lo lắng, chớ buồn rầu

Anh tin rằng cháu sẽ mau trở về!”

* Trong khi đó chú nai kia

Tuy đang mắc bẫy chẳng hề buông xuôi

Trong đầu suy nghĩ sục sôi:

“Bạn bè chạy trốn hết rồi, buồn thay!

Còn ai giúp đỡ mình đây

Để mà thoát khỏi bẫy này nguy nan

Bao điều thầy dạy khôn ngoan

Thử mang áp dụng phá tan xích xiềng!”

Thế là nai quyết định liền

Đóng trò “giả chết” ngay trên chỗ này.

Thoạt tiên nai bới cào ngay

Cỏ cây đất bụi tung bay mịt mùng

Giống như giãy giụa điên cuồng

Tưởng chừng nai cố tìm đường thoát thân;

Rồi thêm nước tiểu và phân

Phóng ra vung vãi dưới chân chảy dài

Giống nai trong bẫy bi ai

Chết vì sợ hãi thường bài tiết ra;

Rồi thêm nước miếng chan hòa

Nai phun sùi bọt chảy qua miệng mồm;

Nai nằm duỗi thẳng người luôn

Thân nghiêng về phía bên hông cứng đờ;

Mắt trợn lên, lưỡi thè ra

Bốn chân cứng ngắc như là khúc cây;

Hít vào lồng ngực cho đầy

Rồi dồn không khí xuống ngay bụng mình

Khiến cho bụng bị trương phình;

Cuối cùng đầu ngoẹo xuống sình nằm yên

Nai không thở lỗ mũi trên

Thở bằng lỗ mũi sát bên đất liền

Nai nằm bất động im lìm

Khác gì xác chết, lại thêm nặng mùi

Khiến ruồi bay quẩn quanh người

Quạ thời lảng vảng chờ mồi kiếm ăn.

* Ngày hôm sau bác thợ săn

Trời vừa hừng sáng ghé thăm từng vùng

Thăm nơi đặt bẫy trong rừng

Thấy nai mắc bẫy bác mừng đến xem

Ngạc nhiên thấy bụng phình lên

Vỗ vào thấy cứng vội tin chết rồi

Thêm mùi dơ dáy khắp nơi

Vo ve vang tiếng đám ruồi lượn quanh

Bác bèn suy nghĩ rất nhanh:

“Chắc nai mắc bẫy của mình từ khuya

Xác nai đã cứng rồi kia

Thịt nai sắp bị ươn đi mất rồi

Lột da ngay mới kịp thời

Tại đây làm thịt con mồi cho mau

Rồi mang thịt về nhà sau!”

Tin rằng nai chết còn đâu nghi ngờ

Thợ săn bèn gỡ bẫy ra

Gom cây, gom lá phủ qua đất bùn

Thành nơi làm thịt nai rừng.

Chú nai nhận thấy có đường thoát thân

Không còn vướng bẫy dưới chân

Tự do, sung sướng còn chần chờ chi

Nai chồm dậy, nai phóng đi

Nhanh như tên bắn, khác gì mây trôi

Trở về rừng rậm núi đồi

Ấm êm, hạnh phúc cạnh nơi mẹ mình.

Bầy nai mừng rỡ thật tình

Ăn mừng đồng loại an bình trở lui

Thoát qua cạm bẫy loài người

Trò nhờ chăm chỉ, thầy thời tận tâm.

Mới hay bài học chuyên cần

Mang về phần thưởng vô ngần lớn lao.

 

16) Nai Giả Chết:

Nai anh tức nai Thầy là tiền thân Đức Phật. Chú nai giả chết là La Hầu La.

(16) The Fawn Who Played Dead [Attendance] 

 

Once upon a time, there was a herd of forest deer. In this herd was a wise and respected teacher, cunning in the ways of deer. He taught the tricks and strategies of survival to the young fawns.

 

One day, his younger sister brought her son to him, to be taught what is so important for deer. She said, “Oh brother teacher, this is my son. Please teach him the tricks and strategies of deer.” The teacher said to the fawn, “Very well, you can come at this time tomorrow for your first lesson.”

 

The young deer came to the lessons as he was supposed to. When others cut classes to spend all day playing, he remained and paid attention to the good teacher. He was well-liked by the other young bucks and does, but he only played when his class work was complete. Being curious to learn, he was always on time for the lessons. He was also patient with the other students, knowing that some learn more quickly than others. He respected the teacher deer for his knowledge, and was grateful for his willingness to share it.

 

One day, the fawn stepped in a trap in the forest and was captured. He cried out in great pain. This frightened the other fawns, who ran back to the herd and told his mother. She was terrified, and ran to her brother the teacher. Trembling with fear, crying big tears, she said to him, “Oh my dear brother, have you heard the news that my son has been trapped by a hunter’s snare? How can I save my little child’s life? Did he study well in your presence?”

 

Her brother said, “My sister, don’t be afraid. I have no doubt he will be safe. He studied hard and always did his very best. He never missed a class and always paid attention. Therefore, there is no need to have doubt or pain in your heart. He will not be hurt by any human being. Don’t worry. I am confident he will return to you and make you happy again. He has learned all the tricks and strategies used by deer to cheat the hunters. So be patient. He will return!”

 

Meanwhile, the trapped fawn was thinking, “All my friends were afraid and ran away. There is no one to help me get out of this deadly trap. Now I must use the tricks and strategies I learned from the wise teacher who taught so well.”

 

The deer strategy he decided to use was the one called, “playing dead.” First, he used his hoofs to dig up the dirt and grass, to make it look like he had tried very

hard to escape. Then he relieved his bowels and released his urine, because this is what happens when a deer is caught in a trap and dies in very great fear. Next, he covered his body with his own saliva.

 

Lying stretched out on his side, he held his body rigidly and stiffened his legs out straight. He turned up his eyes, and let his tongue hang out of the side of his mouth. He filled his lungs with air and puffed out his belly. Finally, with his head leaning on one side, he breathed through the nostril next to the ground, not through the upper one.

 

Lying motionless, he looked so much like a stiff corpse that flies flew around him, attracted by the awful smells. Crows stood nearby waiting to eat his flesh.

 

Before long it was early morning and the hunter came to inspect his traps. Finding the fawn who was playing dead, he slapped the puffed up belly and found it stiff. Seeing the flies and the mess he thought, “Ah, it has already started to stiffen. He must have been trapped much earlier this morning. No doubt the tender meat is already starting to spoil. I will skin and butcher the carcass right here, and carry the meat home.”

 

Since he completely believed the deer was dead, he removed and cleaned the trap, and began spreading leaves to make a place to do the butchering. Realizing he was free, the fawn suddenly sprang to his feet. He ran like a little cloud blown by a swift wind, back to the comfort and safety of his mother. The whole herd celebrated his survival, thanks to learning so well from the wise teacher.

 

The moral is: Well-learned lessons bring great rewards.

 

 


017_A17

(17) Gió Và Trăng 

 

Thuở xa xưa tại rừng già

Có hai con vật rất là thân nhau

Từ sáng sớm đến canh thâu

Mãi luôn kề cận, có đâu xa lìa

Sống bên tảng đá lớn kia

Cây cao, bóng mát tỏa đi khắp vùng

Một sư tử, một hổ rừng

Cùng nhau kết bạn, lạ lùng lắm thay!

Hai con vật ở chốn này

Quen nhau từ nhỏ đến nay lâu dài

Rong chơi khắp chốn kề vai

Không hề để ý hai loài khác nhau,

Đôi bên cùng rất tâm đầu

Thấy chi tình bạn có đâu khác thường

Nhất là ở chốn núi rừng

Một vùng phẳng lặng, bốn phương an lành

Lại thêm có vị tu hành

Sống gần ngay đó hiền lành từ tâm

Ẩn tu, xa lánh bụi trần

Từ lâu đôi bạn vô ngần kính yêu.

* Thế rồi một sớm một chiều

Tự nhiên đôi bạn đặt điều cãi nhau.

Hổ lên tiếng: “Đã từ lâu

Mỗi khi trăng ở trên đầu khuyết đi

Hết tròn trịa giữa đêm khuya

Bà con làng xóm tức thì biết ngay

Khí trời lạnh lẽo về đây!”

Nghe xong sư tử chê: “Này bạn ơi

Nói chi cái chuyện lạ đời

Nghe sao vô lý, tức cười lắm thay

Mọi người đều biết lâu nay

Khi trăng hết khuyết, lại đầy bên sao

Trăng rằm tỏa sáng thanh tao

Là khi cái lạnh vùng cao trở về!”

Hai bên tranh cãi gớm ghê

Nặng lời, to tiếng có nề hà đâu

Dễ gì mà chịu thua nhau.

E rằng tình bạn từ lâu vững bền

Nguy cơ sứt mẻ đáng phiền

Cả hai đồng ý tìm lên hỏi thầy

Hỏi sư ở ẩn rừng này

Chắc sư thông thái sẽ hay biết liền.

Sư đang ngắm cảnh thiên nhiên

Hai con thú nọ đến bên kính chào

Và rồi lần lượt truớc sau

Đưa ra thắc mắc chờ câu trả lời.

Sau hồi suy nghĩ, sư cười

Rồi sư lên tiếng thảnh thơi dạy rằng:

“Dù cho thay đổi tuần trăng

Dù tròn, dù khuyết bóng hằng trên cao

Dưới này bất cứ lúc nào

Khí trời lạnh lẽo tùy vào gió thôi,

Gió từ khắp bốn phương trời

Mang theo cái lạnh về nơi chốn này

Hai con đều đúng, đều hay

Ngẫm xem sẽ thấy ra ngay, chớ buồn

Không ai thua, chẳng ai hơn

Điều quan trọng nhất là luôn kết đoàn

Đừng tranh chấp, hãy hợp quần

Sống chung như vậy vô ngần tốt tươi!”

Hổ và sư tử nghe rồi

Thấy ra chân lý rạng nơi pháp mầu

Ơn thầy cảm tạ khấu đầu

Giã từ am vắng cùng nhau ra về

Trong lòng sung sướng đê mê

Mối tình bạn cũ chẳng hề lung lay

Nhủ lòng: “Thời tiết đổi thay

Chỉ riêng tình bạn tháng ngày keo sơn!”

 

17) Gió Và Trăng:

Thầy tu ở ẩn trên núi là tiền thân Đức Phật.

(17) The Wind and the Moon [Friendship]

 

Once upon a time, there were two very good friends who lived together in the shade of a rock. Strange as it may seem, one was a lion and one was a tiger. They had met when they were too young to know the difference between lions and tigers. So they did not think their friendship was at all unusual. Besides, it was a peaceful part of the mountains, possibly due to the influence of a gentle forest monk who lived nearby. He was a hermit, one who lives far away from other people.

 

For some unknown reason, one day the two friends got into a silly argument. The tiger said, “Everyone knows the cold comes when the moon wanes from full to new!” The lion said, “Where did you hear such nonsense? Everyone knows the cold comes when the moon waxes from new to full!”

 

The argument got stronger and stronger. Neither could convince the other. They could not reach any conclusion to resolve the growing dispute. They even started calling each other names! Fearing for their friendship, they decided to go ask the learned forest monk, who would surely know about such things.

 

Visiting the peaceful hermit, the lion and tiger bowed respectfully and put their question to him. The friendly monk thought for a while and then gave his answer. “It can be cold in any phase of the moon, from new to full and back to new again. It is the wind that brings the cold, whether from west or north or east. Therefore, in a way, you are both right! And neither of you is defeated by the other. The most important thing is to live without conflict, to remain united. Unity is best by all means.”

 

The lion and tiger thanked the wise hermit. They were happy to still be friends.

 

The moral is: Weather comes and weather goes, but friendship remains.


018_A18

(18) Dê Cứu Thầy Tu 

 

Một trong tôn giáo cổ xưa

Có thầy tu nọ rất ưa tế thần

Tuy ông nổi tiếng xa gần

Nhưng mà mê muội tâm thần nhiều thay.

Một hôm ông chọn dê này

Cho rằng thích hợp, giết ngay tế thần

Nghĩ suy lầm lạc vô ngần:

“Dê làm lễ vật muôn phần linh thiêng!”

Ông ra lệnh kẻ dưới quyền

Dắt dê ra tắm ở bên sông vàng

Dòng sông thánh chảy rộn ràng

Tắm xong trang điểm một tràng hoa tươi

Cổ dê đeo đẹp tuyệt vời,

Gia nhân, thuộc hạ đồng thời tắm luôn

Tẩy cho sạch sẽ tấm thân

Để mà tham dự vào phần lễ nghi.

* Dưới bờ sông chú dê kia

Biết mình sắp bị giết đi tế thần

Dê suy tư, sáng trong tâm

Bao nhiêu tiền kiếp dần dần hiện ra

Tử, sinh nhiều đợt trôi qua

Luân hồi luẩn quẩn thật là đớn đau,

Dê kia nhận thức ra mau

Lắm điều sai trái trước sau của mình

Kiếp xưa nhân xấu tạo thành

Khó mà gặt được quả lành kiếp nay

Dê từng trả nghiệp bao ngày

Giờ đây nghiệp sắp dứt ngay hết rồi

Thế là thoát kiếp luân hồi

Thoát vòng đau khổ, xa nơi đọa đày

Niềm vui rộn rã về đây

Dê cười lớn tiếng, sông này vang xa.

Đang cười dê chợt nghĩ ra

Một điều cũng rất xót xa vô ngần:

“Thầy tu mê muội tế thần

Sát sinh ác độc gieo nhân bây giờ

Kiếp sau quả ác đón chờ

Chập chùng tiếp nối có ngờ được đâu!”

Thế là dê lại bắt đầu

Khóc lên lớn tiếng, thương đau ngập tràn.

Trên dòng sông thánh thênh thang

Mọi người đang tắm nghe vang tiếng cười

Rồi nghe dê khóc nghẹn lời

Ngạc nhiên kéo đến tận nơi hỏi dò

Dê bèn đáp: “Có lý do

Nhưng ta chỉ muốn nói cho một người

Đó là tu sĩ mà thôi

Đem ta gặp chủ nhân rồi sẽ hay!”

* Đám gia nhân tò mò thay

Đem dê về gặp chủ ngay tức thời

Kể ra mọi chuyện đầu đuôi

Ngạc nhiên tu sĩ thốt lời hỏi dê:

“Mi cười rồi khóc, lạ ghê

Hãy cho ta biết chuyện gì xảy ra?”

Dê bèn đáp, giọng thiết tha:

“Kiếp xưa ta cũng từng là thầy tu

Lễ nghi tôn giáo cổ xưa

Như ông, ta cũng rất ưa, rất rành

Giết dê làm vật hy sinh

Để mà dâng cúng thần linh của mình

Nghĩ rằng lợi ích tạo thành

Giúp nhiều cho việc tái sinh sau này

Ai ngờ hậu quả thảm thay

Đầu ta bị chém đọa đày xác thân

Bốn trăm chín mươi chín lần

Luân phiên nhiều kiếp muôn phần thương đau,

Hôm nay sắp bị chém đầu

Cộng chung trả nghiệp trước sau luân hồi

Năm trăm lần, đủ số rồi

Đây là lần chót nổi trôi ta bà

Bao nhiêu hậu quả xảy ra

Do hành vi rất xấu xa kiếp nào

Giờ đây chấm dứt! Lành sao

Khiến ta cười lớn tuôn trào niềm vui,

Và rồi ta lại buồn thôi

Khi ta chợt nghĩ ông rồi giống ta

Sát sinh tế lễ xấu xa

Để rồi hậu quả khó mà thấy ngay

Trong năm trăm kiếp tới đây

Đủ năm trăm lượt đong đầy khổ đau

Năm trăm lượt bị chém đầu

Nghĩ thêm kinh hãi, ta đâu cầm lòng

Quả là thương cảm vô cùng

Biến cười thành khóc, đôi dòng lệ tuôn!”

Thầy tu rung động tâm hồn

Nghĩ lời dê đúng nên ông nói liền:

“Thưa ngài dê, chớ muộn phiền

Tôi không giết nữa, thả liền ngài đây!”

Dê bèn nói: “Thật lành thay!

Dù ông không giết tôi ngay bây giờ

Thời bao quả xấu vẫn chờ

Hôm nay tôi chết, khó mà thoát đâu

Rồi tôi vẫn bị chém đầu

Thế là giải thoát! Qua cầu trầm luân!”

Thầy tu hăng hái nói luôn:

“Chúng tôi bảo vệ, an tâm, thưa ngài

Tôi và thuộc hạ trong ngoài

Dốc lòng ngăn chặn nguy tai giúp ngài!”

Nhưng dê giảng giải khoan thai:

“Dù ông che chở cũng hoài công thôi

Vì rằng yếu đuối sức người

So cùng quyền lực cao vời thiêng liêng!”

Thầy tu hủy bỏ lễ liền

Sát sinh cúng tế chẳng tin nữa rồi

Thả dê về chốn núi đồi

Lệnh cho thuộc hạ tức thời dõi theo

Đề phòng chống mọi hiểm nghèo

Giúp cho dê được muôn điều bình yên.

Lang thang đồi núi thiên nhiên

Chợt dê trông thấy ở trên cây cành

Lá non mơn mởn tươi xanh

Dê vươn cao cổ rướn mình lên ăn

Bỗng đâu trời đất thét gầm

Một cơn giông bão bất thần nổi lên

Sét kêu một tiếng vang rền

Đánh vào tảng đá ngay trên phía đầu

Chẻ ra một miếng thật sâu

Rơi như dao nhọn xuống mau khác gì

Đầu dê bị cắt đứt lìa

Chết ngay tức khắc thảm thê vô cùng

Thế rồi cơn bão chợt ngừng

Biến đi mất dạng vào vùng thẳm xa.

* Nghe tin kỳ lạ truyền ra

Dân làng bàn tán: “Khó mà hiểu thay!”

Thần trên cây kế chỗ này

Từ đầu chứng kiến giờ đây dạy rằng:

“Hãy nhìn dê để làm gương

Sát sinh hậu quả trăm đường đớn đau

Từ kiếp này, tới kiếp sau

Muôn vàn khổ não tiếp nhau chập chùng

Khó mà thoát khỏi luật chung.

Hãy xa nghiệp dữ, xa vùng vô minh

Ngưng tay tàn sát sinh linh

Để mà vui hưởng quả lành tương lai!”

 

18) Dê Cứu Thầy Tu:

Vị thần trên cây gần đó là tiền thân Đức Phật.

(18) The Goat Who Saved the Priest [Ignorance] 

 

Once upon a time, there was a very famous priest in a very old religion. He decided it was the right day to perform the ritual sacrificing of a goat. In his ignorance, he thought this was an offering demanded by his god.

 

He obtained an appropriate goat for the sacrifice. He ordered his servants to take the goat to the holy river and wash him and decorate him with flower garlands. Then they were to wash themselves, as part of the purification practice.

 

Down at the riverbank, the goat suddenly understood that today he would definitely be killed. He also became aware of his past births and deaths and rebirths. He realized that the results of his past unwholesome deeds were about to finally be completed. So he laughed an uproarious goat-laugh, like the clanging of cymbals.

 

In the midst of his laughter, he realized another truth – that the priest, by sacrificing him, would suffer the same terrible results, due to his ignorance. So he began to cry as loudly as he had just been laughing!

 

The servants, who were bathing in the holy river, heard first the laughing and then the crying. They were amazed. So they asked the goat, “Why did you loudly laugh and then just as loudly cry? What is the reason for this?” He replied, “I will tell you the reason. But it must be in the presence of your master, the priest.”

 

Since they were very curious, they immediately took the sacrificial goat to the priest. They explained all that had happened. The priest, too, became very curious. He respectfully asked the goat, “Sir, why did you laugh so loudly, and then just as loudly cry?”

 

The goat, remembering his past lives, said, “A long time ago, I too was a priest who, like you, was well educated in the sacred religious rites. I thought that to sacrifice a goat was a necessary offering to my god, which would benefit others, as well as myself in future rebirths. However, the true result of my actions was that in my next 499 lives I myself have been beheaded!

 

“While being prepared for the sacrifice, I realized that today I will definitely lose my head for the 500th time. Then I will finally be free of all the results of my unwholesome deeds of so long ago. The joy of this made me laugh uncontrollably.

 

“Then I suddenly realized that you, the priest, were about to repeat the same unwholesome action, and would be doomed to the same result of having your head chopped off in your next 500 lives! So, out of compassion and sympathy, my laughter turned to tears.”

 

The priest was afraid this goat might be right, so he said, “Well, sir goat, I will not kill you.” The goat replied, “Reverend priest, even if you do not kill me, I know that today I will lose my head and finally be released from the results of my past unwholesome action.”

 

The priest said, “Don’t be afraid, my fine goat. I will provide the very best protection and personally guarantee that no harm will come to you.” But the goat said, “Oh priest, your protection is very weak, compared to the power of my unwholesome deed to cause its necessary results.”

 

So the priest cancelled the sacrifice, and began to have doubts about killing innocent animals. He released the goat and, along with his servants, followed him in order to protect him from any danger.

 

The goat wandered into a rocky place. He saw some tender leaves on a branch and stretched out his neck to reach them. All of a sudden a thunderstorm appeared out of nowhere. A lightning bolt struck an over-hanging rock, and cut off a sharp slab, which fell and chopped off the goat’s head! He died instantly, and the thunderstorm disappeared.

 

Hearing of this very strange event, hundreds of local people came to the place. No one could understand how it had happened.

 

There was also a fairy who lived in a nearby tree. He had seen all that had occurred. He appeared, gently fluttering in the air overhead. He began to teach the curious people, saying, “Look at what happened to this poor goat. This was the result of killing animals! All beings are born, and suffer through sickness, old age and death. But all wish to live, and not to die. Not seeing that all have this in common, some kill other living beings. This causes suffering also to those who kill, both now and in countless future rebirths.

 

“Being ignorant that all deeds must cause results to the doer, some continue to kill and heap up more suffering on themselves in the future. Each time they kill, a part of themselves must also die in this present life. And the suffering continues even by rebirth in hell worlds!”

 

Those who heard the fairy speak felt that they were very lucky indeed. They gave up their ignorant killing, and were far better off, both in this life, and in pleasant rebirths.

 

The moral is: Even religion can be a source of ignorance.

 


019_A19

(19) Thần Cây Đa 

 

Thời xưa và cả thời nay

Số người mê tín, buồn thay, quá nhiều!

Họ mê muội tin đủ điều

Gặp cây cổ thụ họ đều van xin

Tin rằng chắc có thần tiên

Nơi đây cư ngụ đầy quyền phép cao

Tin rằng cầu khẩn ước ao

Nếu thần giúp đỡ thế nào cũng xong.

* Nơi miền bắc Ấn mênh mông

cây đa mọc trong vùng Ka-Si

Thân to lớn, dáng lạ kỳ

Nên chàng buôn nọ đang đi chợt dừng

Ghé vào khấn chẳng ngại ngùng

Tin rằng thần ngụ trên từng cây cao

Giúp anh thoả nguyện ước ao

Thời anh lễ tạ đâu nào dám quên

Sát sinh để cúng tế liền

Trả ơn thần thánh linh thiêng giúp mình.

Bất ngờ ước nguyện đạt thành

Nào ai hay biết duyên lành từ đâu

Thánh thần quyền phép nhiệm mầu?

Hay là ma quỷ giúp nhau chuyến này?

Riêng anh tin chính thần cây

Đáp lời cầu khẩn ra tay giúp mình

Nên anh muốn đáp ân tình

Vội lo tổ chức sát sinh cúng thần.

Lời cầu xin lớn bội phần

Cho nên lễ tạ cũng cần lớn theo,

Anh mua súc vật rất nhiều

Dê, lừa, cừu với bao nhiêu là gà

Củi gom gần gốc cây đa

Chỉ chờ châm lửa thiêu là cúng ngay

Lễ xin dâng cúng thần cây,

Tội thay súc vật đọa đày xác thân.

* Chợt đâu xuất hiện vị thần

Nhìn anh lên tiếng khuyên răn chân thành:

“Anh từng khấn hứa thần linh

Giúp cho công việc của mình thành công

Giờ đây kết quả đã xong

Bày ra cúng tế cầu mong đáp đền.

Nhưng sát sinh chỉ thêm phiền

Chỉ mau sa đọa vào miền đớn đau

Việc làm độc ác trước sau

Thời bao quả xấu đến mau tức thời

Phải qua nhiều kiếp luân hồi

Luân phiên trả nghiệp ai người thoát qua

Ngưng ngay hành động xấu xa

Để cầu giải thoát thân ta sau này!

Còn như anh nghĩ tại đây

Quả là có vị thần cây ẩn tàng

Thì sao anh lại nghĩ rằng

Thần linh chỉ thích được dâng thịt thà

Mà không chỉ hưởng hương hoa?”

Thần cây khuyên nhủ xong là biến đi.

* Chàng buôn mê tín ngu si

Nghe xong chợt hiểu những gì đúng, sai

Kể từ ngày đó gặp ai

Chàng luôn can gián mọi người sát sinh:

“Chớ hề giết loài hữu tình

Sống theo chánh pháp, nghiệp mình hưởng vui!”

 

19) Thần Cây Đa:

Vị thần trên cây đatiền thân Đức Phật.

(19) The God in the Banyan Tree [A Bad Promise] 

 

In the past, and even in some places today, people have had superstitions. One such is that a large or unusual tree is inhabited by a tree god, or some kind of spirit. People think that they can make a promise to this tree god, so he will help them in some way. When they think the god has helped them, then they must keep their promise.

 

Once upon a time, in the city of Kasi in northern India, a man came upon a large banyan tree. He immediately thought there must be a god living there. So he made a promise to this tree god that he would perform an animal sacrifice, in return for a wish being granted.

 

It just so happened that his wish was fulfilled, but whether by a god or a demon or by some other means – no one knows. The man was sure the tree god had answered his prayer, so he wanted to keep his promise.

 

Since it was a big wish, it called for a big sacrifice. He brought many goats, mules, chickens and sheep. He collected firewood and prepared to burn the helpless animals as a sacrifice.

 

The spirit living in the banyan tree appeared and said, “Oh friend, you made a promise. You are now bound by that promise. You think you must keep the promise in order to be released from the bondage to it. But if you commit such terrible unwholesome acts, even though promised, the unpleasant results will put you in much greater bondage. For you will be forced to suffer those results in this life, and even by rebirths in hell worlds! The way to release yourself into future deliverance is to give up unwholesome actions, no matter what!

 

“And furthermore, since you think I’m a true god, what makes you think I eat meat? Haven’t you heard that we gods eat better things, like ‘ambrosia’ or stardust or sunbeams? I have no need of meat or any other food offerings.” Then he disappeared.

 

The foolish man understood the mistake he had made. Instead of doing unwholesome deeds that would force unhappy results on him in the future, he began to do only wholesome deeds that would benefit himself and others.

 

The moral is: Keeping a bad promise is worse than making it.


020_A20

(20) Vua Khỉ Và Thủy Quái 

 

Ngày xưa trong chốn rừng sâu

Có bầy khỉ nọ cùng nhau họp đoàn

Đếm ra đủ tám mươi ngàn

Bầu ra vua khỉ đầu đàn chỉ huy

Thân hình vua lớn dị kỳ

Lại thêm đầu óc rất chi tuyệt vời.

Thế rồi một buổi đẹp trời

Họp bầy, vua khỉ ban lời khuyên răn:

“Hãy nghe đây, các thần dân!

Rừng nhiều cây trái vô ngần độc thay

Cùng nhiều hồ nước quanh đây

Chứa loài thủy quái lâu nay nấp rình,

Ai ăn quả lạ trên cành

Hay là uống nước hồ mình không quen

Đừng ăn, đừng uống ngay liền

Hỏi ta trước đã, chớ nên vội vàng!”

Nghe lời vua khỉ khôn ngoan

Cho nên bầy khỉ cả đoàn tuân theo

Tránh xa chết chóc hiểm nghèo

Rừng thiêng, nước độc trăm điều gian nguy.

* Thời gian trôi, một ngày kia

Cả bầy khỉ tới bên lề rừng hoang

Kiếm ăn suốt buổi lang thang

Giờ này mệt mỏi cả đoàn ngừng chân

Ngồi quanh hồ lạ ở gần

Dù đang khát nước, ngại ngần lắm thay

Nào đâu dám uống nước ngay

Đành chờ vua khỉ tới đây thăm dò.

Ngay khi vua khỉ tới hồ

Thấy toàn bầy vẫn ngồi chờ ở quanh

Bèn khen: “Quả thật khôn lanh

Chờ ta dò xét tình hình tại đây!”

Mắt tinh vua khỉ thấy ngay

Dấu chân súc vật in đầy chung quanh

Nhưng đều đi xuống hồ xanh

Dấu chân trở lại quả tình thấy đâu

Nên vua khỉ nhận ra mau

Có loài thủy quái ẩn sâu dưới này,

Vua bèn nói với cả bầy:

“Coi chừng quái vật hồ đây hại mình!”

* Quả nhiên có quỷ thật tình

Quỷ chờ chẳng được hiện hình trồi lên

Vừa hung dữ, vừa cuồng điên

Bụng xanh, mặt trắng, lông đen, mắt lồi

Móng chân đỏ nhọn kinh người

Quỷ lên tiếng nói: “Xin mời xuống ngay

Xuống đây uống nước hồ này

Cớ sao nhịn khát mà gây muộn phiền!”

Đáp lời vua khỉ hỏi liền:

“Hồ này có phải thuộc quyền mi không

Và mi thường cũng ăn luôn

Những ai chót dại sa chân chốn này?”

Quỷ bèn đáp: “Đúng vậy thay

Ta ăn tất cả, lâu nay quen rồi

Chim muông, súc vật, con người

Ngươi to xác chắc thịt tươi đậm đà!”

Quỷ thèm, nước miếng chảy ra

Ướt cầm lông lá thật là hãi kinh.

Nhưng vua khỉ rất thông minh

Bao năm tu luyện quả tình khôn ngoan

Tỏ ra bình thản nói rằng:

“Hại ta nào có dễ dàng vậy đâu

Hồ này thủng thẳng trước sau

Bầy ta uống hết ai nào cản ngăn!”

Quỷ bèn cất tiếng cười gằn:

“Sao ngươi làm chuyện khó khăn động trời!”

Nghiêm trang vua khỉ trả lời:

“Dùng tre làm ống hút thời dễ thay

Ống dài hút nước lên ngay

Chúng ta xa cách tầm tay mi rồi

Mi làm sao với tới nơi

Làm sao ăn sống nuốt tươi cả bầy?”

* Từ trong quá khứ trước đây

Thật ra vua khỉ đã dầy công phu

Bao năm tu luyện thượng thừa

Cho nên tài giỏi dễ thua ai nào.

Tre thường từng đoạn nối nhau

Bên trong mỗi đoạn có đầu có đuôi

Mắt tre thành đốt ngăn đôi

Dễ gì mà hút nước nơi hồ này,

Phải nhờ vua khỉ ra tay

Thổi vào cho đốt rơi ngay ra ngoài

Thành tre ống rỗng và dài

Rừng tre theo đó tức thời rỗng ngay

Tám mươi ngàn khỉ quanh đây

Bẻ tre, uống nước hồ này cùng nhau.

Quỷ nhìn thấy nước rút mau

Khoanh tay bất lực, có đâu kịp ngờ

Sôi gan, bực tức, thẫn thờ

Trườn mình xuống dưới đáy hồ lặn luôn

Chỉ còn bóng nước chập chờn

Nổi lên như chở nỗi hờn oán than!

Từ ngày đó khắp nhân gian

Có loài tre mới trên ngàn rỗng không

Tre dài, đầu cuối suốt thông

Mắt cùng với đốt trong lòng biến luôn.

 

20) Vua Khỉ Và Thủy Quái:

Vua khỉ là tiền thân Đức Phật. Thủy quái là Đề Bà Đạt Đa.

(20) The Monkey King and the Water Demon [Attentiveness] 

 

Once upon a time, far away in a deep forest, there was a nation of 80,000 monkeys. They had a king who was unusually large, as big as a fawn. He was not only big in body, he was also ‘large in mind’. After all, he was the Bodhisatta – the Enlightenment Being.

 

One day, he advised his monkey nation by saying, “My subjects, there are poisonous fruits in this deep forest, and ponds possessed by demons. So if you see any unusual fruit or unknown pond, do not eat or drink until you ask me first.” Paying close attention to their wise king, all the monkeys agreed to follow his advice.

 

Later on, they came to an unknown pond. Even though they were all tired out and thirsty from searching for food, no one would drink without first asking the monkey king. So they sat in the trees and on the ground around the pond.

 

When he arrived, the monkey king asked them, “Did anyone drink the water?” They replied, “No, your majesty, we followed your instructions.” He said, “Well done.”

 

Then he walked along the bank, around the pond. He examined the footprints of the animals that had gone into the water, and saw that none came out again! So he realized this pond must be possessed by a water demon. He said to the 80,000 monkeys, “This pond is possessed by a water demon. Do not anybody go into it.”

 

After a little while, the water demon saw that none of the monkeys went into the water to drink. So he rose out of the middle of the pond, taking the shape of a frightening monster. He had a big blue belly, a white face with bulging green eyes, and red claws and feet. He said, “Why are you just sitting around? Come into the pond and drink at once!”

 

The monkey king said to the horrible monster, “Are you the water demon who owns this pond?” “Yes, I am,” said he. “Do you eat whoever goes into the water?” asked the king. “Yes, I do,” he answered, “including even birds. I eat them all. And when you are forced by your thirst to come into the pond and drink, I will enjoy eating you, the biggest monkey, most of all!” He grinned, and saliva dripped down his hairy chin.

 

But the monkey king with the well-trained mind remained calm. He said, “I will not let you eat me or a single one of my followers. And yet, we will drink all the water we want!” The water demon grunted, “Impossible! How will you do that?” The monkey king replied, “Each one of the 80,000 of us will drink using bamboo shoots as straws. And you will not be able to touch us!”

 

Of course, anyone who has seen bamboo knows there is a difficulty. Bamboo grows in sections, one after another, with a knot between each one. Any one section is too small, so the demon could grab the monkey, pull him under and gobble him up. But the knots make it impossible to sip through more than one section.

 

The monkey king was very special, and that is why so many followed him. In the past, he had practiced goodness and trained his mind with such effort and attention, that he had developed very fine qualities of mind. This is why he was said to be ‘large in mind’, not because he simply had a ‘big brain’.

 

The Enlightenment Being was able to keep these fine qualities in his mind, and produce a very unlikely event – a miracle. First, he took a young bamboo shoot, blew through it to make the knots disappear, and used it to sip water from the pond. Then, amazing as it may sound, he waved his hand and all the bamboo growing around that one pond lost their knots. They became a new kind of bamboo.

 

Then, all his 80,000 followers picked bamboo shoots and easily drank their fill from the pond. The water demon could not believe his green eyes. Grumbling to himself, he slid back under the surface, leaving only gurgling bubbles behind.

 

The moral is: “Test the water before jumping in.”

 


021_A21

(21) Cây Giống Thợ Săn

 

Xưa trong rừng thẳm núi sâu

Có con dê núi sống lâu chốn này

Dê ăn hoa quả trái cây

Từ cành rơi rụng xuống ngay cỏ làn,

Một cây đặc biệt vô vàn

Trái ngon, dê khoái tới ăn vô cùng.

Có chàng nọ ở trong vùng

Thường hay quanh quẩn săn lùng dê, nai

Mưu mô đặt bẫy khắp nơi

Để rồi bắt giết con mồi thẳng tay,

Thợ săn nghĩ kế thật hay

Leo lên ẩn núp trên cây trên cành

Rồi buông dây xuống khôn lanh

Làm thành thòng lọng uốn quanh cỏ mềm

Giữa thòng lọng chàng đặt thêm

Trái cây ngon ngọt để đem nhử mồi

Ngu ngơ súc vật tới nơi

Ham ăn hoa trái tức thời kẹt đây

Thợ săn thắt thòng lọng ngay

Dê, nai mắc bẫy đọa đày thảm thương.

* Một ngày vào sáng tinh sương

Con dê núi nọ tìm đường đến đây

Đến cây ưa thích lâu nay

Hầu mong kiếm trái cây này để ăn

Dê đâu nhìn thấy thợ săn

Hiện đang ẩn núp trên tàn cây cao

Đặt mồi quyến rũ ngọt ngào

Cùng dây thòng lọng xiết bao hãi hùng.

Dù đang đói bụng vô cùng

Tính luôn cẩn thận coi chừng hiểm nguy

Nên dê không cẩu thả chi

Vừa đi vừa ngó bốn bề chung quanh,

Chợt dê thấy trái ngon lành

Sẵn sàng để dưới cây mình thường ưa

Dê thắc mắc, dê suy tư:

“Trái cây thơm ngọt sao chưa ai dùng

Thật kỳ lạ, thật bất thường

Có điều nguy hiểm hiện đương đón chờ!”

Khi dê đi tới từ xa

Thợ săn ngó thấy, tỏ ra mừng thầm

Nhưng khi dê tiến lại gần

Dê nhìn quanh quất, tần ngần nghĩ suy

Bước chân dò dẫm hồ nghi

Thợ săn thấy vậy lại e mất mồi

Sợ dê quay mất đi thôi

Cho nên nôn nóng, tính thời lo xa

Chàng cầm trái ngọt ném ra

Hướng nơi dê đứng để mà dụ dê

Mong dê thấy trái sẽ mê

Ham ăn mà tiến gần về gốc cây

Nơi thòng lọng bẫy giăng đây,

Nhưng âm mưu đó tiếc thay không thành.

Đây là dê núi khôn lanh

Nên dê hiểu rõ từ cành cây cao

Trái cây rơi thẳng xuống mau

Chứ đâu hoa quả lẽ nào bay ngang

Thật là chuyện lạ vô vàn

Có điều mờ ám, nguy nan chốn này,

Nên ngay cả chính cái cây

Dù là quen biết lâu nay đã đành

quan sát kỹ trên cành

Thấy ra có kẻ nấp rình nơi đây

Dê bèn làm bộ khéo thay

Như là không thấy người này mà thôi

Nhắm cây dê nói đôi lời:

“Ôi cây thân mến, lâu đời quen nhau

Bạn thường cho trái trước sau

Buông rơi trái xuống thẳng mau một đường

Hôm nay bạn lại bất thường

Cây gì mà trái rơi ngang thế này

Thói quen bạn đã đổi thay

Nên tôi thay đổi từ nay cho rồi

Qua cây khác kiếm ăn thôi

Tới cây mà trái vẫn rơi bình thường!”

Thợ săn bực bội trăm đường

Thấy mình khờ dại chót vương lỗi lầm

Ngu hơn dê cả ngàn lần

Cho nên giận dữ vô ngần la lên:

“Tên dê láu cá chớ quên

Lần này mi chỉ gặp hên thôi mà

Nên mi vuột khỏi tay ta

Lần sau sẽ chẳng thoát qua được nào!”

Chỉ vì cơn giận dâng trào

Thợ săn lộ mặt! Biết bao dại khờ!

* Dê nghe giả bộ làm ngơ

Hướng về cây nói: “Ai ngờ buồn thay

Thói quen bạn đổi từ đây

Chẳng còn đặc tính của cây nữa rồi

Bây giờ lộ thói tanh hôi

Của phường săn bắn cả đời sát sinh!”

Rồi dê lên giọng bất bình:

“Nhiều người điên dại quả tình bất nhân

Chỉ quen giết hại luôn luôn

Giết bao sinh vật! Chẳng còn lương tri!

vô minh mãi quên đi

Khi gieo nhân ác quả thì đớn đau

Từ kiếp này qua kiếp sau

Con đường địa ngục đọa mau thoát nào.

Loài dê núi sống trên cao

Chuyên ăn hoa quả từ bao lâu rồi

Không sát sinh đã nhiều đời

Cho nên tinh tấn hơn người lắm thay

Vòng luân hồi thoát ra ngay

Chẳng vương nghiệp xấu đọa đày quẩn quanh!”

Nói xong dê núi phóng nhanh

Lao mình vào chốn rừng xanh an toàn.

 

21) Cây Giống Thợ Săn:

Dê núi là tiền thân Đức Phật. Người thợ săn là Đề Bà Đạt Đa.

(21) The Tree That Acted Like a Hunter [Impatience] 

 

Once upon a time, there was an antelope who lived in the deep forest. He ate the fruits that fell from the trees. There was one tree that had become his favorite.

 

In the same area there was a hunter who captured and killed antelopes and deer. He put down fruit as bait under a tree. Then he waited, hiding in the branches above. He held a rope noose hanging down to the ground around the fruits. When an animal ate the fruit, the hunter tightened the noose and caught him.

 

Early one morning the antelope came to his favorite tree in search of fruits to eat. He did not see that the hunter was hiding in it, with his noose-trap ready. Even though he was hungry, the antelope was very careful. He was on the lookout for any possible danger. He saw the delicious looking ripe fruits at the foot of his favorite tree. He wondered why no animal had yet eaten any, and so he was afraid something was wrong.

 

The hiding hunter saw the antelope approaching from a distance. Seeing him stop and take great care, he was afraid he would not be able to trap him. He was so anxious that he began throwing fruits in the direction of the antelope, trying to lure him into coming closer.

 

But this was a pretty smart antelope. He knew that fruits only fall straight down when they fall from trees. Since these fruits were flying towards him, he knew there was danger. So he examined the tree itself very carefully, and saw the hunter in the branches. However, he pretended not to see him.

 

He spoke in the direction of the tree. “Oh my dear fruit tree, you used to give me your fruits by letting them fall straight down to the ground. Now, throwing them towards me, you do not act at all like a tree! Since you have changed your habits, I too will change mine. I will get my fruits from a different tree from now on, one that still acts like a tree!”

 

The hunter realized his mistake and saw that the antelope had outsmarted him. This angered him and he yelled out, “You may escape me this time, you clever antelope, but I’ll get you next time for sure!”

 

The antelope realized that, by getting so angry, the hunter had given himself away a second time. So he spoke in the direction of the tree again. “Not only don’t you act like a tree, but you act like a hunter! You foolish humans, who live by killing animals. You do not understand that killing the innocent brings harm also to you, both in this life and by rebirth in a hell world. It is clear that we antelopes are far wiser than you. We eat fruits, we remain innocent of killing others, and we avoid the harmful results.”

 

So saying, the careful antelope leaped into the thick forest and was gone.

 

The moral is: The wise remain innocent.


022_A22

(22) Vua Chó Lông Bạc 

 

Thành Ba La Nại thuở xưa

Có xe ngựa đẹp nhà vua ưa dùng

Thân xe lộng lẫy vô cùng

Gắn thêm một bộ yên cương sáng ngời

Làm bằng da, khéo tuyệt vời

Do tay thợ giỏi nhất nơi kinh thành.

Một ngày vua muốn dạo quanh

Thăm vườn thượng uyển hữu tình cỏ hoa

Nên sai quân đánh xe ra

Khởi hành từ sáng để qua vườn này

Nhởn nhơ ngoạn cảnh giải khuây

Đến khi chiều tối mới quay trở về

Tới hoàng cung trời đã khuya

Cả đoàn mệt mỏi thiết gì nữa đâu

Xe vua để tạm phía sau

Trong sân cung điện có rào bao che

Thay vì cất kỹ nhà xe

Là nơi có khoá muôn bề an ninh.

* Nửa đêm mưa bất thình lình

Xe vua nước đẫm chung quanh ướt mèm

Dây da thấm nước triền miên

Cho nên phồng nở và mềm mại ra

Mùi da thơm tỏa lan xa

Chó trong cung cấm thật là xôn xao

Mùi da quyến rũ biết bao

Đánh hơi thấy được chó lao ra liền

Đến xe vua đậu gần bên

Tranh ăn ngấu nghiến da mềm dây cương

Trước khi tỏ lộ vầng dương

Chó quay trở lại trong chuồng hoàng cung

Âm thầm, lặng lẽ vô cùng

Nào ai thấy được mà hòng biết đâu.

Khi vua thức dậy sáng sau

Xuống sân tản bộ thấy sao lạ kỳ

Dây da xe quý đậu kia

Nát tan rơi vãi còn gì nữa đâu!

Vua ra lệnh gọi quân hầu

Điều tra sự thể và mau tường trình.

Quân hầu vì phải gác canh

Trông chừng bầy chó hoàng thành vua nuôi

Biết rằng chó cắn dây rồi

Sợ bao trách nhiệm đổ nơi đầu mình

Họ bèn dựng chuyện gian tình:

“Chính là lũ chó ngoài thành vào đây

Rủ nhau tụ họp từng bầy

Chui qua lỗ cống tới ngay xe này

Cắn dây da, tai hại thay

Chó hoang cần phải thẳng tay diệt trừ.”

Vua nghe giận dữ vô bờ

Nảy ra ý định trả thù chó hoang

Toàn dân được lệnh quốc vương:

“Ai mà thấy chó giữa đường giết ngay!”

Lệnh vua ban bố từ đây

Chó luôn bị giết, đọa đày thảm thê

Chó hoang mang chẳng hiểu chi

Về sau mới biết là vì lệnh trên

Hoảng kinh chó vội trốn liền

Rút về nghĩa địa ven biên ngoại thành

Nơi đây mong được an lành

Trông chờ lãnh đạo giúp mình thoát nguy

Nơi cư ngụ vị chỉ huy

Vua Lông Bạc vốn uy nghi, lắm tài.

* Vua Lông Bạc được lên ngai

Không vì sức mạnh hơn ai trong bầy

Không vì to xác, lớn thây

Không vì thích mạo hiểm hay gan lì

Chàng thời giống các chó kia

Chỉ riêng đặc biệt lông thì bóng lên

Phô ra mầu bạc tóc tiên,

Mắt đen sáng tựa sao trên bầu trời

Tỏ ra minh mẫn tuyệt vời

Tai thời rất thính, mắt thời rất tinh

Bước đi chững chạc thân mình

Khiến cho bầy chó tôn vinh hàng đầu

Loài người cũng phục kém đâu.

Chàng Lông Bạc học từ lâu lắm điều

Trở nên thông thái cao siêu

Khả năng giải quyết rất nhiều khó khăn

Phô tài lãnh đạo quanh năm

Giúp cho đồng loại nhọc nhằn quản đâu

Cả bầy kính phục biết bao

Nên chàng Lông Bạc được bầu làm vua.

Vua Lông Bạc chợt ưu tư

Thấy bao đồng loại rất ư kinh hoàng

Rút về đầy cả nghĩa trang

Xôn xao lẩn trốn tìm đường thoát thân

Chàng bèn lên tiếng hỏi han

Cả bầy thuật lại nguy nan mọi điều:

“Chiếc xe vua quý, vua yêu

Dây da bị cắn mất tiêu cả rồi

Lệnh vua giết chó khắp nơi

Tai bay, vạ gió! Chao ơi thảm sầu!”

Sau khi ngẫm nghĩ trong đầu

Thời chàng Lông Bạc thấy mau ra rằng

Hoàng cung canh gác kỹ càng

Bên ngoài khó thể tìm phương lẻn vào

Chính là chó trong vòng rào

Chó hoàng cung đó, ai nào khác đâu

Đích danh thủ phạm hàng đầu

Chó ngoài khó lọt vào lâu đài này.

Chàng Lông Bạc nhủ lòng ngay:

“Hình hài chó khắp trong bầy của ta

Tuy đôi khi có khác xa

Nhưng là đồng loại một nhà mà thôi

Đều là thân thuộc lâu rồi

Nếu ta không cứu, ai thời giúp đây!”

Trấn an chàng nói với bầy:

“Xin đừng hãi sợ, nạn này sớm qua

Ở yên nghĩa địa, đừng ra

Đừng vào thành phố kẻo mà mạng vong

Chờ ta đến chốn hoàng cung

Nơi đây ta gặp quốc vương trần tình

Vạch cho ngài rõ ngọn ngành

Ai thời vô tội, ai thành kẻ gian

Chúng mình sẽ thoát nguy nan

Nhờ vào sự thật nhân gian mưu cầu!”

* Chó Lông Bạc lui lại sau

Tìm nơi khuất nẻo cúi đầu trầm tư

Tập trung phát khởi tâm từ:

“Cầu cho loài chó cũng như loài người

Sống vui hạnh phúc nơi nơi

An lành vô sự cuộc đời êm xuôi

Ta đi cứu giúp muôn loài

Mong không ai ác tâm đòi hại ta!”

Chó Lông Bạc từ xưa xa

Đã từng tu tập chan hòa lòng nhân

Luyện thêm trí óc sáng ngần

Giờ đây tha thiết chú tâm nguyện cầu,

Rồi chàng bình tĩnh bắt đầu

Ra đi chậm rãi vào sâu kinh thành

Dọc theo đường phố cây xanh

Thành Ba La Nại hữu tình biết bao

Tập trung tâm trí thật cao

Nên chàng chẳng có chút nào hoảng kinh

tin tưởng ở chính mình

Chàng đi tự tại, an bình, nghiêm trang

Lòng từ tỏa rạng ánh vàng

Mọi người cảm nhận dễ dàng thấy ngay

Khởi lòng kính trọng. Lành thay!

Bao nhiêu ý xấu lúc này tiêu tan

Chẳng ai muốn hãm hại chàng

Chẳng còn sân hận, hết mang oán thù

Kinh thành tất cả dường như

Mọi người hoan hỉ, tâm từ chứa chan

Không còn trở ngại, nguy nan

Chàng Lông Bạc bước nhẹ nhàng vào dinh

Ngang qua các trạm lính canh

Tiến vào phòng họp cung đình lớn to

Vào ngồi ngay cạnh ngai vua

Tỏ ra bình thản lại vừa tự tin.

Quốc vương cảm kích vô biên

Thấy chàng can đảm dám tìm tới nơi

Phô ra phẩm cách cao vời

Nên khi quân lính vang lời thét la

Chạy vào muốn bắt chó ra

Thời vua ngăn cản thật là quyền uy:

“Để yên chó ở đó đi!”

Bấy giờ Lông Bạc tức thì nghiêm trang

Tiến ra đối diện ngai vàng

Cúi chào tôn kính quốc vương uy quyền

Rồi chàng lên tiếng hỏi liền:

“Kính xin bệ hạ cảm phiền cho hay

Phải ngài ra lệnh mới đây

Giết loài chó ở thành này phải không?”

Vua bèn đáp chẳng ngại ngùng:

“Chính ta ra lệnh truy lùng chó kia!”

“Vậy thưa chó phạm tội chi?”

“Vì xe đẹp đẽ ta đi hàng ngày

Dây da quý giá buộc đây

Chó kia ăn mất. Tội này lớn lao!”

Chàng Lông Bạc hỏi: “Lạ sao

Thế ngài có biết chó nào ăn chăng?”

Quốc vương: “Không biết rõ ràng

Ta không bắt được quả tang chó nào

Nên ta ra lệnh tối cao

Giết đi tất cả, có đâu sai gì

Kẻ gian trong đám chó kia

Thoát đâu hình phạt thị uy răn đời”

Chàng Lông Bạc chẳng chịu thôi

Khẽ ngừng, rồi hỏi một lời thiết thân:

“Chó nào được hưởng đặc ân

Thoát qua hình phạt của lần này chăng

Hay là tuyệt đối công bằng?”

Quốc vương lúng túng khó khăn trả lời

Giữa triều đình, trước đông người

Lệnh vua nhắc lại nghe thời trái tai:

“Lệnh ta giết chó ở ngoài

Còn như chó ở lâu đài thời không!”

Chàng Lông Bạc: “Thật bất công

Thật là thiên vị, vô cùng lầm sai

Chó nghèo đói ở bên ngoài

Lệnh thời cho giết, bi ai não nùng

Chó giàu có ở trong cung

Thời không bị hại, thoát vòng khổ đau

Chó không bình đẳng như nhau

Ngọn đèn công lý còn đâu rạng ngời!”

Nghe lời chí lý tuyệt vời

Quốc vương khiêm tốn tức thời hỏi ngay:

“Nhà ngươi tài giỏi vậy thay

Hãy cho ta biết dây này ai ăn?”

Chàng thưa: “Nào có khó khăn

Chính là bầy chó họp đoàn trong đây

Tôi xin minh chứng điều này!”

Quốc vương: “Hãy tiến hành ngay xem nào!”

* Chàng Lông Bạc bèn yêu cầu

Chó hoàng cung được dẫn vào điều tra,

Chàng xin đem nước sữa ra

Rồi đem cỏ vụn để pha trộn vào

Xong rồi lên tiếng yêu cầu

Nhà vua cho chó uống mau sữa này.

Coi kìa! Thật lạ lùng thay!

Uống xong các chó mửa ngay ít nhiều

Dây da một số chưa tiêu

Chó hoàng cung thật khó kêu oan rồi

Chàng thêm: “Bệ hạ nghĩ coi

Hoàng cung quân lính khắp nơi canh phòng

Bên ngoài đâu dễ vào trong

Suy ra thủ phạm cũng không khó gì!”

Rồi chàng lên tiếng từ bi:

“Sát sinh tội lỗi muôn bề xấu xa

Chúng sinh tương tự một nhà

Như là liên hệ, chan hòa tình thân

Giết nhau là chuyện bất nhân

Ta nên tỏ lộ từ tâm ngập tràn!”

Lời chàng khiến các quần thần

Nghe xong xúc động tâm can vô cùng,

Và ngay cả chính quốc vương

Trở nên khiêm tốn nhún nhường biết bao

Đâu còn tự ái ngôi cao

Tới bên Lông Bạc cúi đầu thưa ngay:

“Ôi ta mãi đến hôm nay

Mới là hội đủ duyên may gặp ngài

Từ tâm tỏ lộ tuyệt vời

Lại thêm trí tuệ sáng ngời trăng sao

Ngài ban công lý tối cao

Ngôi vua ta muốn xin trao cho ngài!”

Chàng Lông Bạc khẽ trả lời:

“Tôi ham vương miện cõi đời này đâu

Nhà vua nếu quý trọng nhau

Thì xin hãy nhớ đôi câu tâm tình:

Hãy làm vua rất công minh

Lòng từ trao khắp chúng sinh xa gần,

Hãy mau thanh lọc thân tâm

Tuân theo ngũ giới chuyên cần chớ quên!”

Kể từ ngày đó cầm quyền

Quốc vương theo mãi lời khuyên rạng ngời

Luôn luôn quý trọng khắp nơi

Công bằng, bình đẳng người người bình an

Vua ra lệnh: “Khi ta ăn

Đồng thời các chó cũng cần được nuôi

Dù là các chó ở ngoài

Hay là chó của lâu đài nhà vua!”,

Đây là giai đoạn từ xưa

Khởi đầu trung hậu rất ư mặn nồng

Giữa người và chó tâm đồng

Kéo dài ở khắp các vùng tới nay.

 

22) Vua Chó Lông Bạc:

Chó Lông Bạc hiền trí là tiền thân Đức Phật. Vị quốc vương là Ananda. Bầy chó hiền lànhhội chúng của Đức Phật.

(22) The Dog King Silver [Justice] 

 

Once upon time, the King of Benares went to his pleasure garden in his fancy decorated chariot. He loved this chariot, mostly because of the rich hand-worked leather belts and straps.

 

On this occasion, he stayed in his pleasure garden all day long and into the evening. It was late when he finally got back to the palace. So the chariot was left outside in the compound all night, instead of being locked up properly.

 

During the night it rained heavily, and the leather got wet, swelled up, became soft, and gave off an odour. The pampered palace dogs smelled the delicious leather scent and came down into the compound. They chewed off and devoured the soft wet chariot straps. Before daybreak, they returned unseen to their places in the palace.

 

When the king woke up and came down, he saw that the leather had been chewed off and eaten by dogs. He called the servants and demanded to know how this happened.

 

Since they were supposed to watch the palace dogs, the servants were afraid to blame them. Instead, they made up a story that stray dogs, the mutts and mongrels of the city, had come into the grounds through sewers and storm drains. They were the ones who had eaten the fancy leather.

 

The king flew into a terrible rage. He was so overcome by anger that he decided to take vengeance against all dogs. So he decreed that whenever anyone in the city saw a dog, he was to kill him or her at once!

 

The people began killing dogs. The dogs could not understand why suddenly they were being killed. Later that day, they learned of the king’s decree. They became very frightened and retreated to the cemetery just outside the city. This was where their leader lived, the Dog King Silver.

 

Silver was king not because he was the biggest or strongest or toughest. He was average in size, with sleek silver fur, sparkling black eyes and alert pointed ears. He walked with great dignity, that brought admiration and respect from men as well as dogs. In his long life he had learned much, and was able to concentrate his mind on what is most important. So he became the wisest of all the dogs, as well as the one who cared most for the others. Those were the reasons he was king of the dogs.

 

In the cemetery, the dogs were in a panic. They were frightened to death. The Dog King Silver asked them why this was. They told him all about the chariot straps and the king’s decree, and the people killing them whenever they saw them.

 

King Silver knew there was no way to get into the well-guarded palace grounds. So he understood that the leather must have been eaten by the dogs living inside the palace.

 

He thought, “We dogs know that, no matter how different we may appear, somehow we are all related. So now I must make my greatest effort to save the lives of all these poor dogs, my relatives. There is no one to save them but me.”

 

He comforted them by saying, “Do not be afraid. I will save you all. Stay here in the cemetery and don’t go into the city. I will tell the King of Benares who are the thieves and who are the innocent. The truth will save us all.”

 

Before setting out, he went to a different part of the cemetery to be alone. Having practiced goodness all his life, and trained his mind, he now concentrated very hard and filled his mind with feelings of loving-kindness. He thought, “May all dogs be well and happy, and may all dogs be safe. I go to the palace for the sake of dogs and men alike. No one shall attack or harm me.”

 

Then the Dog King Silver began walking slowly through the streets of Benares. Because his mind was focused, he had no fear. Because of his long life of goodness, he walked with a calm dignity that demanded respect. And because of the warm glow of loving-kindness that all the people sensed, no one felt the rising of anger or any intention to harm him. Instead, they marvelled as the Great Being passed, and wondered how it could be so!

 

It was as if the whole city were entranced. With no obstruction, the Dog King Silver walked right past the palace guards, into the royal hall of justice, and sat down calmly underneath the king’s throne itself! The King of Benares was impressed by such courage and dignity. So when servants came to remove the dog, he ordered them to let him remain.

 

Then the Dog King Silver came out from under the throne and faced the mighty King of Benares. He bowed respectfully and asked, “Your majesty, was it you who ordered that all the dogs of the city should be killed?” “It was I,” replied the king. “What crime did the dogs commit?” asked the dog king. “Dogs ate my rich beautiful chariot leather and straps.” “Do you know which dogs did this?” asked King Silver. “No one knows,” said the King of Benares.

 

“My lord,” said the dog, “for a king such as you, who wishes to be righteous, is it right to have all dogs killed in the place of the few guilty ones? Does this do justice to the innocent ones?” The king replied, as if it made perfect sense to him, “Since I do not know which dogs destroyed my leather, only by ordering the killing of all dogs can I be sure of punishing the guilty. The king must have justice!”

 

The Dog King Silver paused for a moment, before challenging the king with the crucial question – “My lord king, is it a fact that you have ordered all dogs to be killed, or are there some who are not to be killed?” The king suddenly became a little uneasy as he was forced to admit, before his whole court, “It is true that most dogs are to be killed, but not all. The fine pure-breeds of my palace are to be spared.”

 

Then the dog king said, “My lord, before you said that all dogs were to be killed, in order to insure that the guilty would be punished. Now you say that your own palace dogs are to be spared. This shows that you have gone wrong in the way of prejudice. For a king who wishes to be righteous, it is wrong to favor some over others. The king’s justice must be unbiased, like an honest scale. Although you have decreed an impartial death to all dogs, in fact this is only the slaughter of poor dogs. Your rich palace dogs are unjustly saved, while the poor are wrongly killed!”

 

Recognizing the truth of the dog king’s words, the King of Benares asked, “Are you wise enough to know which dogs ate my leather straps and belts?” “Yes my lord, I do know,” said he, “it could only be your own favorite palace dogs, and I can prove it.” “Do so,” said the king.

 

The dog king asked to have the palace pets brought into the hall of justice. He asked for a mixture of buttermilk and grass, and for the dogs to be made to eat it. Lo and behold, when this was done they vomited up partly digested pieces of the king’s leather straps!

 

Then the Dog King Silver said, “My lord, no poor dogs from the city can enter the well-guarded palace compound. You were blinded by prejudice. It is your dogs who are the guilty ones. Nevertheless, to kill any living being is an unwholesome thing to do. This is because of what we dogs know, but men do not seem to know – that somehow all life is related, so all living beings deserve the same respect as relatives.”

 

The whole court was amazed by what had just taken place. The King of Benares was suddenly overcome by a rare feeling of humility. He bowed before the dog king and said, “Oh great king of dogs, I have never seen anyone such as you, one who combines perfect wisdom with great compassion. Truly, your justice is supreme. I offer my throne and the kingdom of Benares to you!”

 

The Enlightenment Being replied, “Arise my lord, I have no desire for a human crown. If you wish to show your respect for me, you should be a just and merciful ruler. It would help if you begin to purify your mind by practising the ‘Five Training Steps’. These are to give up entirely the five unwholesome actions: destroying life, taking what is not given, sexual wrong-doing, speaking falsely, and drunkenness.”

 

The king followed the teachings of the wise dog king. He ruled with great respect for all living beings. He ordered that whenever he ate, all dogs, those of the palace and those of the city, were to be fed as well. This was the beginning of the faithfulness between dogs and men that has lasted to this day.

 

The moral is: Prejudice leads to injustice, wisdom leads to justice.

 

 


023_A23

(23) Ngựa Nòi Thông Minh 

 

Thành Ba-La-Nại thuở xưa

Ở miền bắc Ấn có vua trị vì

Quốc vương nhiều ngựa kể chi

Nhưng riêng một ngựa kia thì tuyệt luân

Ngựa nòi, giống tốt vô ngần

Lớn to, mạnh mẽ thêm phần thông minh

Ngựa từ nhỏ đã khôn lanh

Chưa cần nghe lệnh sai mình tới lui

Đoán ra ý đó ngay rồi

Quốc vương khen ngợi: “Ngựa nòi thông minh!”

Ngựa nòi nổi tiếng trong kinh

Quốc vương đặc biệt tận tình lo toan

Chuồng thời lộng lẫy trang hoàng

Thơm tho, sạch sẽ, khang trang vô cùng.

Trung thành với chủ hết lòng

Ngựa còn can đảm oai phong hàng đầu

Quốc vương quý ngựa từ lâu

Bao nhiêu tin tưởng đặt vào ngựa thôi.

* Một ngày u ám đầy trời

Thành Ba-La-Nại rối bời tóc tang

Bảy vua các nước lân bang

Kết liên gây chiến dàn hàng tại đây

Họ mang lính tráng bủa vây

Quân hùng, tướng mạnh chuyến này phô trương

Nào voi, nào ngựa rộn ràng

Nào xe, nào lính vũ trang đầy mình

Vua Ba-La-Nại hoảng kinh

Vội vàng triệu tập triều đình lại ngay

Họp bàn tìm kế hoạch hay

Hầu mong chống đỡ với bầy xâm lăng,

Họ khuyên vua: “Chớ đầu hàng

Cùng nhau chống trả ngoại bang đến cùng

Ta cần bảo vệ hoàng cung

Giữ gìn ngôi vị quốc vương nước nhà,

Thoạt tiên mình hãy cử ra

Một viên võ tướng tài ba hơn người

Đã từng vô địch lâu đời

Thay vua chiến đấu tại nơi chiến trường

Nếu không thắng được đối phương

Thời ta mới để hoàng cung dự phần

Bấy giờ bệ hạ đích thân

Trổ tài ra trận cầm quân diệt thù”

Lời nghe hợp với ý vua

Nên ông quan võ từ xưa đứng đầu

Giữ ngôi vô địch đã lâu

Quốc vương triệu tới cùng nhau luận bàn

Quốc vương lên tiếng hỏi quan:

“Liệu rằng có thể phá tan giặc này?”

Ông quan võ trả lời ngay

Muốn rằng có được ngựa hay để dùng:

“Nếu mà bệ hạ đồng lòng

Hạ thần xin được cưỡi con ngựa nòi

Khôn ngoan can đảm lâu rồi

Chắc là sẽ thắng tại nơi trận tiền!”

Quốc vương đồng ý nói liền:

“Hỡi quan vô địch tôi hiền trung trinh

Ta luôn trông cậy vào khanh

Cùng là ngựa báu thông minh tốt nòi

Cứu nguy vương quốc này thôi

Tùy khanh định liệu chuyện nơi chiến trường!”

* Ông quan nhận lệnh quốc vương

Vội vàng đi tới nơi chuồng hoàng cung

Ngựa nòi ăn uống vừa xong

Được mang đầy đủ yên cương trên người

Khoác thêm áo giáp bên ngoài

Cùng đồ trang sức rạng ngời châu thân

Ông quan kỵ mã tới gần

Cúi chào ngựa quý muôn phần nghiêm trang

Rồi leo lên cưỡi hiên ngang

Một người, một ngựa phóng sang phía thù

Ngựa nòi thông thái từ xưa

Hiểu ra tình thế rất ư hiểm nghèo

Nhủ lòng: “Quân địch quá nhiều

Lân bang bảy nước hò reo vây thành

Ngựa, voi, vũ khí, tinh binh

Nước mình cùng quốc vương mình nguy nan,

Quốc vương nhân ái vô ngần

Lại thêm tin tưởng trăm phần nơi ta

Ta đâu có thể lơ là

Để quân địch thắng trận mà đành tâm.

Nếu ta giúp đỡ ông quan

Để rồi tàn sát địch quân chuyến này

Bảy vua bị giết tại đây

Tức là ta đã tiếp tay hại người

Sát sinh phạm tội mất rồi

Xấu xa như vậy ta thời tránh xa,

Dịp này ta muốn đưa ra

Một lời giáo huấn cao xa tuyệt vời:

Không nên giết hại ở đời

Bảy vua bị bắt sống thời mới hay

Mới là chuyện vĩ đại thay

Mới là chiến thắng tràn đầy vinh quang!”

Những suy tư đẹp vô vàn

Ngựa bèn thổ lộ với quan cưỡi mình.

Rồi xông ra trận nhiệt tình

Sau khi quan sát chung quanh chiến trường

Chồm lên dậm cẳng hí vang

Lao vào đột kích đối phương tưng bừng

Tự tin, mạnh mẽ, kiêu hùng

Địch quân hốt hoảng tìm đường tháo lui.

Đoàn quân thứ nhất thua rồi

Vua thời bị bắt, quân thời bị tan

Bất ngờ, nhanh chóng, dễ dàng

Tránh đường chém giết bạo tàn như xưa.

* Thế rồi lần lượt các vua

Đều thua chiến trận cũng như người đầu

Sáu vua bị bắt giống nhau

Giải vào giam giữ trước sau trong thành

Tưởng như sắp dứt chiến tranh

Nào ngờ lính nọ nấp rình một nơi

Dùng gươm đâm lén ngựa nòi

Bên sườn máu đỏ tuôn rơi dầm dề

Hằn sâu thương tích nặng nề

Khiến quan kỵ mã nghĩ suy ngại ngần

Lòng can đảm chợt tiêu tan

Nghĩ rằng: “Ngựa yếu khó ngăn quân thù

Địch quân kia khó đánh thua

Đạo quân thứ bẩy có vua kiêu hùng,

Ta nên chọn một ngựa thường

Phủ ngoài áo giáp, yên cương sẵn sàng

Cũng to lớn, cũng hiên ngang

Để thay cho ngựa nòi đang thảm sầu!”

Nghĩ xong ông chẳng chờ lâu

Lệnh thay thế ngựa truyền mau ra rồi.

* Tuy đang đau đớn thân người

Ngựa nòi thấy vậy mở lời can ngăn:

“Thưa ông, ông có biết chăng

Nếu ông xử dụng ngựa thường như xưa

Giết nhau mong chuyện hơn thua

Thì dù thắng cũng bằng thừa mà thôi

Sát sinh đã tạo nghiệp rồi

Vinh quang chốc lát, luân hồi dài lâu

Xin ông hãy xét lại mau

Ngựa nòi thuần chủng đứng đầu là tôi

Riêng tôi giúp được ông thôi

Xông vào trận tuyến đủ tài tấn công

Phá tan hàng ngũ địch quân

Mà không sát hại một nhân mạng nào

Bắt vua thứ bảy. Lành sao!

Chiến tranh chấm dứt biết bao an bình!”

Ông quan nghe ngựa khuyên mình

Nghe xong ông lại lên tinh thần rồi

Theo lời ngựa thi hành thôi.

Ngựa nòi gắng gượng vươn người đứng lên

Vết thương băng bó kỹ thêm,

Chở quan kỵ mã trên yên kiêu hùng

Với đà cố gắng phi thường

Ngựa lao trở lại chiến trường hăng say

Đạo quân thứ bảy phá ngay

Đồng thời bắt sống vua này êm xuôi

Hết xâm lăng! Hết nổi trôi!

Chiến tranh lắng đọng, khắp nơi thái bình.

* Ngựa nòi trầm trọng bệnh tình

Quốc vương nhỏ lệ, thân hành đến thăm

Ngựa bèn trịnh trọng trối trăng:

“Tôi xin được một đặc ân cuối cùng

Hòa bình khi tái lập xong

Đừng thêm đổ máu mới mong lâu dài

Tôi xin trông cậy ở ngài

Ra tay phóng thích, triển khai tâm từ

Thả luôn tất cả bảy vua

Lân bang chung sống coi như một nhà!”

Nói xong ngựa duỗi mình ra

Từ từ nhắm mắt lìa xa cõi trần.

Quốc vương cùng với quan, quân

Xót xa nhỏ lệ muôn phần tiếc thương,

Thả vua bảy nước lân bang

Về sau chung sống trăm đường bình yên,

Cùng nhau hỏa táng ngựa hiền

Khắp nơi vang vọng lời khuyên nhân từ.

 

23) Ngựa Nòi Thông Minh:

Ngựa nòi giống tốt và thông minhtiền thân Đức Phật. Vị quốc vương là Ananda. Người cưỡi ngựa là Xá Lợi Phất.

(23) The Great Horse Knowing-one [Courage] 

 

Once upon a time, King Brahmadatta ruled in Benares, in northern India. He had a mighty horse, who had been born in the land of Sindh, in the Indus River valley of western India. Indeed, this horse was the Enlightenment Being.

 

As well as being big and strong, he was very intelligent and wise. When he was still young, people noticed that he always seemed to know what his rider wanted before being told. So he was called Knowing-one.

 

He was considered the greatest of the royal horses, and was given the very best of everything. His stall was decorated and was always kept clean and beautiful. Horses are usually faithful to their masters. Knowing-one was especially loyal, and was grateful for how well the king cared for him. Of all the royal horses, Knowing-one was also the bravest. So the king respected and trusted him.

 

It came to pass that seven neighbouring kings joined together to make war on King Brahmadatta. Each king brought four great armies – an elephant cavalry, a horse cavalry, a chariot brigade and ranks of foot soldiers. Together the seven kings, with all their armies, surrounded the city of Benares.

 

King Brahmadatta assembled his ministers and advisers to make plans for defending the kingdom. They advised him, “Do not surrender. We must fight to protect our high positions. But you should not risk your royal person in the beginning. Instead, send out the champion of all the knights to represent you on the battlefield. If he fails, only then must you yourself go.”

 

So the king called the champion to him and asked, “Can you be victorious over these seven kings?” The knight replied, “If you permit me to ride out on the bravest and wisest, the great horse Knowing-one, only then can I win the battle.” The king agreed and said, “My champion, it is up to you and Knowing-one to save the country in its time of danger. Take with you whatever you need.”

 

The champion knight went to the royal stables. He ordered that Knowing-one be well fed and dressed in protective armor, with all the finest trimmings. Then he bowed respectfully and climbed into the beautiful saddle.

 

Knowing-one knew the situation. He thought, “These seven kings have come to attack my country and my king, who feeds and cares for and trusts me. Not only the seven kings, but also their large and powerful armies threaten my king and all in Benares. I cannot let them win. But I also cannot permit the champion knight to kill those kings. Then I too would share in the unwholesome action of taking the lives of others, in order to win an ordinary victory. Instead, I will teach a new way. I will capture all seven kings without killing anyone. That would be a truly great victory!”

 

Then the Knowing-one spoke to his rider. “Sir knight, let us win this battle in a new way, without destroying life. You must only capture each king, one at a time, and remain firmly on my back. Let me find the true course through the many armies. Watch me as you ride, and I will show you the courage that goes beyond the old way, the killing way!”

 

As he spoke of ‘a new way’, and ‘the true course’, and ‘the courage that goes beyond’, it seemed the noble steed became larger than life. He reared up majestically on his powerful hind legs, and looked down on all the armies surrounding the city. The eyes of all were drawn to this magnificent one. The earth trembled as his front hoofs returned to the ground and he charged into the midst of the four armies of the first king. He seemed to have the speed of lightning, the might of a hundred elephants, and the glorious confidence of one from some other world.

 

The elephants could remember no such horse as this, and so the elephant cavalry retreated in fear. The horses knew that this their relative was the worthy master of them all, and so the horse cavalry and the chariot brigade stood still and bowed as the Great Being passed. And the ranks of foot-soldiers scattered like flies before a strong wind.

 

The first king hardly knew what had happened, before he was easily captured and brought back into the city of Benares. And so too with the second, third, fourth and fifth kings.

 

In the same way the sixth king was captured. But one of his loyal bodyguards leaped out from hiding and thrust his sword deep into the side of the brave Knowing-one. With blood streaming from the wound, he carried the champion knight and the captured sixth king back to the city.

 

When the knight saw the terrible wound, he suddenly became afraid to ride the weakened Knowing-one against the seventh king. So he began to dress in armour another powerful war horse, who was really just as big as Knowing-one.

 

Seeing this, though suffering in great pain from his deadly wound, Knowing-one thought, “This champion knight has lost his courage so quickly. He has not understood the true nature of my power – the knowledge that true peace is only won by peaceful means. He tries to defeat the seventh king and his armies in the ordinary way, riding an ordinary horse.

 

“After taking the first step of giving up the killing of living beings, I cannot stop part way. My great effort to teach a new way would disappear like a line drawn in water!”

 

The great horse Knowing-one spoke to the champion knight. “Sir knight, the seventh king and his armies are the mightiest of all. Riding an ordinary horse, even if you slaughter a thousand men and animals, you will be defeated. I, of the mighty tribe of Sindh horses, the one called Knowing-one, only I can pass through them harming none, and bring back the seventh king alive!”

 

The champion knight regained his courage. The brave horse struggled to his feet, in great pain. While the blood continued to flow, he reared and charged through the four armies, and the knight brought back the last of the seven warlike kings. Again all those in his path were spared from harm. Seeing their seven kings in captivity, all the armies laid down their weapons and asked for peace.

 

Realizing that the great horse Knowing-one would not live through the night, King Brahmadatta went to see him. He had raised him from a colt, so he loved him. When he saw that he was dying, his eyes filled with tears.

 

Knowing-one said, “My lord king, I have served you well. And I have gone beyond and shown a new way. Now you must grant my last request. You must not kill these seven kings, even though they have wronged you. For a bloody victory sows the seeds of the next war. Forgive their attack on you, let them return to their kingdoms, and may you all live in peace from now on.

 

“Whatever reward you would give to me, give instead to the champion knight. Do only wholesome deeds, be generous, honour the Truth, and kill no living being. Rule with justice and compassion.”

 

Then he closed his eyes and breathed his last. The king burst into tears, and all mourned his passing. With the highest honours, they burned the body of the great horse Knowing-one – the Enlightenment Being.

 

King Brahmadatta had the seven kings brought before him. They too honored the great one, who had defeated their vast armies without spilling a drop of blood, except his own. In his memory they made peace, and never again did these seven kings and Brahmadatta make war on each other.

 

The moral is: True peace is only won by peaceful means.

 


024_A24

(24) Nước Tắm Dơ Bẩn 

 

Ở bên Ấn Độ thời xưa

Trong vương quốc nọ gió mưa thuận hoà

Ngựa vua quý báu, kiêu sa

Mỗi khi tắm táp hay ra phía ngoài

Nơi dòng sông chảy khoan thai

Có vùng nước cạn các nài thường quen

Thường mang ngựa tắm nhiều phen

Từ lâu vẫn ghé qua bên sông này.

Tuy nhiên đặc biệt bữa nay

Có con ngựa lạ tới đây dầm mình

Ngựa hoang tắm táp thoả tình

Trút bao dơ bẩn, hôi tanh lâu ngày

Tắm xong ngựa nọ đi ngay

Vùng sông nước cạn vơi đầy lao xao.

Khi nài dẫn ngựa vua vào

Ngựa hoàng cung đó ai nào sánh ngang

Vừa đẹp đẽ, vừa cao sang

Bước chân xuống chỗ sông thường tới lui

Ngựa vua bất chợt đánh hơi

Nhận ra thoang thoảng mùi hôi quanh vùng

Bến không sạch, nước hết trong

Biết ngay ngựa lạ tắm sông này rồi

Dính vào chỉ nhớp thêm thôi

Chỉ thêm dơ bẩn thân người ích chi

Ngựa vua ghê tởm tức thì

Không còn muốn tắm táp chi nơi này.

Các nài ngựa vất vả thay

Muốn đưa ngựa xuống, loay hoay đủ điều

Nhưng mà ngựa chẳng xuôi chiều

Không ưng xuống tắm y theo lệnh nài.

Một nài trở lại lâu đài

Tâu trình vua rõ: “Thưa ngoài bến sông

Ngựa nòi quý của hoàng cung

Đã từng huấn luyện vô cùng kỹ thay

Thế mà bướng bỉnh hôm nay

Ngựa không chịu tắm, đòi quay trở về!”

* Nhà vua chú ý lắng nghe

Truyền cho mời vị quan kia tới liền

Ông quan nổi tiếng khắp miền

Rành về súc vật, đáng tin vô cùng,

Vua lên tiếng: “Thật lạ lùng

Ngựa yêu thuần tính trong cung triều đình

Tự nhiên trở chứng thình lình

Không còn muốn tắm! Quả tình lạ sao!”

Ông quan chẳng nghĩ ngợi lâu

Tìm ra nơi tắm ngựa đầu bến sông

Thấy rằng ngựa khoẻ vô cùng

Tuy nhiên lúc thở thời không bình thường

Hít vào ngần ngại, nhẹ nhàng

Ông quan vội đánh hơi vương quanh miền

Thấy mùi dơ bẩn bốc lên

Điều tra thêm nữa quan liền rõ ngay

Mùi hôi thoang thoảng xa bay

Từ nơi vũng tắm sông này mà thôi

Sông dơ, nước bẩn, mùi hôi

Chắc là ngựa lạ tắm nơi đây rồi

Ngựa vua sạch sẽ cả đời

Bến sông ô uế ngựa thời chẳng ưa

Ông bèn hỏi: “Có ngựa dơ

Tới đây tắm táp bên bờ sông chăng?”

Các nài ngựa vội thưa rằng:

“Vừa đây có một ngựa hoang ghé vào

Tắm nơi này, bẩn biết bao

Mùi hôi do đó dễ nào tan đi!”

Ông bèn dạy các nài kia:

“Ngựa hoàng cung đó còn gì quý hơn

Ngựa ưa sạch sẽ luôn luôn

Nào đâu muốn tắm trong nguồn nước dơ

Bây giờ hãy giắt ngựa ra

Ngược dòng đưa ngựa trở qua khúc đầu

Đầu sông nước sạch, xanh mầu

Tắm đây chắc ngựa còn đâu buồn phiền!”

Các nài vội thực hiện liền

Ngựa qua chỗ mới quả nhiên hài lòng

Tại nơi bến tắm đầu dòng

Nước sông xuôi chảy sạch trong vô cùng.

Ông quan về lại hoàng cung

Tường trình vua rõ. Vua mừng ngợi khen

Cho rằng quan giỏi vô biên

Đọc ra ý nghĩ ngựa hiền của vua.

 

24) Nước Tắm Dơ Bẩn:

Ông quan giỏi về súc vậttiền thân Đức Phật. Vua là Ananda.

(24) Dirty Bath Water [Cleanliness] 

 

Once upon a time, in a kingdom in India, the finest of the royal horses was taken down to the river to be bathed. The grooms took him to the same shallow pool where they always washed him.

 

However, just before they arrived, a filthy dirty horse had been washed in the same spot. He had been caught in the countryside and had never had a good bath in all his life.

 

The fine royal horse sniffed the air. He knew right away that some filthy wild horse had bathed there and fouled the water. So he was disgusted and refused to be washed at that place.

 

The grooms tried their best to get him into the water, but could do nothing with him. So they went to the king and complained that the fine well-trained royal stallion had suddenly become stubborn and unmanageable.

 

It just so happened that the king had an intelligent minister who was known for his understanding of animals. So he called for him and said, “Please go and see what has happened to my number one horse. Find out if he is sick or what is the reason he refuses to be bathed. Of all my horses, I thought this one was of such high quality that he would never let himself sink into dirtiness. There must be something wrong.”

 

The minister went down to the riverside bathing pool immediately. He found that the stately horse was not sick, but in perfect health. He noticed also that he was deliberately breathing as little as possible. So he sniffed the air and smelled a slight foul odour. Investigating further, he found that it came from the unclean water in the bathing pool. So he figured out that another very dirty horse must have been washed there, and that the king’s horse was too fond of cleanliness to bathe in dirty water.

 

The minister asked the horse grooms, “Has any other horse been bathed at this spot today.?” “Yes,” they replied, “before we arrived, a dirty wild horse was bathed here.” The minister told them, “My dear grooms, this is a fine royal horse who loves cleanliness. He does not wish to bathe in dirty water. So the thing to do is to take him up river, where the water is fresh and clean, and wash him there.”

 

They followed his instructions, and the royal horse was pleased to bathe in the new place.

 

The minister returned to the king and told what had happened. Then he said, “You were correct your majesty, this fine horse was indeed of such high quality that he would not let himself sink into dirtiness!”

 

The king was amazed that his minister seemed to be able to read the mind of a horse. So he rewarded him appropriately.

 

The moral is: Even animals value cleanliness.


025_A25

(25) Đẹp Gái 

 

Thành Ba La Nại thuở xưa

Có chàng voi được nhà vua cưng chiều

Chàng voi tính tốt đủ điều

Hiền lành, tuân lệnh, đáng yêu vô cùng,

Ngoài ra voi đẹp lạ lùng

So cùng với mỹ nhân không thua gì

Mặt voi nhan sắc khỏi chê

Gọi voi “đẹp gái” còn chi đúng bằng.

Một đêm thanh vắng không trăng

Có bầy trộm cướp trong làng họp đây

Cạnh chuồng voi, dưới hàng cây

Chúng bàn kế hoạch cướp ngày, cướp đêm

Khoe khoang thành tích chẳng quên

Bạo hành, giết chóc nhiều phen hung tàn

Nạn nhân rên xiết than van

Bọn này chẳng động tâm can chút nào

Các lời độc ác tuôn trào

Xiết bao tàn nhẫn, xiết bao dữ dằn

Như mong cho các nạn nhân

Tăng niềm run sợ, thêm phần hoảng kinh.

Đêm khuya yên tĩnh chung quanh

Chàng voi rảnh rỗi một mình lắng nghe

Lọt tai bao chuyện gớm ghê

Ngàn phần ác đức, trăm bề bất nhân

Chàng nghe kỹ lưỡng vô ngần

Và rồi ghi nhớ chẳng cần nghĩ suy

Từ lâu khuất phục quyền uy

Thầy ra mệnh lệnh voi thì theo thôi,

Đêm nay nghe vọng tiếng người

Chàng voi chất phát nghĩ lời bên tai

Là lời thầy dạy chẳng sai

Nên voi dự tính nay mai thi hành.

* Vài đêm nghe chuyện trôi nhanh

Chàng voi nay đã trở thành nhập tâm

Nghĩ mình cũng phải bất nhân

Ra tay cứng rắn bạo tàn như ai.

Một hôm quản tượng tới nơi

Là người huấn luyện lâu đời của voi

Thường dạy dỗ, mãi trông coi

Cận kề thân thiết bao hồi bên nhau

Voi giờ đen tối trong đầu

Điều hay, lẽ phải còn đâu nhớ gì

Nhớ toàn chuyện độc ác kia

Mà quân trộm cướp thầm thì đêm qua

Thế là tính ác lộ ra

Tấn công quản tượng thật là ác tâm

Lấy vòi quấn chặt quanh thân

Bóp cho nghẹt thở rồi chân dẫm nghiền

Dã man, tàn bạo, cuồng điên

Khiến cho quản tượng chết liền tại đây

Rồi voi lại tóm bắt ngay

Hai người phụ tá cũng hay cận kề

lần lượt giết gớm ghê

Y như giết quản tượng kia mới rồi.

Kinh thành rối loạn khắp nơi

Xôn xao nghe được tin voi điên cuồng

Một thời “đẹp gái” dễ thương

Giờ đây giết chóc chẳng nương mạng người

Bà con than khổ kêu trời

Tìm vua cầu cứu, thốt lời than van.

* Nhà vua bèn mời vị quan

Rành về súc vật, giỏi giang lâu rồi

Tới nơi vua thuật đầu đuôi

Sai quan tìm hiểu xem voi thế nào.

Ghé chuồng voi quan thì thào

Chuyện trò êm dịu, ngọt ngào với voi

Lời hiền như gió êm xuôi

Khiến voi nghe chuyện xong rồi dịu đi

Quan xem xét thấy voi kia

Hoàn toàn mạnh khoẻ có chi bệnh tình

Khi quan nói giọng hiền lành

Hình như voi thích âm thanh dịu hiền

Vểnh tai nghe, mắt lim dim

Nên quan suy đoán ra thêm một điều:

“Chắc voi mù quáng làm theo

Những lời bạo động gây nhiều tang thương

Hành vi tàn ác bất thường

Của người voi tưởng hiền lương bậc thầy”

Hỏi thăm lính gác tại đây

Quan nghe họ báo cho hay ngọn ngành:

“Vài tuần nay giữa đêm thanh

Có bầy trộm cướp ẩn quanh chuồng này

Dữ dằn, hung hãn mặt mày

Bọn tôi không dám ra tay đối đầu,

Chúng bàn chuyện ác cùng nhau

Chắc voi nghe lọt trước sau mọi lời

Rồi tiêm nhiễm thói xấu thôi!”

Quan bèn trở lại lâu đài nhà vua

Đầu đuôi mọi chuyện trình thưa

Nhà vua nghe nói rất ư bàng hoàng

Không ngờ voi quý cung vàng

Giờ đây học thói của phường sát nhân

Vua bèn hỏi ý kiến quan,

Quan thưa trước hết là cần đổi thay

Thay quân gian bằng người ngay

Đưa thầy tu tới chốn này cạnh voi

Gửi người hiền đức mà thôi

Tính thời lương thiện, lời thời dịu êm

tâm địa tốt vô biên

Những lời họ nói tất nhiên tốt lành

Đầy thiện tâm, thắm đạo tình

Từ bi, hỷ xả đã thành nếp quen.

Chương trình đem thực hiện liền

Voi kia được kề cận bên người hiền

Được nghe chuyện tốt vài đêm

Giờ đây bỗng lại trở nên hiền từ

Và còn thuần tính hơn xưa

Ông quan mừng rỡ báo vua tỏ tường:

“Voi bây giờ quá hiền lương

Như cừu non lứa tuổi đương rỡn đùa

Rất dễ thương, rất đáng ưa

Quả là vô hại, không như thuở nào!”

Vua bèn phán: “Thật lành sao

Đúng là gần mực thế nào cũng đen

Gần đèn thì sẽ sáng lên

Thần dân ghi nhớ! Chớ quên điều này!”

Vua thầm nghĩ cũng lạ thay

Ông quan thật giỏi, thật hay tuyệt vời

Hình như đọc được ý voi

Đoán ra tư tưởng của loài vật kia

Quả là hiếm có kể chi

Vua bèn ban thưởng! Còn gì vui hơn!

 

25) Đẹp Gái:

Ông quan giỏi về súc vậttiền thân Đức Phật. Vua là Ananda.

(25) Ladyface [Association] 

 

Once upon time, the King of Benares had a royal bull elephant who was kind, patient and harmless. Along with his sweet disposition, he had a lovely gentle face. So he was affectionately known as ‘Ladyface’.

 

One night, a gang of robbers met together just outside the elephant shed. In the darkness they talked about their plans for robbing people. They spoke of beating and killing, and bragged that they had given up ordinary goodness so they would have no pity on their victims. They used rough he-man type gutter language, intended to scare people and show how tough they were.

 

Since the nights were quiet, Ladyface had nothing else to do but listen to all these terrible plans and violent rough talk. He listened carefully and, as elephants do, remembered it all. Having been brought up to obey and respect human beings, he thought these men were also to be obeyed and respected, even as teachers.

 

After this went on for several nights, Ladyface decided that the correct thing to do was to become rough and cruel. This usually happens to one who associates with those of a low-minded cruel nature. It happens especially to a gentle one who wishes to please others.

 

A ‘mahout’ is what the Indians call the special trainer and caretaker of a particular elephant. They are usually very close. Early one morning, Ladyface’s mahout came to see him as usual. The elephant, his mind filled with the night’s robber-talk, suddenly attacked his mahout. He picked him up in his trunk, squeezed the breath out of him, and smashed him to the ground, killing him instantly. Then he picked up two other attendants, one after another, and killed them just as ferociously.

 

Word spread quickly through the city that the once adored Ladyface had suddenly gone mad and become a frightening man-killer. The people ran to the king for help.

 

It just so happened that the king had an intelligent minister who was known for his understanding of animals. So he called for him and asked him to go and determine what sickness or other condition had caused his favorite elephant to become so insanely violent.

 

This minister was the Bodhisatta, the Enlightenment Being. Arriving at the elephant shed, he spoke gentle soothing words to Ladyface, and calmed him down. He examined him and found him in perfect physical health. As he spoke kindly to Ladyface, he noticed that the elephant perked up his ears and paid very close attention. It was almost as if the poor animal were starved for the sound of gentle words. So the understanding minister figured out that the elephant must have been hearing the violent words or seeing the violent actions of those he mistook for teachers.

 

He asked the elephant guards, “Have you seen anyone hanging around this elephant shed, at night or any other time?” “Yes, minister,” they replied, “for the last couple of weeks a gang of robbers has been meeting here. We were afraid to do anything, since they were such mean rough characters. Ladyface could hear their every word.”

 

The minister returned immediately to the king. He said, “My lord king, your favourite elephant, Ladyface, is in perfect physical health. I have discovered that it was by hearing the rough and vulgar talk of thieves during many nights, that he has learned to be violent and cruel. Unwholesome associations often lead to unwholesome thoughts and actions.”

 

The king asked, “What is to be done?” The minister said, “Well my lord, now we must reverse the process. We must send wise men and monks, who have a high-minded kind nature, to spend just as many nights outside the elephant shed. There they should talk of the value of ordinary goodness and patience, leading to compassion, loving-kindness and harmlessness.”

 

So it was carried out. For several nights the kind wise ones spoke of those wonderful qualities. They used only gentle and refined language, intended to bring peacefulness and comfort to others.

 

Lo and behold, hearing this pleasant conversation for several nights, Ladyface the bull elephant became even more peaceful and pleasant than before!

 

Seeing this total change, the minister reported it to the king, saying, “My lord, Ladyface is now even more harmless and sweet than before. Now he is as gentle as a lamb!”

 

The king said, “It is wonderful indeed that such a madly violent elephant can be changed by associating with wise men and monks.” He was amazed that his minister seemed to be able to read the mind of an elephant. So he rewarded him appropriately.

 

The moral is: As rough talk infects with violence, so do gentle words heal with harmlessness.

 

 

____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2640)
08 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2809)
03 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2447)
30 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2375)
28 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2321)
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2294)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2776)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2356)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2440)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2360)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2397)
27 Tháng Mười 2020(Xem: 2357)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 2280)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 2145)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 2130)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 3604)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 1054723)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 3856)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 3588)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 3338)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 3182)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 2557)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 2689)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 2143)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 2271)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 2447)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 2847)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 2067)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 2267)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 2503)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 2170)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 3035)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 2930)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 3724)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5505)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 7187)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 3187)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 3146)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 2875)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 2776)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 8538)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 2440)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 2586)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 5494)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 4588)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng