Truyện Thơ Tiền Thân Đức Phật, Phần 2/4 - Buddhist Tales For Young And Old, Part 2/4

14 Tháng Ba 20179:39 SA(Xem: 5740)
Truyện Thơ Tiền Thân Đức Phật, Phần 2/4 - Buddhist Tales For Young And Old, Part 2/4
Buddha_12-23-2016_A(Picture-Hình: Thus Have I Heard)


Truyện Thơ Tiền Thân Đức Phật, Phần 2/4 

Buddhist Tales For Young And Old, Part 2/4

Interpreted by Ven. Kurunegoda Piyatissa. Stories told by Todd Anderson 
Truyện Thơ (phỏng dịch): Tâm Minh Ngô Tằng Giao


____________________


MỤC LỤC

 

26) Bạn Rất Thân.

27) Bò Đại Hỷ.

28) Bò Đen Của Bà.

29) Anh Em Bò Và Chú Heo Con.

30) Cõi Trời 33 (Ch.1: Cộng Tác).

31) Cõi Trời 33 (Ch.2: Từ Bi).

32) Cõi Trời 33 (Ch.3: Phước Báu).

33) Công Múa.

34) Vua Chim Cút Và Chàng Thợ Săn.

35) Con Cá May Mắn.

36) Chim Cút Nhỏ Không Biết Bay

37) Chim Khôn, Chim Dại.

38) Cây Bàng Mọc Lên.

39) Cò Và Cua.

40) Kho Tàng Giấu Chôn.

41) Phật Độc Giác.

42) Lời Nguyền Rủa (Ch.1: Ghen Tức).

43) Lời Nguyền Rủa (Ch.2: Tham Lam).

44) Lời Nguyền Rủa (Ch.3: Lạc Thú).

45) Bồ Câu Và Quạ.

46) Cha Của Rắn Tre.

47) Hai Trẻ Dại Khờ.

48) Tưới Vườn.

49) Rượu Mặn.

50) Thầy Bùa Chú Và Bọn Bắt Cóc.

51) Chú Rể Mất Vợ Vì Chòm Sao.

52) Hoàng Tử Có Kế Hoạch.

53) Vua Giới Đức.

54) Bọn Nghiện Rượu.

55) Cây Độc Chết Người.

56) Hoàng Tử Năm Vũ Khí Và Quỷ Lông Dính.

INDEX

 

(26) Best Friends [The Power of Friendship] 

 

(27) The Bull Called Delightful [All Deserve Respect] 

 

(28) Grandma’s Blackie [Loving-kindness] 

 

(29) Big Red, Little Red and No-squeal [Envy] 

 

(30) The Heaven of 33 [Chapter 1. Co-operation] 

 

(31) The Heaven of 33[Chapter 2. Compassion] 

 

(32) The Heaven of 33 [Chapter 3. Merit] 

(33) The Dancing Peacock [Pride and Modesty] 

 

(34) The Quail King and the Hunter [Unity] 

 

(35) The Fortunate Fish [Desire] 

 

(36) The Baby Quail Who Could Not Fly Away [The Power of Truth, Wholesomeness and Compassion] 

 

(37) Wise Birds and Foolish Birds [Good Advice] 

 

(38) The Birth of a Banyan Tree [Respect for Elders] 

 

(39) The Crane and the Crab [Trickery] 

 

(40) Buried Treasure [The Arrogance of Power] 

 

(41) The Silent Buddha [Generosity] 

 

(42) The Curse of Mittavinda [Chapter 1. Jealousy] 

 

(43) The Curse of Mittavinda [Chapter 2. Greed] 

 

(44) The Curse of Mittavinda [Chapter 3. Pleasure] 

 

(45) The Pigeon and the Crow [The Danger of Greed] 

 

(46) Bamboo’s Father [Wasted Advice] 

 

(47) Two Stupid Children [Foolishness] 

 

(48) Watering the Garden [Foolishness] 

 

(49) Salty Liquor [Foolishness] 

 

(50) The Magic Priest and the Kidnapper Gang [Power and Greed] 

 

(51) The Groom Who Lost His Bride to the Stars [Astrology] 

(52) The Prince Who Had a Plan [The Power of Superstition]

(53) King Goodness the Great (Perseverance)

(54) A Gang of Drunkards (Sobriety) 

 

(55) The Whatnot Tree (Prudence) 

 

(56) Prince Five-Weapons and Sticky-Hair (The Diamond Weapon) 

____________________

LỜI NÓI ĐẦU 

(Xem phần 1/4)

Interpreter’s Introduction

(See part 1/4)

____________________

 

 

From The Storyteller To The Reader

 

When you read or listen to these very old stories, if you wonder how much is really true, the Buddha gave some advice that might help. He said that when you listen to what a monk says you should test the meaning, weigh or consider it, and depend on your own insides to know the truth of it. Then follow and practice what you know to be true.

 

Let us praise

the Exalted, Worthy, Fully Self-Enlightened One and follow the Truth.


____________________

026_A26

(26) Bạn Rất Thân 

 

Trước khi câu chuyện xảy ra

Ở bên châu Á người ta nói rằng

Voi và chó chẳng kết thân

Chẳng bao giờ có thể gần gũi nhau,

Voi không ưa chó từ lâu

Chó thời hãi sợ voi, đâu muốn gần

Voi to xác, voi lớn thân

Chó thường hoảng hốt sủa ầm ĩ lên

Mỗi khi voi đến kề bên

Khiến voi bực bội nổi điên nổi khùng

Voi liền rượt chó tưng bừng

Không còn kiên nhẫn mà dừng bước chân.

Chó nằm yên, chó lặng thầm

Thời voi kia vẫn nổi sân như thường

Tấn công chó chẳng chịu nhường

Cả hai do đó mãi vương hận thù.

* Bây giờ kể chuyện cung vua

Có chàng voi quý đã từ lâu nay

Được nuôi ăn đầy đủ thay

Được người kỹ lưỡng hàng ngày chăm nom.

Chó hoang kia lại gầy còm

Trơ xương, ốm đói, héo hon thân người

Quẩn quanh ở cạnh chuồng voi

Lang thang kiếp sống, nổi trôi cuộc đời

Một ngày chó chợt đánh hơi

Thấy mùi thực phẩm tuyệt vời thoảng ra

Lần theo chó thấy voi ta

Trong chuồng ăn uống thật là ngon sao

Chó bèn lén lút lẻn vào

Ăn đồ rơi vãi. Voi nào có hay

Miệng voi ăn rớt quanh đây

Chó theo đuôi hưởng hàng ngày no nê

Ở lì luôn chẳng muốn đi

Chuồng voi quanh quẩn còn gì sướng hơn.

Chú voi mạnh mẽ, to con

Bữa ăn thưởng thức thơm ngon thoả tình

Đâu thèm để mắt cạnh mình

Chó hoang loắt choắt chạy quanh kiếm mồi.

Ăn thừa như thế mãi rồi

Chó hoang đói khát một thời trơ xương

Giờ đây mập mạp dễ thương

Tấm thân mạnh mẽ, bộ lông mượt mà

Chàng voi tốt tính nhà ta

Bắt đầu để mắt nhìn qua chó rồi.

* Kiếm ăn luẩn quẩn bên voi

Lâu ngày quen thuộc chó thời dạn ra

Chạy quanh voi, chẳng lánh xa

Và không còn sủa như là thói quen.

Thấy rằng chó chẳng làm phiền

Lại luôn thân thiện kề bên hàng ngày

Dần dần voi cũng đổi thay

Kết thân với chó từ nay thắm tình

Khi ăn đâu chịu một mình

Nếu không có bạn ở quanh vui đùa.

Khi nô rỡn chó rất ưa

Nắm vòi voi nặng đong đưa mọi chiều

Quay tròn, uốn éo đủ điều

Dần dần từ đó thương yêu ngập tràn

Thành bạn quý, thành bạn vàng

Nào đâu còn muốn đôi đường cách chia.

* Một hôm có khách vùng kia

Từ phương xa bỗng ghé về đây chơi

Nghe đồn voi quý, tới coi

Thấy con chó lạ trong nơi chuồng này

Chó giờ tốt mã, đẹp thay

Lăng xăng chạy nhảy, loay hoay nghịch đùa

Khách nhìn thấy, khách thích ưa

Biếu tiền lính gác rồi đưa chó về

Một làng xa lắc vùng quê

Không còn ai biết mà đi kiếm tìm.

Voi từ ngày đó muộn phiền

Bởi vì vắng bạn thân bên cạnh mình

Không ăn uống, cứ lặng thinh

Chẳng buồn tắm táp, thân hình héo hon

Thế là lính gác báo luôn

Trình vua được rõ đâu còn chờ chi,

Phần liên quan đến chó kia

Lính không trình báo chút gì cùng vua.

Vua lo lắng, vua ưu tư

Mời quan thân cận từ xưa lắm tài

Giỏi về súc vật lâu đời

Sai quan tìm hiểu tận nơi tỏ tường.

Quan tuân lệnh đi đến chuồng

Thấy voi đờ đẫn u buồn nằm đây

Quan suy ra: “Chú voi này

Đã từng hoạt động, lại hay vui đùa

Giờ sao sầu muộn lừ đừ,

Voi thời tâm tính gần như giống người

Chắc là mất bạn thân thôi!”

Quan bèn quay hỏi những người lính canh

Họ bèn khai rõ ngọn ngành:

“Thưa voi và chó có tình tương thân

Giờ đây đáng tiếc vô ngần

Chó kia đi mất chẳng gần gũi voi

Người ta mang chó đi rồi

Nào đâu có biết tăm hơi mà tìm!”

Lắng nghe, suy nghĩ, lặng im

Quan về trình lại vua hiền đầu đuôi

Thêm rằng: “Giữa chó và voi

Tình thân quyến luyến khác đời lâu nay

Nên khi chó chẳng còn đây

Voi thời buồn bã hao gầy khôn nguôi!”

Vua lên tiếng: “Ở trên đời

Tình thân bạn hữu tuyệt vời quý sao,

Làm voi vui, liệu cách nào

Ta tìm chú chó kia mau mang về!”

Quan thưa rằng chẳng khó chi

Xin ra thông báo gửi đi khắp vùng

Rằng chuồng voi của hoàng cung

Trước đây có chó ở cùng bên voi

Giờ đây chó đó mất rồi

Ai nuôi chó phải tức thời thả ra

Nếu không phạt nặng chẳng tha

Lệnh vua ban bố, mọi nhà phải theo.

* Quả nhiên một sớm một chiều

Chó kia được thả! Đúng điều chờ mong!

Chó ta hoan hỉ vô cùng

Phóng về tìm bạn nơi chuồng voi xưa

Có voi quý của nhà vua.

Phần voi cũng vậy, rất ư vui mừng

Đón chào bạn chó tưng bừng

Dùng vòi đưa bạn lên lưng, lên đầu

Chó ngồi đây rỡn hồi lâu

Vẫy đuôi biểu lộ biết bao hài lòng.

Cả hai chung sống thong dong

Thật là sung sướng mãi không xa lìa.

Vua khen ngợi vị quan kia:

“Hình như đọc được nghĩ suy muôn loài

Hiểu voi thời quả thật tài!”

Vua liền ban thưởng cho người có công.

 

26) Bạn Rất Thân:

Ông quan giỏi về súc vậttiền thân Đức Phật.

(26) Best Friends [The Power of Friendship] 

 

Before the time of this story, people in Asia used to say that there would never be a time when an elephant and a dog would be friends. Elephants simply did not like dogs, and dogs were afraid of elephants.

 

When dogs are frightened by those who are bigger than they are, they often bark very loudly, to cover up their fear. When dogs used to do this when they saw elephants, the elephants would get annoyed and chase them. Elephants had no patience at all when it came to dogs. Even if a dog were quiet and still, any nearby elephant would automatically attack him. This is why everybody agreed that elephants and dogs were ‘natural enemies’, just like lions and tigers, or cats and mice.

 

Once upon a time, there was a royal bull elephant, who was very well fed and cared for. In the neighbourhood of the elephant shed, there was a scrawny, poorly fed, stray dog. He was attracted by the smell of the rich sweet rice being fed to the royal elephant. So he began sneaking into the shed and eating the wonderful rice that fell from the elephant’s mouth. He liked it so much, that soon he would eat nowhere else. While enjoying his food, the big mighty elephant did not notice the tiny shy stray dog.

 

By eating such rich food, the once underfed dog gradually got bigger and stronger, and became very handsome looking. The good-natured elephant began to notice him. Since the dog had gotten used to being around the elephant, he had lost his fear. So he did not bark at him. Because he was not annoyed by the friendly dog, the elephant gradually got used to him.

 

Slowly they became friendlier and friendlier with each other. Before long, neither would eat without the other, and they enjoyed spending their time together. When they played, the dog would grab the elephant’s heavy trunk, and the elephant would swing him forward and backward, from side to side, up and down, and even in circles! So it was that they became ‘best friends’, and wanted never to be separated.

 

Then one day a man from a remote village, who was visiting the city, passed by the elephant shed. He saw the frisky dog, who had become strong and beautiful. He bought him from the mahout, even though he didn’t really own him. He took him back to his home village, without anyone knowing where that was.

 

Of course, the royal bull elephant became very sad, since he missed his best friend the dog. He became so sad that he didn’t want to do anything, not even eat or drink or bathe. So the mahout had to report this to the king, although he said nothing about selling the friendly dog.

 

It just so happened that the king had an intelligent minister who was known for his understanding of animals. So he told him to go and find out the reason for the elephant’s condition.

 

The wise minister went to the elephant shed. He saw at once that the royal bull elephant was very sad. He thought, “This once happy elephant does not appear to be sick in any way. But I have seen this condition before, in men and animals alike. This elephant is grief-stricken, probably due to the loss of a very dear friend.”

 

Then he said to the guards and attendants, “I find no sickness. He seems to be grief-stricken due to the loss of a friend. Do you know if this elephant had a very close friendship with anyone?”

 

They told him how the royal elephant and the stray dog were best friends. “What happened to this stray dog?” asked the minister. He was taken by an unknown man,” they replied, “and we do not know where he is now.”

 

The minister returned to the king and said, “Your majesty, I am happy to say your elephant is not sick. As strange as it may sound, he became best friends with a stray dog! Since the dog has been taken away, the elephant is grief-stricken and does not feel like eating or drinking or bathing. This is my opinion.”

 

The king said, “Friendship is one of life’s most wonderful things. My minister, how can we bring back my elephant’s friend and make him happy again?”

 

“My lord,” replied the minister, “I suggest you make an official announcement, that whoever has the dog who used to live at the royal elephant shed, will be fined.”

 

This was done, and when the villager heard of it, he released the dog from his house. He was filled with great happiness and ran as fast as he could, straight back to his best friend, the royal bull elephant.

 

The elephant was so overjoyed, that he picked up his friend with his trunk and sat him on top of his head. The happy dog wagged his tail, while the elephant’s eyes sparkled with delight. They both lived happily ever after.

 

Meanwhile, the king was very pleased by his elephant’s full recovery. He was amazed that his minister seemed to be able to read the mind of an elephant. So he rewarded him appropriately.

 

The moral is: Even ‘natural enemies’ can become ‘best friends.’

 


027_A27

(27) Bò Đại Hỷ 

 

Ngày xưa có một con bê

Được ông quý tộc mua về nâng niu

Nhà ông giàu có, tiền nhiều

Thấy bê khoẻ, đẹp ông yêu vô cùng

Đặt tên Đại Hỷ, vui mừng

Nuôi bê bằng thức ăn thường rất ngon

Luôn ve vuốt, mãi chăm nom

Khiến bê cảm động nhớ ơn chủ mình.

Khi khôn lớn, lúc trưởng thành

Xác thân mạnh mẽ, dáng hình tốt tươi

Bê thành bò đẹp tuyệt vời

Một hôm bò nghĩ: “Cuộc đời sướng thay

Chủ nuôi kỹ lưỡng lâu nay

Trước đây hưởng lộc, lúc này đền ơn

Mình thời sức khoẻ tuyệt luân

Không bò nào khác mạnh hơn so tài

Trả ơn bằng cách nay mai

Mình thi kéo nặng không ai hơn mình

Bạc tiền, công trạng đạt thành

Trả ơn cho chủ trọn tình cùng nhau”

Chú bò tìm chủ nói mau:

“Có nhà buôn nọ sang giàu gần đây

Thường khoe khoang bấy lâu nay

Có bò khoẻ mạnh và hay nhất làng,

Tìm ông ta đánh cá rằng

Sức tôi kéo nổi xe hàng cả trăm

Bò ông ta không khoẻ bằng!”

Chủ nhân đồng ý vội vàng đi ngay

Tới nhà buôn ở làng này

Giàu sang nổi tiếng lại hay khoe mình

Chủ nhân thách đố đua tranh

Nhà buôn nghe chuyện quả tình ngạc nhiên:

“Trăm xe chở nặng bên trên

Bò nào kéo nổi, khó tin vô cùng

Tôi đồng lòng cá với ông

Tiền vàng đủ một ngàn đồng trao tay

Nếu bò ông thắng chuyến này,

Nếu thua ông trả lại đây một ngàn!”

Đôi bên ấn định thời gian

Nhà buôn khôn khéo buộc ràng trăm xe

Chất thêm sỏi đá nặng nề.

Còn phần Đại Hỷ chủ thì cho ăn

Ngon lành, no đủ, sẵn sàng

Tắm xong đeo cổ một tràng hoa tươi

Trang hoàng thêm đẹp thân người

Nửa thời hùng mạnh, nửa thời kiêu sa

Chủ nhân dắt chú bò ra

Buộc vào xe dẫn đầu chờ kéo đi

Chủ lên xe ngồi uy nghi

Tỏ ra quý tộc ông thì làm oai

Vung roi, hò hét đinh tai:

“Kéo đi! Đừng có đứng hoài! Đồ ngu!”

Bò nghe bực bội tâm tư

Nghĩ rằng: “Ta sống từ xưa tới giờ

Chưa hề làm chuyện xấu xa

Vậy mà chủ lại nói ta nặng lời

Thật là thô tục quá trời

Hôm nay đánh cá ý thời của ta!”

Bực mình bò đứng lì ra

Không còn chịu kéo xe và lặng yên

Khiến nhà buôn sướng vô biên

Đòi tiền thắng cuộc trao liền tại đây.

* Chủ nhân quý tộc đắng cay

Trao tiền xong vội vã quay về nhà

Vừa thua thiệt, lại xót xa

Mất thêm uy tín thật là thảm thê.

Thảnh thơi gặm cỏ đường về

Chú bò Đại Hỷ không hề nghĩ suy,

Lát sau thấy chủ nằm kia

Nửa thời giận dữ, nửa thì buồn xo

Chú bò bèn hỏi lý do

Chủ nhân cho biết tại bò mà thôi:

“Vì mi ta thiệt hại rồi

Tiền vàng ta đã mất toi cả ngàn!”

lên tiếng: “Chớ phàn nàn

Tại sao ông nói tôi đần ngu đây?

Roi còn vung mãi đầu này

Làm như tôi bướng bỉnh hay dại khờ!

Tôi không phá phách bao giờ,

Tôi không phóng uế đồ dơ trong nhà,

Không hề làm chuyện xấu xa

Xin ông cho biết đúng là vậy không?”

Chủ nhân đáp: “Đúng vô cùng!”

Chú bò vặn hỏi: “Sao ông vừa rồi

Gọi tôi là kẻ ngu thôi

Dù ngay trước mặt bao người lạ kia

Lỗi ông rõ rệt còn chi,

Suốt đời tôi có làm gì sai đâu!

Dù sao tình nghĩa đã lâu

Công ông nuôi dưỡng nỡ nào tôi quên

Ngày mai quay trở lại liền

Cùng nhà buôn đánh cá thêm một lần

Lần này đánh cá hai ngàn.

Nhớ dùng lời lẽ dịu dàng với tôi

Những lời tử tế mà thôi

Tỏ ra tôn trọng kẻo người cười chê!”

* Chủ nhân hiểu rõ mọi bề

Trở lui đánh cá có nề hà chi.

Nhà buôn đồng ý tức thì

Nghĩ thầm: “Lại kiếm tiền kia dễ dàng

Những hai ngàn đồng tiền vàng!”

Ông vui trong bụng rộn ràng hoan ca.

Thế rồi mọi việc diễn ra

Khởi đầu tương tự như là trước đây

Một điều khác biệt lần này

Roi mây thô bạo bị thay thế liền

Chủ nhân cầm một cành sen

Thân yêu để nhẹ lên trên đầu bò

Vuốt thân thương, nói êm ru

Coi bò Đại Hỷ cũng như con mình:

“Bò yêu quý hãy nhiệt tình

Kéo xe cho khoẻ xứng danh đại tài!”

Xem kìa! Cảnh thật lạ đời!

Trăm xe chở nặng tức thời tiến lên

Chú bò Đại Hỷ phía trên

Phô trương sức mạnh vô biên, dẫn đầu

Kéo xe chuyển bánh phía sau

Trăm xe buộc dính tiến mau dễ dàng

Tới khi xe chót nhẹ nhàng

Lăn lên tới chỗ xe hàng đầu tiên

Nhà buôn há miệng ngạc nhiên

Nhìn bò kéo nặng, chẳng tin mắt mình

Thế là thua cuộc cam đành

Tiền vàng trao lại nay thành gấp đôi.

Chung quanh chứng kiến bao người

Tỏ lòng thán phục, thốt lời ngợi ca

Tặng cho Đại Hỷ thêm quà

Chủ nhân quý tộc quả là mừng vui

Nhưng phần thắng cuộc vừa rồi

Bạc tiền thưởng đó so thời kém xa

Kém bài học quý vừa qua:

“Người đời nên biết tỏ ra khiêm nhường

Biết tôn trọng, biết yêu thương

Suối nguồn hạnh phúc ngát hương thơm lành!”

 

27) Bò Đại Hỷ:

Đại Hỷtiền thân Đức Phật.

Chủ nhân quý tộc là Ananda.

(27) The Bull Called Delightful [All Deserve Respect] 

 

Once upon a time, in the country of Gandhara in northern India, there was a city called Takkasila. In that city the Enlightenment Being was born as a certain calf. Since he was well bred for strength, he was bought by a high class rich man. He became very fond of the gentle animal, and called him ‘Delightful’. He took good care of him and fed him only the best.

 

When Delightful grew up into a big fine strong bull, he thought, “I was brought up by this generous man. He gave me such good food and constant care, even though sometimes there were difficulties. Now I am a big grown-up bull and there is no other bull who can pull as heavy a load as I can. Therefore, I would like to use my strength to give something in return to my master.”

 

So he said to the man, “Sir, please find some wealthy merchant who is proud of having many strong bulls. Challenge him by saying that your bull can pull one- hundred heavily loaded bullock carts.”

 

Following his advice, the high class rich man went to such a merchant and struck up a conversation. After a while, he brought up the idea of who had the strongest bull in the city.

 

The merchant said, “Many have bulls, but no one has any as strong as mine.” The rich man said, “Sir, I have a bull who can pull one hundred heavily loaded bullock carts.” “No, friend, how can there be such a bull? That is unbelievable!” said the merchant. The other replied, “I do have such a bull, and I am willing to make a bet.”

 

The merchant said, “I will bet a thousand gold coins that your bull cannot pull a hundred loaded bullock carts.” So the bet was made and they agreed on a date and time for the challenge.

 

The merchant attached together one-hundred big bullock carts. He filled them with sand and gravel to make them very heavy.

 

The high class rich man fed the finest rice to the bull called Delightful. He bathed him and decorated him and hung a beautiful garland of flowers around his neck.

 

Then he harnessed him to the first cart and climbed up onto it. Being so high class, he could not resist the urge to make himself seem very important. So he cracked a whip in the air, and yelled at the faithful bull, “Pull, you dumb animal! I command you to pull, you big dummy!”

 

The bull called Delightful thought, “This challenge was my idea. I have never done anything bad to my master, and yet he insults me with such hard and harsh words!” So he remained in his place and refused to pull the carts.

 

The merchant laughed and demanded his winnings from the bet. The high class rich man had to pay him the one thousand gold coins. He returned home and sat down, saddened by his lost bet, and embarrassed by the blow to his pride.

 

The bull called Delightful grazed peacefully on his way home. When he arrived, he saw his master sadly lying on his side. He asked, “Sir, why are you lying there like that? Are you sleeping? You look sad.” The man said, I lost a thousand gold coins because of you. With such a loss, how could I sleep?”

 

The bull replied. “Sir, you called me ‘dummy’. You even cracked a whip in the air over my head. In all my life, did I ever break anything, step on anything, make a mess in the wrong place, or behave like a ‘dummy’ in any way?” He answered, “No, my pet.”

 

The bull called Delightful said, “Then sir, why did you call me ‘dumb animal’, and insult me even in the presence of others? The fault is yours. I have done nothing wrong. But since I feel sorry for you, go again to the merchant and make the same bet for two thousand gold coins. And remember to use only the respectful words I deserve so well.”

 

Then the high class rich man went back to the merchant and made the bet for two-thousand gold coins. The merchant thought it would be easy money. Again he set up the one hundred heavily loaded bullock carts. Again the rich man fed and bathed the bull, and hung a garland of flowers around his neck.

 

When all was ready, the rich man touched Delightful’s forehead with a lotus blossom, having given up the whip. Thinking of him as fondly as if he were his own child, he said, “My son, please do me the honour of pulling these one hundred bullock carts.”

 

Lo and behold, the wonderful bull pulled with all his might and dragged the heavy carts, until the last one stood in the place of the first.

 

The merchant, with his mouth hanging open in disbelief, had to pay the two thousand gold coins. The onlookers were so impressed that they honoured the bull called Delightful with gifts. But even more important to the high class rich man than his winnings, was his valuable lesson in humility and respect.

 

The moral is: Harsh words bring no reward. Respectful words bring honor to all.

 

 


028_A28

(28) Bò Đen Của Bà 

 

Thành Ba La Nại ngày xưa

bà già nọ nhân từ kể chi

Bà nuôi một chú bê kia

Thân hình xinh xắn, lông thì đẹp sao

Đen tuyền, không chấm trắng nào

Bà nuôi bê với biết bao là tình

Như nuôi con cái của mình

Thức ăn ngon nhất bà dành cho bê

Thương yêu, âu yếm, vỗ về

Nên bê cảm động mãi kề cận bên

Người làng do đó dần quen

Gọi bê là chú “Bò Đen Của Bà”.

Nhiều năm nhiều tháng trôi qua

Bê nay lớn xác thành ra chú bò

Dáng hùng mạnh, thân lớn to

Tuy nhiên thuần tính vẫn như thuở nào

Trẻ yêu bò biết là bao

Đua nhau nô rỡn lao xao phố phường

Giật tai, nắm cổ, bám sừng

Đôi khi trẻ nhảy lên lưng bò ngồi

Sờ phần đầu, kéo khúc đuôi

Thúc bò đòi chở đi chơi lòng vòng

Chú Bò Đen thích trẻ con

Không hề bực bội, lại còn hoan nghênh.

* Một ngày bò tự nhủ mình:

“Bà nuôi ta quả tận tình bấy lâu

Khác gì con ruột bà đâu

Bà là hiền mẫu đậm sâu tình người

Bà nghèo túng đã lâu rồi

Nhưng bà chẳng muốn mở lời nhờ ta

Còn nhiều việc khác trong nhà

Ta không phải gánh, quả bà tốt thay

Ôi ơn nghĩa bấy lâu nay

Ta mong sao giúp bà ngay lúc này

Bớt lo âu, bớt đọa đày

Vượt cơn nghèo túng, qua ngày thương đau!”

Bò Đen tính toán trong đầu

Kiếm ra tiền bạc để mau giúp bà.

Một hôm tin tức loan ra

Có đoàn xe lạ phương xa tới làng

Năm trăm xe chở đầy hàng

Tới sông ngừng lại, khó sang khúc này

Bò không kéo nổi qua đây

Trưởng đoàn tính toán loay hoay một hồi

Mang trăm bò cột nối đuôi

Để cùng kéo một xe thôi! Ai ngờ

Khúc sông hiểm trở vô bờ

Trăm bò cũng chẳng kéo qua được nào,

Trưởng đoàn kinh nghiệm dồi dào

Rành về súc vật đã bao lâu rồi

Gặp gian nan nào chịu thôi

Đi tìm bò khác trong nơi làng này

Loanh quanh ông chợt gặp ngay

Bò Đen đang đứng nơi đây, thật mừng!

Thân mạnh mẽ, dáng hào hùng

Kéo xe hàng chắc qua sông dễ dàng

Ông bèn dò hỏi dân làng:

“Ai là chủ chú bò đang rỡn đùa?

Tôi trông bò rất đáng ưa

Muốn thuê bò để nhờ đưa xe hàng

Qua sông chỗ khó sang ngang

Tiền công tôi sẽ sẵn sàng trả ngay!”

Dân làng: “Ông thật là may

Chủ bò thời chẳng có đây! Cứ dùng!”

Trưởng đoàn xe rất vui mừng

Mũi bò xỏ sợi dây thừng ngang qua

Ông lôi miết, bò lì ra

Dù ông có kéo thật là mạnh tay.

Bò Đen nghĩ: “Cái ông này

Tiền không nói rõ tại đây, bây giờ

Thời ta cứ đứng trơ trơ”

Rành về súc vật đã từ bao lâu

Trưởng đoàn hiểu chuyện rất mau

Vuốt ve bò nói đôi câu chân thành:

“Bò thân mến, hãy nhiệt tình

Năm trăm xe kéo qua nhanh sông này

Tiền công ta sẽ trả ngay

Tiền vàng ta đã để đây sẵn sàng

Hai đồng một chiếc xe hàng

Hai đồng vàng nhé! Dễ dàng! Bõ công!”

Bò nghe tỏ vẻ hài lòng

Không còn do dự, theo ông trưởng đoàn.

* Bò Đen mạnh mẽ hiên ngang

Buộc ngay vào chiếc xe hàng đầu tiên

Bò ra sức kéo xe liền

Chiếc xe chuyển bánh qua bên kia bờ

Mọi người thán phục. Chẳng ngờ!

Trăm bò trước đó cũng chưa sánh cùng

Bò Đen quả thật hào hùng

Kéo xe lần lượt sang sông cả đoàn

Sau khi mọi việc chu toàn

Trưởng đoàn lấy túi đựng vàng trả công

Mỗi xe phải trả hai đồng

Ông đưa có một và không giữ lời

Túi vàng đựng năm trăm thôi

Ông ta treo túi vào nơi cổ bò.

Bò Đen nào chịu yên cho

Chú vòng ra trước đoàn bò kéo xe

Chặn ngang lối chẳng cho đi

Trưởng đoàn bị kẹt, rất chi bực mình

Ông bèn ra lệnh đi quanh

Nhưng đoàn bò chẳng thi hành lệnh ông

Thấy Bò Đen dáng anh hùng

Đoàn bò chẳng dám đi vòng, đi quanh

Trưởng đoàn suy nghĩ thật nhanh:

“Chú bò này quả thông minh vô cùng

Biết mình còn thiếu tiền công

Thiếu năm trăm nữa nên không bằng lòng”

Ông bèn trả đủ ngàn đồng

Đựng trong túi mới cho xong nợ nần,

Bò Đen thoả mãn vô ngần

Cổ đeo túi bạc, quay chân trở về

Quay lui vượt khúc sông kia

Tìm về với “mẹ” còn gì vui hơn,

Bà già tuy rất bần hàn

Nhưng là hiền mẫu chứa chan lòng từ.

Dọc đường lũ trẻ nghịch đùa

Muốn giành lấy túi nên bu theo liền

Dễ gì lấy được túi tiền

Bò Đen tránh né giữ nguyên làm quà

Đem về đến tận cửa nhà

Bà già trông thấy rất là ngạc nhiên,

Trẻ con cả lũ huyên thuyên

Tranh nhau kể chuyện Bò Đen cho bà

Bà bèn đem túi vào nhà

Tiền vàng trong túi đếm ra cả ngàn.

* Nhìn bò thấy mệt vô vàn

Thương “con” bà vội thở than não nề:

“Con ơi khổ cực làm chi

Sao mà con lại phải đi kiếm tiền

Ở đây bên mẹ cho yên

Có gì ăn nấy chẳng phiền hà đâu

Chúng mình no đói có nhau

Mẹ luôn chăm sóc trước sau lo gì!”

Nói xong bà tắm bò kia

Thật là sạch sẽ, rất chi tận tình

Rồi bà đấm bóp chung quanh

Để bò đỡ nhức, thân mình bớt đau,

Cho bò ăn thật ngon sao

Lại thêm nước uống ngọt ngào thơm tho

Bà nâng niu chăm sóc bò

Cả hai sung sướng êm ru cuộc đời

Đến mãn kiếp, đến tàn hơi.

Tâm từ đã biến cải nơi nghèo nàn

Chuồng nhỏ bé, lều tồi tàn

Thành lâu đài lớn chứa chan bao tình.

 

28) Bò Đen Của Bà:

Bò Đen là tiền thân Đức Phật. Bà giàLiên Hoa Sắc.

 

(28) Grandma’s Blackie [Loving-kindness] 

 

Once upon a time, when King Brahmadatta was ruling in Benares, there was an old woman who had a calf. This calf was of a noble dark color. In fact, he was jet black without a spot of white. He was the Bodhisatta – the Enlightenment Being.

 

The old woman raised the little calf just as though he were her own child. She fed him only the very best rice and rice porridge. She petted his head and neck, and he licked her hand. Since they were so friendly, the people began calling the calf, “Grandma’s Blackie’.

 

Even after he grew up into a big strong bull, Grandma’s Blackie remained very tame and gentle. The village children played with him, holding onto his neck and ears and horns. They would even grab his tail and swing up onto his back for a ride. He liked children, so he never complained.

 

The friendly bull thought, “The loving old woman, who brought me up, is like a kind mother to me. She raised me as if I were her own child. She is poor and in need, but too humble to ask for my help. She is too gentle to force me to work. Because I also love her, I wish to release her from the suffering of poverty.” So he began looking for work.

 

One day a caravan of 500 carts came by the village. It stopped at a difficult place to cross the river. The bullocks were not able to pull the carts across. The caravan leader hooked up all 500 pairs of bullocks to the first cart. But the river was so rough that they could not pull across even that one cart.

 

Faced with this problem, the leader began looking for more bulls. He was known to be an expert judge of the qualities of bulls. While examining the wandering village herd, he noticed Grandma’s Blackie. At once he thought, “This noble bullock looks like he has the strength and the will to pull my carts across the river.”

 

He said to the villagers standing nearby, “To whom does this big black bull belong? I would like to use him to pull my caravan across the river, and I am willing to pay his owner for his services.” The people said, “By all means, take him. His master is not here.”

 

So he put a rope through Grandma’s Blackie’s nose. But when he pulled, he could not budge him! The bull was thinking, “Until this man says what he will pay for my work, I will not move.”

 

Being such a good judge of bulls, the caravan leader understood his reasoning. So he said, “My dear bull, after you have pulled my 500 carts across the river, I will pay you two gold coins for each cart – not just one, but two!” Hearing this, Grandma’s Blackie went with him at once.

 

Then the man harnessed the strong black bull to the first cart. He proceeded to pull it across the river. This was what all one thousand bulls could not do before. Likewise, he pulled across each of the other 499 carts, one at a time, without slowing down a bit!

 

When all was done, the caravan leader made a package containing only one gold coin per cart, that is, 500 coins. He hung this around the mighty bullock’s neck. The bull thought, “This man promised two gold coins per cart, but that is not what he has hung around my neck. So I will not let him leave!” He went to the front of the caravan and blocked the path.

 

The leader tried to push him out of the way, but he would not move. He tried to drive the carts around him. But all the bulls had seen how strong he was, so they would not move either!

 

The man thought, “There is no doubt that this is a very intelligent bull, who knows I have given him only half-pay.” So he made a new package containing the full one-thousand gold coins, and hung it instead around the bull’s neck.

 

Then Grandma’s Blackie re-crossed the river and walked directly towards the old woman, his ‘mother’. Along the way, the children tried to grab the money package, thinking it was a game. But he escaped them.

 

When the woman saw the heavy package, she was surprised. The children told her all about what happened down at the river. She opened the package and discovered the one thousand gold coins.

 

The old woman also saw the tired look in the eyes of her ‘child’. She said, “Oh my son, do you think I wish to live off the money you earn? Why did you wish to work so hard and suffer so? No matter how difficult it may be, I will always care for and look after you.”

 

Then the kind woman washed the lovely bull and massaged his tired muscles with oil. She fed him good food and cared for him, until the end of their happy lives together.

 

The moral is: Loving-kindness makes the poorest house into the richest home.

 


029_A29

(29) Anh Em Bò Và Chú Heo Con 

 

Ngày xưa ở tại nông thôn

gia đình nọ sống luôn thuận hòa

Nuôi hai bò trong trại nhà

Lông màu hung đỏ, mượt mà, dịu êm

Hai bò đỏ là anh em

Nhọc nhằn lao động thường xuyên cận kề.

Nhà nuôi thêm một heo kia

Số chàng heo sữa còn gì sướng hơn

Chủ nhà lo thật chu toàn

Bao nhiêu thức uống, đồ ăn tốt lành

Khi rau cháo, lúc cơm canh

Toàn là hạng nhất để dành heo con

Đôi khi thêm cả đường ngon

Heo ăn, heo ngủ chẳng còn làm chi

Không di động, cứ nằm lì

Suốt ngày im lặng, ít khi ồn ào.

* Bò em nhìn thấy buồn sao

Than: “Mình thời khổ! Heo nào cực thân!

Mình thời làm việc nhọc nhằn

Kéo xe chở nặng chạy lăn trên đường

Kéo cày bừa khắp ruộng đồng

Nắng hè nóng nực, gió đông lạnh lùng

Uống ăn kham khổ vô cùng

Toàn rơm với cỏ xoay vòng, thảm thay!

Mình mang lợi lộc hàng ngày

Giúp thêm tài sản vào tay chủ mình

Heo kia chẳng giúp gia đình

Vậy mà được hưởng tốt lành quanh năm!”

Bò em ghen tức cằn nhằn

Hỏi anh với giọng băn khoăn ngỡ ngàng.

Bò anh kinh nghiệm, khôn ngoan

Thấy em thắc mắc, nhẹ nhàng nhủ khuyên:

“Em ơi chớ có muộn phiền

Ghen tuông người khác chỉ thêm hiểm nghèo

Đừng ghen tị với con heo

Chủ mà đãi ngộ là điều nguy nan

Đồ ngon ngọt của chủ nhân

Chính là ‘thực phẩm tử thần’, ham chi!

Nhà này, em nhớ lại đi

Cô con gái chủ nay thì lớn khôn

Giờ cô chuẩn bị kết hôn

Tiệc mừng đãi khách kéo luôn mấy ngày

Món ăn chính là heo này

Nên heo đặc biệt từ ngay bây giờ

Được nuôi béo mập đợi chờ

Người ta làm thịt xẻ ra lạnh lùng

Vài ngày nữa có tiệc tùng

Họ hàng ở khắp các vùng chung quanh

Kéo về dự lễ linh đình

Bấy giờ heo sẽ trở thành món ăn

Người lôi đầu, kẻ kéo chân

Đem heo giết thịt! Tấm thân tan tành!”

* Đúng như lời của bò anh

Ít hôm khách tới gia đình rất đông

Chủ nhà gả gái đầu lòng

Cho nên đám cưới vô cùng dềnh dang

Heo kia bị giết thảm thương

Làm thành nhiều món thông thường ngon sơi

Bò anh lúc đó thốt lời

Nói về kinh nghiệm cuộc đời đẩy đưa:

“Em ơi em nhận ra chưa

Chuyện heo lâm nạn như vừa xảy ra?”

Bò em: “Dạ thấy rõ mà

Giờ em hiểu chuyện xót xa này rồi!”

Bò anh nói tiếp ngậm ngùi:

“Đây là hậu quả của thời vàng son

Được chiều đãi, được ăn ngon

Được nuôi tử tế là còn khổ đau!

Phần mình quý hoá gì đâu

Rơm khô, cỏ úa từ lâu chán chường

Món ăn thật quá tầm thường

Nhưng so ra vẫn trăm đường tốt hơn

Hơn cơm dẻo, hơn gạo thơm

Hơn đồ ngon ngọt heo luôn được dùng

Điều này dễ hiểu vô cùng

Mình ăn những thứ tuy không ngon lành

Nhưng không gây hại cho mình

Mà rồi tuổi thọ tăng nhanh, kéo dài.

Đừng nên khi sống trên đời

Vội vàng ghen tức với người hơn ta

Nên tìm hiểu cho rõ ra

Giá nào phải trả để mà hưởng vui!”

 

29) Anh Em Bò Và Chú Heo Con:

Bò anh là tiền thân Đức Phật. Bò em là Ananda.

(29) Big Red, Little Red and No-squeal [Envy] 

 

Once upon a time, there were two calves who were part of a country household. At the same home there also lived a girl and a baby pig. Since he hardly ever made a sound, the pig was called ‘No-squeal’.

 

The masters of the house treated No-squeal very very well. They fed him large amounts of the very best rice, and even rice porridge with rich brown sugar.

 

The two calves noticed this. They worked hard pulling ploughs in the fields and bullock carts on the roads. Little Red said to Big Red, “My big brother, in this household you and I do all the hard work. We bring prosperity to the family. But they feed us only grass and hay. The baby pig No-squeal does nothing to support the family. And yet they feed him the finest and fanciest of foods. Why should he get such special treatment?”

 

The wise elder brother said, “Oh young one, it is dangerous to envy anybody. Therefore, do not envy the baby pig for being fed such rich food. What he eats is really “the food of death”.

 

“There will soon be a marriage ceremony for the daughter of the house, and little No-squeal will be the wedding feast! That’s why he is being pampered and fed in such rich fashion.

 

“In a few days the guests will arrive. Then this piglet will be dragged away by the legs, killed, and made into curry for the feast.”

 

Sure enough, in a few days the wedding guests arrived. The baby pig No-squeal was dragged away and killed. And just as Big Red had said, he was cooked in various types of curries and devoured by the guests.

 

Then Big Red said, “My dear young brother, did you see what happened to baby No-squeal?” “Yes brother,” replied Little Red, “now I understand.”

 

Big Red continued, “This is the result of being fed such rich food. Our poor grass and hay are a hundred times better than his rich porridge and sweet brown sugar. For our food brings no harm to us, but instead promises long life!”

 

The moral is: Don’t envy the well-off, until you know the price they pay.


030_A30

(30) Cõi Trời 33 – Chương 1: Cộng Tác 

 

Hồi xưa ở một thôn làng

Gia đình quý tộc có chàng thanh niên

Thiện Nhân, tên gọi lành hiền

Mẹ cha yêu quý, láng giềng mến thương

Gia đình cưới vợ cho chàng

Một cô tốt nết đảm đang hàng đầu

Vợ chồng hạnh phúc bên nhau

Sinh ra trai gái trước sau vài người.

Thôn làng ở chốn xa xôi

Tính chung chỉ có ba mươi gia đình

Dân làng chan chứa cảm tình

Với chàng trai trẻ hiền lành, tinh khôn

Vì chàng tìm cách luôn luôn

Mở mang phát triển làng thôn giúp đời

Mang về lợi ích khắp nơi

Thêm vui cuộc sống, thêm tươi cõi lòng

Bà con quý trọng vô cùng,

Chàng nhân dịp đó đã không ngại ngần

Khuyên người thanh lọc thân tâm

Tuân theo “ngũ giới” chuyên cần quanh năm,

Nói sao, đúng vậy chàng làm

Nêu cao gương sáng dân làng soi chung.

Nhớ lần có việc cộng đồng

Mọi người hội họp phân công chốn này

Nền nhà rác rưởi vương đầy

Chàng bèn dọn chỗ nơi đây để ngồi

Sau khi quét dọn sạch rồi

Vô tình có kẻ đến nơi chiếm liền

Chàng nhường nhịn, chàng lặng yên

Tìm qua chỗ khác dọn thêm ngại gì,

Nhưng rồi lại bị chiếm đi

Chàng bèn dọn tiếp không hề kêu ca

Chuyện giành giật cứ diễn ra

Đến khi đủ chỗ người ta ngồi rồi

Thời chàng mới được thảnh thơi

Ngồi vào chỗ cuối hết người muốn tranh

Nêu gương nhẫn nhục tốt lành

Dạy dân làng cách trở thành hiền lương

Kết đoàn, nhường nhịn, yêu thương

Biết phương chung sức, biết đường góp công

Khiến làng thôn, khiến ruộng đồng

Trở nên tốt đẹp theo dòng thời gian

Hết gian trá, hết tham lam

Việc làm phạm pháp hoàn toàn biến đi.

Mọi người hoan hỉ kể chi

Tiếc thay ông trưởng thôn kia bất bình.

Không ưng ý, chẳng đồng tình

Vì bao quyền lợi của mình tiêu tan,

Khi làng mà hết tội nhân

Hết luôn tiền phạt, hết luôn uy quyền

Ông bực bội, ông than phiền:

“Còn ai nể mặt mình trên cõi đời?”

* Bất lương vốn sẵn tính người

Ông thôn trưởng vội vào nơi cung đình

Gặp nhà vua và tâu trình

Rằng bao trộm cướp lộng hành làng thôn

Xin vua giúp đỡ nhân dân,

Vua bèn ra lệnh: “Bắt luôn bọn này

Rồi mang tội phạm đến đây

Để ta trừng trị thẳng tay, răn đời!”

Thế là trúng kế ông rồi

Trưởng thôn vội trở lại nơi làng mình

Mỗi gia đình một “tù binh”

Ông ta trói lại dẫn trình nhà vua

“Đây là tội phạm!” ông thưa

Vua nghe tâu vậy ngần ngừ gì đâu

Chẳng cần xét xử thêm lâu

Truyền mang tội phạm ra mau pháp trường

Cho voi dẫm chết làm gương

Coi như trừng trị những phường gian manh!

Ba mươi người bị hành hình

Nằm trong sân trước cung đình! Thảm thay!

Chờ voi mang tới nơi đây

Chờ voi dẫm nát, đọa đày tấm thân.

Nghĩ rằng cái chết tới gần

Họ bèn than thở vô ngần thương đau.

Thiện Nhân nằm ở hàng đầu

Khuyên rằng: “Ta hãy mau mau hành trì

Khởi lòng tha thứ từ bi

Tha người vu cáo chỉ vì gian tham,

Tha cho voi dữ hung tàn,

Tha vua mê muội vô vàn bất công!”

Khi voi được dẫn vào cung

Voi không chịu dẫm lên lưng đám người

Vươn vòi kêu rống một hồi

Rồi voi rời bỏ khỏi nơi cung đình

Chẳng tuân theo lệnh hành hình

Dường không muốn giết người lành, người ngay.

Các voi lần lượt vào thay

Cũng đều tránh né xéo giày nạn nhân

Thật là kỳ lạ vô ngần!

Người ta phỏng đoán rằng dân làng này

Mang bùa thiêng, có thuốc hay

Làm voi sợ chạy không quay đầu về,

Nhưng khi khám chẳng thấy chi

Mọi người kinh ngạc hiếu kỳ hỏi thêm

Thiện Nhân bèn trả lời liền:

“Linh thiêng bùa chú ta quên được nào!”

Vua bèn cho gọi chàng vào

Muốn nghe bùa chú! Xiết bao lạ lùng!

Thiện Nhân tới trước ngai rồng

Quỳ thưa: “Bùa chú này không giống người

Bùa phát ra tự tâm thôi

Đó là ‘ngũ giới’ tuyệt vời linh thiêng!”

Vua truyền: “Hãy kể rõ thêm!”

Thiện Nhân: “Năm giới ta nên thực hành:

‘Không nên sát hại sinh linh,

Vật không sở hữu của mình chớ ham,

Tránh tà hạnh, tránh gian dâm,

Đừng nên dối trá, hãy luôn thật thà,

Chớ nên say rượu mê mờ’

Năm điều cấm đó ai mà tuân theo

Tạo ra sức mạnh cao siêu

Coi như bùa chú với nhiều quyền năng!”

Thấy chàng tử tế, giỏi giang

Vua bèn gạn hỏi rõ ràng đầu đuôi

Sau khi biết sự thật rồi

Vua liền ra lệnh tức thời tịch thu

Ruộng vườn cũ, tài sản xưa

Mà thôn trưởng chất chứa từ lâu năm

Phân chia cho đám tội nhân

Tha về làng cũ làm ăn hiền hòa.

Dân làng vui vẻ mọi nhà

Cùng nhau hợp tác thật là thân thương

Chung lưng phát triển khóm phường

Không còn thôn trưởng bất lương thuở nào.

* Một ngày họ bắt tay vào

Cùng nhau xây dựng, ai nào quản công

Một công trình lớn vô cùng

Quán hàng ngay ngã tư đường thênh thang.

Lòng tin dân chúng vững vàng

Thiện Nhân dạy cách hợp đoàn từ lâu

Nhưng mà họ chẳng nghĩ sâu

Cho rằng phái nữ xứng đâu dự phần

Chỉ riêng nam giới mới cần

Mới là thích hợp vô ngần mà thôi.

Điều này gây bất mãn rồi

Thiện Nhân lúc đó tại nơi nhà chàng

Nữ nhân có bốn cô nàng

Riêng người thứ nhất vô vàn thông minh

Tên là Thiện Pháp đẹp xinh

Muốn tham gia với công trình nói trên

Mong rằng nam nữ bình quyền

Nàng tìm trưởng toán làm quen biếu quà

Công trình xây cất vẽ ra

Là do trưởng toán, ai mà khác ông

Nhận quà hậu hĩnh vừa xong

Ông lo giúp đỡ nàng không nề hà

Ông bèn bí mật làm ra

Xà ngang để đỡ mái nhà đang xây

Rồi đưa nàng giấu đi ngay

Đợi xà khô cứng sau này không cong

An toàn, rắn chắc vô cùng

Tương lai có kẻ cần dùng đến thôi.

Bao nhiêu kiến trúc khắp nơi

Xà ngang chắc mạnh mọi người cầu mong,

Quán hàng xây dựng trong vùng

Đàn ông, trai tráng đều cùng tham gia

Đến giai đoạn chót diễn ra

Cần xà ngang đỡ nóc nhà nữa thôi

Thợ bèn lấy gỗ chưa phơi

Định làm xà đỡ cho nơi nóc này

Nhưng ông trưởng toán can ngay

Nói rằng: “Gỗ mới dùng đây khó lòng

Sẽ bị oằn, sẽ bị cong

Tương lai bị gãy vô cùng hiểm nguy,

Bây giờ các bạn phải đi

Kiếm tìm xà cũ mang về chốn đây

Gỗ khô, rắn chắc lâu ngày

Mới mong đỡ mái nhà này êm xuôi!”

Sau khi đi khắp mọi nơi

Tới nàng Thiện Pháp mọi người tìm ra

Nhà nàng có một xà nhà

Vừa khô, vừa cũ, đo ra vừa tầm

Thật là tốt đẹp vô ngần

Họ bèn lên tiếng ân cần hỏi mua

Nàng không bán, dịu dàng thưa:

“Làng cần xin biếu, xin đưa làng dùng

Chỉ xin tiếp sức đàn ông

Cùng nhau xây dựng cho xong công trình!”

Thợ thuyền khó xử thật tình

Thông thường công việc chỉ dành đàn ông

Họ suy tính, họ ngại ngùng

Về tìm trưởng toán chờ mong ý người.

Ông bèn nói: “Cũng được thôi

Tại sao phụ nữ ta thời bỏ qua

Đàn bà tương tự như ta

Khéo tay, hay việc thật là thuận duyên

Hãy mời tham dự ngay liền

Việc làng hoàn tất càng thêm dễ dàng!”

Thợ thuyền quay lại nhà nàng

Trước tiên xin chiếc xà ngang mang về

Rồi mời Thiện Pháp cùng đi

Tiếp tay đóng góp còn chi ngại ngùng

Cùng nhau xây dựng việc chung

Công trình hoàn tất vô cùng vẻ vang.

Nữ nhân còn lại ba nàng

Cùng xin tham dự ngang hàng đàn ông,

Một nàng vườn rộng mênh mông

Trái cây, hoa lá đầy trong khu vườn

Ở ngay kế cận quán hàng

Nàng bèn ngỏ ý biếu làng. Tốt thay!

Một nàng ao phủ sen đầy

Cũng lên tiếng biếu tiếp tay mọi người,

Chỉ riêng nàng thứ tư thôi

Thiện Sinh, trẻ nhất, suốt đời thảnh thơi

Được nuông chiều đã lâu rồi

Thiện Sinh không chịu giúp nơi xóm làng.

* Một đêm đầy ánh trăng vàng

Thiện Nhân triệu tập dân làng nơi đây

Quán bên đường vừa dựng xây

Chàng lên tiếng giảng điều hay, điều lành:

“Hãy chăm nom cha mẹ mình,

Trọng người lớn tuổi, lão thành, già nua,

Nói lời chân thật, hiền từ

Tránh lời thô ác phao vu hại người,

Tham lam, keo kiệt ngưng thôi,

Dẹp cơn phẫn nộ, thảnh thơi tâm hồn!”

Lời chàng vang vọng làng thôn

Giúp bà con trở về nguồn hiền lương.

Thiện Nhân tới lúc mệnh chung

Sinh làm Đế Thích thiên cung sáng lòa

Cõi trời thứ ba mươi ba

Vua trời ngôi báu thật là vẻ vang,

Và rồi các bạn của chàng

Cũng sinh lên đó thênh thang cõi trời.

 

30) Cõi Trời 33 (Ch.1: Cộng Tác):

Vua trời Đế Thíchtiền thân Đức Phật. Thần đánh xe là Ananda.

(30) The Heaven of 33 [Chapter 1. Co-operation] 

 

Once upon a time, when King Magadha was ruling in the land, there was a young noble called, ‘Magha the Good’. He lived in a remote village of just 30 families. When he was young, his parents married him to a girl who had qualities of character similar to his own. They were very happy together, and she gave birth to several children.

 

The villagers came to respect Magha the Good because he always tried to help improve the village, for the good of all. Because they respected him, he was able to teach the five steps of training, to purify their thoughts, words and deeds.

 

Magha’s way of teaching was by doing. An example of this happened one day when the villagers gathered to do handicraft work. Magha the Good cleaned a place for himself to sit. Before he could sit down though, someone else sat there. So he patiently cleaned another place. Again a neighbor sat in his place. This happened over and over again, until he had patiently cleaned sitting places for all those present. Only then could he himself sit in the last place.

 

By using such examples of patience, Magha the Good taught his fellow villagers how to cooperate with each other, without quarrelling. Working together in this way, they constructed several buildings and made other improvements that benefitted the whole village.

 

Seeing the worthwhile results of patience and cooperation, based on following the gentle ways of the Five Training Steps, all in the village became calmer and more peaceful. A natural side effect was that former crimes and wrong-doing completely disappeared!

 

You would think this would make everybody happier. However, there was one man who did not like the new situation at all. He was the head of the village, the politician who cared only about his own position.

 

Formerly, when there were murders and thefts, he handed out punishments. This increased his position of authority, and caused the villagers to fear him. When husbands or wives had affairs with others, the head man collected fines. In the same way, when reputations were damaged by lies, or contracts were not lived up to, he also collected fines. He even got tax money from the profits of selling strong liquor. He did not mind that drunkenness led to many of the crimes.

 

It is easy to see why the head man was upset to lose so much respect and power and money, due to the people living peacefully together. So he went to the king and said, “My lord, some of the remote villages are being robbed and looted by bandits. We need your help.”

 

The king said, “Bring all these criminals to me.”

 

The dishonest politician rounded up the heads of all 30 families and brought them as prisoners to the king. Without questioning them, the king ordered that they all be trampled to death by elephants.

 

All 30 were ordered to lie down in the palace courtyard and the elephants were brought in. They realized they were about to be trampled to death. Magha the Good said to them, “Remember and concentrate on the peacefulness and purity that come from following the Five Training Steps, so you may feel loving-kindness towards all. In this way, do not get angry at the unjust king, the lying head man, or the unfortunate elephants.”

 

The first elephant was brought in by his mahout. But when he tried to force him to trample the innocent villagers, the elephant refused. He trumpeted as he went away. Amazingly, this was repeated with each of the king’s elephants. None would step on them.

 

The mahouts complained to the king that this was not their fault. “It must be,” they said, “that these men have some drug that is confusing the elephants.”

 

The king had the villagers searched, but they found nothing. Then his advisers said, “These men must be magicians who have cast an evil spell on your mighty elephants!”

 

The villagers were asked, “Do you have such a spell?” Magha the Good said, “Yes we do.” This made the king very curious. So he himself asked Magha, “What is this spell and how does it work?”

 

Magha the Good replied, “My lord king, we do not cast the same kinds of spells that others cast. We cast the spell of loving-kindness with minds made pure by following the Five Training Steps.”

 

“What are these Five Training Steps?” asked the king. Magha the Good said, “All of us have given up the five unwholesome actions, which are: destroying life, taking what is not given, doing wrong in sexual ways, speaking falsely, and losing one’s mind from alcohol.”

 

“In this way we have become harmless, so that we can give the gift of fearlessness to all. Therefore, the elephants lost their fear of the mahouts, and did not wish to harm us. They departed, trumpeting triumphantly. This was our protection, which you have called a ‘spell’.”

 

Finally seeing the wholesomeness and wisdom of these people, the king questioned them and learned the truth. He decided to confiscate all the property of the dishonest village head man and divide it among them.

 

The villagers were then free to do even more good works for the benefit of the whole village. Soon they began to build a big roadside inn, right next to the highway crossroads.

 

This was the biggest project they had yet undertaken. The men were confident because they had learned so well how to cooperate with each other for a common goal. But they had not yet learned how to cooperate in this work with the women of the village. They seemed to think it was ‘man’s work’.

 

By this time Magha the Good had four wives. Their names were Good-doer, Beauty, Happy and Well-born. Of these, the first wife, Good-doer, was the wisest. She wanted to pave the way for the women to benefit from cooperating in doing good work. So she gradually became friendly with the boss in charge of the roadside inn project.

 

Because she wanted to contribute by helping in a big way, she gave a present to the boss. She asked him, “Can you think of a way that I may become the most important contributor to this good work?”

 

The boss replied, “I know just such a way!” Then he secretly constructed the most important part of the building, the roof beam that would hold the roof together. He wrapped it up and hid it with Good-doer, so it could dry for the time necessary to become rigid and strong.

 

Meanwhile, the men of the village continued happily in the building project. At last they got to the point of installing the roof beam. They began to make one, but the boss interrupted them. He said, “My friends, we cannot use fresh green wood to make the roof beam. It will bend and sag. We must have an aged dry roof beam. Go find one!”

 

When they searched in the village, they found that Good-doer just happened to have a perfect roof beam. It was even the right size! When they asked if they could buy it from her, she said, “It is not for sale at any price. I wish to contribute the roof beam for free, but only if you let me participate in building the inn.”

 

The men were afraid to change their successful ways. So they said, “Women have never been part of this project. This is impossible.”

 

Then they returned to the construction boss and told him what had happened. He said, “Why do you keep the women away? Women are part of everything in this world. Let us be generous and share the harmony and wholesomeness of this work with the women. Then the project and our village will be even more successful.”

 

So they accepted the roof beam from Good-doer, and she helped to finish the building of the inn. Then Beauty had a wonderful garden built next to the inn, which she donated. It had all kinds of flowers and fruit trees. So, too, Happy had a lovely pond dug, and planted beautiful lotuses in it. But Well-born, being the youngest and a little spoiled, did nothing for the inn.

 

In the evenings, Magha the Good held meetings in the roadside inn. He taught the people to assist their parents and elders, and to give up harsh words, accusing others behind their backs, and being stingy.

 

It is said that the lowest heaven world contains the gods of the four directions, North, East, South and West. Because he followed his own teachings, Magha the Good died with happiness in his heart. He was reborn as Sakka, king of the second lowest heaven world.

 

In time, the heads of all the other families of the village, as well as Good-doer, Beauty and Happy, also died. They were reborn as gods under King Sakka. This was known as the “Heaven of 33″.

 

 


031_A31

(31) Cõi Trời 33 – Chương 2: Từ Bi 

 

Nơi đây phong cảnh tuyệt vời

Có ông Đế Thích muôn người ngợi ca

Cõi trời thứ ba mươi ba,

Có thêm thần A Tu La lâu rồi

Thần này mặt mũi khó coi

Cho nên Đế Thích nhìn thời chẳng ưng,

Một ngày ông mở tiệc mừng

Mời thần xấu xí dự cùng với ông

Chuốc cho họ uống rượu nồng

Say sưa đến nỗi quay cuồng mê đi

Ông lùa họ xuống vực kia

Dưới chân ngọn núi Tu Di xa vời

Nơi đây là một tầng trời

Rộng bằng cõi thứ ba mươi ba này

Nhưng mà dưới thấp lắm thay

A Tu La có sẵn đây lâu đài.

Ông Đế Thích là vua trời

Kiếp xưa hiểu đạo, dạy đời điều hay

Những điều tốt đẹp giờ đây

Sao ông lại bỗng quên ngay mất rồi?

Ông Đế Thích là vua trời

Từ trong tiền kiếp, từ đời xa xưa

Thiện Nhântâm từ

Từng theo giáo pháp, từng ưa đạo mầu

Giúp người làm tốt đã lâu

Phút này sao chợt quay đầu bến mê

Tạo ra nghiệp xấu gớm ghê:

“A Tu La bị đẩy về vực sâu!”

* A Tu La tỉnh rượu mau

Các thần xấu xí bắt đầu nổi sân

Bị lừa, họ tức vô ngần

Cùng nhau nổi dậy leo dần lên cao

Núi Tu Di gió rì rào

Đưa thần bất mãn thét gào tiến lên

Tấn công Đế Thích liên miên

Vua trời thua trận ưu phiền biết bao

Rút lui khỏi chốn trời cao

Dùng xe vĩ đại phóng vào biển khơi

Lượn trên sóng gió tơi bời

Qua vùng đồi núi, lướt nơi cánh rừng

Ngọn cây xoải rộng chập chùng

Chim muông làm tổ nhiều từng đã lâu,

Xe vua trời phóng qua mau

Sức như vũ bão trên đầu cây cao

Ngọn cây gãy đổ ào ào

Tổ chim rơi rụng, chim nào thoát đây?

Chim già khiếp sợ tung bay

Chim non bị chết đọa đày xác thân

Kêu rên thảm thiết vô ngần

Vua trời nghe được hỏi thần đánh xe:

“Tiếng đâu vang vọng não nề?”

Thần này thuật lại những gì xảy ra

Vua trời nghe chợt xót xa:

“Chim non giãy chết thật là bi thương!

Sinh linh kiếp sống vô thường

Mạng mình cũng vậy vấn vương làm gì!”

Tâm ông nở đoá từ bi

Lệnh cho thần đánh xe kia trở về:

“Hãy quay xe lại mau đi

Gây chi chết chóc, thảm thê, đọa đày

Hãy quay về cõi trời ngay

A Tu La hại mạng này chẳng sao

Thân ta không đáng tiếc nào

Chủ quyền thiên giới ham đâu tranh giành

Hãy quay xe! Chớ sát sinh!

Chim non chết chóc tội tình! Chao ơi!”

Chiến xa quay ngược trở lui

Ầm ầm về lại cõi trời băm ba

Nơi đây các A Tu La

Đột nhiên thấy vậy thế là hoảng kinh

Tưởng vua trời có viện binh

Chen nhau bỏ chạy mong mình thoát thân

Không quay đầu lại một lần

Xuống tầng trời thấp trốn luôn dưới này

Trong lâu đài sẵn dựng xây

A Tu La vốn họp bầy xưa nay.

 

31) Cõi Trời 33 (Ch.2: Từ Bi):

Vua trời Đế Thíchtiền thân Đức Phật. Thần đánh xe là Ananda.

(31) The Heaven of 33 [Chapter 2. Compassion] 

 

At that time, so very long ago, there were some unfortunate ugly gods called ‘Asuras’. They had taken to living in the second heaven world.

 

The one who had been Magha the Good in his previous life, was now Sakka, King of the Heaven of 33. He thought, “Why should we, who are the 33, live in our Heaven of 33 with these unfortunate ugly Asuras? Since this is our world, let us live happily by ourselves.”

 

So he invited them to a party and got them drunk on very strong liquor. It seems that, in being reborn, King Sakka had forgotten some of his own teachings as Magha the Good. After getting the Asuras drunk, he got them to go to a lower world, just as big as the Heaven of 33.

 

When they sobered up and realized they had been tricked into going to a lower heaven world, the Asuras became angry. They rose up and made war against King Sakka. Soon they were victorious, and Sakka was forced to run away.

 

While retreating in his mighty war chariot, he came to the vast forest where the Garudas have their nests. These are gods who, unfortunately, have no super powers. Instead they are forced to get around by flapping huge heavy wings.

 

When King Sakka’s chariot drove through their forest, it upset their nests and made the baby Garudas fall down. They cried in fear and agony. Hearing this, Sakka asked his charioteer where these sad cries were coming from. He answered, “These are the shrieks of terror coming from the baby Garudas, whose nests and trees are being destroyed by your powerful war chariot.”

 

Hearing this suffering, King Sakka realized that all lives, including his own, are only temporary. Hearing this suffering, the compassion of the Great Being, which passes from life to life, arose within him and said, “Let the little ones have no more fear. The first training step must not be broken. There can be no exception. I will not destroy even one life for the sake of a heavenly kingdom that must some day end. Instead I will offer my life to the victorious Asuras. Turn back the chariot!”

 

So the chariot returned in the direction of the Heaven of 33. The Asuras saw King Sakka turn around, and thought he must have reinforcements from other worlds. So they ran, without looking back, down to their lower heaven world.

 


032_A32

(32) Cõi Trời 33 – Chương 3: Phước Báu 

 

Vua trời Đế Thích mừng thay

Bất ngờ thắng trận, giờ này trở lui

Về lâu đài cũ lòng vui

Lâu đài sẵn tại tầng trời băm ba.

Cạnh bên là một dinh cơ

Một khu vườn đẹp, một hồ ao xanh

Đây là quả báu tốt lành

Của ba người nữ tái sinh kiếp này

Họ gieo nghiệp thiện trước đây

Vừa nhiều nhiệt huyết, lại đầy từ tâm

Họ là ba vị nữ nhân

Cùng Thiện Nhân sống quây quần kiếp xưa

Xà nhà, vườn tược, ao hồ

Đã thành tâm cúng dường cho xóm làng

Gieo nhân tốt, giờ vẻ vang

Cõi trời cao đó các nàng tái sanh

Chỉ riêng có nàng Thiện Sinh

Nữ nhân trẻ, thiếu lòng thành kiếp xưa

Gieo nhân thiện nàng chẳng ưa

Nay thành chim hạc nương nhờ rừng hoang.

* Vua trời Đế Thích rảnh rang

Một hôm chợt nhớ tới nàng Thiện Sinh

Đi tìm nàng chốn rừng xanh

Đưa nàng lên tận thiên đình dạo chơi

Cho nàng thấy tại cõi trời

Vườn, ao, dinh thự tuyệt vời dễ thương

Quả lành của kẻ cúng dường

Kiếp xưa nghiệp thiện vẫn thường gieo nhân

Giờ đây sung sướng vô ngần

Trăm đường hạnh phúc, muôn phần sướng vui.

Ông khuyên nàng hạc đôi lời:

“Kiếp xưa nàng chẳng sống đời tu tâm

Nay làm chim hạc sơn lâm

Rừng sâu, núi thẳm muôn phần bi thương

Ta khuyên nàng hãy tìm đường

Tuân theo giới luật, tìm nương đạo vàng!”

Ông truyền “ngũ giới” cho nàng,

Riêng phần nàng hạc mở mang cõi lòng

Quyết tâm giữ giới cho tròn

Rồi nàng từ biệt về trong khu rừng.

* Vua trời Đế Thích tuy mừng

Một ngày ông muốn thử lòng Thiện Sinh

Xem nàng hạc có sửa mình

Cho nên ông hiện thành hình mồi ngon

Biến thành một chú cá con

Cá nằm phơi bụng ở luôn trước nàng,

Thế là nàng hạc vội vàng

Mỏ dài quắp cá sẵn sàng ăn thôi

Tưởng rằng cá đã chết rồi

Nào ngờ cá lại quẫy đuôi rùng mình

Cá còn sống! Đừng sát sinh!

Năm điều giới cấm nhớ rành chẳng quên

Hạc bèn thả cá ra liền

Xuống dòng suối mát rừng bên an lành.

Cá kia hiện lại nguyên hình

Thành ông Đế Thích nhiệt tình ngợi ca:

“Đáng khen nàng hạc của ta

Giờ đây giữ giới thật là lành thay!”

Trong lòng hoan hỉ tràn đầy

Ông từ biệt trở về ngay cõi trời.

Sau này nàng hạc qua đời

Giữ gìn “ngũ giới” nàng thời tái sinh

Được làm người, lại đẹp xinh

Làm cô con gái gia đình nông thôn

Chuyên làm đồ gốm bán buôn

Nơi miền bắc Ấn hưởng muôn phước lành.

Một ngày tại chốn thiên đình

Chợt đâu nhớ đến Thiện Sinh thuở nào

Vua trời tìm hiểu vui sao

Thấy nàng đã tái sinh vào nhà kia

Làm đồ gốm chẳng khá gì

Ông bèn kiếm cách vội đi giúp liền

Biến thành ông lão lành hiền

Chở xe dưa chuột từ miền khác sang

Đây là dưa quý bằng vàng

Ông già đậu ở giữa làng la lên:

“Dưa bằng vàng quý vô biên

Bà con hãy đến lấy liền ngại chi!”

Người ta đến lấy dưa kia

Thời ông lại nói: “Dưa thì biếu không

Cho người nào biết tu thân

Biết theo ngũ giới thành tâm hàng ngày!”

Mọi người giới cấm chẳng hay

Lời vàng, nghiệp thiện lâu nay biết gì

Tưởng ông lẩn thẩn kể chi

Cho nên lối xóm bỏ đi! Chê cười!

Họ cho là chuyện lạ đời.

Thiện Sinh trái lại nàng thời nghĩ ngay

Rằng xe dưa chuột vàng này

Là quà mang đến nơi đây cho nàng,

Tìm ông già tại xe hàng

Nàng xin dưa chuột bằng vàng quý thay.

Ông già nghiêm nghị hỏi ngay:

“Thế cô ngũ giới có hay giữ gìn?”

Nàng bèn lễ phép thưa liền:

“Suốt đời ngũ giới con quên được nào!”

Ông già hoan hỉ biết bao:

“Riêng cô xứng đáng được trao dưa vàng”

Để xe lại trước nhà nàng

Ông già từ biệt. Cả làng ngạc nhiên.

Lành thay cô gái tâm hiền

Đem vàng san sẻ, chẳng quên người nghèo

Bao nhiêu thiện nghiệp mãi gieo

Năm điều giới cấm giữ theo trọn đời.

* Sau này kết quả tuyệt vời

Mạng chung lên lại cõi trời thăng hoa

Tái sinh thành gái mặn mà

Làm con của chúa thần A Tu La

Thần này mặt mũi phô ra

Thường là xấu xí, ai ngờ riêng con

Đẹp như một bóng trăng tròn

Xinh tươi nhan sắc lại còn đáng yêu

Khi khôn lớn được cha chiều

Cho cô tự chọn chồng theo ý mình.

Một ngày đại hội linh đình

A Tu La các thần quanh cõi trời

Được mời tụ họp một nơi

Kén chồng cô chọn một người trong đây,

Khi hay rõ được chuyện này

Vua trời Đế Thích hiện ngay dự phần

Cũng thành ra một vị thần

A Tu La đó xa gần ai hay.

Cô nàng trang sức đẹp thay

Hương lành đưa gót tới đây kén chồng

Nhìn vua trời, nhận ra ông

Nhạc tình rộn rã, tiếng lòng chơi vơi

Chọn ngay Đế Thích vua trời

Cùng nàng gá nghĩa, hai người đẹp duyên.

Đưa nàng về chốn chư thiên

Vua trời âu yếm luôn bên cạnh nàng

Trao nàng địa vị nữ vương

Sống chung hạnh phúc, tình thương dạt dào.

 

32) Cõi Trời 33 (Ch.3: Phước Báu):

Vua trời Đế Thíchtiền thân Đức Phật. Thần đánh xe là Ananda.

(32) The Heaven of 33 [Chapter 3. Merit] 

 

King Sakka returned victoriously to his palace in the Heaven of 33. Next to it stood the mansion of his first wife, the reborn Good-doer. Outside the mansion was the garden of his second wife, the reborn Beauty. And there was the heavenly pond of his third wife, the reborn Happy.

 

However, Well-born had died and been reborn as a slender crane in the forest. Since he missed her, Sakka found her and brought her up to the Heaven of 33 for a visit. He showed her the mansion and the garden and the pond of his three wives. He told her that, by doing good work, the other three had gained merit. This merit had brought them happiness, both in their previous lives and in their rebirths.

 

He said. “You, my dear crane, in your previous life as Well-born, did no such good work. So you did not gain either merit or happiness, and were reborn as a forest crane. I advise you to begin on the path of purity by following the Five Training Steps.” After being taught the five steps, the lovely crane decided to follow them. Then she returned to the forest.

 

Not long afterwards, King Sakka was curious about how the crane was doing. So he took the shape of a fish and lay down in front of her. The crane picked him up by

the head. She was just about to swallow the King of the Heaven of 33, when the fish wiggled his tail.

 

Immediately the crane thought, “This fish must be alive!” Remembering the first training step, she released the living fish back into the stream. Rising from the water, King Sakka returned to his godly form and said, “It is very good, my dear crane, that you are able to follow the Five Training Steps.” Then he returned to the second heaven world.

 

In the fullness of time, the crane died. Following the Five Training Steps had brought her both merit and a peaceful mind. So she was reborn in the wonderful state of mankind, into a potter’s family in Benares, in northern India.

 

Again King Sakka was interested in finding out where the one who had been Well-born, and then the crane, was now reborn. He found her in the potter’s family, and wanted to help her in gaining merit and finding happiness.

 

So he disguised himself as an old man and created a cart full of golden cucumbers. He went into Benares and shouted, “Cucumbers! Cucumbers! I have cucumbers!”

 

When people came to buy these amazing cucumbers, he said, “These golden cucumbers are not for sale. I will give them away, but only to one who is wholesome, that is, one who follows the Five Training Steps.”

 

The people said, “We never heard of the Five Training Steps. But we will buy your golden cucumbers. Name your price!” He repeated, “My cucumbers are not for sale. I have brought them to give to any person who practices the Five Training Steps.” The people said, “This man has come here only to play tricks on us.” So they left him alone.

 

Soon Well-born heard about this unusual man. Even though she had been reborn, she still had the habit of following the Five Training Steps. So she thought, “This man must have come to find me.”

 

She went to him and asked for the golden cucumbers. He said, “Do you follow the Five Training Steps? Have you given up destroying life, taking what is not given, doing wrong in sexual ways, speaking falsely, and losing your mind from alcohol?” She answered, “Yes sir, I do follow these steps, and I am peaceful and happy.”

 

Then the old man said, “I brought these cucumbers especially for you, to encourage you to gain more merit and future happiness.” So he left the cart of golden cucumbers with her, and returned to the Heaven of 33.

 

Throughout the rest of her life, the woman was very generous with all this gold. Spreading her happiness to others, she gained merit. After she died, she was reborn as the daughter of the King of the Asuras. She grew up to be a goddess of great beauty. To the Asuras this seemed like a miracle, since the rest of them were the ugliest of all the gods.

 

The Asura king was pleased with his daughter’s goodness, as well as her famous beauty. He gathered all the Asuras together and gave her the freedom to choose a husband.

 

Sakka, King of the Heaven of 33, knew of the latest rebirth of the one who had been his wife Well-born, then a crane, and then a potter’s daughter. So he came down to the lower heaven world and took the shape of an ordinary ugly Asura. He thought, “If Well-born chooses a husband whose inner qualities of wholesomeness are the same as hers, we will be reunited at last!”

 

Because of her past associations with Magha the Good, reborn as King Sakka, now disguised as an ordinary Asura, the beautiful princess was drawn to him. So she picked him from among all the Asuras.

 

King Sakka took her to the Heaven of 33, made her his fourth wife, and they lived happily ever after.

 

The moral is: The Five Training Steps are the beginning of wholesomeness. Wholesomeness is the beginning of peace and happiness.


033_A33

(33) Công Múa 

 

Ngày xưa loài vật bốn chân

Bầu chàng sư tử dữ dằn làm vua,

Ngoài trùng dương khắp bến bờ

Cá thần được chọn coi như đứng đầu,

Riêng loài chim lại đua nhau

Thường ưa sắc đẹp từ lâu lắm rồi

Ham phô hình dáng bên ngoài

Ngôi vua bèn chọn ngỗng trời Kim Nga.

Kim Nga nhan sắc mặn mà

Có con gái cũng thật là đẹp xinh

Khi cô còn tuổi xuân xanh

Vua yêu, vua quý nên dành đặc ân

Được quyền ước nguyện một lần

Ước chi vua hứa sẽ làm theo ngay,

Cô bèn ước chồng sau này

Do cô tự chọn một ngày tương lai.

* Tháng năm lần lượt trôi hoài

Cô nàng nay đã tới thời lớn khôn

Để cho công chúa kén chồng

Vua Kim Nga triệu tập trong một ngày

Muôn loài chim ở quanh đây

Kéo về núi Tuyết vui vầy thật đông

Trên cao nguyên rộng mênh mông

Bao chim tụ họp chờ mong duyên lành

Ước sao được lọt mắt xanh

Của nàng công chúa nổi danh khắp trời.

Vua Kim Nga bèn ngỏ lời

Để con tự chọn bạn đời nơi đây

Ngỗng trời công chúa vui thay

Nhìn quanh khắp lượt lòng đầy hân hoan,

Chợt nàng để ý tới chàng

Chim công cổ đẹp rỡ ràng ánh châu

Lông đuôi sặc sỡ nhiều mầu

Dung nhan phô sắc ai đâu sánh cùng

Nàng lên tiếng chọn bạn lòng:

“Chàng con ưng lựa làm chồng là công!”

Vua Kim Nga rất tán đồng

Các loài chim khác đều cùng vây quanh

Chúc mừng chú rể linh đình:

“Giữa bao nhiêu kẻ hùng anh buổi này

Bạn thời được chọn, vui thay!

Chúng tôi mừng bạn gặp may trong đời!”

Chim công nghe sướng mê tơi

Vươn đầu tự mãn, thốt lời kiêu căng:

“Các anh đâu có hay rằng

Khắp bầu trời rộng ai bằng được ta!”

Nói xong công xoè đuôi ra

Như hình cái quạt, thật là mê ly

Khoe lông mầu sắc lạ kỳ

Quay vòng nhảy múa còn chi đẹp bằng

Lòng tự phụ, vẻ huênh hoang

Công vươn cao cổ khoe khoang thân mình

Và do đó đã vô tình

Hở ra chỗ kín, hớ hênh thân người

Phô ra lồ lộ giữa trời

Thật là xấu hổ, tức cười biết bao.

Vây quanh chim chóc lao xao

Cười vì công múa điệu sao tục tằn.

* Vua Kim Nga chợt nghĩ thầm:

“Con mình lầm chọn chàng đần thế kia

Không còn biết xấu hổ chi

Thiếu phần khiêm tốn, thiếu bề đoan trang

Xứng đâu làm rể cung vàng

Xứng đâu duyên sánh với nàng con ta!”

Vua lên tiếng, giọng vang xa:

“Chim công ngưng múa để mà nghe đây,

Bộ lông ngươi rực rỡ thay

Đuôi xoè cánh quạt múa may tuyệt vời

Cổ như ngọc bích sáng ngời

Vẻ thời duyên dáng, giọng thời du dương

Bề ngoài đẹp đẽ phô trương

Bề trong chất chứa trăm đường nhớp nhơ

Không thanh lịch, chẳng nết na

Rất chi ngu xuẩn, thật là cuồng điên

So ra chẳng xứng kề bên

Con ta tế nhị, lành hiền, thơ ngây!”

Mộng vàng trôi cuối chân mây

Chim công gục mỏ xa bay ngậm ngùi.

Về sau công chúa ngỗng trời

Được vua cha gả trong nơi cung vàng

Một chàng chim có họ hàng

Xứng đôi, vừa lứa vẻ vang duyên lành.

 

33) Công Múa:

Vua ngỗng trời là tiền thân Đức Phật.

(33) The Dancing Peacock [Pride and Modesty] 

 

Once upon a time, a very long time ago, the four-footed animals made the lion their king. There was a gigantic fish that roamed the oceans, and the fish made him their king. The birds were attracted to beauty, so they chose the Golden Swan as their king.

 

King Golden Swan had a beautiful golden daughter. While she was still young, he granted her one wish. She wished that, when she was old enough, she could pick her own husband.

 

When his daughter was old enough, King Golden Swan called all the birds living in the vast Himalayan Mountains of central Asia to a gathering. The purpose was to find a worthy husband for his golden daughter. Birds came from far away, even from high Tibet. There were geese, swans, eagles, sparrows, humming birds, cuckoos, owls and many other kinds of birds.

 

The gathering was held on a high rock slab, in the beautiful green land of Nepal. King Golden Swan told his lovely daughter to select whichever husband she wished.

 

She looked over the many birds. Her eye was attracted by a shining emerald-green long-necked peacock, with gorgeous flowing tail feathers. She told her father, “This bird, the peacock, will be my husband.”

 

Hearing that he was the lucky one, all the other birds crowded around the peacock to congratulate him. They said, “Even among so many beautiful birds, the golden swan princess has chosen you. We congratulate you on your good fortune.”

 

The peacock became so puffed up with pride, that he began to show off his colorful feathers in a fantastic strutting dance. He fanned out his spectacular tail feathers and danced in a circle to show off his beautiful tail. Being so conceited, he pointed his head at the sky and forgot all modesty, so that he also, showed his most private parts for all to see!

 

The other birds, especially the young ones, giggled. But King Golden Swan was not amused. He was embarrassed to see his daughter’s choice behave in this way. He thought, “This peacock has no inner shame to give him proper modesty. Nor does he have the outer fear to prevent indecent behavior. So why should my daughter be shamed by such a mindless mate?”

 

Standing in the midst of the great assembly of birds, the king said, “Sir peacock, your voice is sweet, your feathers are beautiful, your neck shines like an emerald, and your tail is like a splendid fan. But you have danced here like one who has no proper shame or fear. I will not permit my innocent daughter to marry such an ignorant fool!”

 

Then King Golden Swan married his golden daughter to a royal nephew. The silly strutting peacock flew away, having lost a beautiful wife.

 

The moral is: If you let pride go to your head, you’ll wind up acting like a fool.

 

 


034_A34

(34) Vua Chim Cút Và Chàng Thợ Săn 

 

Một bầy chim cút thuở xưa

Đứng đầu có một vị vua trị vì

Vua chim cút rất có uy

Muôn chim kính trọng, nể vì, mến thương.

Thợ săn kia ở ven rừng

Là người tài giỏi tiếng lừng khắp nơi

Giả chim kêu thật tuyệt vời

Cái tài bắt chước ít người sánh ngang,

Giả chim cút chàng kêu vang

Như chim kêu cứu khi vương bẫy người

Nhiều chim bị dụ tới nơi

Chàng giăng bẫy chụp, chim thời kẹt ngay

Thế là lâm nạn cả bầy

Bị chàng nhốt giỏ đọa đày xác thân

Chàng đem ra chợ ở gần

Bán chim, kiếm sống, bao lần thành công.

Một ngày vừa rạng vầng hồng

Vua chim thám hiểm bay trong khu rừng

Vua nhìn quanh quất xem chừng

Chăm lo sinh mạng cho từng chú chim

Khôn ngoan vua nhận ra liền

Thợ săn giả tiếng chim quen gọi bầy

Dụ chim cút lọt bẫy này

Vua lo tìm kế hoạch hay cứu bầy.

Vua bèn cho triệu tập ngay

Bao nhiêu chim cút quanh đây tụ về

Trong vương quốc, khắp sơn khê

Mời thêm chim cút vùng quê xa vời

Muôn chim tụ họp một nơi

Để nghe cách thức chống người thợ săn.

Vua chim cút đứng đầu đàn

Chào mừng đồng loại nghiêm trang thốt lời:

“Chúng ta chim cút cùng loài

Lâu nay lâm nạn bi ai khốn cùng

Nên góp sức, phải chung lưng

Phá tan mưu kế gian hùng thợ săn!”

Chim đầu đàn đề nghị rằng:

“Hãy theo kế hoạch kết đoàn của tôi

Chẳng may bị chụp lưới rồi

Mỗi chim một lỗ ta chui đầu vào

Cùng nhau vươn cổ lên cao

Rồi cùng cất cánh bay vào vườn bên

Lưới giăng bị nhấc bổng lên

Ta cùng đội lưới quăng liền bụi gai

Bay xuống dưới, trốn ra ngoài

Thế là ta thoát khỏi tai họa này,

Thợ săn gỡ lưới loay hoay

Chúng ta thong thả tung bay cuối trời!”

Khi vua chim cút dứt lời

Thấy là phương cách tuyệt vời khôn ngoan

Muôn chim đồng ý cả đoàn

Tin rằng sẽ được an toàn dài lâu.

* Thợ săn vào sáng hôm sau

Vẫn quen giả tiếng chim đâu khác gì

Tưởng rằng cũng giống mọi khi

Dụ chim vào bẫy khó bề thoát thân

Nào ngờ chuyện lạ vô ngần

Chim cùng vươn cổ bất thần tung bay

Đội theo cả lưới giăng này

Bụi gai gần đó quăng ngay lên rồi

Thế là mưu kế đi đời

Chẳng chim nào kẹt lưới người gian manh

Thợ săn bận rộn quẩn quanh

Sáng chiều gỡ lưới, bực mình biết bao

Ngày trôi mất ! Sức tiêu hao!

Khó giăng thêm mẻ lưới nào bẫy chim.

Rồi liên tiếp mấy hôm liền

Bầy chim thắng lợi liên miên cách này

Thợ săn cứ mải loay hoay

Bận lo gỡ lưới cả ngày toi công

Trở về nhà với tay không

Vợ chàng giận giữ la chồng một phen:

“Không có chim! Chẳng có tiền!

Mất công cả buổi chẳng nên chuyện gì

Hay là mê kẻ nào kia

Thay lòng đổi dạ bỏ bê vợ nhà?”

Vợ cằn nhằn, vợ hét la.

Phân trần chàng vội kể ra sự tình:

“Ta nào thiếu sự trung thành

Hôm nay xui quá nên đành về không

Bầy chim đoàn kết vô cùng

Chui đầu mắt lưới đồng lòng nâng lên

Thả vào gai nhọn kế bên

Thế là ta thất bại liền buổi nay!”

Thợ săn chợt nảy ý hay

Vuốt ve: “Thôi cũng còn may đấy bà

Nhờ bà ta chợt nghĩ ra

Bà hay gây gổ cùng ta nhiều rồi,

Bọn chim kia cũng thế thôi

Một ngày nào đó chúng thời gây nhau

Chẳng còn hòa hợp nữa đâu

Bấy giờ ta sẽ tóm mau cả bầy

Chim chui bẫy! Tiền vào tay!

Bà thời nở nụ cười ngay đấy mà

Bà nên kiên nhẫn nghe ta

Vợ chồng hạnh phúc, cửa nhà êm vui!”

* Quả nhiên thật đúng như lời

Một ngày chuyện xảy ra rồi chẳng lâu

Bầy chim chen chúc cùng nhau

Nàng chim vô ý đạp đầu chàng kia

Dù nàng xin lỗi tức thì

Chàng kia vẫn giận không hề bỏ qua

Chàng bèn lên tiếng thét la

Thế là cãi cọ xảy ra mất rồi

Chàng to tiếng, nàng nặng lời

Vua chim can gián cũng đời nào xong

Nghĩ thầm: “Nguy hiểm vô cùng

Chim không hoà thuận, việc không tốt lành

Cùng bầy mà cứ đua tranh

Đến khi nâng lưới cũng ganh nhau hoài

Thế là sẽ gặp nguy tai

An toàn đâu nữa! Tàn đời còn chi!”

Vua chim ra lệnh bay đi

Bầy chim đa số tức thì theo ngay,

Những chim khác còn tại đây

Mải mê cãi lộn càng ngày càng hăng

Thình lình có lưới bủa giăng

Thợ săn trở lại vừa quăng lưới này

Hai chim vẫn cãi hăng say:

“Ta không nâng lưới! Ta đây chẳng cần!

Kệ mi ta chẳng dự phần!”

Bầy chim còn lại nổi sân tức thì:

“Chúng ta nào có ngu chi

Ra công nâng lưới cho mi chê cười!”

Cả bầy tranh chấp tơi bời

Bùng ra như đám cháy nơi rừng già.

Thợ săn lợi dụng thời cơ

Tóm đầy một mẻ chẳng tha mạng nào

Giỏ kia bèn nhốt kỹ vào

Đem về đưa vợ nấu xào món ăn

Vợ liền vui vẻ vô ngần

Mời thêm lối xóm xa gần tham gia

Tiếng cười vang khắp cửa nhà.

Thương bầy chim cút thật là dại ngu!

 

34) Vua Chim Cút Và Chàng Thợ Săn:

Vua chim cút có trí là tiền thân Đức Phật.

(34) The Quail King and the Hunter [Unity] 

 

Once upon a time, there was a Quail King who reigned over a flock of a thousand quails.

 

There was also a very clever quail hunter. He knew how to make a quail call. Because this sounded just like a real quail crying for help, it never failed to attract other quails. Then the hunter covered them with a net, stuffed them in baskets, and sold them to make a living.

 

Because he always put the safety of his flock first. Quail King was highly respected by all. While on the lookout for danger, one day he came across the hunter and saw what he did. He thought, “This quail hunter has a good plan for destroying our relatives. I must make a better plan to save us.”

 

Then he called together his whole nation of a thousand quails. He also invited other quails to attend the meeting. He said, “Greetings to our quail nation and welcome to our visitors. We are faced with great danger. Many of our relatives are being trapped and sold by a clever hunter. Then they are being killed and eaten. I have come up with a plan to save us all. When the hunter covers us with his net, every single one of us must raise his neck at the same time. Then, all together, we should fly away with the net and drop it on a thorn bush. That will keep him busy, and we will be able to escape with our lives.” All agreed to follow this smart strategy.

 

The next day the hunter lured the quails with his quail call as usual. But when he threw his net over them, they all raised up their necks at once, flew away with the net, and dropped it on a thorn bush. He could catch no quails at all! In addition, it took him the rest of the day to loosen his net from the thorns – so he had no time left to try again!

 

The same thing happened on the following day. So he spent a second day unhooking his net from sharp thorns. He arrived home only to be greeted by his wife’s sharp tongue! She complained, “You used to bring home quail to eat, and money from selling quails. Now you return empty-handed. What do you do all day? You must have another wife somewhere, who is feasting on quail meat at this very moment!”

 

The hunter replied, “Don’t think such a thing, my darling. These days the quails have become very unified. They act as one, and raise up their necks and carry my net to a thorn bush. But thanks to you, my one and only wife, I know just what to do! Just as you argue with me, one day they too will argue, as relatives usually do. While they are occupied in conflict and bickering, I will trap them and bring them back to you. Then you will be pleased with me again. Until then, I must be patient.”

 

The hunter had to put up with his wife’s complaints for several more days. Then one morning after being lured by the quail call, it just so happened that one quail accidentally stepped on the head of another. He immediately got angry and squawked at her. She removed her foot from his head and said, “Please don’t be angry with me. Please excuse my mistake.” But he would not listen. Soon both of them were squawking and squawking, and the conflict got worse and worse!

 

Hearing this bickering getting louder and louder, Quail King said, “There is no advantage in conflict. Continuing it will lead to danger!” But they just wouldn’t listen.

 

Then Quail King thought, “I’m afraid this silly conflict will keep them from cooperating to raise the net.” So he commanded that all should escape. His own flock flew away at once.

 

And it was just in time too! Suddenly the quail hunter threw his net over the remaining quails. The two arguing quails said to each other, “I won’t hold the net for you.” Hearing this, even some of the other quails said, “Why should I hold the net for anyone else?”

 

So the conflict spread like wildfire. The hunter grabbed all the quails, stuffed them in his baskets, and took them home to his wife. Of course she was overjoyed, and they invited all their friends over for a big quail feast.

 

The moral is: There is safety in unity, and danger in conflict.

 


035_A35

(35) Con Cá May Mắn 

 

Nhà vua nọ thời xa xưa

Có quan cố vấn rất ư nhiều tài

Ông quan thông thái hơn người

Tiếng loài vật nói ông thời hiểu ngay

Chuyện trò với chúng hàng ngày

Bằng ngôn ngữ của loài này, loài kia.

Một hôm rảnh rỗi ông đi

Cùng đoàn hầu cận theo kề một bên,

Dọc bờ sông nước dâng lên

Mấy người đánh cá neo thuyền vung tay

Tung ra lưới khắp sông này

Hòng mong bắt cá vào đây kiếm tiền.

Nhìn xuống sông ông thấy liền

Một nàng cá đẹp như tiên dẫn đầu

Thân hình lóng lánh tươi mầu

Cầu vồng phô sắc cũng đâu sánh bằng

Theo sau đuôi là một chàng

Thân to, cũng đẹp rỡ ràng kém chi

Chàng ta mải miết bơi đi

Hầu như không để ý gì chung quanh

Chỉ nhìn theo dáng xinh xinh

Dõi theo nàng, mắt si tình dại ngây

Khi gần tới lưới giăng đây

Tinh khôn nàng cá đã hay biết rồi

Nàng bèn lanh lẹ lách người

Bơi quanh lưới cá tức thời tránh ngay

Chỉ riêng chàng cá, buồn thay,

Đang mê tâm khảm, đang say cõi lòng

Cho nên mù quáng vô cùng

Lưới kia chui thẳng vào trong, tàn đời!

Thế là chàng bị bắt thôi

Vui mừng ngư phủ được mồi kéo lên

Ném chàng cá lớn qua bên

Vót cây cho nhọn chờ xiên cá này

Lửa nhóm lên, khói quyện bay

Cá mà nướng lửa xưa nay tuyệt trần!

* Bờ sông chàng cá phơi thân

Vẫy vùng rên xiết vô ngần thương đau

than thở một hồi lâu

Quan nghe hiểu cá, gật đầu cảm thông

Ông quay lại đám tùy tùng

Vội vàng thuật lại nỗi lòng cá kia.

Ông thầm nghĩ: “Cá u mê

Không hề sợ chết, không hề sợ xiên

Chỉ lo nàng cá buồn phiền

Nghĩ chàng phản bội có thêm cuộc tình”

Cá luôn miệng nói một mình:

“Đời tôi ao ước ở quanh bên nàng

Thân tôi đây tôi chẳng màng

Vì nàng tôi sẽ sẵn sàng xả thân

Lo cho nàng là tối cần

Nàng đâu? Tôi muốn luôn gần nàng thôi!”

Ông quan buông tiếng thở dài

Khi nghe cá thốt những lời bi thương

Quan thầm nhủ: “Cá điên cuồng

Thân giờ bi đát vì vương dục tình

Nhưng tâm thời vẫn quẩn quanh

Cái vòng luyến ái thoát nhanh được nào

Rồi đây chết sẽ ra sao

Con đường địa ngục đọa vào tránh đâu

Thôi ta nên giúp cá mau

Kiếp sau khỏi phải đớn đau đọa đày!”

Ông quan rất tốt bụng này

Ghé người đánh cá tại đây ngỏ lời:

“Bác chài trên bến sông ơi

Thần dân chung thủy lâu đời của vua!

Từ lâu lắm, từ xa xưa

Ta chưa hề được bác đưa tặng quà

Hôm nay hãy biếu cho ta

Một con cá để gọi là xã giao!”

Trưởng đoàn đánh cá thưa mau:

“Xin vâng! Nào chúng tôi đâu tiếc gì

Xin ngài cứ lấy cá đi

Cá nào ngài thích tôi thì kính dâng!”

Ông quan: “Vậy tốt vô ngần

Cá kia to xác nằm gần sông xanh

Trông ra có vẻ ngon lành!”

Trưởng đoàn: “Ngài muốn xin dành ngài ngay!”

Ông quan cầm cá lên tay

Cá còn rên rỉ giọng đầy bi thương.

Quan bèn nói với cá rằng:

“Ngươi sao dục lạc vấn vương cả đời

Nếu ta không thấy được ngươi

Hôm nay ngươi sẽ tàn đời còn chi

Con đường mù quáng ham mê

Mãi đưa ngươi tới não nề khổ đau

Cá ngu ơi, thoát ra mau

Từ nay chớ có chui đầu bẫy xưa

Đừng nên tham đắm say sưa

Cội nguồn tình ái luôn thừa sầu bi!”

Lời vàng thức tỉnh lương tri

Bến bờ giác ngộ tràn trề hương thơm

Cá nhìn quan nói cám ơn

Ơn lời chỉ giáo khôn ngoan vô cùng.

Quan bèn thả cá xuôi dòng

Quay lên cùng đám tùy tùng ra đi.

 

35) Con Cá May Mắn:

Ông quan cố vấn của nhà vua là tiền thân Đức Phật.

(35) The Fortunate Fish [Desire] 

 

Once upon a time, King Brahmadatta had a very wise adviser who understood the speech of animals. He understood what they said, and he could speak to them in their languages.

 

One day the adviser was wandering along the riverbank with his followers. They came upon some fishermen who had cast a big net into the river. While peering into the water, they noticed a big handsome fish who was following his pretty wife.

 

Her shining scales reflected the morning sunlight in all the colours of the rainbow. Her feather-like fins fluttered like the delicate wings of a fairy, as they sent her gliding through the water. It was clear that her husband was so entranced by the way she looked and the way she moved, that he was not paying attention to anything else!

 

As they came near the net, the wife fish smelled it. Then she saw it and alertly avoided it at the very last moment. But her husband was so blinded by his desire for her, that he could not turn away fast enough. Instead, he swam right into the net and was trapped!

 

The fishermen pulled in their net and threw the big fish onto the shore. They built a fire, and carved a spit to roast him on.

 

Lying on the ground, the fish was flopping around and groaning in agony. Since the wise adviser understood fish talk, he translated for the others. He said, “This poor fish is madly repeating over and over again:

 

“My wife! My wife! I must be with my wife!

I care for her much more than for my life!

 

‘My wife! My wife! I must be with my wife!

I care for her much more than for my life!”

 

The adviser thought, “Truly this fish has gone crazy. He is in this terrible state because he became a slave to his own desire. And it is clear that he has learned nothing from the results of his actions. If he dies keeping such agony, and the desire that caused it, in his mind, he will surely continue to suffer by being reborn in some hell world. Therefore, I must save him!”

 

So this kind man went over to the fishermen and said, “Oh my friends, loyal subjects of our king, you have never given me and my followers a fish for our curry. Won’t you give us one today?”

 

They replied, “Oh royal minister, please accept from us any fish you wish!” “This big one on the riverbank looks delicious,” said the adviser. “Please take him, sir,” they said.

 

Then he sat down on the bank. He took the fish, who was still groaning, into his hands. He spoke to him in the language only fish can understand, saying, “You foolish fish! If I had not seen you today, you would have gotten yourself killed. Your blind desire was leading you to continued suffering. From now on, do not let yourself be trapped by your own desires!”

 

Then the fish realized how fortunate he was to have found such a friend. He thanked him for his wise advice. The minister released the lucky fish back into the river, and went on his way.

 

The moral is: Fools are trapped by their own desires.

 


036_A36

(36) Chim Cút Nhỏ Không Biết Bay 

 

Ngày xưa có chú chim non

Đôi chân, đôi cánh hãy còn nhỏ xinh

Nằm trên tổ giữa rừng xanh

Chim cun cút nhỏ chỉ quanh nơi này

Không biết đi, chẳng biết bay

Mẹ cha vất vả suốt ngày kiếm ăn

Lo cho cút khá nhọc nhằn

Thương con cha mẹ xả thân kiếm mồi.

* Địa phương này từ lâu rồi

Mỗi năm nạn cháy rừng thời xảy ra,

Năm nay lửa cũng chẳng tha

Một hôm khói bốc nhạt nhòa rừng cây

Lửa hồng bộc phát đâu đây

Chim muông rời tổ vội bay rộn ràng

Gió lên, khói bốc, lửa lan

Tổ chim cút nhỏ lửa càng gần thêm

Mẹ cha nán lại cùng chim

Biết rằng con nhỏ khó yên được nào.

Lửa rừng càng lúc càng cao

Cây cành gãy đổ ào ào chung quanh

Mẹ cha chim cút hoảng kinh

Biết rằng khó cứu con mình thoát nguy

Nên đành cất cánh bay đi

Để con lại tổ! Chia ly não lòng!

Giữa vùng khói lửa mịt mùng

Chim muông thoát hiểm vô cùng khó khăn.

* Chim non kẹt lại nghĩ thầm:

“Dễ gì có thể thoát thân chốn này

Mẹ cha ta từ lâu nay

Yêu ta, săn sóc hàng ngày cho ta

Chu toàn, tươm tất, thiết tha

Đến khi lửa cháy lan ra bốn bề

Mẹ cha liều mạng ngại chi

Vẫn còn nán lại đến khi cuối cùng

Cứu ta biết chẳng thành công

Mới đành bay thoát khỏi vòng nguy tai

Tâm từ cha mẹ rạng ngời

Ta xin ghi khắc bao đời khó quên

Cầu cho cha mẹ bình yên!”

Thế rồi chim cút nghĩ thêm phận mình:

“Giờ ta bất lực thật tình

Chân không đi được, lết quanh tổ này

Cánh không bay thoát khỏi đây

Nhưng đầu óc vẫn tràn đầy suy tư!”

Với tâm sáng, với lòng từ

Hạnh Chân Thật nọ bỗng như nở bừng

Tạo ra sức mạnh vô cùng

Chim non thành kính tập trung muôn lời

Niệm thêm công đức tuyệt vời

Của bao chư Phật từ thời xưa kia,

Thật là uy lực diệu kỳ

Tự nhiên ngọn lửa vô tri chợt ngừng

Không còn tàn phá khu rừng

Tắt như nhúng đuốc xuống vùng hồ ao,

Muôn chim còn lại mừng sao

Cùng chim cút nhỏ thoát bao hiểm nghèo.

Triệu năm sau đó tiếp theo

Khu rừng này vẫn hưởng nhiều bình an.

 

36) Chim Cút Nhỏ Không Biết Bay:

Chim cút nhỏ không biết bay là tiền thân Đức Phật.

(36) The Baby Quail Who Could Not Fly Away [The Power of Truth, Wholesomeness and Compassion] 

 

Once upon a time, the Enlightenment Being was born as a tiny quail. Although he had little feet and wings, he could not yet walk or fly. His parents worked hard bringing food to the nest, feeding him from their beaks.

 

In that part of the world, there were usually forest fires every year. So it happened that a fire began in that particular year. All the birds who were able, flew away at the first sign of smoke. As the fire spread, and got closer and closer to the nest of the baby quail, his parents remained with him. Finally the fire got so close, that they too had to fly away to save their lives.

 

All the trees, big and small, were burning and crackling with a loud noise. The little one saw that everything was being destroyed by the fire that raged out of control. He could do nothing to save himself. At that moment, his mind was overwhelmed by a feeling of helplessness.

 

Then it occurred to him, “My parents loved me very much. Unselfishly they built a nest for me, and then fed me without greed. When the fire came, they remained with me until the last moment. All the other birds who could, had flown away a long time before.

 

“So great was the loving-kindness of my parents, that they stayed and risked their lives, but still they were helpless to save me. Since they could not carry me, they were forced to fly away alone. I thank them, wherever they are, for loving me so. I hope with all my heart they will be safe and well and happy.

 

“Now I am all alone. There is no one I can go to for help. I have wings, but I cannot fly away. I have feet, but I cannot run away. But I can still think. All I have left to use is my mind – a mind that remains pure. The only beings I have known in my short life were my parents, and my mind has been filled with loving-kindness towards them. I have done nothing unwholesome to anyone. I am filled with new-born innocent truthfulness.”

 

Then an amazing miracle took place. This innocent truthfulness grew and grew until it became larger than the little baby bird. The knowledge of truth spread beyond that one lifetime, and many previous births became known. One such previous birth had led to knowing a Buddha, a fully enlightened knower of Truth – one who had the power of Truth, the purity of wholesomeness, and the purpose of compassion.

 

Then the Great Being within the tiny baby quail thought, “May this very young innocent truthfulness be united with that ancient purity of wholesomeness and power of Truth. May all birds and other beings, who are still trapped by the fire, be saved. And may this spot be safe from fire for a million years!”

 

And so it was.

 

The moral is: Truth, wholesomeness and compassion can save the world.


037_A37

(37) Chim Khôn, Chim Dại 

 

Ngày xưa có một cái cây

Vươn lên to lớn ở ngay giữa rừng

Bao nhiêu chim chóc trong vùng

Rủ nhau kéo đến sống chung hợp đoàn

Một chim tột bực khôn ngoan

Được bầu ra đứng đầu đàn nơi đây.

Chim đầu đàn chợt một ngày

Bay quanh trông thấy trên cây của mình

Hai cành gió thổi dập dình

Vỏ khô cọ xát tạo thành bụi dơ

Bụi rơi xuống dưới lá khô

Và rồi chút khói bất ngờ bốc lên

Chim suy nghĩ đoán ra liền:

“Thế nào lửa cũng cháy trên cây này

Khu rừng sẽ bị cháy lây

Gây ra thảm họa, cả bầy khó yên!”

Chim đầu đàn bèn nhắn tin

Cho mời tất cả các chim họp bàn

Mở lời: “Hỡi các bạn thân

Cây ta đang sống nguy nan hiểm nghèo

Tương lai lửa sẽ cháy thiêu

Tràn lan lửa sẽ hủy tiêu khu rừng

Ở đây nguy hiểm vô cùng

Ta nên xa lánh khỏi vùng này ngay

Kẻo mà bỏ xác tại đây!”

Lời khuyên hợp lý lại đầy tình thương.

Nhiều chim khôn vội tìm đường

Rời vùng nguy hiểm, tìm phương an lành

Bay qua rừng khác cho nhanh.

Nhiều chim tự nhận khôn lanh hơn người

Không chịu nghe, chẳng muốn rời

Nghĩ mình can đảm, mở lời cười chê:

“Đầu đàn mà lại nhát ghê

Khói vương chút ít có nề hà chi

Cớ sao ta phải ra đi

Nơi đây tổ ấm còn gì hơn đâu!”

* Buồn thay chỉ được ít lâu

Những lời tiên đoán xảy mau ra rồi

Một ngày vào buổi xấu trời

Cành cây cọ xát lửa thời phát ra

Thành tia nho nhỏ văng xa

Rơi ngay xuống lá khô và cháy lên

Lửa lan ra khắp bốn bên

Ngày càng mãnh liệt càng thêm hãi hùng

Cái cây to lớn nhất rừng

Giờ đây lửa bắt lên từng lá cao

Các chim còn đó xôn xao

Khu rừng biển lửa ào ào khắp nơi

Tổ chim ngập khói tơi bời

Khiến chim nghẹt thở, mắt thời mù luôn

Nhiều chim không thể thoát thân

Lửa rừng thiêu cháy vô ngần thương đau.

Kẻ không có trí trước sau

Không nghe lời phải thoát đâu tử thần.

 

37) Chim Khôn, Chim Dại:

Chim khôn, có trí là tiền thân Đức Phật.

(37) Wise Birds and Foolish Birds [Good Advice] 

 

Once upon a time, there was a giant tree in the forest. Many many birds lived in this tree. And the wisest of them was their leader.

 

One day the leader bird saw two branches rubbing against each other. They were making wood powder come falling down. Then he noticed a tiny wisp of smoke rising from the rubbing branches. He thought, “There is no doubt a fire is starting that may burn down the whole forest.”

 

So the wise old leader called a meeting of all the birds living in the great tree. He told them, “My dear friends, the tree we are living in is beginning to make a fire. This fire may destroy the whole forest. Therefore it is dangerous to stay here. Let us leave this forest at once!”

 

The wise birds agreed to follow his advice. So they flew away to another forest in a different land. But the birds who were not so wise said, “That old leader panics so easily. He imagines crocodiles in a drop of water! Why should we leave our comfortable homes that have always been safe? Let the scared ones go. We will be brave and trust in our trees!”

 

Lo and behold, in a little while the wise leader’s warning came true. The rubbing branches made sparks that fell in the dry leaves under the tree. Those sparks became flames that grew and grew. Soon the giant tree itself caught fire. The foolish birds who still lived there were blinded and choked by the smoke. Many, who could not escape, were trapped and burned to death.

 

The moral is: Those who ignore the advice of the wise, do so at their own risk.

 


038_A38

(38) Cây Bàng Mọc Lên 

 

Ngày xưa có một cây bàng

Thân to vươn giữa thênh thang núi rừng

Bên sườn núi tuyết chập chùng

Nơi ba con vật ở cùng với nhau

Sống chung thân thiết từ lâu

Một là chim trĩ đậu đầu ngọn cây,

Hai là khỉ thích đu dây,

Ba là voi nọ da dầy, to thân

Cả ba con vật quây quần

Thông minh tài trí cũng gần tương đương

quen biết, dù yêu thương

Vẫn luôn tranh cãi chẳng nhường nhịn chi

Hiếm khi đồng ý chuyện gì

Luôn cho mình phải rồi chê ý người.

Thời gian hoài phí dần trôi

Sợ rằng tình bạn tới thời rã tan

Ba con vật cùng họp bàn

May thay đồng ý dễ dàng buổi nay:

“Kẻ nào có ý kiến hay

Đó là kẻ sống dạn dày bản thân

Tuổi nhiều kinh nghiệm vô ngần

Tất nhiên nhận xét có phần cao xa!”

Ngờ đâu rắc rối xảy ra

Ngày sinh, tuổi tác, cả ba quên rồi

Không còn nhớ vì lâu đời

So ra chẳng biết ai thời cao niên.

* Một hôm nắng đẹp khắp miền

Nhìn cây bàng lớn êm đềm gió bay

Nảy ra sáng kiến tuyệt hay

Thế là chim trĩ hỏi ngay bạn vàng:

“Này voi cố nhớ rõ ràng

Lần đầu bạn thấy cây bàng ra sao

Cây to lớn như thế nào?”

Mơ màng voi đáp: “Ở vào thời xưa

Khi tôi nhỏ thường chơi đùa

Cây bàng chỉ thấp ngang vừa bụng tôi!”

Chim quay qua khỉ thốt lời:

“Vậy còn bạn khỉ thì thời đó đâu?”

Tay vuốt mặt, tay gãi đầu

Khỉ nhăn nhó nói: “Từ lâu lắm rồi

Khi tôi nhỏ tới đây ngồi

Chỉ cần vươn cổ đụng chồi ngọn cây

Cây bàng còn thấp lắm thay

Tôi ăn chồi đó hàng ngày khó chi!”

Voi và khỉ hỏi: “Vậy thì

Bạn chim trĩ có nhớ gì hay chăng?”

Đáp lời chim trĩ nói rằng:

“Khi tôi còn nhỏ phải băng núi đồi

Qua nơi xa lắc kiếm mồi

Cây bàng rừng lạ lâu đời sum sê

Trái nhiều chín mọng ngon ghê

Tôi ăn trái đó rồi về lại đây

Hôm sau đứng tại chỗ này

Tôi đi tiêu chảy ra ngay hột bàng

Hột bàng mọc với thời gian

Thành cây to lớn vươn ngang giữa rừng!”

* Voi và khỉ vội chúc mừng:

“Tuổi đời bạn đã thuộc từng lớp trên

Bạn chim là vị cao niên

Chúng tôi kính trọng và nên nghe lời

Bạn khôn ngoan, bạn thạo đời

Chắc rằng kinh nghiệm hơn người khác thôi

Bạn nên hướng dẫn chúng tôi

Tránh đường sai sót, tránh nơi lỗi lầm

hòa khí, vì tình thân

Bạn nên đứng đắn và luôn chân thành!”

Chim hoan hỉ: “Thật tốt lành!

Cám ơn hai bạn đã dành cho tôi

Những lời kính trọng tuyệt vời

Tôi xin hứa sẽ suốt đời chẳng quên

Sống theo sự tín nhiệm trên

Việc mong hoàn tất, tình thêm chan hòa!”

 

38) Cây Bàng Mọc Lên:

Chim trĩ là tiền thân Đức Phật. Voi là Mục Kiền Liên. Khỉ là Xá Lợi Phất.

(38) The Birth of a Banyan Tree [Respect for Elders] 

 

Once upon a time, there was a big banyan tree in the forest beneath the mighty Himalayas. Living near this banyan tree were three very good friends. They were a quail, a monkey and an elephant. Each of them was quite smart.

 

Occasionally the three friends got into a disagreement. When this happened, they did not consider the opinion of any one of them to be more valuable. No matter how much experience each one had, his opinion was treated the same as the others. So it took them a long time to reach an agreement. Every time this happened, they had to start from the beginning to reach a solution.

 

After a while they realized that it would save time, and help their friendship, if they could shorten their disagreements. They decided that it would certainly help if they considered the most valuable opinion first. Then, if they could agree on that one, they would not have to waste time, and possibly even become less friendly, by arguing about the other two.

 

Fortunately, they all thought the most valuable opinion was the one based on the most experience. Therefore, they could live together even more peacefully if they gave higher respect to the oldest among them. Only if his opinion were clearly wrong, would they need to consider others.

 

Unfortunately, the elephant and the monkey and the quail had no idea which one was the oldest. Since this was a time before old age was respected, they had no reason to remember their birthdays or their ages.

 

Then one day, while they were relaxing in the shade of the big banyan tree, the quail and the monkey asked the elephant, “As far back as you can remember, what was the size of this banyan tree?”

 

The elephant replied, “I remember this tree for a very long time. When I was just a little baby, I used to scratch my belly by rubbing it over the tender shoots on top of this banyan tree.”

 

Then the monkey said, “When I was a curious baby monkey, I used to sit and examine the little seedling banyan tree. Sometimes I used to bend over and nibble its top tender leaves.”

 

The monkey and the elephant asked the quail, “As far back as you can remember, what was the size of this banyan tree?”

 

The quail said, “When I was young, I was looking for food in a nearby forest. In that forest, there was a big old banyan tree, which was full of ripe berries. I ate some of those berries, and the next day I was standing right here. This was where I

let my droppings fall, and the seeds they contained grew up to be this very tree!”

 

The monkey and the elephant said, “Aha! Sir quail, you must be the oldest. You deserve our respect and honor. From now on we will pay close attention to your words. Based on your wisdom and experience, advise us when we make mistakes. When there are disagreements, we will give the highest place to your opinion. We ask only that you be honest and just.”

 

The quail replied, “I thank you for your respect, and I promise to always do my best to deserve it.” It just so happened that this wise little quail was the Bodhisatta the Enlightenment Being.

 

The moral is: Respect for the wisdom of elders leads to harmony.

 


039_A39

(39) Cò Và Cua 

 

Một trong nhiều kiếp trước đây

Có ông thần ở trên cây cao vời

Cây to, mọc đã lâu đời

Giữa hai đầm nước ngay nơi ven rừng

Một đầm nhỏ, nước lưng chừng

Chàng cua và lũ cá chung họp bầy,

Đầm kia rộng rãi đẹp thay

Lá sen phủ kín, nước đầy, xanh tươi.

Một năm hạn hán khắp nơi

Nước trong đầm nhỏ bốc hơi cạn dần

Nhưng bên đầm lớn ở gần

Nước nhờ sen phủ mười phần còn nguyên.

Cò kia đi dạo phía trên

Thấy bầy cá nhỏ cò liền dừng chân

Trong lòng tính toán phân vân

Nghĩ mưu lừa cá, bắt dần lên ăn.

Cò bèn tỏ vẻ quan tâm

Nói cùng bầy cá: “Nước đầm mau vơi

Các em rồi chết khô thôi

Khổ thân! Tội nghiệp! Mau rời khỏi đây!”

Cá nghe hoảng hốt cả bầy

Xin cò tìm cách ra tay cứu mình.

Cò bèn lên giọng nghĩa tình:

“Đầm sen là chỗ an bình trú chân

Di cư qua đấy cũng gần

Mỏ dài anh giúp quắp dần từng em!”

Cua nghe vội vã la lên:

“Coi chừng kẻo mắc bẫy tên cò này

Thật là chuyện lạ xưa nay

Giống cò nào có thương bầy chúng ta

Đói lòng nó đến thôi mà!”

Cò bèn trổ giọng ba hoa nhân từ:

“Các em muốn rõ thực hư

Cử ngay đại diện anh đưa đi liền

Qua chơi cho biết đầm sen

Bơi xong thỏa thích anh đem trở về

Anh đây tử tế khỏi chê

Giúp người hoạn nạn có nề hà chi,

Các em chớ có hồ nghi

Hãy mau thoát chốn hiểm nguy kịp thời!”

Cá nghe, bàn tán chọn người

Cá già được cử đi chơi thăm dò.

Cá già về, ca tụng cò:

“Anh chàng thật tốt! Chớ lo ngại gì!

Đầm sen rộng rãi đẹp ghê

Bồng lai, tiên cảnh khó bề sánh ngang!”

Thế là bầy cá vội vàng

Tranh nhau xin được dời sang đầm này.

Cuộc di cư dễ dàng thay

Anh cò bụng đói giúp ngay cho mà

Quắp từng em cá đưa qua

Gốc cây cổ thụ nhả ra rỉa mồi

Chỉ còn vứt lại xương thôi

Tàn đời lũ cá tin lời gian manh!

* Đến khi hết cá bơi quanh

Trong đầm còn lại một mình chàng cua

Khôn ngoan, thủ đoạn có thừa

Cua vừa thắc mắc, lại vừa nghĩ suy:

“Mình rời đầm cạn ra đi

Phải lo đối phó, phòng khi mắc lừa”.

Cò ta vồn vã hỏi cua:

“Bạn cua có muốn ta đưa giúp nào?”

Cua nghi ngại: “Đưa làm sao?”

Cò ta dụ dỗ: “Quắp vào mỏ thôi

Cũng như đưa cá vừa rồi!”

Cua bèn than vãn: “Vỏ tôi cứng còng

Lại trơn tuồn tuột thấy không

Mỏ dài anh quắp khó lòng lắm thay

Sợ rơi xuống đất tan thây

Chi bằng tôi bám nhẹ ngay cổ này

Cổ anh rất khỏe xưa nay

Mọi người vẫn phục là tay anh hùng!”

Thịt cua mùi chợt thơm lừng

Thêm lời nịnh hót tưng bừng sướng tai

Cò vươn ngay chiếc cổ dài

Cua bèn bám cổ. Cả hai đi liền.

Khi gần tới cạnh đầm sen

Ăn quen lối cũ cò bèn dừng chân.

Cua nghi, hỏi giọng băn khoăn:

“Sao anh ngừng lại? Phải chăng mệt rồi?”

Loay hoay tìm cách trả lời

Cò đang nghĩ quẩn, cua thời nhìn quanh

Thấy ngay xương cá rành rành

Gốc cây cổ thụ chất thành đống to.

Cua nhanh nhẹn bóp cổ cò

Hai càng chắc nịch xiết cho rụng rời,

Cua la: “Mày chết cò ơi!

Lừa tao sao nổi! Tao đời nào thua!”

đau đớn khẽ van cua:

“Đầm sen gần tới! Tôi đưa đi liền!”

Cua ra lệnh: “Đi mau lên!

Giở trò bịp bợm chết liền nghe em!”

Cò đưa cua tới đầm sen

Cổ dài vươn xuống ngang trên mặt đầm

Để cua xuống nước cho gần

Để cò mau thoát khỏi phần đớn đau

Nào ngờ cua có tha đâu

Hai càng xiết mạnh cứa sâu cổ dài

Cổ cò đứt đoạn làm hai

Tàn đời xảo trá! Hết loài gian manh!

* Thần cây rõ chuyện ngọn ngành

Răn đời: “Thâm độc có thành công đâu

Rước vào kết quả thảm sầu

Ác giả, ác báo từ lâu vậy mà!”

 

39) Cò Và Cua:

Vị thần trên cây là tiền thân Đức Phật.

(39) The Crane and the Crab [Trickery] 

 

Once upon a time, there was a crane who lived near a small pond. Right next to the pond was a big tree with a fairy living in it. He learned by observing the various animals.

 

There were also many small fish living in the small pond. The crane was in the habit of picking up fish with his beak and eating them. Since there happened to be a drought in the area, the water level in the pond was becoming lower and lower. This made it easier for the crane to catch fish. In fact, he was even getting to be a little fat!

 

However, the crane discovered that no matter how easy it was to catch fish, and no matter how many he ate, he was never completely satisfied. But he did not learn from this. Instead, he decided that if he ate all the fish in the pond, then he would find true happiness. “The more the merrier!” he said to himself.

 

In order to catch all the fish in the pond, the crane thought up a clever plan. He would trick the fish, and deceive them into trusting him. Then when they trusted him the most, he would gobble them up. He was very pleased with himself for thinking up such a trick.

 

To begin with, the crane sat down on the shore. He remained quietly in one position, just like a holy man in the forest. This was intended to get the fish to trust him.

 

The fish came to him and asked. “Sir crane, what are you thinking?” The holy-looking crane answered, “Oh my dear fish, it makes me sad to think of your future. I am thinking about the coming miserable disaster.”

 

They said, “My lord, what disaster is coming to us?” To which the crane replied, “Look around you! There is very little water left in this pond. You are also running out of food to eat. This severe drought is very dangerous for you poor little ones.”

 

Then the fish asked, “Dear uncle crane, what can we do to save ourselves?” “My poor little children,” said the crane, “you must trust me and do as I say. If you allow me to pick you up in my beak, I will take you, one at a time to another pond. That pond is much bigger than this one. It is filled with water and covered with lovely lotuses. It will be like a paradise for you!”

 

When they heard the part about the beak, the fish became a little suspicious. They said, “Mr. Crane, how can we believe you? Since the beginning of the world, there has never been a crane who wanted to help fish. Cranes have put fish in their beaks only to eat them. This must be a trick. Or else you must be joking!”

 

The crane then raised his head and made himself look as dignified as possible. He said, “Please don’t think such a thing. Can’t you see that I am a very special crane? You should trust me. But if you don’t believe me, send one fish with me and I will show him the beautiful pond. Then when I bring him back here, you will know I can be trusted.”

 

The fish said to each other, “This crane looks so dignified. He sounds like an honest crane. But just in case it’s a trick. let us send with him a useless little troublemaker fish. This will be a test.” Then they found a young fish who was known for playing hooky from school. They pushed him towards the shore.

 

The crane bent his head and picked up the little one in his beak. Then he spread his wings and flew to a big tree on the shore of a beautiful big pond. Just as he had said, it was covered with lovely lotuses. The fish was amazed to see such a wonderful place. Then the crane carried him back to his poor old pond, just as he had promised.

 

Arriving home, the little fish described the wonders of the beautiful big pond. Hearing this, all the other fish became very excited and rushed to be the first to go.

 

The first lucky passenger was that same useless little troublemaker. Again the crane picked him up in his beak and flew to the big tree on the shore of the beautiful new pond. The little one was sure the helpful crane was about to drop him into the wonderful pond. But instead, the crane suddenly killed him, gobbled up his flesh, and let the bones fall to the ground.

 

The crane returned to the old pond, brought the next little fish to the same tree, and ate him in the same way. Likewise, one by one, he gobbled up every last fish!

 

He became so stuffed with fish meat that he had trouble flying back to the little pond. He saw that there were no more fish left for him to trick and eat. Then he noticed a lonely crab crawling along the muddy shore. And he realized that he was still not completely satisfied!

 

So he walked over to the crab and said, “My dear crab, I have kindly carried all the fish to a wonderful big pond not far from here. Why do you wish to remain here alone? If you simply do as the fish have done, and let me pick you up in my beak, I will gladly take you there. For your own good, please trust me.”

 

But the crab thought, “There is no doubt this over-stuffed crane has eaten all those fish. His belly is so full he can hardly stand up straight. He definitely cannot be trusted! If I can get him to carry me to a new pond and put me in it, so much the better. But if he tries to eat me, I will have to cut off his head with my sharp claws.”

 

Then the crab said, “My friend crane, I am afraid I am much too heavy for you to carry in your beak. You would surely drop me along the way. Instead, I will grab onto your neck with my eight legs, and then you can safely carry me to my new home.”

 

The crane was so used to playing tricks on others, that he did not imagine he would be in any danger -even though the crab would be grasping him by the throat. Instead he thought, “Excellent! This will give me a chance to eat the sweet meat of this foolish trusting crab.”

 

So the crane permitted the crab to grab onto his neck with all eight legs. In addition, he grasped the crane’s neck with his sharp claws. He said, “Now kindly take me to the new pond.”

 

The foolish crane, with his neck in the clutches of the crab, flew to the same big tree next to the new pond.

 

Then the crab said, “Hey you stupid crane, have you lost your way? You have not taken me to the pond. Why don’t you take me to the shore and put me in?”

 

The crane said, “Who are you calling stupid? I don’t have to take that from you. You’re not my relative. I suppose you thought you tricked me into giving you a free ride. But I’m the clever one. Just look at all those fish bones under this tree. I’ve eaten all the fish, and now I’m going to eat you too, you stupid crab!”

 

The crab replied, “Those fish were eaten because they were foolish enough to trust you. But no one would trust you now. Because you tricked the fish, you have

become so conceited you think you can trick anyone. But you can’t fool me. I have you by the throat. So if one dies, we both die!”

 

Then the crane realized the danger he was in. He begged the crab, “Oh my lord crab, please release me. I have learned my lesson. You can trust me. I have no desire to eat such a handsome crab as you.”

 

Then he flew down to the shore and continued, “Now please release me. For your own good, please trust me.”

 

But this old crab had been around. He realized the crane could not be trusted no matter what he said. He knew that if he let go of the crane, he would be eaten for sure. So he cut through his neck with his claws, just like a knife through butter! And the crane’s head fell on the ground. Then the crab crawled safely into the wonderful pond.

 

Meanwhile, the inquisitive fairy had also come to the new pond and seen all that had happened. Sitting on the very top of the big tree, he said for all the gods to hear:

“The one who lived by tricks and lies,

No longer trusted now he dies.”

 

The moral is: The trickster who can’t be trusted, has played his last trick.


040_A40

(40) Kho Tàng Giấu Chôn 

 

Ngày xưa có một ông già

Ba La Nại, cửa nhà giàu sang

Ông già có một bạn vàng

Rất là tài giỏi, khôn ngoan hơn người.

Vợ ông già còn trẻ thôi

Đảm đang, duyên dáng, xinh tươi, mượt mà

Nên ông thầm nhủ lo xa:

“Đây là may mắn hay là nguy tai?”

Vợ chồng có một con trai

Ông yêu, ông quý nào ai sánh bằng.

Một ngày ông chợt nghĩ rằng:

“Vợ càng trẻ đẹp lại càng khó tin

Khi ta chết nàng chóng quên

Lấy thêm chồng khác ngay liền chẳng sai

Cả hai phung phí tiêu xài

Hết luôn tất cả gia tài của ta

Do bao công sức kiếm ra,

Con ta còn có gì mà hưởng đây,

Giờ ta phải kiếm cách ngay

Giữ gia tài lại sau này cho con

Cách hay nhất để bảo tồn

Là đem của cải giấu chôn trong rừng”

Ông bèn gọi kẻ tùy tùng

Trung thành giúp việc đã từng bao năm

Vào rừng sâu, chốn xa xăm

Mang theo của cải âm thầm giấu chôn

Nan Đà tên của gia nhân

Nghe ông tín cẩn ân cần nhắn nhe:

“Này Nan Đà hãy lắng nghe

Cố mà giữ kín những gì hôm nay

Khi ta từ giã đời này

Con ta rồi sẽ tới ngày lớn khôn

Bạn nên kề cận nó luôn

Rồi đưa nó tới chỗ chôn kho tàng

Nhưng khuyên nó hãy khôn ngoan

Biết đường xử dụng bạc vàng báu châu!”

* Quả nhiên sau đó ít lâu

Ông già tuổi hạc về chầu tổ tiên

Con trai giờ đã thành niên

Học hành đỗ đạt lại thêm hiền lành

Thay cha làm chủ gia đình,

Một hôm bất chợt mẹ anh nói rằng:

“Con ơi! Con có hay chăng

Đa nghi hạng nhất ai bằng cha con

Cho nên ông đã giấu chôn

Bao nhiêu tài sản vào luôn rừng già,

Mẹ nghi lão bộc Nan Đà

Từ lâu hắn vẫn tỏ ra trung thành

Cha con tín cẩn hết mình,

Hỏi đi! Chắc hắn biết rành chỗ chôn

Tất nhiên hắn sẽ giúp con

Đem kho tàng trở về luôn nhà mình,

Rồi con còn lập gia đình

Chăm lo gia sản cha dành lại đây!”

Chàng nghe mẹ gợi ý hay

Hỏi ra quả thật đúng ngay y lời.

* Nan Đà một buổi đẹp trời

Đưa chàng trẻ tuổi vào chơi khu rừng

Tới nơi kia hắn chợt ngừng

Rồi leo lên đứng trên từng đất cao

Thấy mình quan trọng biết bao

Kho tàng mình biết, chủ nào có hay!

Lòng kiêu mạn chợt dâng đầy

Hắn bèn mắng nhiếc chủ ngay tức thì:

“Đứa con hư, hãy đi đi

Tấm thân nô lệ có gì quý đâu

Gia tài không đáng hưởng nào!”

Bao lời thô ác, hỗn hào tuôn ra

Chàng trai nuốt giận làm lơ

Trở về nhịn nhục đợi chờ chuyến sau.

Vài ba ngày đã trôi mau

Cả hai trở lại rừng sâu chuyến này

Rồi y vậy, chẳng đổi thay

Nan Đà lại giống như ngày trước thôi

Thật là kỳ quặc quá trời

Chàng trai suy nghĩ, tìm người hỏi thăm.

Nhớ cha trước có bạn thân

Từ lâu thông thái khôn ngoan tiếng đồn

Chàng bèn tìm tới thăm ông

Đầu đuôi thuật chuyện cầu mong giúp mình,

Ông già thân với gia đình

Nghe xong bèn nói: “Quả tình lạ thay!

Kỳ sau đi với hắn ngay

Vào khu rừng cũ lần này xem sao

Khi mà nó nói hỗn hào

Nó dừng chân lại chỗ nào chớ quên

Nhớ xong, đuổi nó đi liền

Dạy cho nó biết chớ nên làm tàng,

Chỗ nào nó đứng là vàng

Hãy đào của cải mà mang trở về,

Nan Đà mặc cảm mọi bề

Vốn mang bản chất tự ti yếu hèn

Nên khi nó có chút quyền

Nó bèn lạm dụng hầu quên phận mình!”

* Lời khuyên hợp lý hợp tình

Chàng trai liền đó thi hành y theo

Quả nhiên mọi việc xuôi chiều

Gia tài chôn giấu bao nhiêu bạc vàng

Chàng con lấy lại dễ dàng

Tuân theo đúng ý cha chàng trước đây

Khôn ngoan cai quản khéo tay

Đồng thời bố thí để gây nhân lành

Tạo ra công đức cho mình

Mang thêm lợi lạc cho quanh xóm làng.

 

40) Kho Tàng Giấu Chôn:

Bạn già có trí của cha chàng thanh niên là tiền thân Đức Phật. Nan Đàđệ tử của Xá Lợi Phất.

(40) Buried Treasure [The Arrogance of Power] 

 

Once upon a time, there was an old man who lived in Benares. He had a very good friend, who was known to be wise. Luckily, or perhaps unluckily, he also had a beautiful young wife.

 

The old man and his young wife had a son. The man came to love his son very much. One day he thought, “I have learned that my beautiful young wife cannot always be trusted. When I die, I am sure she will marry another man, and together they will waste the wealth I have worked so hard for. Later on, there will be nothing left for my son to inherit from his mother. So I will do something to guarantee an inheritance for my deserving son. I will bury my wealth to protect it for him.”

 

Then he called for his most faithful servant, Nanda. Together they took all the old man’s wealth deep into the forest and buried it. He said, “My dear Nanda, I know you are obedient and faithful. After I die, you must give this treasure to my son. Keep it a secret until then. When you give the treasure to him, advise him to use it wisely and generously.”

 

Before long, the old man died. Several years later, his son completed his education. He returned home to take his place as the head of the family. His mother said, “My son, being a suspicious man, your father has hidden his wealth. I am sure that his faithful servant, Nanda, knows where it is. You should ask him to show you. Then you can get married and support the whole family.”

 

So the son went to Nanda and asked him if he knew where his father had hidden his wealth. Nanda told him that the treasure was buried in the forest, and that he knew the exact spot.

 

Then the two of them took a basket and a shovel into the forest. When they arrived at the place the treasure was buried, all of a sudden Nanda became puffed up with how important he was. Although he was only a servant, he had the power of being the only one to know the secret. So he became conceited and thought he was better than the son. He said, “You son of a servant girl! Where would you inherit a treasure from?”

 

The patient son did not talk back to his father’s servant. He suffered his abuse, even though it puzzled him. After a short time, they returned home empty-handed.

 

This strange behavior was repeated two more times. The son thought, “At home, Nanda appears willing to reveal the secret of the treasure. But when we go into the forest carrying the basket and shovel, he is no longer willing. I wonder why he changes his mind each time.”

 

He decided to take this puzzle to his father’s wise old friend. He went to him and described what had happened.

 

The wise old man said, “Go again with Nanda into the forest. Watch where he stands when he abuses you, which he surely will do. Then send him away saying. “You have no right to speak to me that way. Leave me.”

 

“Dig up the ground on that very spot and you will find your inheritance. Nanda is a weak man. Therefore, when he comes closest to his little bit of power, he turns it into abuse.”

 

The son followed this advice exactly. Sure enough, he found the buried treasure. As his father had hoped, he generously used the wealth for the benefit of many.

 

The moral is: A little power soon goes to the head of one not used to it.

 


041A_A041B-A41

(41) Phật Độc Giác 

 

Ba La Nại thuở xa xưa

Có ông của cải rất ư là giàu

Cha ông lại chẳng sống lâu

Chết đi để lại thêm bao nhiêu tiền

Thế là triệu phú giàu thêm

Gia tài sản nghiệp khắp miền nổi danh.

Một ngày ông nghĩ khôn lanh:

“Của này sao lại chỉ dành riêng ta

Giàu sang nên mở rộng ra

Cho người chung hưởng mới là điều hay!”

Nghĩ xong ông thực hiện ngay

Cửa thành bốn phía dân hay ra vào

Ông xây lên đẹp biết bao

Bốn căn nhà để đón chào người dân

Đồ ăn, thức uống ai cần

Biếu không, xin cứ dừng chân, ông mời.

Tấm lòng bố thí tuyệt vời

Thật là rộng lượng, mọi người ngợi ca.

* Cách Ba La Nại không xa

Có Phật Độc Giác rừng già tĩnh tu

Ngài đang thiền định êm ru

Lòng nhân rạng rỡ, tâm từ chứa chan

Ngài thương xót kẻ nhân gian

Nổi trôi trần thế vô vàn khổ đau

Ngài mong họ giác ngộ mau

Tiếc thay họ lại quay đầu làm ngơ

Thiết đâu Chân Lý thăng hoa

Nên ngài yên lặng, lánh xa bụi trần

Rừng thiền một bóng tu thân

Tới bờ giác ngộ bước chân rộn ràng.

Một hôm thiền định rừng hoang

Bảy ngày liên tục chẳng màng uống ăn

Xả thiền ngài thấy nhọc nhằn

Trong người đói khát, e rằng hiểm nguy

Nên ngài đâu quản ngại gì

Tìm đường khất thực vội đi vào làng

Tới nhà triệu phú giàu sang

Chờ người hoan hỷ cúng dường thầy tu.

Chủ nhà sửa soạn ăn trưa

Chợt trông thấy Phật đến từ phía xa

Vội vàng ra lệnh người nhà

Thức ăn thành kính mang ra cúng dường

Mình thời đứng dậy nghiêm trang

Chờ chào đón Phật rộn ràng lòng vui.

* Nào ngờ hiện diện cạnh nơi

Ác Ma thần chết mọi người nghe danh,

Đời thường sợ hãi hoảng kinh

Lo rằng chính bản thân mình mạng vong

Nên luôn hồi hộp cõi lòng

Ác Ma vì thế vô cùng quyền uy,

Nhưng riêng với vị Phật kia

Ác Ma thấy chẳng có chi quyền hành

Ngài luôn sống rất tịnh thanh

Sợ đâu cái chết vây quanh đón chờ.

Ác Ma tức giận vô bờ

Cho nên gặp dịp bất ngờ hôm nay

Muốn ngài đói khát đọa đày

Để rồi bị hủy diệt ngay bữa này

Ác Ma vội vã ra tay

Tạo thành hố thẳm giăng đầy lửa than

Cản đường của đám gia nhân

Khó mà mang được thức ăn cúng dường

Người nhà triệu phú kinh hoàng

Đành quay lại chủ vội vàng trình ngay

Chủ sai người khác đi thay

Mọi người gặp lửa đều quay trở về

Thảy đều sợ chết thảm thê,

Chủ nhân thầm nghĩ: “Sá gì Ác Ma

Làm sao ngăn cản được ta

Nhiệt tình bố thí, thiết tha cúng dường

Đây là bước tiến trên đường

Về nơi giác ngộ, về phương an lành!”

Với lòng tin, với tâm thành

Chủ nhân triệu phú tự mình ra đi

Đích thân bưng thức ăn kia

Cúng dường cho Phật còn gì quý hơn,

Bị ngăn chặn bởi hố than

Nhìn vào thấy lửa hung tàn bốc ra

Nhìn lên thấy mặt Ác Ma

Chập chờn thần chết thật là hãi kinh

Ông bèn lên tiếng hỏi nhanh:

“Chắc là mi đã tạo thành hố than

Mi là ai tới cản ngăn?”

Ác Ma đáp lại: “Ta thần chết đây

Chính ta tạo hố lửa này

Ngăn nhà ngươi khỏi tiếp tay cúng dường

Phật kia sẽ chết tang thương

Và ngươi khỏi tiến trên đường tu thân

Vẫn còn trong chốn bụi trần

Vẫn trong quyền lực vô ngần của ta!”

Chủ nhân: “Này hỡi Ác Ma

Mi nào quyền lực đủ mà cản ngăn

Quyết tâm ta cúng thức ăn

Để xem mi có cầm chân được nào!”

Hướng về Phật ông thưa mau:

“Đầu này dù có lộn vào hầm than

Không sờn chí! Vẫn kiên gan!

Tới dâng ngài chút thức ăn cúng dường!”

Nói xong triệu phú ung dung

Sợ chi chết dưới lửa hừng hầm than

Bản thân mình quên hoàn toàn

Hố sâu ông vẫn nhẹ nhàng bước lên,

Chợt ông cảm thấy bình yên

Một bông sen nở cánh hiền dưới chân

Tòa sen mát mẻ muôn phần

Nhụy sen phủ khắp toàn thân phấn vàng

Nhiệm mầu! Kỳ diệu! An toàn!

Chủ nhân dâng vội thức ăn cúng dường

Vào bình bát Phật thân thương

Kiên trì tiến bước trên đường tu thân.

Ác Ma thất bại hoàn toàn

Biến đi mất dạng, hố than chẳng còn,

Phật Độc Giác hồi hướng luôn

Bao nhiêu công đức cho ông chủ nhà

Giơ tay chú nguyện thiết tha

Chủ nhà đảnh lễ rất là thành tâm.

Phật quay về chốn sơn lâm

Trong vùng Hy Mã Lạp Sơn chập chùng.

* Đứng nguyên trên đoá sen hồng

Chủ nhân triệu phú trong lòng vui tươi

Tòa sen thuyết pháp vang lời

Chung quanh đại chúng mọi người lắng nghe

Lời khuyên bố thí, từ bi

Lời khuyên giữ giới trọn bề chân tu.

 

41) Phật Độc Giác:

Người triệu phú ở Ba La Nạitiền thân Đức Phật.

(41) The Silent Buddha [Generosity]

 

Once upon a time, there was a very rich man living in Benares, in northern India. When his father died, he inherited even more wealth. He thought, “Why should I use this treasure for myself alone? Let my fellow beings also benefit from these riches.”

 

So he built dining halls at the four gates of the city – North, East, South and West. In these halls he gave food freely to all who wished it. He became famous for his generosity. It also became known that he and his followers were practicers of the Five Training Steps.

 

In those days, there was a Silent Buddha meditating in the forest near Benares. He was called Buddha because he was enlightened. This means that he no longer experienced himself, the one called ‘I’ or ‘me’, as being in any way different from all life living itself. So he was able to experience life as it really is, in every present moment.

 

Being one with all life, he was filled with compassion and sympathy for the unhappiness of all beings. So he wished to teach and help them to be enlightened just as he was. But the time of our story was a most unfortunate time, a very sad time. It was a time when no one else was able to understand the Truth, and experience life as it really is. And since this Buddha knew this, that was why he was Silent.

 

While meditating in the forest, the Silent Buddha entered into a very high mental state. His concentration was so great that he remained in one position for seven days and nights, without eating or drinking.

 

When he returned to the ordinary state, he was in danger of dying from starvation. At the usual time of day, he went to collect alms food at the mansion of the rich man of Benares.

 

When the rich man had just sat down to have lunch, he saw the Silent Buddha coming with his alms bowl. He rose from his seat respectfully. He told his servant to go and give alms to him.

 

Meanwhile, Mara, the god of death, had been watching. Mara is the one who is filled with greed for power over all beings. He can only have this power because of the fear of death.

 

Since a Buddha lives life fully in each moment, he has no desire for future life, and no fear of future death. Therefore, since Mara could have no power over the Silent Buddha, he wished to destroy him. When he saw that he was near death from starvation, he knew that he had a good chance of succeeding.

 

Before the servant could place the food in the Silent Buddha’s alms bowl, Mara caused a deep pit of red hot burning coals to appear between them. It seemed like the entrance to a hell world.

 

When he saw this, the servant was frightened to death. He ran back to his master. The rich man asked him why he returned without giving the alms food. He replied, “My lord, there is a deep pit full of red hot burning coals just in front of the Silent Buddha.”

 

The rich man thought, “This man must be seeing things!” So he sent another servant with alms food. He also was frightened by the same pit of fiery coals. Several servants were sent, but all returned frightened to death.

 

Then the master thought, “There is no doubt that Mara, the god of death, must be trying to prevent my wholesome deed of giving alms food to the Silent Buddha. Because wholesome deeds are the beginning of the path to enlightenment, this Mara wishes to stop me at all costs. But he does not understand my confidence in the Silent Buddha and my determination to give.”

 

So he himself took the alms food to the Silent Buddha. He too saw the flames rising from the fiery pit. Then he looked up and saw the terrible god of death, floating above in the sky. He asked, “Who are you.?” Mara replied, I am the god of death!”

 

“Did you create this pit of fire?” asked the man. “I did,” said the god. “Why did you do so?” “To keep you from giving alms food, and in this way to cause the Silent Buddha to die! Also to prevent your wholesome deed from helping you on the path to enlightenment, so you will remain in my power!”

 

The rich man of Benares said, “Oh Mara, god of death, the evil one, you cannot kill the Silent Buddha, and you cannot prevent my wholesome giving! Let us see whose determination is stronger!”

 

Then he looked across the raging pit of fire, and said to the calm and gentle Enlightened One, “Oh Silent Buddha, let the light of Truth continue to shine as an example to us. Accept this gift of life!”

 

So saying, he forgot himself entirely, and in that moment there was no fear of death. As he stepped into the burning pit, he felt himself being lifted up by a beautiful cool lotus blossom. The pollen from this miraculous flower spread into the air, and covered him with the glowing colour of gold. While standing in the heart of the lotus, the Great Being poured the alms food into the bowl of the Silent Buddha. Mara, god of death, was defeated!

 

In appreciation for this wonderful gift, the Silent Buddha raised his hand in blessing. The rich man bowed in homage, joining his hands above his head. Then the Silent Buddha departed from Benares, and went to the Himalayan forests.

 

Still standing on the wonderful lotus, glowing with the color of gold, the generous master taught his followers. He told them that practising the Five Training Steps is necessary to purify the mind. He told them that with such a pure mind, there is great merit in giving alms – indeed it is truly the gift of life!

 

When he had finished teaching, the fiery pit and the lovely cool lotus completely disappeared.

 

The moral is: Have no fear when doing wholesome deeds.


42

(42) Lời Nguyền Rủa - Chương 1: Ghen Tức 

 

Hồi xưa có một nhà sư

Ở trong tịnh xá tĩnh tu một mình

Sư này sung sướng thật tình

Vì ông điền chủ tâm thành cưu mang

Ông lắm bạc, ông nhiều vàng

Chủ nhân sốt sắng, sư làng thảnh thơi

Khỏi lo nghĩ chuyện ngoài đời

Thức ăn, vật dụng được người hiến dâng

may mắn ít ai bằng

Tịnh thanh đầu óc, nhẹ nhàng tâm tư

Chỉ chuyên lo có việc tu

Nhưng mà có vẻ như sư coi thường

Phận may sư chẳng vấn vương

Chẳng hề nhận biết mình đương hơn người.

* Một hôm vào buổi đẹp trời

Có thầy trưởng lão qua nơi làng này

Thầy đang đi đó đi đây

Mong tìm giác ngộ một ngày tương lai

Vẻ nhân ái, dáng khoan thai

Gặp thầy điền chủ thốt lời ngợi ca

Ông mời khách lạ vào nhà

Thức ăn, vật dụng đem ra cúng dường

Nghe thầy giảng những lời vàng

Thỉnh thầy ở lại trong làng này luôn

Thầy nghe hoan hỉ dừng chân

Theo về tịnh xá an thân tu hành,

Gặp sư làng kể sự tình

Đôi bên vui vẻ như anh em nhà

Sư làng mời khách phương xa

Vào phòng cư ngụ tỏ ra chu toàn.

Buổi chiều điền chủ đích thân

Mang dầu, hoa với thức ăn thăm thầy

Tới nơi tịnh xá dâng ngay

Xin nghe giảng pháp với đầy thành tâm

Tỏ lòng quý trọng vô ngần

Trước khi từ biệt ân cần mời sư

Mời hai sư tới ăn trưa

Hôm sau hẹn gặp, rất ư nhiệt tình.

* Sư làng bản tính quang minh

Thường luôn giữ giới cho mình rất nghiêm

Đột nhiên ghen tức khởi lên

Nảy sinh ý nghĩ thấp hèn đêm nay

Sợ mình địa vị lung lay

Sợ làng trọng vọng vị thầy kia hơn

Cho nên lòng dạ bồn chồn

Loay hoay tìm cách đuổi luôn thầy này,

Thầy phương xa nào có hay

Vẫn luôn trò chuyện tràn đầy tình thân

Nhưng sư làng chẳng quan tâm

Tỏ ra lạnh nhạt, lặng câm không lời.

Khách xa nhận biết ngay thôi

Nghĩ thầm: “Huynh đệ là người đáng thương

Ta nào còn chút vấn vương

Nào còn dính mắc vào đường trần gian

Dù đi hay ở chẳng màng

Từ lâu buông xả nhẹ nhàng tấm thân,

Sư làng đây tội vô vàn

Đột nhiên che lấp bởi màn vô minh

Sau này khổ não thân mình

Gánh vào hậu quả thật tình thảm thương!”

Thầy lui gót vào thiền đường

Ngồi thiền suốt cả đêm trường canh thâu.

* Vào giờ khất thực hôm sau

Sư làng theo lệ từ lâu thông thường

Đến phòng mời khách đi cùng

Đưa tay gõ cửa, rung chuông phía ngoài

Nhưng sư dùng móng tay thôi

Cố tình gõ nhẹ để người chẳng nghe

Ý gian thật đáng trách chê

Quả nhiên khách lạ có hề nghe đâu.

Sư làng vội bỏ đi mau

Tới nhà điền chủ trước sau một mình

Ăn trưa xong mới trần tình:

“Thầy kia say ngủ, tôi đành phải đi

Dù cho đánh thức ích gì

Chắc thầy ăn uống thoả thê quá rồi

Chỉ lo ngủ với ăn thôi

Đánh chuông, gõ cửa thầy thời chẳng nghe!”

Trong khi đó vị thầy kia

Sau khi thức giấc, đắp y, rời làng

Rời ngôi tịnh xá khang trang

Bỏ đi khất thực lang thang phương trời

Ung dung, tự tại, thảnh thơi

Tiếc chi đãi ngộ của người giàu sang.

Về phần điền chủ cúng dường

Sau khi tiếp đãi sư làng ăn trưa

Mượn luôn bình bát của sư

Rửa đi sạch sẽ, rất ư tâm thành

Đựng đồ ăn mới ngon lành

Nhờ sư chuyển lại để dành khách xa

Biếu thầy còn ở lại nhà

Cùng lời điền chủ thiết tha cúng dường.

* Sư làng về, đi trên đường

Khởi lòng ghen tức tầm thường xấu xa

Nghĩ rằng: “Có đuổi ông ta

Thầy này chắc chẳng chịu ra khỏi làng

Vì nơi đây sống dễ dàng

Đồ ăn thức uống sẵn sàng thơm ngon,

Ta nên lén liệng đi luôn

Thời thầy chắc sẽ chẳng còn ở lâu.

Nhưng đồ ăn vứt đi đâu

Nếu cho người lạ trước sau lộ liền,

Nếu mà ném xuống ao bên

Thời bơ và sữa nổi lên tức thì,

Nếu quăng vào bụi cây kia

Thời đàn quạ sẽ xúm về thật đông

Chợt sư thấy trên cánh đồng

Ruộng âm ỉ cháy than hồng, khói lan

Nông dân đốt ruộng làm phân

Sư bèn đổ vội thức ăn nơi này

Thức ăn liền cháy mau thay

Chẳng còn vết tích! Ai hay biết gì!”

Sư về tới tịnh xá kia

Thời thầy trưởng lão đã đi xa vời

Nghĩ suy sư đoán ra thôi:

“Chắc thầy trưởng lão là người khôn ngoan

Biết ta ghen tức vì tham

Cho nên thầy cũng chẳng ham chốn này

Chẳng ham lưu lại nơi đây

Và thầy quyết định đi ngay khỏi làng”

Vô minh phút chốc tiêu tan

Sư làng bừng tỉnh khẽ than đôi lời:

“Chỉ vì danh lợi chút thôi

Mà ta đối xử với người xấu xa!”

* Thời gian lặng lẽ trôi qua

Ông điền chủ vẫn thiết tha cúng dường

Hộ trì tiếp tục sư làng

Nhưng sư xáo trộn hoang mang tâm thần

Bị giày vò rất khổ tâm

Trăm bề hối hận, muôn phần ưu tư

Sống giờ vất vưởng sớm trưa

Chập chờn trên đất giống như ma rồi

Chẳng bao đâu sư lìa đời

Tái sinh địa ngục là nơi đọa đày

Nổi trôi đau khổ đắng cay

Và rồi lần lượt chốn này trải qua:

“Năm trăm lần rất xót xa

Tái sinh làm quỷ dạ xoa hãi hùng

Luôn luôn đói khát vô cùng

Nào đâu no bụng được trong một ngày;

Rồi sinh làm chó khổ thay

Năm trăm lần nữa loay hoay đói lòng

Chó hoang đói khát chạy rong

Thân gầy, ghẻ lở long đong đường đời;

Cuối cùng sinh được làm người

Làm con bất hạnh một nơi nghèo nàn

Gia đình hành khất lầm than

Thức ăn thiếu thốn, áo quần tả tơi

Mẹ cha xua đuổi ra ngoài

Cho rằng đứa trẻ gây tai họa này”.

* Đáng thương thay! Tội nghiệp thay!

Nhà sư sung sướng tràn đầy thảnh thơi

Từ bao tiền kiếp xa vời

Chỉ vì ghen tức với người miếng ăn

Thành bất chính, thành tham lam

Phải qua khổ cực hơn ngàn kiếp sau.

 

42) Lời Nguyền Rủa (Ch.1: Ghen Tức):

Ông thầy dạy học danh tiếngtiền thân Đức Phật.

(42) The Curse of Mittavinda [Chapter 1. Jealousy] 

 

Once upon a time, there was a monk who lived in a tiny monastery in a little village. He was very fortunate that the village rich man supported him in the monastery. He never had to worry about the cares of the world. His alms food was always provided automatically by the rich man.

 

So the monk was calm and peaceful in his mind. There was no fear of losing his comfort and his daily food. There was no desire for greater comforts and pleasures of the world. Instead, he was free to practice the correct conduct of a monk, always trying to eliminate his faults and do only wholesome deeds. But he didn’t know just how lucky he was!

 

One day an elder monk arrived in the little village. He had followed the path of Truth until he had become perfect and faultless.

 

When the village rich man saw this unknown monk, he was very pleased by his gentle manner and his calm attitude. So he invited him into his home. He gave him food to eat, and he thought himself very fortunate to hear a short teaching from him. He then invited him to take shelter at the village monastery. He said, “I will visit you there this evening, to make sure all is well.”

 

When the perfect monk arrived at the monastery, he met the village monk. They greeted each other pleasantly. Then the village monk asked, “Have you had your lunch today?” The other replied, “Yes, I was given lunch by the supporter of this monastery. He also invited me to take shelter here.”

 

The village monk took him to a room and left him there. The perfect monk passed his time in meditation.

 

Later that evening, the village rich man came. He brought fruit drinks, flowers and lamp oil, in honor of the visiting holy man. He asked the village monk, “Where is our guest?” He told him what room he had given him.

 

The man went to the room, bowed respectfully, and greeted the perfect monk. Again he appreciated hearing the way of Truth as taught by the rare faultless one.

 

Afterwards, as evening approached, he lit the lamps and offered the flowers at the monastery’s lovely temple shrine. He invited both monks to lunch at his home the next day. Then he left and returned home.

 

In the evening, a terrible thing happened. The village monk, who had been so contented, allowed the poison of jealousy to creep into his mind. He thought, “The village rich man has made it easy for me here. He provides shelter each night and fills my belly once a day.

 

“But I’m afraid this will change because he respects this new monk so highly. If he remains in this monastery, my supporter may stop caring for me. Therefore, I must make sure the new monk does not stay.”

 

Thinking in this way, he lost his former mental calm. His mind became disturbed due to his jealousy – the fear of losing his comfort and his daily food. This led to the added mental pain of resentment against the perfect monk. He began plotting and scheming to get rid of him.

 

Late that night, as was the custom, the monks met together to end the day. The perfect monk spoke in his usual friendly way, but the village monk would not speak to him at all.

 

So the wise monk understood that he was jealous and resentful. He thought, “This monk does not understand my freedom from attachment to families, people and comforts. I am free of any desire to remain here. I am also free of any desire to leave here. It makes no difference. It is sad this other one cannot understand nonattachment. I pity him for the price he must pay for his ignorance.”

 

He returned to his room, closed the door, and meditated in a high mental state throughout the night.

 

The next day, when it was time to go collect alms food from the supporter of the monastery, the village monk rang the temple gong. But he rang it by tapping it lightly with his finger nail. Even the birds in the temple courtyard could not hear the tiny sound.

 

Then he went to the visiting monk’s room and knocked on the door. But again he only tapped lightly with his finger nail. Even the little mice inside the walls could not hear the silent tapping.

 

Having done his courteous duty in such a tricky way, he went to the rich man’s home. The man bowed respectfully to the monk, took his alms bowl, and asked, “Where is the new monk, our visitor?”

 

The village monk replied, I have not seen him. I rang the gong. I knocked at his door, but he did not appear. Perhaps he was not used to such rich food as you gave him yesterday. Perhaps he is still asleep, busily digesting it, dreaming of his next feast! Perhaps this is the kind of monk who pleases you so much!”

 

Meanwhile, back at the monastery, the perfect monk awoke. He cleaned himself and put on his robe. Then he calmly departed to collect alms food wherever he happened to find it.

 

The rich man fed the village monk the richest of food. It was delicious and sweet, made from rice, milk, butter, sugar and honey. When the monk had eaten his fill, the man took his bowl, scrubbed it clean, and sweetened it with perfumed water. He filled it up again with the same wonderful food. He gave it back to the monk, saying, “Honourable monk, our holy visitor must be worn out from travelling. Please take my humble alms food to him.” Saying nothing, he accepted the generous gift for the other.

 

By now the village monk’s mind was trapped by its own jealous scheming. He thought, “If that other monk eats this fantastic meal, even if I grabbed him by the throat and kicked him out, he still would never leave! I must secretly get rid of this alms food. But if I give it to a stranger, it will become known and talked about. If I throw it away in a pond, the butter will float on the surface and be discovered. If I throw it away on the ground, crows will come from miles around to feast on it, and that too would be noticed. So how can I get rid of it?”

 

Then he saw a field that had just been burned by farmers to enrich the soil. It was covered with hot glowing coals. So he threw the rich man’s generous gift on the coals. The alms food burned up without a trace. And with it went his peace of mind!

 

For when he got back to the monastery, he found the visitor gone. He thought, “This must have been a perfectly wise monk. He must have known I was jealous – afraid of losing my favoured position. He must have known I resented him and tried to trick him into leaving. I wasted alms food meant for him. And all for the sake of keeping my own belly full! I’m afraid something terrible will happen to me! What have I done?” So, afraid of losing his easy daily food, he had thrown away his peace of mind.

 

For the rest of his life the rich man continued to support him. But his mind was filled with torment and suffering. He felt doomed like a walking starving zombie, or a living hungry ghost.

 

When he died, his torment continued. For he was reborn in a hell world, where he suffered for hundreds of thousands of years.

 

Finally, there too he died, as all beings must. But the results of his past actions were only partly completed. So he was reborn as a demon, 500 times! In those 500 lives, there was only one day when he got enough to eat, and that was a meal of afterbirth dropped by a deer in the forest!

 

Then he was reborn as a starving stray dog another 500 times! For the sake of a full monk’s belly in a past life, all these 500 lives were also filled with hunger, and quarrelling over food. Only a single time did he get enough to eat, and that was a meal of vomit he found in a gutter!

 

Finally most of the results of his actions were finished. Only then was he so very fortunate enough to be reborn as a human being. He was born into the poorest of the poor beggar families of the city of Kasi, in northern India. He was given the name, Mittavinda.

 

From the moment of his birth, this poor family became even more poor and miserable. After a few years, the pain of hunger became so great, that his parents beat him and chased Mittavinda away for good. They shouted, “Be gone forever! You are nothing but a curse!”

 

Poor Mittavinda! So very long ago he had not known how lucky he was. He was contented as a humble village monk. But he allowed the poison of jealousy to enter his mind – the fear of losing his easy daily food. This led to the self-torture of resentment against a perfect monk, and to trickery in denying him one wholesome gift of alms food. And it took a thousand and one lives for the loss of his comfort and daily food to be completed. What he had feared, his own actions had brought to pass!


43

(43) Lời Nguyền Rủa - Chương 2: Tham Lam 

 

Chàng kia cuộc sống khổ đau

Thường xuyên đói khát từ lâu lắm rồi

Trải qua bao kiếp luân hồi

Một ngày chàng biết tới thời an thân,

Lang thang khắp nẻo dương trần

Tới Ba La Nại dừng chân cuối cùng.

Nơi đây danh tiếng vang lừng

Có thầy dạy học khắp vùng mến thương

Ông thầy mở một học đường

Năm trăm người tới đó đương học nghề

Dân nơi đây tốt mọi bề

Thường làm việc thiện có nề hà đâu

Cho nên hỗ trợ trước sau

Giúp người đến học nhu cầu uống ăn,

Tiền thầy dạy họ trả luôn

Thật là tốt đẹp! Vô ngần đáng khen!

Anh chàng tới đúng dịp hên

Được tham gia đám thanh niên học hành

Được nghe thầy dạy điều lành

Được ăn, được uống, phận mình được yên.

Tiếc thay nếp sống chẳng bền

Chàng lười biếng học, sớm quên lời thầy

Cứng đầu, hung hãn hàng ngày

Tranh giành đánh lộn ở ngay trong trường

Đây là tính xấu còn vương

Từ năm trăm kiếp trước thường đua tranh

Từng làm chó đói chạy quanh

Hung hăng cắn lộn để giành miếng ăn.

Nhà trường lâm cảnh khó khăn

Học sinh chán nản bỏ dần đi luôn

Tiền thầy dạy học chẳng còn

Thầy trò nản trí, bà con buồn lòng

Thế là đến bước đường cùng

Anh chàng bị đuổi khỏi vùng nói trên.

* Đường đời gây họa triền miên

Bước chân bất hạnh lạc miền xa xôi

Nơi làng biên địa ít người

Chàng đi làm mướn sống đời lầm than

Lập gia đình với một nàng

Cũng trong cảnh khổ nghèo nàn như nhau

Vợ chồng sinh được trước sau

Hai con thơ dại, dấn sâu đọa đày.

Dân làng hay biết trước đây

Chàng từng theo học với thầy tiếng tăm

Nên khi gặp chuyện khó khăn

Họ thường tìm tới hỏi han mọi điều

Lời chàng khuyên họ làm theo

Nhưng rồi làng bỗng bị nhiều tai ương:

“Bảy lần vua xử phạt làng,

Bảy lần nhà cháy tan hoang bất ngờ,

Bảy lần khô cạn ao hồ”

Xưa nay làng có bao giờ vậy đâu

Họ cho tai họa trước sau

Khơi nguồn từ lúc chàng vào làng thôn

Thế là họ quyết định luôn

Đuổi chàng cùng với vợ con khỏi làng

Họ xua tay nguyền rủa rằng:

“Mi gây tai họa! Tìm đường cút mau!”

* Rời làng dấn bước u sầu

Một hôm tới chốn rừng sâu ngút ngàn

Nơi đây quỷ dữ ẩn tàng

Quỷ trong bóng tối kinh hoàng hiện ra

Vợ con chàng bị quỷ ma

Bắt đi ăn thịt chẳng tha mạng nào,

Riêng chàng may mắn biết bao

Thoát tay ma quỷ thét gào bủa vây.

Trên đường trốn khỏi nơi đây

Chàng đi tới hải cảng này xa xôi

Nghèo nàn, đói khát, đơn côi

Tấm thân bất hạnh, cuộc đời thương đau

May thay có một nhà giàu

Sống trong thành phố từ lâu giúp ngưòi

Ông nghe được chuyện chàng rồi

Nhận chàng làm đứa con nuôi tức thì

Vợ chồng không có con chi

Hiền lành rất mực, từ bi vô vàn

Cho nên họ đối với chàng

Y như con đẻ ngập tràn tình thương.

Họ sùng đạo, luôn cúng dường

Bao nhiêu việc thiện vẫn thường tiếp tay

Đứa con nuôi đáng trách thay

Chẳng tin đạo giáo nên hay ngông cuồng

Điều gian xảo, chuyện bất lương

Chàng đâu ngần ngại, cứ thường làm thôi.

Một thời gian cha qua đời

Muốn chàng hiểu đạo mẹ thời khuyên can

Dạy cho chàng những lời vàng:

“Kiếp này làm tốt, thanh nhàn kiếp sau

Tu nhân tích đức cho mau!”

Con nuôi ngỗ nghịch thèm đâu nghe lời.

Nay mai lễ lớn tới rồi

Mẹ khuyên con hãy tới nơi chùa chiền

Nghe lời đẹp, mở tâm hiền

Chàng chê: “Đi lễ chùa thêm ích gì?”

Mẹ tha thiết: “Con cứ đi

Bạc tiền mẹ có tiếc gì cho cam

Tiền vàng đây đủ một ngàn

Đi chùa về mẹ cho làm của riêng!”

Chàng con nổi máu tham lên

Đến chùa nhưng lại chẳng thèm nghe kinh

Chui vào một góc ẩn mình

Ngủ luôn đến lúc bình minh mới về

Lấy tiền thưởng cười hả hê

Chuyện chùa mẹ hỏi có hề biết đâu.

Mẹ càng thất vọng, buồn rầu

Sợ con hậu quả khổ đau ngập tràn.

Nghìn đồng chưa thỏa máu tham

Chàng con xoay sở để làm ăn thêm

Bất ngờ gặp vận, giàu lên

Tiền vào như nước thật hên cho chàng.

Một hôm thưa với mẹ rằng:

“Một trăm hai chục ngàn vàng trong tay

Nhưng con chưa thỏa mãn ngay

Muốn buôn thêm để tiền này sinh sôi

Chuyến tàu tới sắp đi rồi

Con mong vượt biển ra nơi nước ngoài!”

Mẹ ngăn: “Tính vậy là sai

Lênh đênh mặt biển nguy tai thật tình

Bán buôn xứ lạ bấp bênh

Con nên ở lại nhà mình thì hơn

Mẹ cho con tám chục ngàn

Tiền vàng mẹ có sẵn sàng. Đừng đi!”

Từ tham lam đến cuồng si

Mẹ dang tay cản chàng thì hất ra

Đẩy luôn mẹ xuống sàn nhà

Trong cơn đau đớn mẹ la lên rằng:

“Cút đi! Hỡi đứa hoang đàng

Chuyên đem khổ tới, chuyên mang họa về!”

Chàng con nào có thèm nghe

Không quay nhìn lại, không hề hồi tâm

Lao ra bến cảng, dấn thân

Lên tàu buôn cứ căng buồm ra khơi.

 

43) Lời Nguyền Rủa (Ch.2: Tham Lam):

Ông thầy dạy học danh tiếngtiền thân Đức Phật.

(43) The Curse of Mittavinda [Chapter 2. Greed] 

 

Little did poor Mittavinda know that his lives of constant hunger were about to come to an end. After wandering about, he eventually ended up in Benares.

 

At that time the Enlightenment Being was living the life of a world famous teacher in Benares. He had 500 students. As an act of charity, the people of the city supported these poor students with food. They also paid the teacher’s fees for teaching them.

 

Mittavinda was permitted to join them. He began studying under the great teacher. And at last, he began eating regularly.

 

But he paid no attention to the teachings of the wise master. He was disobedient and violent. During 500 lives as a hungry dog, quarrelling had become a habit. So he constantly got into fist fights with the other students.

 

It became so bad that many of the students quit. The income of the world famous teacher dwindled down to almost nothing. Because of all his fighting, Mittavinda was finally forced to run away from Benares.

 

He found his way to a small remote village. He lived there as a hard working labourer, married a very poor woman, and had two children.

 

It became known that he had studied under the world famous teacher of Benares. So the poor villagers selected him to give advice when questions arose. They provided a place for him to live near the entrance to the village. And they began following his advice.

 

But things did not go well. The village was fined seven times by the king. Seven times their houses were burned. And seven times the town pond dried up.

 

They realized that all their troubles began when they started taking Mittavinda’s advice. So they chased him and his family out of the village. They shouted, “Be gone forever! You are nothing but a curse!”

 

While they were fleeing, they went through a haunted forest. Demons came out of the shadows and killed and ate his wife and children. But Mittavinda escaped.

 

He made his way to a seaport city. He was lonely, miserable and penniless. It just so happened that there was a kind generous rich merchant living in the city. He heard the story of Mittavinda’s misfortunes. Since they had no children of their own, he and his wife adopted Mittavinda. For better or worse they treated him exactly as their own son.

 

His new mother and father were very religious. They always tried to do wholesome things. But Mittavinda still had not learned his lesson. He did not accept any religion, so he often did unwholesome things.

 

Some time after his father’s death, his mother decided to try and help him enter the religious life. She said, “There is this world and there is the one to come. If you do bad things, you will suffer painful results in both worlds.”

 

But foolish Mittavinda replied, “I will do whatever I enjoy doing and become happier and happier. There is no point considering whether what I do is wholesome or unwholesome. I don’t care about such things!”

 

On the next full moon holy day, Mittavinda’s mother advised him to go to the temple and listen all night long to the wise words of the monks. He said, “I wouldn’t waste my time!” So she said, “When you return I will give you a thousand gold coins.”

 

Mittavinda thought that with enough money he could enjoy himself constantly and be happy all the time. So he went to the temple. But he sat in a corner, paid no attention, and fell asleep for the night. Early the next morning he went home to collect his reward.

 

Meanwhile his mother thought he would appreciate wise teachings. Then he would bring the oldest monk home with him. So she prepared delicious food for the expected guest. When she saw him returning alone, she said, “Oh my son, why didn’t you ask the senior monk to come home with you for breakfast?”

 

He said, “I did not go to the temple to listen to a monk or to bring him home with me. I went only to get your thousand gold coins!” His disappointed mother said, “Never mind the money. Since there is so much delicious food prepared – only eat and sleep!” He replied, “Until you give me the money, I refuse to eat!” So she gave him the thousand gold coins. Only then did he gobble up the food until all he could do was fall asleep.

 

Mittavinda did not think a thousand gold coins were enough for him to constantly enjoy himself. So he used the money to start a business, and before long he became very rich. One day he came home and said, “Mother, I now have 120,000 gold coins. But I am not yet satisfied. Therefore I will go abroad on the next ship and make even more money!”

 

She replied, “Oh my son, why do you want to go abroad? The ocean is dangerous and it is very risky doing business in a strange land. I have 80,000 gold coins right here in the house. That is enough for you. Please don’t go, my only son!”

 

Then she held him to keep him from leaving. But Mittavinda was crazy with greed. So he pushed his mother’s hand away and slapped her face. She fell to the floor. She was so hurt and shocked that she yelled at him, “Be gone forever! You are nothing but a curse!”

 

Without looking back, Mittavinda rushed to the harbour and set sail on the first departing ship.


44

(44) Lời Nguyền Rủa - Chương 3: Lạc Thú 

 

Lênh đênh suốt bảy ngày trời

Con tàu lướt sóng đưa người đi buôn

Đột nhiên gió chẳng thổi buồm

Tàu không chạy được ngừng luôn biển này

Tàu ngưng tại chỗ bảy ngày

Mọi người sợ chết loay hoay muộn sầu

Cho rằng có kẻ trên tàu

Đang gây tai họa thương đau cho đoàn

Họ liền đề nghị rút thăm

Xem ai là kẻ gieo mầm tai ương,

Rút thăm ra đúng tên chàng

Bảy lần đều trúng. Họ càng thêm tin

Họ quăng chàng xuống biển liền

Xuống bè tre nhỏ thả trên sóng vàng

Họ cùng lớn tiếng la rằng:

“Cút đi hỡi kẻ chuyên mang họa về!”

Tức thì gió nổi bốn bề

Cánh buồm căng gió, tàu đi nhẹ nhàng.

* Trên bè còn lại mình chàng

Bồng bềnh gió cuốn, kinh hoàng sóng đưa

Nhưng từ bao kiếp xa xưa

Chàng từng là một nhà tu lành hiền

Đã gieo nhân tốt đủ duyên

Chút nhân giờ đã tạo nên quả lành

Nên bè trôi nổi loanh quanh

Dạt vào hòn đảo tươi xanh cuối trời

Bốn tiên nữ ra đón mời

Rước chàng vào ở lâu đài pha lê

Cùng nhau chung sống đê mê

Bảy ngày hạnh phúc tràn trề sớm khuya

Rồi tiên nữ phải ra đi

Họ thành lốt quỷ còn chi khổ bằng,

“Ở yên đây!” họ khuyên chàng

Đợi chờ tới lúc các nàng trở lui.

Thấy rằng dang dở cuộc vui

Chàng đâu có chịu nghe lời ở yên

Lên bè qua tiếp đảo bên

Nơi đây chàng lại gặp tiên nữ rồi

Tám nàng xinh đẹp tuyệt vời

Trong lâu đài nọ sáng soi bạc vàng

Hưởng vui cùng với các nàng

Bảy ngày lạc thú rộn ràng trôi qua

Các nàng lại phải đi xa

Trở thành lốt quỷ thật là đau thương,

“Ở yên đây!” họ khuyên chàng

Đợi chờ tới lúc các nàng trở lui.

Đang quen hưởng những thú vui

Chàng đi tiếp tục qua nơi cận kề

Ghé vào hòn đảo lạ kia

Là nơi có một thành trì dạ xoa

Nàng mang hình dạng xót xa

Làm con dê cái nhởn nha trong thành

Chàng đâu hay biết ngọn ngành

Bụng thời đang đói nên đành bắt dê

Nắm chân dê để kéo về

Tính đường làm thịt no nê chuyến này,

Dạ xoa uy lực mạnh thay

Đá chàng văng tuốt như bay ngang trời

Qua bờ bến, vượt trùng khơi

Rớt luôn xuống một bụi gai ven đồi

Dưới hào sâu nước cạn rồi

Dê nhà vua được chăn nuôi trong này

Dân Ba La Nại đến đây

Trộm dê, giết thịt lâu nay đã nhiều

Lính canh rình rập, rõi theo

Hầu mong chấm dứt những điều bất lương.

* Sau khi lăn xuống dưới mương

Chàng trai bò dậy tìm đường đi lên

Nhìn bầy dê đứng kề bên

Chàng bèn suy nghĩ: “Nơi miền đảo kia

Ta từng nắm bắt chân dê

Cho nên bị đá văng về bên đây,

Nếu giờ ta nắm chân này

Chắc dê lại đá văng ngay chứ gì

Văng về lại đảo bên kia

Có bao tiên nữ mê ly đón chào

Trong lâu đài đẹp biết bao!”

Nghĩ xong chàng vội nắm vào chân dê

Dê kêu vang động bốn bề

Lính chăn dê tới. Thảm thê thân chàng

Bị người đánh trói tang thương:

“Giải quân trộm cướp lên đường về cung!”

Tội nhân theo đám tùy tùng

Đang đi bất chợt tạm ngừng ngang đây

Nhường đường cho một vị thầy

Bốn phương danh tiếng thành này từ lâu

Năm trăm đệ tử nối nhau

Theo thầy cùng rảo bước mau trên đường

Thấy người bị trói, xót thương

Thầy nhìn vào nhận ra chàng ngay thôi:

“Đây là đệ tử của tôi!”

Thầy bèn lên tiếng xin người thả ra

Lính chăn dê nể thầy già

Tuân lời nên thả chàng ta tức thì.

Ông thầy bèn hỏi trò kia

Ngọn ngành câu chuyện từ khi khởi đầu.

Bao nhiêu tiền kiếp từ lâu

Bỗng nhiên ào ạt trước sau hiện về

Chàng bèn kể rõ thầy nghe:

“Thoạt tiên chàng đã từng đi tu rồi

Vì tham nên bị nổi trôi

Đầu thai làm chó tứ thời đói ăn,

Rồi làm người rất nghèo nàn

Vợ con gặp nạn vô vàn thương đau

Bị ăn bởi quỷ rừng sâu,

Rồi làm con của nhà giàu vùng kia

Vẫn tham lam, vẫn ngu si

Cho nên cãi mẹ quyết đi nước ngoài

Tàu buôn gặp lắm nguy tai

Bị người quăng xuống bè trôi sóng nhồi,

Rồi cùng tiên trong lâu đài

Hưởng bao lạc thú ít ai sánh cùng,

Nắm chân dê lúc đói lòng

Bị dê đá mạnh vào trong chốn này,

Giờ đây may gặp lại thầy!”

Thầy nghe xong chuyện dạy ngay lời vàng:

“Chỉ vì con mãi coi thường

Lời khuyên của những người thương mến mình

Cho nên hạnh phúc tan tành

Và bao bất hạnh đến nhanh chẳng ngờ.

Nhân nào quả nấy đợi chờ

Thú vui nào có bao giờ bền lâu

Bao nhiêu ham muốn trước sau

Một thời rồi cũng tàn mau sớm chiều

Vì con để nó cuốn theo

Cho nên thân xác tiêu điều lâu nay,

Nhớ rằng giữ nước trong tay

Làm sao mà hết khát ngay được nào!”

Lời thầy dạy lành biết bao

Anh chàng đảnh lễ cúi đầu xin thưa

Theo thầy học đạo như xưa

Vị thầy hoan hỷ nhân từ nhận ngay

Chàng từ kiếp đó đổi thay!

 

44) Lời Nguyền Rủa (Ch.3: Lạc Thú):

Ông thầy dạy học danh tiếngtiền thân Đức Phật.

(44) The Curse of Mittavinda [Chapter 3. Pleasure] 

 

After seven days on the Indian Ocean, all the winds and currents stopped completely. The ship was stuck! After being dead in the water for seven days, all on board were terrified they would die.

 

So they drew straws to find out who was the cause of their bad luck and frightening misfortune. Seven times the short straw was drawn by Mittavinda!

 

They forced him onto a tiny bamboo raft, and set him adrift on the open seas. They shouted, “Be gone forever! You are nothing but a curse!” And suddenly a strong wind sent the ship on its way.

 

But once again Mittavinda’s life was spared. This was a result of his wholesome actions as a monk, so many births ago. No matter how long it takes, actions cause results.

 

Sometimes an action causes more than one result, some pleasant and some unpleasant. It is said there are Asuras who live through such mixed results in an unusual way.

 

Asuras are unfortunate ugly gods. Some of them are lucky enough to change their form into beautiful young dancing girl goddesses. These are called Apsaras.

 

They enjoy the greatest pleasures for seven days. But then they must go to a hell world and suffer torments as hungry ghosts for seven days. Again they become Apsara goddesses – back and forth, back and forth – until both kinds of results are finished.

 

While floating on the tiny bamboo raft, it just so happened that Mittavinda came to a lovely Glass Palace. There he met four very pretty Apsaras. They enjoyed their time together, filled with heavenly pleasures, for seven days.

 

Then, when it was time for the goddesses to become hungry ghosts, they said to Mittavinda, “Wait for us just seven short days, and we will return and continue our pleasure.”

 

The Glass Palace and the four Apsaras disappeared. But still Mittavinda had not regained the peace of mind thrown away by the village monk, so very long ago. Seven days of pleasure had not satisfied him. He could not wait for the lovely goddesses to return. He wanted more and more. So he continued on, in the little bamboo raft.

 

Lo and behold, he came to a shining Silver Palace, with eight Apsara goddesses living there. Again he enjoyed seven days of the greatest pleasure. These Apsaras also asked him to wait the next seven days, and disappeared into a hell world.

 

Amazing as it may seem, the greedy Mittavinda went on to seven days of pleasure in a sparkling Jewel Palace with 16 Apsaras. But they too disappeared. Then he spent seven days in a glowing Golden Palace with 32 of the most beautiful Apsaras of all.

 

But still he was not satisfied! When all 32 asked him to wait seven days, again he departed on the raft.

 

Before long he came to the entrance of a hell world filled with suffering tortured beings. They were living through the results of their own actions. But his desire for more pleasure was so strong that Mittavinda thought he saw a beautiful city surrounded by a wall with four fabulous gates. He thought, I will go inside and make myself king!

 

After he entered, he saw one of the victims of this hell world. He had a collar around his neck that spun like a wheel, with five sharp blades cutting into his face, head, chest and back. But Mittavinda was still so greedy for pleasure that he could not see the pain right before his eyes. Instead he saw the spinning collar of cutting blades as if it were a lovely lotus blossom. He saw the dripping blood as if it were the red powder of perfumed sandal wood. And the screams of pain from the poor victim sounded like the sweetest of songs!

 

He said to the poor man, “You’ve had that lovely lotus crown long enough! Give it to me, for I deserve to wear it now.” The condemned man warned him, “This is a cutting collar, a wheel of blades.” But Mittavinda said, “You only say that because you don’t want to give it up.”

 

The victim thought, “At last the results of my past unwholesome deeds must be completed. Like me, this poor fool must be here for striking his mother. I will give him the wheel of pain.” So he said, “Since you want it so badly, take the lotus crown!”

 

With these words the wheel of blades spun off the former victim’s neck and began spinning around the head of Mittavinda. And suddenly all his illusions disappeared; he knew this was no beautiful city, but a terrible hell world; he knew this was no lotus crown, but a cutting wheel of blades; and he knew he was not king, but prisoner. Groaning in pain he cried out desperately, “Take back your wheel! Take back your wheel!” But the other one had disappeared.

 

Just then the king of the gods arrived for a teaching visit to the hell world. Mittavinda asked him, “Oh king of gods, what have I done to deserve this torment?” The god replied, “Refusing to listen to the words of monks, you obtained no wisdom, but only money. A thousand gold coins did not satisfy you, nor even 120,000. Blinded by greed, you struck your mother on your way to grabbing greater wealth still.

 

“Then the pleasure of four Apsaras in their Glass Palace did not satisfy you. Neither eight Apsaras in a Silver Palace, nor 16 in a Jewel Palace. Not even the pleasure of 32 lovely goddesses in a Golden Palace was enough for you! Blinded by greed for pleasure you wished to be king. Now at last, you see your crown is only a wheel of torture, and your kingdom is a hell world.

 

“Learn this, Mittavinda – all who follow their greed wherever it leads are left unsatisfied. For it is in the nature of greed to be dissatisfied with what one has, whether a little or a lot. The more obtained, the more desired – until the circle of greed becomes the circle of pain.”

 

Having said this, the god returned to his heaven world home. At the same time the wheel crashed down on Mittavinda. With his head spinning in pain, he found himself adrift on the tiny bamboo raft.

 

Soon he came to an island inhabited by a powerful she-devil. She happened to be disguised as a goat. Being hungry, Mittavinda thought nothing of grabbing the goat by a hind leg. And the she-devil hiding inside kicked him way up into the air. He finally landed in a thorn bush on the outskirts of Benares!

 

After he untangled himself from the thorns, he saw some goats grazing nearby. He wanted very badly to return to the palaces and the dancing girl Apsaras. Remembering that a goat had kicked him here, he grabbed the leg of one of these goats. He hoped it would kick him back to the island.

 

Instead, this goat only cried out. The shepherds came, and captured Mittavinda for trying to steal one of the king’s goats.

 

As he was being taken as a prisoner to the king, they passed by the world famous teacher of Benares. Immediately he recognized his student. He asked the shepherds, “Where are you taking this man?”

 

They said, “He is a goat thief! We are taking him to the king for punishment!” The teacher said, “Please don’t do so. He is one of my students. Release him to me, so he can be a servant in my school.” They agreed and left him there.

 

The teacher asked Mittavinda, “What has happened to you since you left me?”

 

He told the story of being first respected, and then cursed, by the people of the remote village. He told of getting married and having two children, only to see them killed and eaten by demons in the haunted forest. He told of slapping his generous mother when he was crazy with greed for money. He told of being cursed by his shipmates and being cast adrift on a bamboo raft. He told of the four palaces with their beautiful goddesses, and how each time his pleasure ended he was left unsatisfied. He told of the cutting wheel of torture, the reward for the greedy in hell. And he told of his hunger for goat meat, that only got him kicked back to Benares without even a bite to eat!

 

The world famous teacher said, “It is clear that your past actions have caused both unpleasant and pleasant results, and that both are eventually completed. But you cannot understand that pleasures always come to an end. Instead, you let them feed your greed for more and more. You are left exhausted and unsatisfied, madly grasping at goat legs! Calm down, my friend. And know that trying to hold water in a tight fist, will always leave you thirsty!”

 

Hearing this, Mittavinda bowed respectfully to the great teacher. He begged to be allowed to follow him as a student. The Enlightenment Being welcomed him with open arms.

 

The moral is: In peace of mind, there is neither loss nor gain.

 


045_A45

(45) Bồ Câu Và Quạ 

 

Tại Ba La Nại thuở xưa

Người dân thành phố nhân từ lắm thay

Giúp loài chim chóc quanh đây

Họ làm nhiều tổ treo đầy khắp nơi

Cho chim chỗ ở thảnh thơi

Đồng thời chim hót cho người vui thêm.

Có ông đầu bếp trong miền

Làm cho triệu phú giàu tiền lâu nay

Cạnh nhà bếp, trên cành cây

Ông treo một tổ chim ngay lối vào

Bên trong có chú bồ câu

Hiền lành, dễ mến, ở lâu lắm rồi

Chim không ăn thịt như người

Cho nên bếp núc chim thời tránh xa

Tránh mùi sào nấu bay ra

Tránh mùi súc vật thịt thà trong đây.

Thông thường buổi sáng mỗi ngày

Bồ câu rời tổ sớm bay giữa trời

Suốt ngày lượn cánh tìm mồi

Hột cây hạt cỏ vãi rơi trong vùng

Không hề đụng đến côn trùng

Đêm về tổ ngủ cõi lòng bình an,

Bồ câu ưng ý vô vàn

Cuộc đời thoải mái nhẹ nhàng trôi đi.

* Gần bồ câu có quạ kia

Ham ăn đủ thứ chẳng chê món nào

Xấu người, xấu nết biết bao

Nhiều phen liều mạng kể sao cho vừa,

Một hôm làn gió thoảng đưa

Mùi đồ ăn quạ thường ưa lâu rồi

Thịt trong nhà bếp bốc hơi

Vô cùng quyến rũ, tuyệt vời thơm ngon

Quạ ta mê mẩn tâm hồn

Tính đường ăn trộm chẳng buồn đắn đo

Bay quanh nhà bếp thăm dò

Thấy bao thịt cá thơm tho phơi bày.

Thông thường chiều tối mỗi ngày

Bồ câu no đủ là bay trở về

Vào trong tổ rộng rãi kia

Nghỉ ngơi yên tĩnh giấc khuya an lành,

Quạ nhìn thấy vậy nghĩ nhanh:

“Bữa ăn ngon sắp đạt thành rồi đây

Nhờ chàng chim dại khờ này

Ta vào trong bếp dễ thay còn gì!”

Bồ câu sáng cất cánh đi

Quạ bay theo sát. Chim thì ngạc nhiên

Nên chim lên tiếng hỏi liền:

“Tại sao bạn lại theo bên tôi hoài?”

Quạ bèn nịnh: “Tôi thích ngài

Nêu gương tốt đẹp ít ai sánh cùng

Khiến tôi ngưỡng mộ trong lòng

Muốn theo học hỏi để mong trưởng thành!”

Bồ câu đáp, giọng chân tình:

“Cả hai cách sống chúng mình khác nhau

Bạn theo tôi ích gì đâu

Đồ ăn cũng khác từ lâu nay rồi!”

Quạ khôn lanh vội trả lời:

“Bay đi mỗi sáng mình thời tách ra

Kiếm ăn riêng, thật dễ mà

Chiều bay về tổ chúng ta đi cùng

Giúp nhau nếu được ở chung

Gần ngài tôi học điều từng ước ao!”

Bồ câu: “Vậy tốt biết bao

Chia tay ta hãy đi nào bạn ơi!”

Mỗi chim tung cánh một nơi

Bồ câu ăn hạt cỏ thời lòng vui,

Quạ kia suốt cả ngày trời

Ăn côn trùng ở quanh nơi phân bò

Dễ dàng thay, chẳng phải lo!

Nhưng mà quạ lại muốn mò kiếm ăn

Bếp kia ngon gấp triệu lần

Bao nhiêu cá thịt sẵn luôn phơi bày

Nên ăn xong quạ vội bay

Kiếm bồ câu nói: “Cả ngày trôi qua

Ngài lo ăn uống quá mà

Thật không ích lợi! Thôi ta đi về!”

Bồ câu nào có chịu nghe

Kiếm từng hạt cỏ nhâm nhi vui đời

Mãi khi tới lúc tối trời

Bồ câu mới chịu về nơi tổ mình

Quạ bay nôn nóng theo nhanh

Xin cùng chung tổ, thắm tình từ đây.

* Cả hai kề cận ít ngày

Sáng đi, chiều lại cùng bay trở về

Một hôm nhà bếp vui ghê

Chủ mua thịt cá ê hề treo quanh

Quạ trông hấp dẫn ngon lành

Nên thèm, muốn trộm thoả tình gian tham

Giả vờ đau ốm kêu than

Cả đêm rên rỉ muôn vàn đớn đau

Sáng ra nói với bồ câu:

“Tôi đau bụng quá, bay đâu được nào!”

Bồ câu: “Bạn nói lạ sao

Quạ thường chỉ đói. Bụng đau bao giờ!

Hành vi bạn rất đáng ngờ

Chắc ham thịt cá nên chờ trộm chăng?

Coi chừng nguy hiểm chi bằng

Dậy đi kiếm sống đàng hoàng với tôi!”

Quạ đâu có chịu nghe lời

Cố tình nán lại trong nơi tổ này

Bồ câu đành cất cánh bay

Sau khi dặn quạ ở đây chờ mình.

* Quạ nằm trên tổ nấp rình

Thức ăn trong bếp ngon lành bốc hơi

Nắp vung hé mở ra rồi

Hôm nay ông bếp nấu nồi thịt tươi,

Bên trong nóng nực quá trời

Ông bèn hóng mát, ra nơi hiên nhà

Quạ ta lợi dụng thời cơ

Lẻn vào trong bếp, lân la bên nồi

Chọn ngay miếng cá làm mồi

Thò đầu vào mổ để lôi ra ngoài

Ai ngờ vung lại bị rơi

Tiếng vang dội tới tai người ngoài hiên

Ông đầu bếp chạy vào liền

Thấy ngay quạ ngậm cá bên cạnh nồi

Ông bèn nổi giận sục sôi

Cửa chung quanh bếp tức thời đóng ngay

Đuổi theo bắt quạ trong đây

Vặt lông trơ trụi đọa đày thảm thương

Ớt cay, gừng nóng, tiêu nồng

Ông đem giã nhỏ trộn chung bôi vào

Da non quạ thảm làm sao

Xưng lên, dát bỏng, đớn đau vô vàn

Ông cười vứt quạ bạo tàn

Vào ngay trong tổ ở gần hàng hiên.

Quạ nằm đau đớn kêu rên

Đến chiều xuất hiện dáng hiền bồ câu

Bồ câu sửng sốt than mau:

“Sáng nay tôi nói bạn đâu nghe lời

Gian tham hại cả cuộc đời

Giúp chi được bạn, tôi thời bó tay,

Ông đầu bếp cũng ác thay,

Toàn là người xấu quanh đây không à

Thôi thôi tôi phải rời xa

Chẳng còn ham tổ gần nhà bếp đâu!”

Bồ câu buồn bã cúi đầu

Bay tìm chỗ ở dài lâu an bình.

Quạ thời đau đớn thân mình

Một ngày sau chết, tội tình biết bao!

 

45) Bồ Câu Và Quạ:

Chim bồ câutiền thân Đức Phật.

(45) The Pigeon and the Crow [The Danger of Greed] 

 

Once upon a time, the people of Benares were fond of setting up bird houses. This was an act of generosity and kindness, done for the comfort of birds. It also made the people happy to hear the friendly birds singing.

 

The richest man in the city had a cook. He kept such a bird house near the kitchen. In it lived a gentle and careful pigeon. He was so gentle that he did not care to eat meat. And he was careful to keep his distance from the cook. For he knew the cook was in the habit of roasting and boiling dead animals, even including birds!

 

So the pigeon always left the bird house early in the morning. After spending the day finding and eating his food, he returned each night to sleep in the bird house. He was quite contented with his calm and harmless life.

 

Nearby there was a crow who was quite a different sort of character. For one thing, he would eat anything! And he was not known for being gentle and careful. Instead, he often became overly excited, and acted without considering the danger. And far from being contented, he often got himself into trouble.

 

One day the crow smelled the delicious food being cooked in the rich man’s kitchen. He was so attracted by the odour that he could not take his mind off it. He decided that he must have the rich man’s meat at any cost. So he began spying on the kitchen, trying to figure out a way to get some of the meat and fish.

 

As usual, that evening the pigeon returned with his little belly satisfied, and contentedly entered his little home for the night. Seeing this, the hungry crow thought, “Ah, wonderful! I can make use of this dull pigeon to grab a delicious feast from the kitchen.”

 

The next morning, the crow followed the pigeon when he left for the day. The pigeon asked him, “Oh my friend, why are you following me?” The crow replied, “Sir, I like you very much, and I admire your calm and regular way of life. From now on, I would like to assist you and learn from you.”

 

The pigeon said, “Friend crow, your life style is much more exciting than mine. You would get bored following me around. And you don’t even eat the same food I do. So how can you assist me?”

 

The crow said, “When you go each day to find your food, we will separate and I will find my food. In the evening, we will come back together. Being together, we will be able to help and protect each other.” The pigeon said. “That sounds all right to me. Now go your own way and work hard finding food.”

 

The pigeon spent his usual day eating grass seeds. It took some time patiently searching for a few little grass seeds, but he was satisfied and contented.

 

The crow spent the day turning over cow dung patties, so he could gobble up the worms and insects he found there. This was fairly easy work, but he kept thinking it would be even easier to steal from the rich man’s kitchen. And no doubt the food would be better too!

 

When he was full, he went to the pigeon and said, “Sir pigeon, you spend too much time searching for and eating food. It is no good wasting the whole day that way. Let us go home.” But the pigeon kept on steadily eating grass seeds, one by one. He was quite happy that way.

 

At the end of the day, the impatient crow followed the pigeon back to his bird house. They slept in it together peacefully. They spent several days and nights in this way.

 

Then one day there was a delivery of many kinds of fresh meat and fish. The cook hung them on hooks in the kitchen for storage.

 

The crow saw this and was overwhelmed by the sight of so much food. His desire became greed, and he began plotting a way to get it all for himself. He decided to pretend to be sick. So he spent the entire night groaning and moaning.

 

The next morning, the pigeon was ready to go look for food as usual. The crow said, “Go without me, sir pigeon, I have been sick to my stomach all night long.”

 

The pigeon replied, “My dear crow, that sounds so strange. I’ve never heard of a crow getting an upset stomach. But I have heard they sometimes faint from hunger. I suspect you want to gobble up as much as you can of the meat and fish in the kitchen. But it’s for people, not crows. People don’t eat pigeon food. Pigeons don’t eat crow food. And it would not be wise for you to eat people food. It might even be dangerous! So come with me as usual, and be satisfied with crow food, sir crow!”

 

The crow said, “I’m too sick, friend pigeon, I’m too sick. Go ahead without me.”

 

“Very well,” said the pigeon, “but your actions will speak louder than your words. I warn you, don’t risk safety for the sake of greed. Be patient until I return.” Then the pigeon left for the day.

 

But the crow paid no attention. He thought only about grabbing a big piece of fish, and was glad to be rid of the pigeon. “Let him eat grass seeds!” he thought.

 

Meanwhile, the cook prepared the meat and fish in a big stew pot. While it was cooking, he kept the lid slightly off, to allow the steam to escape. The crow smelled the delicious fragrance in the rising steam. Watching from the bird house, he saw the cook go outside to rest from the heat.

 

The crow saw that this was the chance he’d been waiting for. So he flew into the kitchen and sat on the edge of the stew pot. First he looked for the biggest piece of fish he could find. Then he stuck his head inside and reached for it. But in so doing, he knocked the lid off! The clattering sound brought the cook into the kitchen at once.

 

He saw the crow standing on the edge of the pot with a fish bigger than he was, hanging from his beak! Immediately, he closed the door and window of the kitchen. He thought, “This food is for the rich man. I work for him, not for some mangy crow! I will teach him a lesson he’ll never forget!”

 

The poor crow could not have picked a worse enemy. This cook just happened to be rather ignorant, so he did not mind being cruel when he had the upper hand. He took no pity at all on the clever crow.

 

He grabbed him, and plucked out all his feathers. The poor crow looked ridiculous without his shining black feathers. Then the vengeful cook made a spicy paste from ginger, salt and chilli peppers. He rubbed it all over the crow’s pink sore skin. Then he put him on the floor of the bird house, and laughed.

 

The crow sweated and suffered from the terrible burning pain. He cried in agony all day long.

 

In the evening, the pigeon returned from a quiet day searching for and eating grass seeds. He was shocked to see the terrible state of his friend the crow. He said, “Obviously, you didn’t listen to me at all. Your greed has done you in. I’m so sad there’s nothing I can do to save you. And I’m afraid to stay in this bird house so close to that cruel cook. I must leave at once!”

 

So the careful pigeon flew away in search of a safer bird house. And the plucked and pasted crow died a painful death.

 

The moral is: Greed makes one deaf to sound advice.

 


046_A46

(46) Cha Của Rắn Tre 

 

Ngày xưa có một ông thầy

Ngồi thiền tinh tấn bao ngày rất chăm

Nhiệt tình, quyết chí tu thân

Dần dần đã có tiếng tăm khắp miền

Những ai muốn học lời hiền

Muốn thầy thông thái chẳng quên tìm ngài,

Thấy ngài thật giỏi, thật tài

Năm trăm đệ tử tức thời xin theo.

Một người khác biệt rất nhiều

Vì bao súc vật chàng yêu vô cùng

Chàng ta quả thật lạ lùng

Muốn nuôi súc vật ở chung trong nhà

Như gia súc, chẳng nề hà

Thật là đặc biệt khác xa mọi người.

Một hôm nhân lúc dạo chơi

Chàng nhìn thấy rắn nhỏ nơi góc vườn

Rắn tuy độc nhưng dễ thương

Kiếm ăn nên rắn tìm đường bò quanh

Chàng bèn chợt có cảm tình

Bắt về nuôi rắn cho mình thêm vui

Chàng thường thả rắn khắp nơi

Lồng tre chỉ nhốt rắn chơi trong này

Mỗi khi chàng phải xa đây

Mọi người vội đặt tên ngay tức thì

“Rắn tre” quý hoá kể chi

Chàng là “cha của rắn tre” trong lồng.

Thầy nghe, thắc mắc cõi lòng

Gọi chàng lại hỏi để mong tỏ tường

Chàng thưa rằng đúng mọi đường:

“Con nuôi rắn đó và thương thật tình

Thương như con của chính mình!”

Thầy bèn khuyên nhủ: “Thả nhanh rắn này

Thật là nguy hiểm lắm thay

Sống cùng rắn độc có ngày chết toi!”

Nhưng chàng nào chịu nghe lời

Nghĩ mình hiểu biết hơn người nên thưa;

“Rắn này con rất thích ưa

Con chiều rắn cũng tựa như con mình

Rắn nào cắn lại cho đành

Giữa con và rắn đã thành thân quen!”

Thầy bèn cảnh cáo chàng liền:

“Có ngày mất mạng chớ nên coi thường!”

Thầy luôn dạy, chàng chẳng màng

Chẳng thèm để ý lời vàng nhủ khuyên,

Tưởng rằng mọi chuyện bình yên

Một hôm chàng phải đi lên núi rừng

Kiếm cây trái về để dùng

Năm trăm đệ tử đi cùng với nhau,

Muốn cho cẩn thận trước sau

Chàng bèn nhốt rắn vào mau trong lồng,

Tưởng đi một buổi là xong

Nào ngờ lại kéo dài trong mấy ngày

Khi chàng quay lại về đây

Mới hay bỏ đói rắn này mấy hôm,

Mở lồng để rắn ra luôn

Hầu tìm đồ uống thức ăn lót lòng

Tay chàng mới để vào trong

Rắn vì đói khát nổi khùng cắn ngay

Quên đi tình nghĩa lâu nay

Không cần biết nọc độc gây họa gì

Cắn xong rắn lặng bò đi

Bỏ vào rừng thẳm nhớ chi chủ mình.

Anh chàng yêu rắn nhiệt tình

Giờ đây nọc độc thấm nhanh vào người

Phút sau từ giã cõi đời.

Tiếc thay chàng chẳng nghe lời thầy khuyên

Không nghe theo những lời hiền

Chuốc vào hậu quả vô biên thảm sầu!

 

46) Cha Của Rắn Tre:

Ông thầy có năm trăm đệ tửtiền thân Đức Phật.

(46) Bamboo’s Father [Wasted Advice]

 

Once upon a time, there was a teacher who meditated much and developed his mind. Gradually his fame spread. Those who wished to be guided by a wise man came to hear him. Considering what he said to be wise indeed, 500 decided to become his followers.

 

One of these 500, who considered his teachings to be wise, was a certain pet lover. In fact, he loved pets so much that there was no animal he did not wish to keep as a pet.

 

One day he came upon a cute little poisonous snake, who was searching for food. He decided he would make an excellent pet. So he made a little bamboo cage to keep him in when he had to leave him alone. The other followers called the little snake, ‘Bamboo’. Because he was so fond of his pet, they called the pet lover, ‘Bamboo’s Father’.

 

Before long, the teacher heard that one of his followers was keeping a poisonous snake as a pet. He called him to him and asked if this was true. Bamboo’s Father said, “Yes master, I love him like my own child!”

 

The wise teacher said, “It is not safe to live with a poisonous snake. Therefore, I advise you to let him go, for your own good.”

 

But Bamboo’s Father thought he knew better. He replied, “This little one is my son. He wouldn’t bite me. I can’t give him up and live all alone!” .

 

The teacher warned him, “Then surely, this little one will be the death of you!” But the follower did not heed his master’s warning.

 

Later on, all 500 of the teacher’s followers went on a trip to collect fresh fruits. Bamboo’s Father left his ‘son’ locked up in the bamboo cage.

 

Since there were many fruits to collect, it was several days before they returned. Bamboo’s Father realized that poor Bamboo had not eaten the whole time he was away. So he opened the cage to let him out to find food.

 

But when he reached inside, his ‘son’ bit his hand. Having been neglected for all that time, Bamboo was angry as well as hungry. Since he was only a snake, he didn’t know anything about poison!

 

But his ‘father’ should have known better. After all, he had been warned by the very teacher he himself considered wise.

 

Within minutes of being bitten, Bamboo’s Father dropped dead!

 

The moral is: There’s no benefit in following a teacher, if you don’t listen to what he says

 


047_A47

(47) Hai Trẻ Dại Khờ 

 

Đã lâu từ thuở xa xưa

Có ông thợ mộc già nua, hói đầu

Bao nhiêu tóc rụng từ lâu

Đầu ông nhẵn bóng phô mầu chói chang,

Gặp ông nói chuyện giữa làng

Mọi người đều phải vội vàng đưa tay

Che luôn cặp mắt lại ngay

Nếu là ngày nắng gắt gay sáng loà.

Một hôm nắng rọi hiên nhà

Cái đầu hói của ông già bóng lên

Một con muỗi đói gần bên

Thấy đầu hấp dẫn muỗi liền đậu đây

Thò vòi ra chích mừng thay

Tưởng rằng được bữa ăn này ngon sao.

Ông già thợ mộc đang bào

Còn đang bận rộn lẽ nào ngừng tay

Cho nên ông cứ loay hoay

Lắc đầu xua đuổi muỗi bay cho rồi

Muỗi thời đang đói mềm người

Cho nên cứ bám có đời nào tha,

Ông già lớn tiếng kêu la

Gọi con trong bếp chạy ra giúp mình

Đầu cha chói sáng thật tình

Con thời đầu óc lại thành tối đen

Dại khờ, u ám, lành hiền

Nhưng thường chăm chỉ và quen vâng lời

Nghe kêu, con chạy tới nơi

La lên ầm ĩ: “Bố ơi lo gì

Để yên con giết muỗi kia

Chỉ cần một đập muỗi thì chết ngay!”

Nói xong con vội với tay

Lấy rìu sắc nhọn lòng đầy tự tin

Nhắm vào con muỗi chém liền

Muỗi kia xác chẻ hai bên, tàn đời

Xui thay rìu cũng chẻ đôi

Chiếc đầu ông bố tách rời làm hai.

* Một đoàn người đi phía ngoài

Có ông cố vấn đại tài của vua

Bất ngờ thấy đứa con ngu

Vô tình giết bố rất ư hãi hùng

Ông quay qua đám tùy tùng

Nói rằng: “Cũng chẳng lạ lùng lắm đâu

Bao người khờ dại từ lâu

Coi như không có trong đầu trí khôn

Ta vừa nhớ chuyện hồi hôm

Xảy ra tương tự đáng buồn lắm thay!

Trong ngôi làng chẳng xa đây

Có bà mẹ nọ trong tay cầm chày

Giã vào gạo ở cối xay

Chăm làm công việc hàng ngày mãi thôi

Khiến đầu nóng chảy mồ hôi

Và rồi có một đám ruồi bu quanh

Vo ve vang tiếng ruồi xanh

Làm bà khó chịu xua nhanh đuổi ruồi

Nhưng ruồi nào có chịu rời

lên tiếng gọi nhờ người kế bên

Cô con gái giúp mẹ liền

Cô tuy khờ khạo nhưng hiền lành thay

Thường vâng lời mẹ xưa nay

Cô bèn vội đứng lên ngay cối mình

Dơ chày lên rất nhiệt tình

Nhắm trên đầu mẹ đập nhanh một chày

Đám ruồi đang đậu nơi đây

Tất nhiên là chết lăn quay tức thì

Nhưng than ôi bà mẹ kia

Đầu thời cũng bể, dễ gì sống thêm!”

Vị quan cố vấn trang nghiêm

Dạy đoàn đệ tử: “Chớ nên quên rằng

Chọn người thân cận chung đường

Nếu mà khờ dại, tầm thường, ngu si

Thời ta chỉ chuốc hiểm nguy

Lắm phen mất mạng! Nhiều khi tàn đời!”

 

47) Hai Trẻ Dại Khờ:

Ông cố vấn đại tài của vua là tiền thân Đức Phật.

(47) Two Stupid Children [Foolishness]

 

Once upon a time, there was an old carpenter with a shiny bald head. On sunny days, his head shined so brightly that people shaded their eyes when talking to him!

 

On just such a sunny day, a hungry mosquito was attracted to the old carpenter’s bright bald head. He landed on it and started biting into it.

 

The carpenter was busy smoothing a piece of wood with a plane. When he felt the mosquito biting him, he tried to chase him away. But the hungry mosquito would not leave such a good looking meal. So the man called over his son and asked him to get rid of the stubborn pest.

 

Unlike his father’s shiny head, the son was not so bright. But he was hard working and obedient. He said, ‘Don’t worry Dad, be patient. I’ll kill that bug with just one blow!”

 

Then he picked up a very sharp ax, and took careful aim at the mosquito. Without thinking, he came down with the ax and split the mosquito in two! Unfortunately, after slicing through the mosquito, the ax also split the old carpenter’s shiny bald head in two.

 

Meanwhile, an adviser to the king happened to be passing by with his followers. They saw what had just happened, and were quite shocked that anyone could be so stupid!

 

The king’s adviser said, “Don’t be so surprised by human stupidity! This reminds me of a similar event that occurred just yesterday.

 

“In a village not far from here, a woman was cleaning rice. She was pounding it in a mortar with a pestle, to separate the husks. As she worked up a sweat, a swarm of flies began buzzing around her head. She tried to chase them away, but, the thirsty flies would not leave.

 

“Then she called over her daughter and asked her to shoo away the bothersome bugs. Although she was a rather foolish girl, the daughter always tried her best to please her mother.

 

“So she stood up from her own mortar, raised her pestle, and took careful aim at the biggest and boldest of the flies. Without thinking, she pounded the fly to death! But of course, the same blow that killed the fly, also ended her mother’s life.

 

“You all know what they say,” said the adviser, finishing his story, “‘With friends like these, who needs enemies!”‘

 

The moral is: A wise enemy is less dangerous than a foolish friend.

 

 


048_A48

(48) Tưới Vườn 

 

Ba La Nại thật tưng bừng

Nhân ngày năm mới vui chung mọi nhà

Trong thành phố khắp gần xa

Đón mừng lễ lớn suốt ba ngày tròn

Mọi người chờ đợi bồn chồn,

Anh chàng coi sóc khu vườn hoàng cung

Năm nay cũng lại ước mong

Tham gia lễ hội ở trong đám này.

Có nhiều khỉ họp thành bầy

Cùng nhau sinh sống trên cây trong vườn

Khỉ không suy tính thiệt hơn

Nghe lời khỉ chúa, luôn luôn tuân hành.

Chàng làm vườn nghĩ khôn lanh

Muốn cho bầy khỉ thay mình tưới cây

Khi mình rời khỏi nơi đây

Để đi dự hội ba ngày nơi xa

Nên nhờ khỉ chúa thiết tha:

“Bạn ơi hãy giúp giùm ta tưới vườn

Bây giờ ta phải lên đường

Đi tham dự lễ ở phương xa rồi,

Lễ năm mới, ba ngày thôi

Chúng ta tình bạn lâu đời quý nhau

Này hạt dẻ, này trái dâu

Vườn cây chi chít có đâu thiếu gì

Xin mời các bạn dùng đi

Tự nhiên, thoải mái, có chi ngại ngần

Chỉ nhờ các bạn đỡ đần

Tưới cây non khắp xa gần mà thôi!”

Nghe xong khỉ chúa thốt lời:

“Bạn ơi xin cứ tin nơi bọn mình

Cả bầy tôi sẽ nhiệt tình

Tưới cây giúp bạn ở quanh trong vườn

Hãy cười lên! Cứ đi luôn!

An lòng dự lễ vài hôm là rồi!”

Chàng làm vườn mừng quá trời

Chỉ cho bầy khỉ rõ nơi căn lều

Chứa bao dụng cụ thật nhiều

Cùng bình tưới nước sẵn treo nơi này,

Chàng an tâm vội đi ngay

Cả bầy khỉ đứng vẫy tay tiễn người

Đồng thanh hoan hỉ thốt lời:

“Chúc mừng năm mới vui tươi, an lành!”

* Hôm sau bầy khỉ lanh chanh

Lấy bình múc nước tranh giành tưới cây

Chợt nghe khỉ chúa phán ngay:

“Anh em trong khắp cả bầy chúng ta

Đừng nên phí phạm nước ra

Nước nên tiết kiệm chớ mà vung tay

Trước khi tưới nước vào cây

Nhổ cây xem rễ ngắn hay là dài

Ngắn thời tưới ít nước thôi

Dài thời nhiều nước, nhớ lời nghe không

Thế là khôn khéo vô cùng

Chàng làm vườn sẽ hài lòng vì ta!”

Chẳng cần nghĩ ngợi sâu xa

Cả bầy nghe lệnh hò la vâng lời

Nhổ cây đo rễ ngắn dài

Xong rồi trồng lại xuống nơi lỗ vườn

Rủ nhau tưới nước lên luôn

Ít nhiều tùy lỗ. Nghĩ khôn vô vàn.

* Có ngài hiền trí đi ngang

Thấy bầy khỉ mải lăng xăng ngu đần

Hỏi thăm hay rõ cội nguồn

Thở dài ngao ngán: “Đáng buồn biết bao

Khỉ bày trò, cứ lao xao

Tưởng mình có trí ai nào ngờ đâu

Gây ra tai họa dài lâu

Cây non nay bỗng trước sau tan tành

Khu vườn đẹp đẽ nổi danh

Giờ đây phút chốc trở thành tang thương!”

 

48) Tưới Vườn:

Ngài hiền trí đi ngang vườn là tiền thân Đức Phật.

(48) Watering the Garden [Foolishness] 

 

It was just before New Year’s in Benares, in northern India. Everyone in the city was getting ready for the three day celebration, including the gardener of the king’s pleasure garden.

 

There was a large troop of monkeys living in this pleasure garden. So they wouldn’t have to think too much, they always followed the advice of their leader, the monkey king.

 

The royal gardener wanted to celebrate the New Year’s holiday, just like everybody else. So he decided to hand over his duties to the monkeys.

 

He went to the monkey king and said, “Oh king of monkeys, my honourable friend, would you do a little favour for me? New Years is coming. I too wish to celebrate. So I must be away for three full days. Here in this lovely garden, there are plenty of fruits and berries and nuts to eat. You and your subjects may be my guests, and eat as much as you wish. In return, please water the young trees and plants while I’m gone.”

 

The monkey king replied, “Don’t worry about a thing, my friend! We will do a terrific job! Have a good time!”

 

The gardener showed the monkeys where the watering buckets were kept. Feeling confident, he left to celebrate the holiday. The monkeys called after him, “Happy New Year!”

 

The next day, the monkeys filled up the buckets, and began watering the young trees and plants. Then the king of the monkeys addressed them: “My subjects, it is not good to waste water. Therefore, pull up each young tree or plant before watering. Inspect it to see how long the roots are. Then give more water to the ones with long roots, and less water to the ones with short roots. That way we will not waste water, and the gardener will be pleased!”

 

Without giving it any further thought, the obedient subjects followed their king’s orders.

 

Meanwhile, a wise man was walking by outside the entrance to the garden. He saw the monkeys uprooting all the lovely young trees and plants, measuring their roots, and carefully pouring water into the holes in the ground. He asked, “Oh foolish monkeys, what do you think you’re doing to the king’s beautiful garden?”

 

They answered, “We are watering the trees and plants, without wasting water! We were commanded to do so by our lord king.”

 

The man said, “If this is the wisdom of the wisest among you – the king – what are the rest of you like? Intending to do a worthwhile deed, your foolishness turns it into disaster!”

 

The moral is: Only fools can make good deeds into bad ones.

 

 


049_A49

(49) Rượu Mặn 

 

Một ông chủ quán rượu kia

Có chàng giúp việc rất chi nhiệt tình

Ông thường để hắn thay mình

Đứng ra rót rượu loanh quanh bên quầy

Anh chàng sốt sắng lắm thay

Có nhiều sáng kiến! Ra tay giúp người!

Một hôm nóng nực ngoài trời

Chủ nhân chợt muốn đi bơi ven làng

Ra sông tắm mát thênh thang

Nên ông giao quán cho chàng trông coi.

* Anh chàng tiếp khách, tươi cười

Nhìn người uống rượu chàng thời suy tư:

“Tại sao khách lại cứ ưa

Nhâm nhi chút muối khi vừa uống xong?”

Chàng không muốn hỏi lòng vòng

Sợ người chê dốt, chê không sành đời,

Chàng đâu rõ uống rượu rồi

Rượu làm đắng lưỡi, đắng môi vô cùng

Khách hàng phải lấy muối dùng

Cho tan dư vị ở trong miệng mình.

Anh chàng tự nghĩ khôn lanh

Tưởng rằng thêm muối rượu thành ra ngon

Nên làm như vậy là khôn

Giúp cho công việc bán buôn thêm lời

Chẳng bao lâu sẽ phát tài

Chủ nhân quán rượu tất hài lòng đây

Thế là chàng vội loay hoay

Đem bao nhiêu rượu pha ngay muối vào

Nhưng chàng kinh ngạc biết bao

Thấy người uống rượu ai nào khen đâu

Khách hàng tới uống trước sau

Uống xong lập tức nhổ mau ra rồi

la mắng mỏ nặng lời

Bỏ đi quán khác tức thời còn chi.

* Tắm xong chủ quán trở về

Ngạc nhiên thấy quán chẳng hề có ai

Khách hàng không thấy một người

Rượu thời lại mặn có đời nào ngon

Thế là hỏng chuyện bán buôn

Vì chàng giúp việc tưởng khôn, rành đời.

Vài ngày lặng lẽ dần trôi

Ông đi kể chuyện cho người bạn xưa

Bạn là cố vấn của vua

Bạn bèn lên tiếng khi vừa nghe xong:

“Kẻ khờ dại muốn lập công

Muốn làm điều tốt nhưng không lợi gì

Chỉ gây hại! Chẳng ích chi!

Chớ nên cho kẻ ngu si gần mình!”

 

49) Rượu Mặn:

Người bạn của chủ tiệm rượu là tiền thân Đức Phật.

(49) Salty Liquor [Foolishness] 

 

Once upon a time, there was a tavern owner in Benares. He had a hard working bartender, who was always trying to be helpful by inventing new ways of doing things.

 

One hot day, the tavern owner wanted to bathe in a nearby river. So he left the bartender in charge while he was gone.

 

The bartender had always wondered why most of the customers ate a little salt after drinking their liquor. Not wishing to show his ignorance, he never bothered to ask them why they did this. He did not know that they ate the salt in order to chase away the aftertaste of the liquor. He thought it needed salt to taste good.

 

He wondered why taverns did not add salt to their liquor. He decided that if he did so, the business would make much higher profits, and the tavern owner would be very pleased. So he added salt to all the liquor!

 

To his surprise, when the customers came to the tavern and drank the salty liquor, they immediately spit it out and went to a different bar.

 

When the owner returned from his dip in the river, he found his tavern without customers, and all his liquor ruined.

 

So he went and told this story to his friend, an adviser to the king. The adviser said, “The ignorant, wishing only to do good, often cannot help doing harm.”

 

The moral is: The best intentions are no excuse for ignorance.


050_A50

(50) Thầy Bùa Chú Và Bọn Bắt Cóc

 

Thuở xưa trong một ngôi làng

Có thầy tu nọ giỏi giang hơn người

Tài về bùa chú tuyệt vời

Đây là bí mật từ đời xa xăm,

Nhưng bùa chú lạ vô ngần

Mỗi năm hiệu nghiệm một lần mà thôi

Khi mà tinh tú trên trời

Xoay vần, tụ lại một nơi quây quần

Là khi bùa chú mới cần

Bấy giờ thầy đọc câu thần lớn lên

Ngẩng nhìn tinh tú tầng trên

Vỗ tay vài cái, khấn nguyền đôi câu

Thế là trời đổ mưa mau

Mưa toàn châu báu! Nhiệm mầu kể chi!

Ông thầy có đệ tử kia

Cũng tài cũng giỏi ai bì được đâu

Cũng thông minh vốn từ lâu

Khó khăn giải quyết trước sau tài tình

Trung thành, kính trọng thầy mình

Thầy trò như thể gia đình thân thương.

* Một ngày thầy phải lên đường

Tham gia tế lễ, khách phương xa mời

Đường trường nguy hiểm nhiều nơi

Thầy trò quyết định hai người cùng đi.

Dọc đường có bọn cướp kia

Gồm năm trăm đứa hành nghề lâu nay

Chuyên môn bắt cóc tại đây

Rồi đòi tiền chuộc trao tay thật nhiều,

Thầy trò xui biết bao nhiêu

Đi ngang bị cướp rượt theo bắt liền

Và đòi phải chuộc bằng tiền

Không thời mất mạng! Chớ nên cãi lời!

Năm trăm đồng tiền vàng thôi

Giữ ông thầy lại, thả người trò ra.

Lệnh cho trò trở về nhà:

“Lo vàng đem chuộc kẻo ta giết thầy!”

Trước khi từ biệt nơi đây

Chào thầy, trò lén thưa ngay đôi lời:

“Hôm nay là đúng ngày rồi

Bao nhiêu bùa chú tức thời hiển linh

Trên trời tụ hội hành tinh

Xin thầy chớ trổ tài mình mà nguy

Mưa châu báu không ích gì

Lòng tham bọn cướp chẳng khi nào dừng

Chỉ thêm nguy hiểm vô chừng

Khiến thầy lẫn cướp đều cùng mạng vong

Xin thầy tin tưởng lời con

Đừng dùng bùa chú mà mong an toàn

Con đi về lấy tiền vàng

Rồi quay lại chuộc, thầy an tâm chờ!”

Xong trò vội vã tạ từ

Thầy nghe trò nói, suy tư lặng thầm.

* Màn đêm buông phủ xuống dần

Thầy bùa bị trói ngoài sân, giữa trời

Vừa đói bụng, lại lạnh người

Cướp trong hang động vui chơi đợi chờ,

Khi vầng trăng ló rạng ra

Bao nhiêu tinh tú gần xa tụ về

Thầy bùa thân xác não nề

Ngẩng nhìn, thầm nghĩ: “Tội gì khổ đau

Ta làm châu báu ra mau

Coi như tiền chuộc, trước sau dễ dàng

Cướp dù chết ta chẳng màng

Mạng ta đáng quý hơn phường cướp đây

Ngoài ra chỉ nội đêm nay

Cả năm mới được một ngày linh thiêng

Dùng bùa chú trổ tài riêng

Mạng mình gìn giữ, gông xiềng thoát ra!”

Lời trò dặn ông bỏ qua

Kêu la gọi cướp hãy tha cho mình:

“Ta đây quyền phép rất linh

Làm ra châu báu quả tình dễ thay

Hãy mau cởi hết trói này

Để ta sửa soạn ra tay nhiệm mầu!”

Nghe xong bọn cướp bàn nhau

Thả thầy thời chúng có đâu ngại ngần

Tuy nhiên chúng núp ở gần

Canh chừng theo rõi khi cần nhào ra.

Thầy bùa trang điểm tràng hoa

Thay quần áo mới thật là uy nghi

Ngước nhìn tinh tú trên kia

Cúi đầu đọc chú thầm thì vài câu

Vỗ hai tay vào với nhau

Thình lình mưa xuống báu châu ào ào,

Cướp kinh ngạc biết là bao

Nhào ra lượm sạch giấu vào trong thân

Rồi cùng hối hả rời chân

Mang thầy bùa nọ theo gần một bên

Tìm đường vội vã đi liền

Khư khư giữ của, cuồng điên vui mừng.

* Đi lâu bọn cướp tạm ngừng

Năm trăm cướp lạ trong rừng nhào ra

Tay đe dọa, miệng hét la

Dữ dằn đòi bạc khó mà thoát thân.

Cướp đầu cả bọn phân trần:

“Muốn nhiều châu báu đâu cần bọn ta

Thầy bùa này sẽ làm ra!”

Chúng bèn kể chuyện vừa qua nhiệm mầu.

Cướp đầu được thả đi mau

Thầy bùa bị bọn cướp sau giữ rồi

Bắt làm mưa báu ngay thôi

Tất nhiên giờ tốt đã trôi, đâu còn

Thầy bùa giảng giải ngọn nguồn

Cướp nào nghe lọt, chẳng buồn tin theo

Thế là cả bọn cùng kêu:

“Thầy bùa xảo trá, đặt điều dối gian!”

Chúng nổi giận, chúng sôi gan

Giết ông tức khắc, bạo tàn chẳng nương

Giết xong chúng vội tìm đường

Đuổi theo bọn trước tới rừng kế bên

Rồi ra tay giết sạch liền

Năm trăm cướp trước xuôi miền âm ty.

Bọn cướp sau còn lại kia

Giành nhau chia của tức thì cãi nhau

Chia hai phe để đối đầu

Giết nhau tới tấp còn đâu nghĩa tình

Chết dần mòn! Thật hãi kinh!

Cuối cùng còn lại quẩn quanh hai người

* Hai tên mỏi mệt rã rời

Lại thêm đói khát, tạm thời nghỉ tay

Cùng thâu lượm châu báu này

Đồng lòng chôn giấu vào ngay giữa rừng.

Một tên đứng gác canh chừng

Một tên mót gạo tìm đường nấu ăn.

Tên canh gác nảy lòng tham:

“Nếu tên kia chết của gian về mình

Cả kho tàng, sướng thật tình

Ăn xong ta phải thình lình giết ngay!”

Tên làm cơm nghĩ loay hoay:

“Nếu ta trộn thuốc độc này vào cơm

Giết tên kia cho chết luôn

Bạc vàng ta hưởng không còn chia đôi!”

Nấu xong, ăn nửa phần rồi

Nửa phần mang lại đưa người bạn ăn

Trộn thêm thuốc độc vô ngần

Nhưng vừa lê bước tới gần người kia

Bị người giết chết thảm thê

Hồn về chín suối hết bề gian manh.

Cướp giờ còn lại một mình

Đói lòng ăn uống thoả tình sướng vui

Nào ngờ thuốc độc ngấm thôi

Cũng lăn chết nốt, hết đời còn chi.

* Vài ngày sau học trò kia

Gom xong tiền chuộc vội đi cứu thầy

Quay về bọn bắt cóc ngay

Thấy thầy bị giết tại đây. Than trời!

Biết thầy không chịu nghe lời

Chàng bèn hoả táng thầy nơi mé rừng.

Lần tìm chàng thấy hãi hùng

Năm trăm xác chết lạnh lùng nằm trơ.

Đi thêm nữa, thật bất ngờ

Bao nhiêu xác chết bụi bờ nằm quanh

Trước sau đếm đủ ngọn ngành

Thêm năm trăm nữa, máu tanh ngập tràn,

Cộng chung vừa đúng một ngàn

Một ngàn sinh mạng bạo tàn phơi thây

Chàng than: “Thật đáng buồn thay

Thầy mình kiến thức tràn đầy thiếu chi

Nhưng sao không đủ lương tri

Vẫn mang bùa chú thực thi chuyến này

Khiến gây hậu quả liền ngay

Trần gian địa ngục là đây khác gì!”

Chàng thâu góp của, ra đi

Mang về làng xóm phân chia mọi người

Phát tâm bố thí khắp nơi

Nêu gương công đức cho đời noi theo.

 

50) Thầy Bùa Chú Và Bọn Bắt Cóc:

Người đệ tử của thầy bùa chú là tiền thân Đức Phật.

(50) The Magic Priest and the Kidnapper Gang [Power and Greed] 

 

Once upon a time in Benares, there was a king named Brahmadatta. In one of the kingdom’s remote villages, there was a priest who had magical power. He knew a special magic spell which was a secret given to him by his teacher.

 

This spell could be used only once a year, when the planets were lined up in a certain way. Only then, the priest could say the secret magic words into his open palms. Then he looked up into the sky, clapped his hands, and a shower of precious jewels came down on him.

 

The magic priest was also a teacher. He had a very good student, who was intelligent and able to understand the most difficult ideas. He was obedient and faithful, always wishing to honour and protect his master.

 

One day, the priest had to go on a trip to a faraway village, in order to perform an animal sacrifice. Since he had to take a dangerous road, the good student went with him.

 

Along this road there happened to be a gang of 500 bandits. They were known as the ‘Kidnapper Gang’. They captured people and demanded ransom money in return for letting them live.

 

Lo and behold, the magic priest and his good student were captured by the Kidnapper Gang. They set the ransom at 5,000 gold coins, and sent the student to go get it, in order to save his master’s life.

 

Before leaving, the student knelt before his teacher and bowed respectfully. He said to him quietly, so the bandits could not hear, “Oh master, tonight is the one night of the year when the planets will be lined up perfectly. Only then can your magic spell be used to shower you with jewels from the sky. However, I must warn you, my beloved and respected teacher, that to use such a power to save yourself from such greedy men as these would be extremely dangerous. Obtaining great wealth so easily must lead to disaster for men like them. And if you think only of your own safety, bringing such harm to them will cause danger to you as well.

 

“Therefore, I warn you, do not give in to the desire to make the spell of jewels. Let the lucky night pass by for this year. Even if these bandits harm you, trust your faithful student to save you, without adding to your danger.” So saying, he took his leave.

 

That evening, the kidnappers tied up the magic priest tightly, and left him outside their cave for the night. They gave him nothing to eat or drink.

 

After the moon came out, the priest saw the planets lining up so his spell could work. He thought, “Why should I suffer like this? I can magically pay my own ransom. Why should I care if harm comes to these 500 kidnappers? I am a magic priest. My life is worth much more than theirs. I care only for my own life. And besides, this lucky night only comes but once a year. I cannot waste the chance to use my great power!”

 

Having decided to ignore the advice of the good student, he called the kidnappers and said, “Oh brave and mighty ones, why do you want to tie me up and make me suffer?”

 

They replied, “Oh holy priest, we need money. We have many mouths to feed. We must have money, and lots of it!”

 

The magic priest said, “Ah, you did this for money? Is that all there is to it? In that case, I will make you rich beyond your wildest dreams! For I am great and powerful. As a holy priest, you can trust me. You must untie me, wash my head and face, dress me in new clothes, and cover me with flowers. Then, after so honouring me properly, leave me alone to do my magic.”

 

The kidnappers followed his instructions. But, not trusting him completely, they hid in the bushes and secretly watched him.

 

This is what they saw. The washed and flower-covered priest looked up into the sky. Seeing that the planets were lined up in the special lucky pattern, he lowered his head and muttered the magic spell into his hands. They were sounds that no one could understand, something like this: “Nah Wah Shed-nath. Eel Neeah Med-rak. Goh Bah Mil-neeay.”

 

Then he gazed into the sky and clapped his hands. Suddenly he was showered with the most beautiful jewels!

 

The Kidnapper Gang came out from hiding and grabbed all the precious stones. They wrapped them up in bundles and went off down the road, with the magic priest following behind.

 

On the way, they were stopped by another gang of 500 robbers. They asked them, “Why are you stopping us?” “Give us all your wealth!” the others demanded.

 

The kidnappers said, “Leave us alone. You can get all the riches you want from this magic priest, just as we have done. He says magic words, looks up into the sky, claps his hands, and the most fabulous jewels come down!”

 

So they let the Kidnapper Gang go, and surrounded the priest. They demanded that he make a shower of precious stones for them as well.

 

He said, “Of course I can give you all the jewels you want. But you must be patient and wait for one year. The lucky time, when the planets are lined up properly, has already come this year. It will not happen again until next year. Come see me then, and I will be happy to make you rich!”

 

Robbers are not exactly known for their patience. They became angry at once. They shouted at him, “Ah, you tricky lying priest! You made the Kidnapper Gang wealthy, but now you refuse to do the same for us. We’ll teach you to take us so lightly!” Then they cut him in two with a sharp sword, and left both halves of his body in the middle of the road.

 

The robbers chased after the Kidnapper Gang. There was a terrible bloody battle. After hours of fighting, they killed all 500 kidnappers and stole the wonderful jewels.

 

As soon as they left the battleground, the 500 robbers began quarrelling over the wealth. They divided into two rival groups of 250 each. These fought another bloody battle, until only two were left alive one from each side.

 

These two collected all the valuable jewels and hid them in the forest. They were very hungry. So one guarded the treasure, while the other started cooking rice.

 

The one doing the guarding thought, “When the other is finished cooking, I will kill him and keep all this loot for myself?”

 

Meanwhile, the one doing the cooking thought, “If we divide these jewels in two, I will get less. Therefore, I will add poison to this rice, kill the other, and keep all the jewels for myself. Why share, when I can have it all!”

 

So he ate some of the rice, since he was so hungry, and poisoned the rest. He took the rice pot to the other and offered it to him. But he immediately swung his sword and chopped off the cook’s head!

 

Then the hungry killer began gobbling up the poisoned rice. Within minutes, he dropped dead on the spot!

 

A few days later, the good student returned with the ransom money. He could not find his teacher or the Kidnapper Gang. Instead, he found only the worthless possessions they had left behind after getting the jewels.

 

Continuing down the road, he came to the two halves of his teacher’s dead body. Realizing that the magic priest must have ignored his warning, he mourned his cruel death. Then he built a funeral pyre, covered it with wildflowers, and burned the body of his respected teacher.

 

A little further down the road, the good student came upon the 500 dead bodies of the Kidnapper Gang. Further still, he started seeing the dead robbers, until he counted 498.

 

Then he saw the footprints of the last two going into the forest. He realized that they too must fight over the treasure, so he followed them. Finally, he came to the dead body slumped over the rice pot, the other one with his head chopped off, and the bundles of valuable jewels. He could tell immediately what had happened.

 

He thought, “It is so sad. My teacher had great knowledge, but not enough common sense. He could not resist using his magical power, regardless of the results. By causing the deaths of the one-thousand greedy gangsters, he doomed himself as well.”

 

The good student took the treasure back to the village, and used it generously for the benefit of many.

 

The moral is: When power has no conscience, and greed has no limit – the killing has no end.

 


051_A51

(51) Chú Rể Mất Vợ Vì Chòm Sao 

 

Ba La Nại thời xưa

gia đình nọ rất ư là giàu

Con trai họ đã từ lâu

Muốn tìm gái đẹp làm dâu nhà mình.

Làng bên có gái thật xinh

Dung nhan diễm lệ, tính tình nết na

Thật là khó kiếm được ra

Một cô gái tốt hơn nhà này đâu

Đằng trai thành thị muốn dâu

Nên xin cưới hỏi, bắc cầu xe duyên

Thôn quê đằng gái chịu liền

Định ngày hôn lễ hai bên thuận tình,

Thôn quê chờ đón thị thành

Ngày giờ quy định linh đình rước dâu.

Nhưng nào ai có ngờ đâu

Có ông đạo sĩ nhà giàu quen thân

Chiêm tinh ông giỏi vô ngần

Thấy rằng hai họ bất cần đến ông

Không xin quẻ, chẳng trả công

Định ngày hôn lễ mà không hỏi mình

Coi thường sao với chiêm tinh

Nên ông tức giận quyết tình ăn thua.

Nhà trai sửa soạn đón đưa

Đúng ngày hôn lễ, lúc vừa hừng đông

Ông ăn mặc đẹp vô cùng

Đến nhà chú rể họp trong gia đình

Sau khi chào hỏi thân tình

Ông bèn lên tiếng: “Chiêm tinh rất cần,

Hôm nay vũ trụ xoay vần

Sao và tinh tú quây quần bên nhau

Sẽ gây đại họa trước sau

Chu kỳ không tốt, rước dâu xấu ngày

Có thầy chẳng chịu hỏi thầy

Khiến cho công chuyện giờ đây lỡ làng!”

Nhà trai nghe nói bàng hoàng

Bàn nhau hoãn chuyến về làng rước dâu

Gái ngoan còn thiết gì đâu

Lời thầy uy tín từ lâu lắm rồi.

* Phía đằng nhà gái xa xôi

Rộn ràng chuẩn bị chào mời nhà trai

Đón chàng rể quý tương lai

Nhưng rồi chẳng thấy một ai về làng

Cuối cùng họ mới hay rằng

Nhà trai hoãn lại, chẳng màng báo tin!

Thật là khiếm nhã vô biên

Định ngày, hứa hẹn, sao quên mau rồi

Họ hàng nhà gái thốt lời:

“Cần chi chờ đợi những người vô luân

Bỏ lễ cưới, hủy hôn nhân

Gả con cho kẻ ở gần đây thôi

Tìm trai làng kết lứa đôi

Lắm chàng chăm chỉ, nhiều nơi đàng hoàng!”

Thế là vui vẻ cả làng

Bà con môi giới họ hàng thân quen

Chọn người cho kết hôn liền

Tiến hành lễ cưới tơ duyên thắm tình.

* Ngày hôm sau ở thị thành

Bỗng ông đạo sĩ chiêm tinh phán rằng:

“Các hành tinh với mặt trăng

Giờ đây xa cách, sao băng thuận chiều

Một ngày tốt biết bao nhiêu

Nếu làm đám cưới sẽ nhiều duyên may!”

Gia đình thành thị nghe ngay

Tạ thầy tiền bạc, công thầy chẳng quên

Kéo nhau qua lại làng bên

Để xin được rước dâu hiền hôm nay,

Nhưng mà thất vọng lắm thay

Mẹ cha cô gái gắt gay chối từ:

“Chúng tôi chẳng đợi chẳng chờ

Hứa hôn chuyện cũ kể như hủy rồi

Các người tệ bạc sai lời

Quả tình vô lễ! Xin mời lui chân!”

Nhà trai giàu có phân trần:

“Chiêm tinh đạo sĩ chỗ thân gia đình

Nhìn trăng sao, ngắm hành tinh

Hôm qua đề nghị hãy đình chuyến đi

Vì là ngày xấu kể chi,

Sao trời nay cũng đã di chuyển rồi

Cưới xin mới tốt đẹp thôi

Chúng tôi quay lại y lời rước dâu!”

Mẹ cha cô gái: “Còn đâu

Con tôi đã bước qua cầu hôn nhân

Lấy trai làng chỗ tình thân,

Các người danh dự có cần giữ chi

Nên con tôi bị khinh khi

Các người tin tưởng những gì viển vông

Có liêm sỉ cũng như không!”

Đôi bên tranh cãi nổ bùng gắt gay.

* Có ngài hiền triết ngang đây

Đi qua nghe chuyện, vào ngay giảng hòa

Phía nhà trai vẫn hét la

Khiến ngài phải dạy: “Thật là cuồng điên

Sao trời ở tuốt tầng trên

Có chi ảnh hưởng tới duyên dưới trần

Niềm tin khờ dại vô ngần

Vô minh vực thẳm dừng chân là vừa!”

Hương thơm chân lý tiễn đưa

Phái đoàn thành thị tạ từ ra đi.

 

51) Chú Rể Mất Vợ Vì Chòm Sao:

Ngài hiền triết đi qua giảng hòa đôi bên là tiền thân Đức Phật.

(51) The Groom Who Lost His Bride to the Stars [Astrology] 

 

Once upon a time, there was a rich family living in Benares, in northern India. They arranged for their son to marry a good and honest girl from a nearby village. Being very pretty as well, they were sure they could not find a better wife for their son.

 

The groom’s family decided on a date for the wedding. The bride’s family agreed to meet them in the village on the wedding day.

 

Meanwhile, the rich family also had their own special astrological priest. When he found out they had picked the wedding day, without paying him to consult the stars, he became angry. He decided to get even with them.

 

When the wedding day arrived, the astrological priest dressed up in his finest robes, and called the family together. He bowed to them all, and then looked at his star charts very seriously. He told them that this star was too close to the horizon, and that planet was in the middle of an unlucky constellation, and the moon was in a very dangerous phase for having a wedding. He told them that, not seeking his advice, they had picked the worst day of the year for a wedding. This could only lead to a terrible marriage.

 

The frightened family forgot all about the wonderful qualities of the intended bride, and remained home in Benares.

 

Meanwhile the bride’s family had arranged everything for the village wedding ceremony. When the agreed upon hour arrived, they waited and waited for the future husband and his family. Finally they realized they were not coming. So they thought, “Those city people picked the date and time, and now they didn’t show up. This is insulting! Why should we wait any longer? Let our daughter marry an honourable and hard working village man.” So they quickly arranged a new marriage and celebrated the wedding.

 

The next day, the astrological priest said that, suddenly, the stars and planets and moon were in perfect positions for a wedding! So the Benares family went to the village and asked for the wedding to take place. But the village people said, “You picked the date and time. Then you disgraced us by not showing up!”

 

The city people replied, “Our family priest told us that yesterday the stars and planets and moon were in terrible positions. It was a very unlucky day for a wedding. But he has assured us that today is a most lucky day. So please send us the bride at once!”

 

The village family said, “You have no honour. You have made the choice of the day more important than the choice of the bride. It’s too late now! Our daughter has married another.” Then the two families began to quarrel heatedly.

 

A wise man happened to come along. Seeing the two families quarrelling so,. he tried to settle the dispute.

 

The city people told him that they had respected the warnings of their astrological priest. It was because of the unlucky positions of the stars and planets and moon, that they had not come to the wedding.

 

The wise man said, “The good fortune was in the bride, not in the stars. You fools have followed the stars and lost the bride. Without your foolishness, those far off stars can do nothing!”

 

The moral is: Luck comes from actions, not from stars.

 
052_A52

(52) Hoàng Tử Có Kế Hoạch 

 

Nơi miền bắc Ấn Độ xưa

Thành Ba La Nại có vua trị vì

Con vua thông thái kể chi

Thông minh, học giỏi từ khi thiếu thời

Thật là tuổi trẻ hiếm người,

Vua cha dự tính truyền ngôi sau này.

* Bao nhiêu dân chúng tại đây

Vào thời gian đó thường hay tin rằng

Thần linh cây cối đầu làng

Cực kỳ huyền bí, vô vàn linh thiêng

Mỗi người một số phận riêng

Do thần sắp đặt ta nên đợi chờ,

Họ mê tín, họ tôn thờ

Hay đâu sướng khổ là do tại mình,

Mọi người van vái thần linh

Khẩn cầu, xin xỏ đã thành thói quen,

Xin con khôn, cầu vợ hiền

Muốn tăng danh vọng, ước thêm sang giàu

Lầm bầm hứa hẹn trước sau

Nếu thần giúp đỡ sẽ mau tạ thần

Sẽ dâng lễ cúng thành tâm

Hương thơm, hoa quả một mâm thật đầy

Thịt thà cũng sẽ dâng ngay

Dê xào, cừu nướng, heo quay, gà hầm

Nghĩ suy mê tín sai lầm

Sát sinh bao chuyện bất nhân lâu ngày.

Chàng hoàng tử biết việc này

Tâm từ xúc động, thương thay muôn loài

Nghĩ thầm: “Ta phải ngăn thôi

Ngăn dân mê tín, ngăn người ngu si

Ra tay tàn ác kể chi

Không rành tôn giáo, biết gì đúng sai

Giáo điều khuyên chớ giết ai

Bảo toàn sinh mạng muôn loài chúng sinh

Thời tâm người mới an bình

Đó là tôn giáo dân mình nên theo!

Nhưng dân mê tín quá nhiều

Dễ gì dạy họ sớm chiều được ngay

Ta nương theo thói quen này

Để dần uốn họ một ngày tỉnh ra

Vua cha rồi sẽ băng hà

Tất nhiên truyền lại cho ta ngai vàng

Ngay bây giờ phải tính đường

Thảo ra kế hoạch giúp vương quốc mình!”

* Thế là chàng vạch chương trình

Thoạt tiên dò hỏi dân tình đó đây

Biết ngoài thành có một cây

Thân cao cổ kính, lá dầy âm u

Người dân tế lễ từ xưa

Tin rằng thần thánh ngụ cư lâu đời.

Chàng hoàng tử trẻ tới nơi

Chắp tay khấn vái, thốt lời cầu xin

Tham gia cùng họ một bên

Làm như chàng cũng thường quen vậy rồi

Dùng hương hoa tế lễ thôi

Không dùng sinh vật cúng nơi cây này,

Dần dà như vậy ít ngày

Tiếng đồn lan rộng thật hay vô cùng

Người dân trong khắp mọi vùng

Tin rằng hoàng tử cũng không khác mình

Cũng tin tưởngthần linh,

Bước đầu kế hoạch quả tình thành công.

Thời gian sau ở hoàng cung

Vua cha già yếu mệnh chung một ngày

Ngai vàng hoàng tử lên thay

Trị vì vương quốc từ đây vững bền

Toàn dân trong ấm ngoài êm

Dân phò vua mới, lại thêm cảm tình

Nghĩ rằng vua cũng như mình

Cũng luôn cầu khẩn thần linh uy quyền.

* Sau khi chiếm được lòng tin

Nhà vua trẻ tiến hành thêm chương trình,

Một hôm ở giữa cung đình

Nhà vua lên tiếng tâm tình cùng dân

Cùng các quan với toàn quân

Nhà vua hỏi: “Các quần thần ai hay

Sao ta hưởng ngôi báu này?

Sao ta biết chắc có ngày làm vua?”

Chẳng ai biết để mà thưa.

Nhà vua bèn nhắc chuyện xưa của mình:

“Ta từng cầu khẩn thần linh

Và dâng đồ cúng tâm thành siêng năng

Ở cây cổ thụ đầu làng!”

Mọi người vội vã thưa rằng nhớ ra.

Nhà vua nói tiếp: “Chính ta

Nhiệt tình khấn nguyện, thiết tha thỉnh cầu

Khấn thần linh, thỉnh phép mầu

Giúp ta đạt được trước sau một điều

Trở thành vua! Chỉ bấy nhiêu!

Ta xin hứa lễ tạ nhiều hương hoa

Và còn đặc biệt thêm ra

Cúng dường lễ vật khác xa mọi người,

Giờ thần giúp toại nguyện rồi

Tạ ơn đặc biệt ta thời chẳng quên!”

Mọi người hoan hỉ ngay liền:

“Đúng theo lời hứa thưa nên cúng dường

Vậy nên sửa soạn sẵn sàng

Một bầy súc vật để dâng tế thần!”

Vua tuyên bố: “Tốt vô ngần

Ta vui vì được nhân dân đồng tình

Ta từng hứa với thần linh

Rằng ta đặc biệt tâm thành dâng lên

Thịt da, máu huyết, trái tim

Của người dân khắp các miền gần xa

Nếu mà ‘ngũ giới’ lơ là

Không hề tôn trọng! Tỏ ra coi thường!”

* Mọi người nhiệt liệt tán dương

Vì lòng mê tín điên cuồng từ lâu

Sợ rằng không lễ tạ mau

Thần linh nổi giận còn đâu an toàn

Thần trừng phạt nặng vô vàn

Vua và dân chúng liên quan chuyến này.

Vua cười thầm: “Kể cũng hay!

Chính lòng mê tín giờ đây giúp mình

Trong ‘năm giới’ cấm sát sinh

Người dân đâu nhớ, quả tình thơ ngây

Từ lâu mê muội lắm thay!”

Vua nhân cơ hội ban ngay lệnh rằng:

“Hãy thông báo khắp xóm làng

Rằng thần linh giúp ngai vàng cho ta

Nên ta không thể lơ là

Phải đem lời khấn hứa ra thi hành

Từ nông thôn đến thị thành

Từ nay ‘ngũ giới’ chấp hành cho nghiêm

Sát sinh bị cấm chớ quên

Một ngàn người phạm đầu tiên lệnh này

Thời hình phạt áp dụng ngay

Bị đem cúng tế thần cây tức thì!”

* Thật là tốt đẹp kể chi

Toàn dân tôn trọng lệnh kia ngay rồi!

Một thời gian ngắn mà thôi

Dân Ba La Nại tức thời nổi danh

Giữ gìn ‘ngũ giới’ tâm thành

Chẳng còn mê tín sát sinh tế thần,

Nhà vua vui sướng vô ngần

Hoàn thành kế hoạch muôn phần vẻ vang.

 

52) Hoàng Tử Có Kế Hoạch:

Hoàng tử có kế hoạch về sau trở thành vua ở Ba La Nạitiền thân Đức Phật.

(52) The Prince Who Had a Plan [The Power of Superstition] 

 

Once upon a time, King Brahmadatta was ruling in Benares, in northern India. The Enlightenment Being was born as his son the prince. Being quite intelligent, he completed his entire education by the age of 16. So, at this early age, his father made him second in command.

 

In those days, most people in Benares worshipped gods. They were very superstitious. They thought gods caused things to happen to them, rather than being results of their own actions. So they would pray to these gods and ask special favours. They would ask for a lucky marriage, or the birth of a child or riches or fame.

 

They would promise the gods that, if their prayers were answered, they would pay them by making offerings to them. In addition to flowers and perfumes, they imagined the gods desired the sacrifice of animals. So, when they thought the gods had helped them, they killed many animals – goats, lambs, chickens, pigs and others.

 

The prince saw all this and thought, “These helpless animals are also subjects of the king, so I must protect them. The people commit these unwholesome acts due to ignorance and superstition. This cannot be true religion. For true religion offers life as it really is, not killing. True religion offers peace of mind, not cruelty.

 

“I fear these people believe in their superstitions too strongly to give them up. This is very sad. But perhaps their beliefs can at least be put to good use. Some day I will become king. So I must begin to make a plan to let their superstitions help them. If they must offer sacrifices, let them kill their own greed and hatred, instead of these helpless animals! Then the whole kingdom will benefit.”

 

So the prince devised a clever long term plan. Every so often, he rode in his grand chariot to a popular banyan tree just outside the city. This was a huge tree, where the people prayed and made offerings to a god they thought lived there. The prince came down from his chariot and made the same offerings as the others – incense, flowers, perfumes and water – but not animal sacrifices.

 

In this way he made a great show, and the news spread about his offerings. Pretty soon, all the people thought he was a true believer in the great god of the banyan tree.

 

In due time, King Brahmadatta died and his son became king. He ruled as a righteous king, and the people benefited. So all his subjects came to trust and respect him as a just and honourable king.

 

Then one day, he decided it was the right time to carry out the rest of his plan. So he called all the leading citizens of Benares to the royal assembly hall. He asked them, “Worthy ministers and loyal subjects, do you know how I was able to make sure that I would become king?” No one could answer.

 

He said, “Do you remember that I often gave wonderful sweet offerings to the great god of the banyan tree?” “Yes, our lord,” they said.

 

The king continued, “At each of those times, I made a promise to the powerful god of the tree. I prayed, ‘Oh mighty one, if you make me King of Benares, I will offer a special sacrifice to you, far greater than flowers and perfumes.’

 

“Since I am now the king, you all can see for yourselves that the god has answered my prayers. So now I must keep my promise and offer the special sacrifice.”

 

All those in the assembly hall agreed. They said, “We must prepare this sacrifice at once. What animals do you wish to kill?”

 

The king said, “My dear subjects, I am glad you are so willing to cooperate. I promised the great god of the banyan tree that I would sacrifice anyone who fails to practice the Five Training Steps. That is, anyone who destroys life, takes what is not given, does wrong in sexual ways, speaks falsely, or loses his mind from alcohol. I promised that, if any do these things, I will offer their guts, and their flesh and blood on the great god’s altar!”

 

Being so superstitious, all those in the hall agreed that this must be done, or the god would surely punish the king and the kingdom.

 

The king thought, “Ah, such is the power of superstition that these people have lost all common sense! They cannot see that, since the first training step is to give up killing, if I sacrificed one of my subjects, I would be next on the altar! And such is the power of superstition that I could make such a promise, and never have to carry it out!”

 

So, with full confidence in the power of superstition, the king said to the leading citizens, “Go into all the kingdom and announce the promise I made to the god. Then proclaim that the first one-thousand who break any of the training steps will have the honour of being sacrificed, to keep the king’s promise.”

 

Lo and behold, the people of Benares became famous for carefully practising the Five Training Steps. And the good king, who knew his subjects so well, sacrificed no one.

 

The moral is: Sacrifice your own wrong doing, not some helpless animal.

 

 

053_A53

(53) Vua Giới Đức

 

Nhà vua Giới Đức thời xưa

Tiếng tăm phúc đức nhân từ vang xa

Vua cho xây sáu căn nhà

Làm nơi phát thực phẩm ra giúp đời

Đồ ăn, thức uống tứ thời

Giúp dân nghèo khó, giúp người khổ đau,

Vua theo “ngũ giới” từ lâu

Lại thêm nhẫn nhục ai đâu sánh cùng

Từ bi tràn ngập cõi lòng

Không hề trừng trị người trong nước mình

Dù cho phạm tội tày đình

Chỉ lo dạy dỗ bằng tình thương thôi.

Trong cung vua có một người

Thừa cơ phạm tội tức thời tại đây

Loạn luân lén lút bao ngày

Ở ngay trong cấm cung này của vua

Tiếng đồn mau chóng xa đưa

Nhà vua hay biết rất ư ngỡ ngàng

Gọi quan phạm tội phán rằng:

“Hãy mau đi khuất khỏi vương quốc này

Ta không trừng phạt tại đây

Nhưng bao tội lỗi ngưng ngay chớ làm!”

Tên quan phạm tội tà dâm

Mang tài sản với người thân đi liền

Ghé qua bên nước láng giềng

Tại đây y trổ tài riêng của mình

Nên mau chiếm đoạt cảm tình

Quốc vương nước đó bèn dành chức cao

Cho làm cố vấn tại trào

Ở trong cung điện ra vào quyền uy,

Kẻ gian xu nịnh tức thì

Trổ tài tâng bốc còn gì khéo hơn.

Ko Sa Laquốc vương

Nghe lời gian xảo nhưng thường ít tin.

* Một hôm y gợi ý thêm

Rằng vua Giới Đức ở miền kế bên

Nước này trù phú vô biên

Nhưng vua nhu nhược lành hiền từ lâu

Mang quân xâm chiếm cho mau

Thành công chắc chắn có đâu khó gì

Ko Sa La còn hồ nghi

Y bèn dâng kế rất chi hợp tình:

“Thoạt tiên đưa ít quân binh

Tràn qua cướp bóc ở quanh biên thùy

Để vua Giới Đức bắt về

Nhưng quân binh sẽ chẳng hề gì đâu

Than nghèo khó, than khổ đau

Là vua cho của và mau tha về!”

Ko Sa La chẳng tin gì

Nhưng khi thử nghiệm rồi thì thấy ngay

Lời quan cố vấn đúng thay

Quốc vương mừng rỡ định ngày xâm lăng.

* Quân vua Giới Đức can trường

Chống quân xâm lược dễ dàng thành công

Nhưng vua lại chẳng tán đồng

Nói rằng ngôi báu thời ông chẳng màng:

“Chiến tranh đất nước tan hoang

Dân quân chết chóc. Ngai vàng tiếc chi!

Đừng tham chiến, tránh gian nguy

Nếu ai xâm lấn ta thì nhường luôn!”

Vì không tranh chấp thiệt hơn

Nên khi quân địch dập dồn tiến qua

Vua Giới Đức chẳng nề hà

Nhường ngay cho Ko Sa La nước mình

Tránh gây thiệt mạng sinh linh

Muốn dân, quân hưởng an bình mãi thôi.

Ko Sa La thắng lợi rồi

Bắt vua Giới Đức ngay nơi ngai vàng

Bắt luôn tất cả các quan

Lệnh đem họ tới nghĩa trang ngoại thành

Đem chôn sống ngập thân mình

Đất lèn cho chặt! Quả tình thương đau!

Chỉ nhô lên mỗi cái đầu

Dành cho chó sói đêm thâu mò về

Sẵn đồ ăn uống thoả thuê

Vua quan chôn đứng khó bề toàn thây.

Vua Giới Đức lúc này đây

Không than vãn, chẳng mảy may hận thù

Nhà vua toả ngát tâm từ

Các quan quanh đó cũng như vua mình

Không chống đối, cứ lặng thinh

Xưa nay tuân lệnh đã thành thói quen.

* Đêm trong nghĩa địa tối đen

Một bầy chó sói rừng bên mò về

Thịt người mùi quyến rũ ghê

Các quan thấy vậy nhất tề la lên

Chó nghe hoảng hốt chạy liền

Nhưng rồi quay lại gần bên, sợ gì!

Thấy không ai nhúc nhích chi

Thế là vua chó liền đi lại mồi

Mon men tiến lại gần người

Gần vua Giới Đức chó thời nhe nanh,

Vua vươn cao cổ của mình

Chó chưa kịp cắn, vua nhanh hơn rồi

Cắn vào cầm chó ngay thôi

Cắn cho thật chặt, chó thời tru lên

Tiếng tru như xé màn đêm

Chó chung quanh đó chạy liền hoảng kinh

Còn đây vua chó một mình

Chồm lên gào thét, xoay quanh vẫy vùng,

Cặp răng vua mạnh vô cùng

Cắn càng thêm chặt quyết lòng chẳng buông

Đất đai cát bụi bay tung

Quanh vua đất cát cuối cùng lỏng ra

Vua bèn há miệng buông tha

Chó cong đuôi chạy trốn xa nơi này

Vua vùng đứng dậy được ngay

Đi lần giải thoát quanh đây tức thì

Các quan thoát cảnh khổ kia

Xác thân chôn sống muôn bề xót xa.

* Ở bên cạnh bãi tha ma

Có hai con quỷ dạ xoa lâu đời

Chia nhau ranh giới đôi nơi

Đêm nay chợt có xác người nằm ngang

Hai con tranh cãi rất hăng

Muốn giành xác chết để ăn một mình,

Nghe vua Giới Đức nổi danh

Là người ngay thẳng hiền lành đã lâu

Quỷ bèn thoả thuận cùng nhau

Nhờ vua phân xử cho mau xác này,

Nhà vua hoan hỉ nhận ngay

Trước tiên nhờ quỷ ra tay giúp mình

Quỷ đầy pháp thuật tài tình

Giúp vua tẩy uế sạch nhanh thân người,

Vua nhờ quỷ đến lâu đài

Lấy ra mũ mãng cân đai áo quần,

Lấy thêm kiếm báu sáng ngần

Để vua ăn mặc tăng phần uy nghi.

Quỷ kia tài giỏi kể chi

Thi hành mọi việc tức thì dễ thôi

Dù cho ở chốn lâu đài

Ko Sa La ngủ trong nơi cung vàng.

Nhà vua Giới Đức nghiêm trang

Dùng thanh kiếm báu lẹ làng cắt đôi

Phân chia xác chết làm hai

Dạ xoa hai quỷ đều hài lòng thay

Sau khi ăn hết xác này

Hỏi vua muốn chúng ra tay giúp gì.

Vua bèn đáp: “Chẳng nhiều chi

Đưa ta mau chóng trở về chốn xưa

Nơi phòng ngủ trong cung vua,

Các quan cũng vậy, hãy đưa trở về

Nơi nhà họ ở trước kia!”

Dạ xoa thực hiện có gì khó đâu!

Ko Sa La đang chìm sâu

Vào trong giấc điệp đượm mầu vinh quang

Ngay phòng ngủ trong cung vàng

Giật mình tỉnh giấc mơ màng nhìn lên

Thấy vua Giới Đức kề bên

Đang cầm kiếm sắc đứng trên đầu mình

Dáng uy nghi, vẻ tinh anh

Hoàng bào trang phục quả tình oai nghiêm,

Ko Sa La tỉnh giấc liền

Đã vừa sửng sốt, lại thêm hãi hùng

Khi nghe rõ chuyện lạ lùng

Trong lòng bừng ngộ, vô cùng ăn năn

Bèn quỳ đảnh lễ thành tâm

Xin vua Giới Đức lòng nhân tràn đầy

Giúp mình trở lại đường ngay

Thưa rằng: “Loài quỷ thường hay dữ dằn

Tanh hôi ăn uống quanh năm

Lại thêm ngu ngốc, có bằng ai đâu

Vậy mà vẫn nhận ra mau

Bao nhiêu giới hạnh trước sau của ngài,

Tôi may mắn được làm người

Văn minh, hiểu biết mà rồi vô minh

Vừa qua mù quáng tâm mình

Tham lam gây chuyện quả tình lầm sai

Tôi xin hứa hẹn với ngài

Từ đây tu sửa tức thời bản thân

Không còn xâm lấn xa gần

Muôn đời tôn trọng tình lân bang này!”

Ko Sa La triệu tập ngay

Quan quân, binh lính vào ngày hôm sau

Lệnh truyền tất cả rút mau,

Công khai ca tụng đôi câu chân tình

Xin vua Giới Đức anh minh

Nhân từ tha thứ lỗi mình vừa qua

Rồi quốc vương Ko Sa La

Công khai trừng trị thật là thẳng tay

Tên quan xúi bẩy lâu nay

Lòng luôn phản trắc, tính hay gian tà.

Tâm vua Giới Đức thăng hoa

Nghĩ thầm: “Tinh tấn quả là ích thay

Vì mình nhẫn nhục chuyến này

Nên ta và các quan đây an toàn

Phục hồi danh tiếng vẻ vang

Tránh gây tang tóc cho vương quốc mình!”

 

53) Vua Giới Đức:

Vua Giới Đứctiền thân Đức Phật. Tên quan phạm tội rồi phản bội là Đề Bà Đạt Đa.

(53) King Goodness the Great (Perseverance) 

 

Once upon a time, in Benares in northern India, the Enlightenment Being was born into the royal family. When he became king he was called Goodness the Great. He had earned this title by trying to do good all the time, even when the results might not benefit him. For example, he spent much of the royal treasury on the building and running of six houses of charity. In these houses good and aid were given freely to all the poor and needy who came along, even to unknown travellers. Soon king Goodness the Great became famous for his patience, loving-kindness and compassion. It was said that he loved all beings just like a father loves his young children.

Of course king Goodness observed the holy days by not eating. And naturally he practiced the ‘Five Training Steps’, giving up the five unwholesome actions. These are: destroying life, taking what is not given, doing wrong in sexual ways, speaking falsely, and losing one’s mind from alcohol. So his gentle kindness became more and more pure.

 

Since he wished to harm no one, King Goodness the Great even refused to imprison or injure wrongdoers. Knowing this, one of his highest ministers tried to take advantage of him. He cooked up a scheme to cheat some of the women in the royal harem. Afterwards it became known by all and was reported to the king.

 

He called the bad minister before him and said, ‘I have investigated and found that you have done a criminal act. Word of it has spread and you have dishonoured yourself here in Benares. So it would be better for you to go and live somewhere else. You may take all your wealth and your family. Go wherever you like and live happily there. Learn from this lesson.’

 

Then the minister took his family and al his belongings to the city of Kosala. Since he was very clever indeed, he worked his way up and became a minister of the king. In time he became the most trusted adviser to the King of Kosala. One day he said, ‘My lord, I came here from Benares. The city of Benares is like a beehive where the bees hive no stingers! The ruling king is very tender and weak. With only a very small army you can easily conquer the city and make it yours.’

 

The king doubted this, so he said, “You are my minister, but you talk like a spy who is leading me into a trap!’ He replied “No m lord. If you don’t believe me, send your best spies to examine what I say. I am not lying. When robbers are brought to the King of Benders, he gives them money, advises them not to take what is not given, and then lets them go free,”

 

The king decided to find out if this was true. So he sent some robbers to raid a remote border village belonging to Benares. The villagers caught the looters and brought them to King Goodness the Great. He asked them, “Why do you want to do this type of crime?”

 

The robbers answered, “Your worship, we are poor people. The robbers answered, “Your worship, we are poor people. There is no way to live without money. As your kingdom has plenty of workers, there is no work for us to do. So we had to loot the country in order to survive.” Hearing this, the king gave them gifts of money, advised them to change their ways, and let them go free.

 

When the King of Kosala was told of this, he sent another gang of bandits to the streets of Benares itself. They too looted the shops and even killed some of the people. When they were captured and brought to king Goodness, he treated them just the same as the first robbers.

 

Learning of this, the King of Kosala began marching his troops and elephants towards Benares.

 

In those days the King of Benders had a mighty army which included very brave elephants. There were many ordinary soldiers, and also some that were as big as giants. It was known that they were capable of conquering all India.

 

The giant soldiers told King Goodness about the small invading army from Kosala. They asked permission to attack and kill them all.

 

But King Goodness the Great would not send them into battle. He said, “My children, do not fight just so I may remain king. If we destroy the lives of others we also destroy our own peace of mind. Why should we kill others? Let them have the kingdom if they want it so badly. I do not wish to fight.”

 

The royal ministers said, “Our Lord, we will fight them ourselves. Don’t worry yourself. Only give us the order.” But again he prevented them.

 

Meanwhile the King of Kosala sent him a warning, telling him to give up the kingdom or fight. King Goodness the Great sent this reply: “I do not want you to fight with me, and you do not want me to fight with you. If you want the country, you can have it. Why should we kill people just to decide the name of the king? What does it matter even the name of the country itself?”

 

Hearing this, the ministers came forward and pleaded, “Our Lord, let us go out with our mighty army. We will beat them with our weapons and capture them all. We are much stronger than they are. We would not have to kill any of them. And besides, if we surrender the city, the enemy army would surely kill us all!”

 

But King Goodness would not be moved. He refused to cause harm to anyone. He replied, “Even if you do not wish to kill, by fighting many will be injured. By accident some may die. No one knows the future – whether our attackers will kill us or not. But we do know whether our present actions are right or wrong. Therefore I will not harm, or cause others to harm, any living being!”

 

Then King Goodness ordered the city gates be opened up for the invaders. He took his ministers to the top floor of the palace and advised them, “Say nothing and try to remain calm.”

 

The King of Kosala entered the city of Benares and saw that no one was against him. So he and his soldiers entered and went up to the top floor. They capture the innocent King Goodness the Great. The soldiers tied the hands of the defeated king and all of his ministers.

 

Then they were taken to the cemetery outside the city. They were buried up to their necks, standing straight up, with only their heads above ground. But even while the dirt was being trampled down around his neck, the Great Being remained without anger in his mind and said nothing.

 

Their discipline and obedience to King Goodness were so great that not a single minister spoke a word against anyone. But the King of Kosala had no mercy. He said roughly, “Come night time, let the jackals do as they please!”

 

And so it came to pass that, at midnight, a large band of jackals wandered into the cemetery. They could smell a feast of human flesh waiting for them.

 

Seeing them coming, King Goodness and his ministers shouted all at once and scared the jackals away. Twice more this happened. Then the clever jackals realised, “These men must have been put here for us to kill and eat.” No longer afraid, they ignored the shouts. The jackal king walked right up to the face of King Goodness.

 

The king offered his throat to the beast. But before he could bite into him, the king grabbed the jackal’s chin with his teeth. No harming him, King Goodness gripped him tightly so the jackal king howled in fear. This frightened his followers and they all ran away.

 

Meanwhile the jackal king thrashed back and forth, trying madly to free himself from the might jaws of the human king. In so doing, he loosened the dirt packed around the king’s neck and shoulders. Then King Goodness released the screaming jackal. He was able to wiggle himself free from the loosened earth and pull himself up onto the ground. Then he freed all his frightened ministers.

 

Nearby there was a dead body. It just so happened that it was lying on the border of the territories claimed by two rival demons. They were arguing over the division of the body, insulting each other in ways that only demons can.

 

Then one demon said to the other, “Why should we continue quarrelling instead of eating? Right over there is King Goodness the Great of Benares. H is famous in all worlds for his righteousness. He will divide the dead body for us.

 

They dragged the body to the king and asked him to divide it between them fairly. He said, ‘My friends, I would be glad to divide this for you. But I am filthy and dirty. I must clean myself first.”

 

The two demons used their magic powers to bring scented water, perfume, clothing, ornaments and flowers from the king’s own palace in Benares. He bathed, perfumed himself, dressed, and covered himself with ornaments and flower garlands.

 

The demons asked King Goodness if there was anything else they could do. He replied that he was hungry. So, again by their magic powers, the demons brought the most delicious flavoured rice in a golden bowl and perfumed drinking water in a golden cup – also from the royal palace in Benders.

 

When he was satisfied, king Goodness asked them to bring him the sword of state from the pillow of the King of Kosala, who was sleeping in the palace in Benares. With magic that too was easily done. Then the king used the sword to cut the dead boy into two halves, right down the spine. He washed the sword of state and strapped it to his side.

 

The hungry demons happily gobbled up the fairly divided dead body. Then they gratefully said to King Goodness, “Now that our bellies are full, is there anything else we can do to please you?”

 

He replied, “By your magic, set me in my own bedroom in the palace next to the King of Koala. In addition, put all these my ministers back in their homes.” Without a word, the demons did exactly as the king had asked.

 

At that moment the King of Koala was fast asleep in the royal bedchamber. King Goodness the Great gently touched the belly of the sleeping king with the sword of state. The king awoke in great surprise. In the dim lamplight he was frightened to see King Goodness leaning over him with sword in hand. He had to rub his eyes to make sure he was not having a nightmare!”

 

Then he asked the great king, “My lord how did you come here in spite of all my guards? You were buried up to your neck in the cemetery – how is it you are spotlessly clean, sweet smelling, dressed in your own royal robes, and decorated with fine jewellery and the loveliest flowers?”

 

King Goodness told him the story of his escape from the band of jackals. He told of the two demons that came to him to settle their quarrel. And he told how they gratefully helped him with their magic powers.

 

On hearing this, the king of Kasala was overcome by his own shame. He bowed his head to King Goodness the Great and cried, “Oh great king, the stupid ferocious demons, who live by eating the flesh and drinking the blood of dead bodies – they recognised your supreme goodness. But I, who was lucky enough to be born as an intelligent and civilised human being – I have been too foolish to see how wonderful your pure goodness is.

 

“I promise never again to plot against you, my lord – you who have gained such perfect harmlessness. And I promise to serve you forever as the truest of friends. Please forgive me, great king.” Then, as if he were a servant, the King of Kosala laid King Goodness the Great down on the royal bed, while he himself lay on a small couch.

 

The next day the King of Kosala called all his soldiers into the palace courtyard. There he publicly praised the king of Benares and asked his forgiveness once again. He gave back the kingdom and promised that he would always protect King Goodness. Then he punished his adviser, the criminal minister, and returned to Kosala with all his troops and elephants.

 

King Goodness the Great was sitting majestically on his golden throne, with its legs like those of a gazelle. He was shaded from the sun by the pure white royal umbrella. He taught his loyal subjects saying, “People of Benares wholesomeness begins with giving up the five unwholesome actions once and for all. The highest qualities of the good person, whether ruler or subject, are loving-kindness and compassion. Filled with these qualities, one cannot harm another – no matter what the reason or the cost. No matter how dangerous the threat, one must persevere until the greatness of the good heart wins in the end.”

 

Throughout the rest of his reign, the people of Benares lived peacefully and happily. King Goodness the Great continued performing wholesome works. Eventually he died and was reborn as he deserved.

 

The moral is: Refusing to harm others, the good heart wins over all.

 

 
054_A54

(54) Bọn Nghiện Rượu 

 

Có ông triệu phú thời xưa

Ba La Nại đã từ lâu nay

Đồng thời cũng tại chốn này

Bọn người nghiện rượu tối ngày lang thang

Ngoài đường phố, trong quán hàng

Loay hoay tính toán miên man trong đầu:

“Làm sao có rượu giải sầu

Không tiền, không rượu sống đâu được nào!”

Một hôm tiền hết buồn sao

Chúng bèn bàn tán lao xao tìm đường

Giật tiền, cướp bạc, lấy vàng

Của ông triệu phú vẫn thường đi qua.

Chúng nào hay biết ông ta

Chính là bồ tát bây giờ tái sinh

Chúng âm mưu chuyện gian manh

Chế ra món rượu để dành mời ông

Ngầm pha thuốc ngủ vào trong

Khi ông mê ngủ và không biết gì

Chúng ra tay lột tức thì

Bạc tiền, trang sức có chi khó nào

Lột thêm mọi thứ dễ sao

Áo quần sang trọng bảnh bao trên người.

Chúng âm mưu dựng tạm thời

Quán hàng nhỏ bé cạnh nơi lề đường

Vùng qua lại khách thập phương

Đi xa mỏi mệt hay thường dừng chân,

Chúng dành ra chút rượu ngon

Pha thêm thuốc ngủ vào luôn trong này

Đóng chai trông đặc biệt thay

Chờ mồi béo bở qua đây sẽ mời.

* Sáng nay cơ hội tới rồi

Khi ông triệu phú qua nơi quán hàng

Một tên vội vã đón đường

Mời chào ông khách hãy dừng bước chân:

“Thưa ngài rượu quý vô ngần

Ly đầu miễn phí, chủ nhân kính mời!”

Mang chai rượu tới tận nơi

Một tên rót rượu ra rồi dâng lên.

Ông từ chối định nói liền:

“Ta không hề uống thứ trên bao giờ!”

Tuy nhiên ông chợt nghi ngờ

Bọn người nghiện rượu sao mà lạ thay

Hôm nay tử tế thế này

Rượu ngon mà lại nhường ngay cho người?

Ông bèn đoán cũng dễ thôi

Đây là mánh lới lừa đời chi đây

Nên ông quyết định ra tay

Dạy cho bọn xấu xa này một phen

Ông lên tiếng: “Xin cảm phiền

Ta đi yết kiến vua trên ngai vàng

Thật là thất lễ vô vàn

Nếu mùi men rượu nồng nàn bốc ra

Các người thật tốt với ta

Ta vào cung điện xong là về ngay

Trên đường về ghé lại đây

Rượu ngon ta sẽ uống say ngại gì!”

Nghe xong bọn nghiện rượu kia

Tỏ ra thất vọng não nề. Biết sao?

Nên nhẫn nhục! Chớ nôn nao!

Đành chờ, đành đợi, cách nào khác đâu?

Một ngày trôi quả là lâu

Bọn người nghiện rượu buồn rầu kể chi.

Cuối ngày triệu phú mới về

Đi ngang quán nhỏ tức thì ghé thăm

Bọn gian manh vội thưa rằng:

“Mừng ngài quá bộ đến hàng chúng tôi

Rượu ngon đây xin kính mời

Để mừng chuyến viếng thăm nơi cung đình

Đây rượu nghĩa, đây rượu tình

Ly đầu miễn phí, xin dành ngài thôi!”

Nghiêm trang triệu phú trả lời:

“Ta nhìn chai rượu và rồi nhìn ly

Hệt như buổi sáng khác chi

Rượu mà ngon thật còn gì phần ta

Các ngươi uống hết không tha

Hoặc là nhấm nháp khó mà còn nguyên,

Ta không khùng, ta chẳng điên

Các ngươi chắc đã pha thêm thứ gì

Làm cho người uống mê đi

Rồi ngươi cướp bóc không hề nương tay!”

Nói xong ông bỏ đi ngay

Bọn gian nghiện rượu còn đây sững sờ

Thật là thất bại bất ngờ

Không dè triệu phú quá ư tinh tường

Chúng bèn bàn tán tìm đường

Mai này cướp khách thập phương bạc tiền

Chuyến này thật quả vô duyên

Mất toi chai rượu chẳng nên việc gì!

 

54) Bọn Nghiện Rượu:

Ông triệu phú ở Ba La Nạitiền thân Đức Phật.

(54) A Gang of Drunkards (Sobriety) 

 

Once upon a time, when Brahmadatta was king, the Enlightenment Being was born in a wealthy family. He became the richest man in Benares.

There also happened to be a gang of drunkards who roamed the streets. All they ever thought about was finding ways to get alcohol, the drug they thought they couldn’t live without.

 

One day, when they had run out of money as usual, they came up with a scheme to rob the richest man in Benares. But they didn’t realise that he was the reborn Bodhisatta, so he wouldn’t be so easy to fool!

 

They decided to make a ‘Mickey Finn’, which is a drink of liquor with a sleeping drug secretly added to it. Their plan was to get the rich man to drink the Mickey Finn. Then when he fell asleep they would rob all his money, jewellery, and even the rich clothes he wore. So they set up a temporary little roadside bar. They put their last remaining liquor into a bottle, and mixed in some strong sleeping pills.

 

Later the rich man came by on his way to the palace. One of the alcoholics called out to him, “Honourable sir, why not start your day right – by having a drink with us? And the first one is on the house!” Then he poured a glass of the dishonest liquor.

 

But the Enlightenment Being did not drink any form of alcohol. Nevertheless, he wondered why these drunkards were being so generous with their favourite drug. It just wasn’t like them.

 

He realised it must be some kind of trick. So he decided to teach them a lesson. He said, “It would be an insult to appear before the king in a drunken state, or with even the slightest smell of liquor on my breath. But please be so kind as to wait for me here. I’ll see you again when I return from the palace.”

 

The drunkards were disappointed. They would not be able to drink again as soon as they wanted. But they decided to be patient and wait.

 

Later that day the rich man came back to the little roadside bar. The alcoholics were getting desperate for a drink. They called him over and said, “Honourable sir, why not celebrate your visit to the king? Have a drink of this fine liquor. Remember, the first one is free!”

 

But the rich man just kept looking at the liquor bottle and glass. He said, “I don’t trust you. That bottle and glass of liquor are exactly as they were this morning. If it were as good as you say it is, you would have tasted some yourselves by now. In fact, you couldn’t help but drink it all! I’m no fool. You must have added another drug to the alcohol.”

 

The richest man in Benares went on his way, and the gang of drunkards went back to their plotting and scheming.

 

The moral is: Keep sober – and keep your common sense.

 

055_A55

(55) Cây Độc Chết Người 

 

Ngày xưa có một toán buôn

Trưởng đoàn lanh lợi tinh khôn hơn người

Ông đi buôn bán khắp nơi

Vùng này, phương nọ xa xôi quản gì

Đoàn xe do bò kéo đi

Cả năm trăm chiếc thường thì nối đuôi.

Một hôm vào lúc sáng trời

Đoàn xe vừa tới trước nơi rừng già

Mọi người sẽ phải vượt qua

Khu rừng trông vẻ thật là lạ thay

Trưởng đoàn bèn báo động ngay:

“Trước khi mình vượt rừng này chớ quên

Bao nhiêu nguy hiểm kề bên

Hoa, cây, trái lạ chớ nên đụng vào

Nhiều khi độc hại biết bao

Tổ ong cũng độc, ai nào ngờ đâu

Hỏi tôi trước rồi ăn sau

Đề phòng để tránh khổ đau chết người!”

Cả đoàn nghe nói dứt lời

Đồng thanh lên tiếng: “Chúng tôi rõ rồi!”

* Có ngôi làng đã lâu đời

Ở ngay trong khoảng giữa nơi rừng già

Ven làng mọc một cây ra

Thân cây, cành lá, trái hoa bình thường

Giống cây xoài ở địa phương

Sắc mầu, mùi vị trăm đường giống nhau

Nhưng nào có thể ngờ đâu

Cây này rất độc từ lâu giết người

Tưởng xoài ăn chết ngay thôi

Người phương xa tới có đời nào hay.

Vài xe đầu tới nơi đây

Mọi người đói bụng nhìn cây thèm thuồng

Tưởng xoài ngon hái ăn luôn

Không thèm cân nhắc, chẳng buồn nghĩ suy

Nhiều người cẩn thận kể chi

Bao lời cảnh cáo dễ bề quên sao

Họ khôn ngoan nhắc nhở nhau

Chờ ông lãnh đạo! Chớ mau khinh thường!

Khi đoàn trưởng tới giữa rừng

Những người cẩn thận vui mừng hỏi ông:

“Thưa cây này ăn được không

Nhiều người ăn nó vì trông giống xoài

Chúng tôi chờ đợi ông thôi!”

Trưởng đoàn xem xét kỹ rồi nói ngay:

“Cây này trông giống xoài đây

Nhưng mà độc hại dễ gây chết người

Ăn vào chỉ sớm tàn đời

Dù sờ cũng độc, ta thời tránh xa!”

Những người đã chót ăn qua

Nghe xong kinh hoảng rên la cuống cuồng

Trưởng đoàn tìm lá cây rừng

Đưa cho họ bảo hãy dùng để nhai

Nhai xong nuốt vội xuống thôi

Tống ra chất độc trong người khi nôn

Mới mong cái chết thoát luôn

Thoát điều nguy hiểm, qua cơn ngặt nghèo,

Vài người tội biết bao nhiêu

Chỉ vì háu đói ăn nhiều làm sao

Thế là chất độc ngấm vào

Nay thời mất mạng, cứu nào kịp đâu.

* Nơi làng này đã từ lâu

Các cây độc hại giết bao nhiêu người

Đoàn xe xa lạ tới nơi

Ngừng đây tưởng trái xoài thời hái ăn

Đêm về chất độc ngấm dần

Trong khi say ngủ chết luôn chốn này

Người dân làng ở quanh đây

Chỉ chờ có vậy, sáng ngày hôm sau

Tới nơi dọn dẹp cho mau

Kéo chân xác chết vào sâu trong rừng

Rồi chôn kín đáo khắp vùng

Trở ra chiếm đoạt ngại ngùng gì đâu

Lấy bao hàng hóa trước sau

Lấy xe bò nữa. Làm giàu thật nhanh.

Lần này dân chúng ở quanh

Sáng ra vội tới để tranh của rồi

Tưởng như những chuyến khác thôi

Chắc cây đã giết đoàn người đi buôn

Tới nơi họ sững sờ luôn

Thấy đoàn buôn nọ vẫn còn sống nhăn

Lân la họ tới hỏi thăm:

“Tại sao các bạn không ăn trái này?”

Mọi người bèn trả lời ngay:

“Trưởng đoàn báo động tới đây đề phòng,

Và rồi khi tới chính ông

Nhìn quanh xem xét biết không phải xoài!”

Thấy người lãnh đạo thật tài

Dân làng tìm gặp ướm lời dò la

Hỏi sao ông nhận được ra

Đây là cây độc, không là xoài ngon.

Trưởng đoàn lên tiếng giảng luôn:

“Nhìn cây ta phải tinh khôn thấy rằng

Cây này gần sát cạnh làng

Thân cây lại thấp, dễ dàng leo lên

Vậy mà trái vẫn còn nguyên

Dân làng không hái. Tất nhiên lạ kỳ

Chắc là độc hại chứ gì

Mặc dù trông chẳng khác chi trái xoài!”

Mọi người nghe thấy phục tài

Trưởng đoàn thông thái ít ai sánh cùng

Chỉ cần suy luận bình thường

Tránh gây chết chóc đau thương bạo tàn.

Thế là mọi chuyện an toàn

Rời khu rừng rậm cả đoàn ra đi.

 

55) Cây Độc Chết Người:

Trưởng đoàn buôn thông tháitiền thân Đức Phật.

(55) The Whatnot Tree (Prudence) 

 

Once upon a time there was a caravan leader. He went from country to country selling various goods. His caravans usually had at least 500 bullock carts.

 

On one of these trips his path led through a very thick forest. Before entering it, he called together all the members of the caravan. He warned them, “My friends, when you go through this forest be careful to avoid the poisonous trees, poisonous fruits, poisonous leaves, poisonous flowers and even poisonous honeycombs.

 

“Therefore, whatever you have not eaten before – whether a fruit, leaf, flower or anything else – must not be eaten without asking me first.” They all said respectfully, “Yes, sir.”

 

There was a village in the forest. Just outside the village stood a tree called a ‘whatnot tree’. Its trunk, branches, leaves, flowers and fruits look very similar to a mango tree. Even the colour, shape, smell and taste are almost exactly the same as a mango tree. But unlike a mango, the whatnot fruit is a deadly poison!

 

Some went ahead of the caravan and came upon the whatnot tree. They were all hungry, and the whatnot fruits looked like delicious ripe mangoes. Some started eating the fruits immediately, without thinking at all. They devoured them before anyone could say a word.

 

Others remembered the leader’s warning, but they thought this was just a different variety of mango tree. They thought they were lucky to find ripe mangoes right next to a village. So they decided to eat some of the fruits before they were all gone.

 

There were also some who were wiser than the rest. They decided it would be safer to obey the warning of the caravan leader. Although they didn’t know it, he just happened to be the Enlightenment Being.

 

When the leader arrived at the tree, the ones who had been careful and not eaten asked, “Sir, what is this tree? Is it safe to eat these fruits?”

 

After investigating thoughtfully he replied, “No, no. This may look like a mango tree, but it isn’t. It is a poisonous whatnot tree. Don’t even touch it!”

 

The ones who had already eaten the whatnot fruit were terrified. The caravan leader told them to make themselves vomit as soon as possible. They did this, and then were given four sweet foods to eat – raisins, cane sugar paste, sweet yogurt and bee’s honey. In this way their taste buds were refreshed after throwing up the poisonous whatnot fruit.

 

Unfortunately, the greediest and most foolish ones could not be saved. They were the ones who had started eating the poisonous fruits immediately, without thinking at all. It was too late for them. The poison had already started doing its work, and it killed them.

 

In the past, when caravans had come to the whatnot tree, the people had eaten its poisonous fruits and died in their sleep during the night. The next morning the local villagers had come to the campsite. They had grabbed the dead bodies by the legs, dragged them to a secret hiding place, and buried them. Then they had taken for themselves all the merchandise and bullock carts of the caravan.

 

They expected to do the same thing this time. At dawn the next morning the villagers ran towards the whatnot tree. They said to each other, “The bullocks will be mine!” “I want the carts and wagons!” “I will take the loads of merchandise!”

 

But when they got to the whatnot tree they saw that most of the people in the caravan were alive and well. In surprise, they asked them, “How did you know this was not a mango tree?” They answered, “We did not know, but our leader had warned us ahead of time, and when he saw it he knew.”

 

Then the villagers asked the caravan leader, “Oh wise one, how did you know this was not a mango tree?”

 

He replied, “I knew it for two reasons. First, this tree is easy to climb. And second, it is right next to a village. If the fruits on such a tree remain unpicked, they cannot be safe to eat!”

 

Everyone was amazed that such lifesaving wisdom was based on such simple common sense. The caravan continued on its way safely.

 

The moral is: The wise are led by common sense; fools follow only hunger.

 

056_A56

(56) Hoàng Tử Năm Vũ Khí Và Quỷ Lông Dính 

 

Ba La Nại thuở xưa

Vua và hoàng hậu rất ư vui mừng

Vừa sinh hoàng tử đầu lòng

Đã bao ngày tháng cầu mong chuyện này.

Thế rồi sau một ít ngày

Vua mời thầy tướng đến ngay cung vàng

Năm trăm vị đều giỏi giang

Cùng nhau xem tướng cho hoàng tử con

Xem tương lai khi lớn khôn

Có thường tốt đẹp, có luôn an bình.

Nhà vua đặt tên con mình

Dựa lời thầy tướng tài danh chuyến này,

Vua không quên tặng quà ngay

Lắm tiền, nhiều bạc các thầy đều vui.

Các thầy đều phán đẹp lời

Rất là khôn khéo, êm tai vô cùng,

Nhưng rồi tất cả tập trung

Đoán rằng hoàng tử danh lừng tương lai

Sau này đặc biệt có tài

Dùng năm vũ khí ít ai sánh bằng,

Nối ngôi vua, ngự ngai vàng

Chăm lo dân chúng, mở mang nước nhà.

Vua nghe, suy nghĩ, đặt ra

“Ông Hoàng Năm Vũ Khí” là tên con.

Khi chàng mười sáu tuổi tròn

Vua cha quyết định gửi luôn theo thầy

Vào trường học ở xa đây

Vị thầy tiếng nổi, tài hay hàng đầu

Vua khuyên nhủ: “Hãy đi mau

Tới thầy xin học trước sau mọi điều

Nghe lời ta hỡi con yêu

Học bao nghề tốt, học nhiều chuyện hay

Để rồi giúp nước sau này

Tiền đây con hãy biếu thầy tạ ơn!”

Vua đưa hoàng tử tiền luôn

Tiền vàng đủ một ngàn đồng mang theo.

Giã từ cung điện dấu yêu

Chàng hoàng tử trẻ lòng nhiều tự tin

Lên đường tìm đến thầy hiền

Quyết tâm học hỏi cho nên thân mình.

Một vài năm thoáng trôi nhanh

Giờ đây chàng đã nổi danh nhất rồi

Giỏi giang, xuất sắc, tuyệt vời

Đứng đầu mọi thứ học nơi trường thầy,

Thầy mừng ban thưởng cho ngay

Đủ năm vũ khí trong ngày học xong

Biết vua, hoàng hậu chờ mong

Khuyên chàng trở lại hoàng cung tức thì.

* Tuân lời hoàng tử bèn đi

Đường về ngang cánh rừng kia hiểm nghèo

Khách qua đây chết rất nhiều

Có con quỷ dữ rượt theo hại người

Dạ xoa ẩn náu lâu đời

Dân làng cảnh cáo thốt lời khuyên can:

“Này anh bạn trẻ to gan

Băng rừng nguy hiểm vô vàn chớ nên

Dạ xoa sẽ giết anh liền

Quỷ tên Lông Dính thường quen hại mình!”

Trẻ trung, anh dũng, nhiệt tình

Tự tin tài nghệ tập tành bấy lâu

Nên chàng nào có sợ đâu

Đi vào rừng thẳm đối đầu quỷ ngay.

Quỷ cao như một thân cây

Đầu to tựa mái nhà, đầy lông đen

Mắt to như đĩa, quắc lên

Răng nanh nhọn hoắt hai bên mép vàng

Bụng to chấm trắng giăng hàng

Tay chân xanh lét nom càng hãi kinh,

Lông dày mọc khắp thân mình

Quỷ lên tiếng hỏi: “Hỡi thanh niên này

Đi đâu dám bước qua đây

Rừng ta ngự trị bao ngày tháng qua

Thịt thơm, nạp mạng cho ta!”

Nghe xong hoàng tử tỏ ra coi thường

Học nghề xong vừa ra trường

Thêm năm vũ khí còn mang bên mình

Chàng lên tiếng: “Quỷ hôi tanh

Ta nhân qua chốn rừng xanh chuyến này

Loại mi ra khỏi đây ngay

Giúp cho dân chúng từ nay khỏi phiền!”

* Dùng hai vũ khí đầu tiên

Giương cung chàng lắp mũi tên độc vào

Bắn tên ra, quỷ chẳng sao

Bắn năm chục mũi quỷ nào hề chi

Tên đều dính bộ lông kia

Quỷ xoay mình lắc, tên thì rơi ra.

Chàng dùng vũ khí thứ ba

Gươm dài một mũi phóng qua kẻ thù

Gươm liền dính đám lông xù.

Chàng dùng vũ khí thứ tư nhọn đầu

Phóng lao vào quỷ, ngờ đâu

Lao liền bị dính ngay vào lông quăn.

Chàng dùng vũ khí thứ năm

Quả chùy sắt nặng đem quăng đập người

Trúng ai chắc sẽ chết tươi

Nào ngờ chùy cũng dính nơi lông dày.

Quỷ tên Lông Dính đúng thay!

Cả năm vũ khí lông này dính luôn.

Quỷ gầm thét tiếng kinh hồn,

Nhưng chàng bình tĩnh, ôn tồn nói ra:

“Cả năm vũ khí của ta

Đều đem xử dụng vậy mà ích đâu,

Ta còn vũ khí hàng đầu

Đó là sức mạnh từ lâu tiềm tàng

Ẩn trong tuổi trẻ vạn năng

Ta đem nghiền nát mi bằng thân trai!”

Hai tay chàng vội vươn dài

Đấm vào người quỷ. Tay thời dính luôn.

Hai chân chàng đá dập dồn

Hai chân cũng dính vào lông bên ngoài.

Chàng dùng đầu với hai vai

Húc vào người quỷ. Nào ai có ngờ

Đầu chàng bị dính cứng đơ

Vào lông của quỷ dày như cỏ vườn

Thân dù kẹt, trí chẳng sờn.

Quỷ nhìn chàng nghĩ: “Ai hơn kẻ này

Lạ lùng thay, hiếm hoi thay

Nhiều người đã chết trong tay của mình

Riêng chàng can đảm thật tình

Không hề sợ hãi hoảng kinh chút nào”.

“Ngươi không sợ chết hay sao?”

Quỷ lên tiếng hỏi xiết bao ngỡ ngàng

Chưa hề dám đụng đến chàng,

Thản nhiên chàng đáp: “Phải chăng con người

Sinh ra chỉ sống một thời

Và rồi lại sẽ qua đời còn chi

Có sinh có tử lạ gì

Nên ta thấy cái chết kia bình thường!”

Chàng thầm nghĩ: “Chưa cùng đường

Dù năm vũ khí đều không ích gì

Sức trai cũng chẳng lợi chi

Bây giờ ta phải quay về nội tâm

Nhờ vào vũ khí tinh thần

Mới mong hữu hiệu trăm phần mà thôi”

Chàng nhìn quỷ, miệng thốt lời:

“Ta còn tàng chứa trong nơi bụng này

Một môn vũ khí lạ thay

Rất là bí mật lại hay vô cùng

Đó là vũ khí kim cương

Mi mà nuốt phải sẽ vương muộn sầu

Nó không tiêu hóa được đâu

Ruột mi sẽ đứt ra mau tức thì,

Nếu mi nuốt sống ta đi

Thời mi cũng chết, thoát chi tử thần

Cả hai đều chết một lần

Tại sao ta lại phải cần sợ mi?”

Theo như truyền thuyết xưa kia

Chàng hoàng tử muốn nói về trí khôn

Đó là trí tuệ tuyệt luân

Coi như vũ khí trong thân con người.

Quỷ kia nghe chẳng sót lời

Khen thầm: “Can đảm tuyệt vời kể chi

Chàng này không sợ hãi

Chắc chàng nói thật! Thôi thì thả ra!”

Quỷ kia sợ chết, buông tha

Nói cùng hoàng tử: “Bạn là vĩ nhân

Ta tôn trọng bạn vô ngần

Bạn về soi sáng cõi trần khắp nơi!”

Chàng hoàng tử khẽ mỉm cười

Được thêm bài học tuyệt vời hôm nay:

“Bao nhiêu vũ khí đời này

Không bằng vũ khí ở ngay trong mình

Đó là trí tuệ tinh anh”

Tạ ơn, hoàng tử chân thành thốt ra:

“Này Lông Dính, bạn của ta

Bạn trong tiền kiếp xấu xa vô cùng

Nên sinh thành quỷ dữ hung

Nếu mà bạn chẳng chịu dừng lại ngay

Giết người mãi tại rừng này

Chao ơi bạn sẽ đọa đày khổ đau

Cả kiếp này, lẫn kiếp sau

Tái sinh hỏa ngục vạc dầu bỏng sôi

Hay thành súc vật nữa thôi

Hoặc thành ma đói nổi trôi dưới trời,

Nếu mà may mắn thành người

Sống lâu chẳng được, cuộc đời trầm luân!

Hãy rời mây phủ tối tăm

Ra vùng ánh sáng trăng rằm thênh thang.

Tuân ngũ giới! Theo đạo vàng!

Giúp cho bá tánh, vẻ vang bội phần,

Trở thành ra một vị thần

Tốt lành, nhân hậu xa gần mến thương!”

Khi hoàng tử rời khu rừng

Báo cho dân chúng tin mừng! Vui thay!

Dân làng quanh đó từ đây

Hiến thần thực phẩm. Rừng đầy bình an.

Chàng bèn từ biệt dân làng

Về Ba La Nại, cung vàng chờ mong.

Vua cha tới lúc mệnh chung

Truyền cho hoàng tử của ông ngai vàng.

 

56) Hoàng Tử Năm Vũ Khí Và Quỷ Lông Dính:

Hoàng tử Năm Vũ Khí là tiền thân Đức Phật.

(56) Prince Five-Weapons and Sticky-Hair (The Diamond Weapon) 

 

Once upon a time, the Enlightenment Being was born as the son of the King and Queen of Benares. On the day of his naming, 800 fortune tellers were invited to the palace. As presents, they were given whatever they desired to make them happy for the moment. Then they were asked to tell the fortune of the newborn prince. This was so they could find a good name for him.

 

One of the fortune tellers was an expert in reading the marks on the body. He said, “My lord, this is a being of great merit. He will be king after you.”

 

The fortune tellers were very clever. They told the king and queen whatever they wanted to hear. They said, “Your son will be skilled in five weapons. He will become famous as the greatest master of all five weapons throughout India.” Based on this, the king and queen named their son ‘Prince Five-Weapons’.

 

When the prince turned 16, the king decided to send him to college. He said, “Go, my son, to the city of Takkasila. There you will find a world famous teacher. Learn all you can from him. Give him this money as payment.” He gave him a thousand gold coins and sent him on his way.

 

The prince went to the world famous teacher of Takkasila. He studied very hard and became his best pupil. When the teacher had taught him all he knew, he gave the prince a special graduation award. He gave him five weapons. Then he sent him back to Benares.

 

On his way home he came to a forest which was haunted by a monster. The local people warned Prince Five-Weapons, “Young man, don’t go through the forest. There is a monstrous demon called Sticky-Hair living there. He kills everyone he sees!”

 

But the prince was self-confident and fearless like a young lion. So he pushed on into the forest, until he came to the dreadful monster. He was as tall as a tree, with a head as big as the roof of a house and eyes as big as dishes. He had two big yellow tusks sticking out of his gaping white mouth filled with ugly brown teeth. He had a huge belly covered with white spots, and his hands and feet were blue.

 

The monster roared and growled at the prince, “Where are you going in my forest, little man? You look like a tasty morsel to me. I’m going to gobble you up!”

 

The prince had just graduated from college and had won the highest award from his teacher. So he thought he knew just about everything, and that he could do just about anything. He replied, “Oh fierce demon, I am Prince Five-Weapons, and I have come on purpose to find you. I dare you to attack me! I will kill you easily with my first two weapons – my bow and poison-tipped arrows.”

 

Then he put a poison arrow in his bow and shot it straight at the monster. But the arrow just stuck fast to his hair, like glue, without hurting him at all. Then the prince shot, one after another, all the rest of his 50 poison-tipped arrows. But they also stuck fast to the hair of the one called Sticky-Hair.

 

Then the beast shook his body, from ugly rooftop-sized head to blue coloured feet. And all the arrows fell harmlessly to the ground.

 

Prince Five-Weapons drew his third weapon, a 33-inch-long sword. He plunged it into his enemy. But it just stuck fast in the thick coat of sticky hair. He threw his fourth weapon, his spear, at the monster. But this too just stuck to his hair.

 

Next he attacked with the last of his five weapons, his club. This also stuck fast onto Sticky-Hair.

 

Then the prince yelled at him, “Hey you, monster – haven’t you ever heard of me, Prince Five-Weapons? I have more than just my five weapons. I have the strength of my young man’s body. I will break you in pieces!”

 

He hit Sticky-Hair with his right fist, just like a boxer. But his hand just stuck to the hairy coat, and he couldn’t remove it. He hit him with his left fist, but this too just stuck fast to the gooey mess of hair. He kicked him with his right foot and then his left, just like a martial arts master. But they both stuck onto him like his fists. Finally he butted him as hard as he could with his head, just like a wrestler. But, lo and behold, his head got stuck as well.

 

Even while sticking to the hairy monster in five places, hanging down from his coat, the prince had no fear.

 

Sticky-Hair thought, “This is very strange indeed. He is more like a lion than a man. Even while in the grasp of a ferocious monster like me, he does not tremble with fear. In all the time I’ve been killing people in this forest, I’ve never met anyone as great as this prince. Why isn’t he afraid of me?”

 

Since Prince Five-Weapons was not like ordinary men, Sticky-Hair was afraid to eat him right away. Instead he asked him, “Young man, why aren’t you afraid of death?”

 

The prince replied, “Why should I be afraid of death? There is no doubt that anyone who is born will definitely die!”

 

Then the Enlightenment Being thought, “The five weapons given to me by the world famous teacher have been useless. Even the lion-like strength of my young man’s body has been useless. I must go beyond my teacher, beyond my body, to the weapon inside my mind – the only weapon I need.”

 

The prince continued speaking to Sticky-Hair, “There’s one small detail, oh monstrous one, I haven’t told you about yet. In my belly is my secret weapon, a diamond weapon you cannot digest. It will cut your intestines into pieces if you are foolish enough to swallow me. So if I die – you die! That’s why I’m not afraid of you.”

 

In this way the prince used his greatest inner strength in a way Sticky-Hair could easily understand. He knew this greatest of all weapons, the one inside his mind, was the precious diamond gem of his own intelligence.

 

Sticky-Hair thought, “No doubt this fearless man is telling the truth. Even if I eat as much as a pea-sized tidbit of such a hero, I won’t be able to digest it. So I will let him go.” Fearing his own death, he set Prince Five-Weapons free.

 

He said, “You are a great man. I will not eat your flesh. I let you go free, just like the moon that reappears after an eclipse, so you may shine pleasantly on all your friends and relatives.”

 

The Enlightenment Being had learned from his battle with the monster Sticky-Hair. He had learned the only worthwhile weapon is the intelligence inside, not the weapons of the world outside. And with this diamond weapon he also knew that destroying life brings only suffering to the killer.

 

In gratitude, he taught the unfortunate demon. He said, “Oh Sticky-Hair, you have been born as a murderous blood sucking flesh eating demon because of unwholesome deeds in your past. If you continue killing in this way, it will lead only to suffering for you – both in this life and beyond. You can only go from darkness to darkness.

 

“Now that you have spared me, you won’t be able to kill so easily. Hear this – destroying life leads to misery in this world, and then rebirth in a hell world, or as an animal or a hungry ghost. Even if you were lucky enough to be reborn as a human being, you would have only a short life!”

 

Prince Five-Weapons continued to teach Sticky-Hair. Eventually the monster agreed to follow the Five Training Steps. In his way he transformed him from a monster into a friendly forest fairy. And when he left the forest, the prince told the local people about the change in the one-time demon. From then on they fed him regularly and lived in peace.

 

Prince Five-Weapons returned to Benares. Later he became king. Finally he died and was reborn as he deserved.

 

The moral is: The only weapon you need is hidden inside you.

 



____________________

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2640)
08 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2809)
03 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 2453)
30 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2375)
28 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2321)
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2294)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2777)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2356)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2440)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2360)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2398)
27 Tháng Mười 2020(Xem: 2358)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 2280)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 2145)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 2130)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 3604)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 1054736)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 3856)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 3588)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 3339)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 3182)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 2557)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 2689)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 2143)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 2271)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 2447)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 2847)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 2067)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 2267)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 2503)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 2170)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 3036)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 2930)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 3724)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5505)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 7187)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 3187)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 3146)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 2875)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 2777)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 8538)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 2440)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 2587)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 5495)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 4588)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng