Thiền Niệm Hơi Thở - Mindfulness Of Breathing

22 Tháng Chín 20178:39 CH(Xem: 2502)
Thiền Niệm Hơi Thở - Mindfulness Of Breathing

Meditation_1A



Thiền Niệm Hơi Thở (Trích từ quyển "Biết Và Thấy")
Mindfulness Of Breathing (Excerpt from book "Knowing And Seeing")
Pa-Auk Tawya Sayadaw - Dịch giả: Pháp Thông
Source-Nguồn: dhammatalks.net, thuvienhoasen.org

__________________



Thiền Niệm Hơi Thở 

 
...

Tu tập Niệm hơi thở đã được đức Phật dạy trong Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna) như sau:

 

"Này các Tỳ khưu, trong giáo pháp này, vị Tỳ khưu sau khi đã đi vào khu rừng, hoặc đến một gốc cây, hay căn nhà trống, ngồi kiết già, giữ lưng thật thẳng và thiết lập niệm trên đối tượng thiền (đặt niệm vào đề mục). Chánh niệm vị ấy thở vào, chánh niệm vị ấy thở ra.

 

1. Thở vào một hơi thở dài, vị ấy biết "Ta đang thở vào một hơi thở dài"; hoặc thở ra một hơi thở dài, vị ấy biết "Ta đang thở ra một hơi thở dài."

 

2. Thở vào một hơi thở ngắn, vị ấy biết "Ta đang thở vào một hơi thở ngắn", hoặc thở ra một hơi thở ngắn, vị ấy biết "Ta đang thở ra một hơi thở ngắn".

 

3. "Cảm giác toàn thân hơi thở, ta sẽ thở vào", vị ấy tập như vậy; và "cảm giác toàn thân hơi thở ta sẽ thở ra", vị ấy tập như vậy.

 

4. "An tịnh thân hơi thở, ta sẽ thở vào", vị ấy tập như vậy, và "an tịnh thân hơi thở, ta sẽ thở ra", vị ấy tập như vậy.

 

Bắt đầu hành thiền, ngồi trong một tư thế thoải máicố gắng ý thứchơi thở khi nó đi vào và đi ra khỏi thân qua lỗ mũi. Hành giả có thể cảm nhận được hơi thở này ở ngay dưới mũi hoặc một chỗ nào đó quanh lỗ mũi. Không nên theo dõi hơi thở đi vào trong thân hoặc đi ra khỏi thân, vì làm vậy hành giả sẽ không thể hoàn thiện đựơc định của mình. Chỉ cần ý thức rõ về hơi thở ở chỗ nó chạm vào hay tiếp xúc dễ nhận ra nhất, hoặc ở môi trên hoặc quanh lỗ mũi. Như vậy hành giả mới có thể tu tậphoàn thiện được định của mình.

 

Không nên chú ý đến những đặc tính riêng (sabhāva lakkhana) đặc tính chung (sammañña lakkhana) hoặc màu sắc củanimitta (tướng của định - sign of concentration). Các đặc tính riêng là những đặc tính của tứ đại trong hơi thở như cứng, thô, lưu chuyển, nhiệt, hỗ trợ, đẩy v.v... Các đặc tính chung là vô thường, khổ và vô ngã của hơi thở. Điều này có nghĩa là hành giả không nên ghi nhận "vô - ra - vô thường", hoặc "vô - ra - khổ", hoặc "vô - ra - vô ngã", mà chỉ cần ý thức hay biết rõ hơi thở vô - ra như một khái niệm

 

Khái niệm về hơi thở là đối tượng của thiền niệm hơi thở (ānāpānasati). Chính đối tượng này là cái hành phải tập trung vào để phát triển định. Khi hành giả tập trung vào khái niệm hơi thở theo cách này, và nếu hành giả đã từng hành thiền hơi thở trong kiếp trước cũng như đã phát triển được một số ba-la-mật (pāramī), hành giả sẽ dễ dàng tập trung vào hơi thở vô - ra hơn.

 

Bằng không, Visuddhi-magga khuyên nên đếm hơi thở. Hành giả nên đếm sau cuối của mỗi hơi thở như:"vô-ra Một, vô-ra Hai" v.v..

 

Đếm ít nhất cũng phải tới năm, nhưng không quá mười. Ở đây chúng tôi khuyên nên đếm đến tám thôi, vì con số đó nhắc hành giả nhớ tới Bát Thánh Đạocon đường hành giả đang cố gắng tu tập. Vì thế, nếu thích, hành giả nên đếm đến bất kỳ số nào giữa năm và mười, đồng thời quyết định rằng trong thời gian ấy hành giả sẽ không để cho tâm trôi lang thang, hoặc đi đến một nơi khác, mà chỉ có ý thức về hơi thở một cách lặng lẽ mà thôi. Khi đếm như vậy, hành giả thấy rằng mình có thể tập trung tâm lại và làm cho nó ý thức lặng lẽ duy nhất về hơi thở thôi.

 

Sau khi đã tập trung tâm như vậy trong ít nhất nửa giờ, hành giả nên tiếp tục chuyển sang giai đoạn thứ nhất và thứ hai của thiền:

 

(1) Thở vào một hơi dài, vị ấy biết "Ta đang thở vào một hơi dài"; hoặc thở ra một hơi dài, vị ấy biết "Ta đang thở ra một hơi dài".

 

(2) Thở vào một hơi ngắn, vị ấy biết "Ta đang thở vào một hơi ngắn"; hoặc thở ra một hơi ngắn, vị ấy biết "Ta đang thở ra một hơi ngắn".

 

Ở giai đoạn này, hành giả phải tu tập ý thức tỉnh giác về hơi thở vô-ra hoặc là dài hay ngắn. "Dài", "ngắn" ở đây không nói đến chiều dài thước tấc, mà muốn nói chiều dài thời gian, tức một khoảng thời gian. Hành giả phải tự mình xác định thời gian dài bao lâu thì gọi là "dài", và thời gian bao lâu thì gọi là "ngắn". Hãy ý thứcthời gian của mỗi hơi thở vô-ra. Hành giả sẽ để ý thấy rằng hơi thở có lúc dài, có lúc ngắn. Ở giai đoạn này, tất cả những gì hành giả phải làm chỉ là biết rõ như vậy. Không nên ghi nhận "vô-ra dài, vô-ra ngắn", chỉ "vô-ra" và ý thức rõ những hơi thở ấy hoặc dài hoặc ngắn vậy thôi. Hành giả nên biết điều này bằng cách chỉ ý thức rõ độ dài thời gianhơi thở chạm vào và tiếp xúc môi trên, hoặc quanh lỗ mũi, khi nó đi vào và đi ra khỏi thân. Đôi khi hơi thở có thể dài suốt thời ngồi thiền, hoặc có khi ngắn, nhưng quan trọng là không nên cố gắng làm cho nó dài hoặc ngắn có chủ tâm.

 

Ở giai đoạn này nimitta (tướng của định) có thể xuất hiện, nhưng nếu hành giả có thể thực hành như vậy một cách lặng lẽ trong khoảng một hay hai giờ mà "nimitta" không xuất hiện, hành giả nên chuyển sang giai đoạn ba:

 

(3) "Cảm giác toàn thân hơi thở, ta sẽ thở vào, vị ấy tập như vậy, và "cảm giác toàn thân hơi thở, ta sẽ thở ra", vị ấy tập như vậy.

 

Ở đây đức Phật đang hướng dẫn hành giả tập ý thức trọn vẹn hơi thở từ đầu đến cuối. Khi hành theo cách này tướng (nimitta) có thể xuất hiện. Nếu tướng xuất hiện, không nên chuyển tâm sang tướng liền, mà phải trú với hơi thở.

 

Nếu hành giả lặng lẽ ý thức về hơi thở từ đầu cho đến cuối trong khoảng một giờ, mà tướng không xuất hiện, nên chuyển sang giai đoạn bốn.

 

(4) "An tịnh thân hơi thở ta sẽ thở vào", vị ấy tập như vậy và "An tịnh thân hơi thở, ta sẽ thở ra", vị ấy tập như vậy.

 

Muốn làm được điều này, hành giả phải quyết định làm cho hơi thở an tịnh, và duy trì sự tỉnh giác hay ý thức liên tục về hơi thở từ đầu đến cuối.. Hành giả không nên làm điều gì khác, nếu không định của hành giả sẽ gián đoạn và mất đi.

 

Thanh Tịnh Đạo nêu ra bốn yếu tố làm cho hơi thở an tịnh:

 

1. Quan tâm (ābhoga),

2. Phản ứng (samannā āhāra),

3. Tác ý (manasikāra),

4. Phản khán (paccavekkhaṇa),

 

giải thích với một ví dụ:

 

"Giả sử một người đứng yên lại sau khi chạy hoặc đứng yên lại sau khi từ trên đồi đi xuống, hoặc đặt một vật nặng đội trên đầu xuống; lúc ấy hơi thở vô và hơi thở ra của người ấy rất thô, mũi anh ta không đủ (để thở), do đó anh ta phải tiếp tục thở vô và ra bằng miệng. Nhưng khi anh ta đã làm cho hết mệt, đã tắm rửa, uống nước và đắp một miếng vải ướt lên ngực, rồi nằm xuống trong bóng mát, lúc đó hơi thở vô và hơi thở ra của anh ta cuối cùng xuất hiện vi tế đến nỗi anh ta phải kiểm tra xem mình có hơi thở hay không."

 

Cũng vậy, Thanh Tịnh Đạo nói tiếp, hơi thở vô ra của hành giả lúc đầu là thô, càng lúc càng trở nên vi tế, sau đó hành giả phải kiểm tra xem chúng có hay không.

 

Để giải thích thêm lý do tại sao hành giả cần phải kiểm tra các hơi thở vô-ra, Thanh Tịnh Đạo nói:

 

"Vì trước đó, lúc hành giả chưa phân biệt (hơi thở vô-ra) thì không có sự quan tâm nơi hành giả, không có phản ứng, không có tác ý, không có phản khán, với ý nghĩa rằng (vị ấy biết) "Ta đang tịnh hóa dần dần các thân hành thô (hơi thở vô và ra)". Nhưng một khi vị ấy đã phân biệt (hơi thở vô-ra) thì có (sự quan tâm). Vì vậy mà vào lúc vị ấy đã phân biệt thì thân hành (hơi thở vô-ra) của vị ấy là vi tế so với thân hành lúc không (phân biệt).

 

1. Quan tâm (abhoga): Sự chú ý đầu tiên đến hơi thở, hiểu rõ hơi thở, hướng tâm đến hơi thở, với ý nghĩa "Ta sẽ cố gắng làm cho hơi thở an tịnh".

 

2. Phản ứng (samannāhārā): Hành giả tiếp tục làm như vậy, tức là hành giả chú tâm chặt chẽ vào hơi thở theo cách đó, lập đi lập lại nhiều lần, duy trì hơi thở trong tâm, với nghĩa "Ta sẽ cố gắng làm cho hơi thở an tịnh".

 

3. Tác ý (mānāsikāra): Nghĩa đen "quyết định làm cho hơi thở an tịnh". Tác ý ở đây là tâm sở làm cho tâm hướng về đối tượng. Tác ý làm cho tâm ý thức và biết rõ về hơi thở.

 

4. Phản khán (paccavekkhaṇa): hành giả duyệt xét lại (vīmaṁsa đồng nghĩa với Paccavekkhaṇa, và là một từ được dùng trong luận của phụ chú giải) hơi thở, làm cho nó rõ rệt trong tâm, với nghĩa "Ta sẽ cố gắng làm cho hơi thở an tịnh".

 

Vì vậy, tất cả những gì hành giả cần phải làm ở giai đoạn này là quyết định làm cho an tịnh hơi thở, và có sư tỉnh giác liên tục đối với nó. Theo cách đó, hành giả sẽ thấy hơi thở trở nên an tịnh hơn, và tướng (nimitta) có thể xuất hiệh.

 

Ngay trước khi nimitta xuất hiện, đa số hành giả gặp phải những khó khăn. Hầu hết họ thấy rằng hơi thở trở nên rất vi tế và không rõ rệt, rồi có thể nghĩ hơi thở đã dừng lại. Nếu điều này xảy ra, hành giả phải duy trì sự tỉnh giác hay cái biết của mình chỗ mà hành giả ghi nhận được hơi thở lần cuối cùng, và chờ nó ở đó.

 

Chỉ có bảy loại người không có hơi thở là: người chết, thai nhi trong bào thai, người đang chìm dưới nước, người bất tỉnh, người đang nhập tứ thiền, người đang nhập thiền diệt (nirodha samāpatti) (Thiền diệt là thiền chứng mà tâm, tâm sở và các sắc do tâm tạo đều dừng lại) và một vị Phạm thiên. Suy theo đó thì hành giả không phải là một trong bảy loại người này, mà hành giả thực sự đang thở, chỉ vì niệm của hành giả không đủ mạnh để ý thức rõ nó mà thôi.

 

Khi hơi thở vi tế, hành giả không nên làm cho nó hiển hiện rõ hơn, vì sự cố gắng như vậy sẽ tạo ra trạo cử, và định tâm của hành giả không phát triển. Chỉ cần ý thứchơi thở như nó thực sự là, nếu nó không rõ, chỉ việc chờ ở nơi lần cuối cùng hành giả ghi nhận được nó. hành giả sẽ thấy rằng, khi áp dụng niệm và tuệ theo cách này, hơi thở sẽ tái hiện trở lại

 

Nimitta (Tướng hay Ấn chứng)

 

Nimitta hay tướng của niệm hơi thở khác nhau tùy theo mỗi người. Đối với một số ít người, nimitta trong sạchtinh tế như bông gòn, hoặc sợ bông được kéo dài ra, hay như gió chuyển động hoặc gió lùa, cũng có thể là một thứ ánh sáng rực rỡ như sao Mai, một viên hồng ngọc chiếu sáng, hoặc một viên ngọc trai chiếu sáng. Đối với những người khác thì nó lại giống như thân cây bông, hoặc một cọc gỗ nhọn. Đối với những người khác nữa, nó giống như một sợi dây hay sợi chỉ dài, một vòng hoa, một luồng khói, một mạng nhện, một màn sương mù, một đoá sen, một bánh xe, mặt trăng hay mặt trời v.v...

 

Trong hầu hết các trường hợp, một nimitta thuần trắng như bông gòn là "học tướng" (uggaha nimitta) và thường không được rõ hay chỉ mờ mờ. Khi nimitta trở nên sáng chói giống như sao mai, rực rỡrõ ràng đó là tợ tướng (paṭibhāga nimitta). Cũng vậy, khi nimitta giống như viên hồng ngọc hay viên ngọc mờ mờ thì là học tướng (uggaha nimitta), còn khi chói sáng và lấp lánh là tợ tướng. Đối với các hình ảnh khác cũng cần phải hiểu theo cách này.

 

Vì thế, mặc dù niệm hơi thở (ānāpānasati) là một đề tài thiền độc nhất, nó vẫn tạo ra các loại tướng khác nhau, tức là nimitta xuất hiện hoàn toàn khác đối với mỗi người thực hành.

 

Thanh Tịnh Đạo giải thích rằng sở dĩ có điều này là vì tướng (nimitta) đựơc tạo ra bởi tưởng. Và chú giải của bộ Thanh Tịnh Đạo giải thích rằng đó chính là các tưởng sai biệt mà những hành giả khác nhau này đã có trước khi nimitta khởi lên.

 

Như vậy, các tướng khác nhau là do tưởng. Nhưng tưởng thì lại không khởi lên một mình. Nó là một tâm hành (mental formation) luôn luôn khởi lên cùng với tâm và các tâm hành khác; các tâm hành kết hợp với tâm này được gọi là các tâm sở (cetasika). Vì thế, nếu một hành giả tập trung vào tướng hơi thở (ānāpāna nimitta) với tâm hân hoan chẳng hạn, các tâm sở không chỉ có một mình tưởng, mà có tất cả ba mươi bốn, như xúc, tư, nhất tâm, tác ý, tầm, tứ, thắng giải, tinh tấn, và dục; không chỉ tưởng khác, mà các tâm sở khác cũng khác nữa.

 

Thực vậy, điều này đã được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo, phần nói về phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền (neva saññā nasaññāyatana jhāna), thiền vô sắc thứ tư.

 

Trong phần này, Thanh Tịnh Đạo giải thích rằng "tưởng" trong thiền đó rất vi tế, đó là lý do tại sao chúng ta gọi nó là thiền chứng phi tưởng, phi phi tưởng. Tuy nhiên không chỉ có tưởng ấy là vi tế. Các thọ, tâm, xúc và tất cả tâm hành khác cũng rất vi tế. Như vậy, Thanh Tịnh Đạo tiếp, trong thiền chứng phi tưởng phi phi tưởng cũng có phi thọ phi phi thọ, phi tâm phi phi tâm, phi xúc phi phi xúc v.v...(VS. X. "Nevasaññā nāsaññāyatana kathā" B 287 (Neither Perception Nor Non-Perception Base Explanation)

 

Vì vậy, khi các bản chú giải nói các tướng là khác nhau do tưởng, các bộ Luận ấy chỉ giải thích tướng hơi thở (ānāpānanimitta) trên quan điểm độc nhất về tưởng hay dưới dạng tưởng (saññāsīsa), và dùng tưởng như ví dụ của luận mà thôi.

 

Song, dù hình dáng hay mầu sắc của tướng (nimitta) của hành giả là thế nào, dù cho tưởng của hành giả về hơi thở vô-ra là thế nào, điều quan trọng là không nên đùa với tướng của mình. Không nên để cho tướng mất đi, cũng không cố ý thay đổi hình dạng và sự xuất hiện của nó. Nếu không, định của hành giả sẽ không phát triển thêm được nữa, và sự tiến bộ của hành giả cũng sẽ dừng lại. Tướng của hành giả có thể sẽ biến mất. Do đó, khi tướng của hành giả lần đầu tiên xuất hiện, không được chuyển tâm (của hành giả) từ hơi thở sang tướng. Nếu làm vậy, hành giả sẽ thấy nó biến mất.

 

Khi hành giả thấy rằng tướng đã ổn định, và tâm của hành giả tự nó gắn chặt được vào đó, lúc ấy hãy để tâm ở đó. Nếu hành giả ép tâm mình rời khỏi tướng, có thể hành giả sẽ mất định. Nếu tướng xuất hiện ở xa phía trước hành giả, hãy phớt lờ nó, vì tướng ấy có thể sẽ biến mất. Nếu hành giả phớt lờ nó, và chỉ tập trung vào hơi thở chỗ nó tiếp chạm (môi trên, hay quanh lỗ mũi), tướng sẽ đến và trú ở đó.

 

Trường hợp tướng của hành giả xuất hiện tại chỗ hơi thở tiếp chạm, là ổn định, và xuất hiện như chính nó là hơi thở, và hơi thở như là tướng, lúc ấy hãy quên đi hơi thở, và chỉ ý thức rõ tướng ấy. Nhớ chuyển tâm từ hơi thở sang tướng, hành giả có thể sẽ đạt đựơc tiến bộ thêm. Khi hành giả duy trì tâm trên tướng, tướng sẽ trở nên càng lúc càng trắng hơn, và khi nó trắng giống như bông gòn, thì đó là học tướng (uggaha nimitta).

 

Hành giả nên quyết định giữ cho tâm an định trên học tướng trắng ấy trong một, hai, ba giờ, hoặc hơn nữa. Nếu hành giả có thể giữ tâm gắn chặt trên học tướng trong một hoặc hai giờ, học tướng ấy sẽ trở nên rõ rệt, trong sángrực rỡ hơn. Đây là tợ tướng (Pāṭibhāga nimitta). Cũng như trước, hành giả quyết định giữ cho tâm dán trên tợ tướng trong một, hai, hoặc ba giờ. Thực hành cho đến khi thành công.

 

Ở giai đoạn này hành giả sẽ đạt đến hoặc là cận định (upacāra) hoặc là an chỉ (appanā) định. Sở dĩ gọi là cận định vì nó gần với và đi trước bậc thiền (jhāna). An chỉ định là bậc thiền.

 

Cả hai loại định này đều có cùng đối tượng là tợ tướng. Khác nhau duy nhất giữa chúng là trong cận định các thiền chi chưa được phát triển đầy đủ. Vì lý do này các tâm hữu phần (bhāvaṅga) vẫn khởi lên, và hành giả có thể rơi trở lại hữu phần hay dòng tâm duy trì kiếp sống này (bhavaṅga = life continuum consciousness). Khi rơi vào hữu phần, có thể hành giả sẽ cho rằng mọi thứ đều dừng lại, thậm chí còn nghĩ đó là Niết-bàn. Trong thực tế tâm không dừng lại, mà chỉ do hành giả không đủ thiện xảo để phân biệt điều này, vì tâm hữu phần rất là vi tế.
...

Mindfulness Of Breathing 

 
...

The development of ān•āpāna•sati (mindfulness-of-breathing) is taught by The Buddha in the ‘Mahā•Sati•Paiihāna’. He begins:

 

And how then, bhikkhus, does a bhikkhu abide contemplating the body as a body?

Here, bhikkhus, a bhikkhu (gone to the forest, or gone to the foot of a tree, or gone to a secluded place) sits down, having crossed his legs, set his body straight, having mindfulness established before him [established upon his meditation subject].

 

Then The Buddha explains mindfulness-of-breathing (ān•āpāna•sati):

 

•       He mindfully breathes in; mindfully breathes out.

•       Breathing in long, he understands: ‘I breathe in long;’

•       breathing out long, he understands: ‘I breathe out long.’

•       Breathing in short, he understands: ‘I breathe in short;’

•       breathing out short, he understands: ‘I breathe out short.’

•       ‘Experiencing the whole [breath] body, I shall breathe in’: thus he trains;

•       ‘experiencing the whole [breath] body, I shall breathe out’: thus he trains.

•       ‘Tranquillizing the body-formation, I shall breathe in’: thus he trains;

•       ‘tranquillizing the body-formation, I shall breathe out’: thus he trains.

 

To begin meditating, sit in a comfortable position and try to be aware of the breath as it enters and leaves the body through the nostrils. You should be able to feel it either just below the nose or somewhere around the nostrils: that is called the touching-point. Do not follow the breath into the body or out of the body, because then you will not be able to per- fect your concentration. Just be aware of the breath at the most obvious place it brushes against or touches, either the top of the upper lip or around the nostrils. Then you will be able to develop and perfect your concentration.

 

Do not pay attention to the natural characteristics (sabhāva•lakkhaca), gen- eral characteristics (sammañña•lakkhaca), or colour of the nimitta (sign of concentration). The natural characteristics are the characteristics of the four elements in the breath: hardness, roughness, flowing, heat, support- ing, pushing, etc. The general characteristics are the impermanent (anicca), suffering (dukkha), and non-self (an•atta) characteristics of the breath. This means, do not note ‘in-out-impermanent’, or ‘in-out-suffering’, or ‘in- out-non-self’. Simply be aware of the in&out breath as a concept.

 

The concept of the breath is the object of ān•āpāna•sati. It is this object you must concentrate on to develop concentration. As you concentrate on the concept of the breath in this way, and if you practised this meditation in a previous life, and developed some pāramī, you will easily be able to concentrate on the in&out breath.

 

If not, the Visuddhi•Magga suggests counting the breaths. You should count after the end of each breath: ‘In-out-one, in-out-two,’ etc.

 

Count up to at least five, but to no more than ten. We suggest you count to eight, because that reminds you of the Noble Eightfold Path, which you are trying to develop. So you should count, as you like, up to any number between five and ten, and determine that during that time you will not let your mind drift, or go elsewhere, but be only calmly aware of the breath. When you count like this, you find that you are able to con- centrate your mind, and make it calmly aware of only the breath.

 

After concentrating your mind like this for at least half an hour, you should proceed to the first and second stage of the meditation:

 

[1]    Breathing in long, he understands: ‘I breathe in long (dīghan assasāmi);’ breathing out long, he understands: ‘I breathe out long (dīghan passasāmi).’

 

[2]    Breathing in short, he understands: ‘I breathe in short (rassan assasāmi);’ breathing out short, he understands: ‘I breathe out short (rassan passasāmi).’

 

At this stage, you have to develop awareness of whether the in&out breaths are long or short. ‘Long’ or ‘short’ here do not refer to length in feet and inches, but length in time, the duration. You should decide for yourself what length of time you will call ‘long’, and what length of time you will call ‘short’. Be aware of the duration of each in&out breath. You will notice that the breath is sometimes long in time, and sometimes short. Just knowing this is all you have to do at this stage. Do not note, ‘In-out-long, In-out-short’, just ‘In-out’, and be aware of whether the breaths are long or short. You should know this by being just aware of the length of time that the breath brushes against and touches the upper lip, or around the nostrils, as it enters and leaves the body. Sometimes the breath may be long throughout the sitting, and sometimes short, but do not pur- posely try to make it long or short.

 

At this stage the nimitta may appear, but if you are able to do this calm- ly for about one hour, and no nimitta appears, you should move on to the third stage;

 

[3]    ‘Experiencing the whole [breath] body (sabba•kāya•paiisanvedī), I shall breathe in (assasissāmi):’ thus he trains.

‘Experiencing the whole [breath] body (sabba•kāya•paiisanvedī), I shall breathe out (passasissāmī):’ thus he trains.

 

Here The Buddha is instructing you to be aware of the whole breath from beginning to end. As you do this the nimitta may now appear. If it does, do not immediately shift your mind to it, but stay with the breath.

 

If you are calmly aware of the breath from beginning to end for about an hour, and no nimitta appears, you should move on to the fourth stage:

 

[4]    ‘Tranquillizing the body-formation (passambhayan kāya•sankhāran), I shall breathe in (assasissāmi)’: thus he trains.

‘Tranquillizing the body-formation (passambhayan kāya•sankhāran), I shall breathe out (passasissāmi)’: thus he trains.

 

To do this, you should decide to make the breath tranquil, and go on be- ing continuously aware of the breath from beginning to end. You should do nothing else, otherwise your concentration will break and fall away.

 

The Visuddhi•Magga gives four factors for making the breath tran-quil:

 

1)   Concern . . . . .  (ābhoga)

2)   Reaction . . . . .   (samannāhāra)

3)   Attention . . . . .  (manasikāra)

4)   Reviewing . . . . .  (paccavekkhaca)

 

And they are explained first with a simile:

 

Suppose a man stands still after running or after descending from a hill, or putting down a load from his head; then his in-breaths and out-breaths are gross, his nostrils become inade- quate, and he keeps on breathing in and out through his mouth. But when he has rid himself of his fatigue and has bathed and drunk and put a wet cloth on his chest, and is lying in the cool shade, then his in-breaths and out-breaths eventually occur so subtly that he has to investigate whether they exist or not.

 

Likewise, says the Visuddhi•Magga, the bhikkhu’s in&out-breaths are gross to begin with, become increasingly subtle, after which he has to investi- gate whether they exist or not.

 

To further explain why the bhikkhu needs to investigate the in&out- breaths, the Visuddhi•Magga says:

 

Because previously, at the time when the yogi had not yet discerned the [in&out breath] there was no concern in him, no reaction, no attention, no reviewing, to the effect that [he knew]: ‘I am progressively tranquillizing each grosser bodily formation [the in&out breath].’ But once he has discerned [the in&out breath], there is. So his bodily formation [the in&out breath] at the time when he has discerned [it] is subtle in comparison with what it was at the time when he had not [discerned it].

 

1)     Concern (ābhoga): you pay initial attention to the breath, you appre- hend the breath, you advert the mind towards the breath, to the ef- fect: ‘I will try to make the breath tranquil.’

 

2)     Reaction (samannāhāra): you continue to do so, i.e. you pay sustained attention to the breath that way, do it again and again, keep the breath in the mind, to the effect: ‘I will try to make the breath tran- quil.’

 

3)     Attention (manasikāra): literally ‘deciding to make the breath tranquil’. Attention is the mental factor that makes the mind advert towards the object. Attention makes the mind conscious of the breath and know the breath.

 

4)     Reviewing (paccavekkhaca): you review (vīmansa) the breath, make it clear to the mind, to the effect: ‘I will try to make the breath tran- quil.’

 

So all you need to do at this stage is to decide to tranquil the breath, and to be continuously aware of it. That way, you will find the breath be- comes more tranquil, and the nimitta may appear.

 

Just before the nimitta appears, a lot of yogis encounter difficulties. Mostly they find that the breath becomes very subtle and unclear; they may think the breath has stopped. If this happens, you should keep your awareness where you last noticed the breath, and wait for it there.

 

A dead person, a foetus in the womb, a drowned person, an unconscious person, a person in the fourth jhāna, a person in the attainment of cessa- tion (nirodha•samāpatti), and a brahmā: only these seven types of person do not breathe. Reflect on the fact that you are not one of them, that you are in reality breathing, and that it is just your mindfulness which is not strong enough for you to be aware of the breath.

 

When it is subtle, you should not make the breath more obvious, as the effort will cause agitation, and your concentration will not develop. Just be aware of the breath as it is, and if it is not clear, simply wait for it where you last noticed it. You will find that, as you apply your mindful- ness and wisdom in this way, the breath will reappear.

 

THE NIMITTA

 

For some yogis, there is first light before the nimitta appears, for others, the nimitta appears directly. They are not the same thing. They are differ- ent just as the sun is different from sunlight.

 

The nimitta of ān•āpāna•sati varies according to the individual yogi. To some the nimitta is pure and fine like cotton wool, or drawn out cotton, moving air or a draught, a bright light like the morning star Venus, a bright ruby or gem, or a bright pearl. To others it is like the stem of a cot- ton plant, or a sharpened piece of wood. To yet others it is like a long rope or string, a wreath of flowers, a puff of smoke, a stretched out cob- web, a film of mist, a lotus, a chariot wheel, a moon, or a sun.

 

In most cases, a pure white nimitta like cotton wool is the uggaha-nimi- tta (taken-up sign or learning sign), and is usually dull and opaque. When the nimitta becomes bright like the morning star, brilliant and clear, it is the paiibhāga-nimitta (counterpart sign). When like a dull ruby or gem, it is the uggaha-nimitta, but when bright and sparkling, it is the paiibhāga- nimitta. The other images should be understood in this way too.

 

So, even though ān•āpāna•sati is a single meditation subject, it produces various types of nimitta: the nimitta appears differently to different peo- ple.

The Visuddhi•Magga explains that this is because the nimitta is produ- ced by perception. And the sub-commentary of the Visuddhi•Magga explains that it is the different perceptions which the different yogis had before the nimitta arose.

 

Thus, the nimittas are different because of perception. But perception does not arise alone. It is a mental formation that arises always together with the individual consciousness and other mental formations: these mental formations associated with the individual consciousness are called associated mental factors (cetasika). So, for example, if a yogi concen- trates on the ān•āpāna nimitta with a happy mind, the mental factors are not only the one perception, but are altogether thirty-three, such as, con- tact, volition, one-pointedness, attention, application, sustainment, deci- sion, effort, and desire: not only perception differs, but also all the other mental factors differ.

 

This is in fact explained elsewhere in the Visuddhi•Magga, in its explan- ation of the attainment of the base of neither perception nor non-percep- tion (neva•saññā•n•āsaññ•āyatana), the fourth immaterial jhāna.

 

There, the Visuddhi•Magga explains that the perception in that jhāna is very subtle, which is why we call it the attainment of neither perception nor non-perception. But it is not only the perception that is very subtle. The feelings, the consciousness, the contact and all the other mental for- mations are also very subtle. Thus, says the Visuddhi•Magga, in the at- tainment of neither perception nor non-perception there is also neither feeling nor non-feeling, neither consciousness nor non-consciousness, neither contact nor non-contact, etc.

 

So, when the commentaries say the nimittas are different because of perception, they are merely explaining the ān•āpāna-nimitta from the sin- gle point-of-view of perception, in terms of perception (saññāsīsa), using perception as their example.

 

But, whatever the shape or colour of your nimitta, whatever your perc- eption of the in&out breath, it is important not to play with your nimitta. Do not let it go away, and do not intentionally change its shape or appear- ance. If you do, your concentration will not develop any further and your progress will stop. Your nimitta will probably disappear. So when your nimitta first appears, do not move your mind from the breath to the nim- itta. If you do, you will find it disappears.

If you find that the nimitta is stable, and your mind by itself has become fixed on it, then just leave your mind there. If you force your mind to come away from it, you will probably lose your concentration.

 

If your nimitta appears far away in front of you, ignore it, as it will pro- bably disappear. If you ignore it, and simply concentrate on the breath at the place where the breath touches, the nimitta will come and stay there.

 

If your nimitta appears at the place where the breath touches, is stable, and appears as the breath itself, and the breath as the nimitta, then forget about the breath, and be aware of just the nimitta. By moving your mind from the breath to the nimitta, you will be able to make further progress. As you keep your mind on the nimitta, the nimitta becomes whiter and whiter, and when it is white like cotton wool, it is the uggaha-nimitta.

 

You should determine to keep your mind calmly concentrated on the white uggaha-nimitta for one, two, three hours, or more. If you can keep your mind fixed on the uggaha-nimitta for one or two hours, it should become clear, bright, and brilliant. This is then the paiibhāga-nimitta (counterpart sign). Determine and practise to keep your mind on the paii- bhāga-nimitta for one, two, or three hours. Practise until you succeed.

 

At this stage you will reach either access (upacāra) or absorption (appanā) concentration. It is called access concentration because it is close to and precedes jhāna. Absorption concentration is jhāna.

 

Both types of concentration have the paiibhāga-nimitta as their object. The only difference between them is that in access concentration the jhāna factors are not fully developed. For this reason bhavangas still oc-cur, and one can fall into bhavanga (life-continuum consciousness). The yogi will say that everything stopped, and may even think it is Nibbāna. In reality the consciousness has not stopped, but the yogi is just not suffi- ciently skilled to discern this, because the bhavangas are very subtle.
...



__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03 Tháng Sáu 2020(Xem: 108)
02 Tháng Sáu 2020(Xem: 171)
31 Tháng Năm 2020(Xem: 152)
30 Tháng Năm 2020(Xem: 146)
28 Tháng Năm 2020(Xem: 175)
24 Tháng Năm 2020(Xem: 240)
19 Tháng Năm 2020(Xem: 271)
15 Tháng Năm 2020(Xem: 284)
19 Tháng Tư 2020(Xem: 448)
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 27)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
03 Tháng Sáu 20209:00 SA(Xem: 388)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 326)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 365)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 348)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 501)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 314)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 373)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 348)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 357)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 767)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 484)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
09 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 553)
“Khi hai người đang giận nhau thì trái tim của họ ở rất xa nhau. Trong thâm tâm họ cảm thấy có một khoảng cách rất lớn giữa họ. Vì thế muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sanh để nói thật to. Sự giận dữ càng mãnh liệt thì khoảng cách càng lớn, nên họ càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ có thể khỏa lấp
17 Tháng Giêng 20207:43 CH(Xem: 887170)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
07 Tháng Giêng 202012:43 CH(Xem: 880)
"Một lời dối trá nếu được lặp đi lặp lại đủ mức thì nó sẽ trở thành sự thật" là nguyên tắc tuyên truyền của Joseph Goebbels, một bộ trưởng tuyên truyền của Phát xít Đức. Các nhà tâm lý học gọi đây là 'ảo tưởng về sự thật' và dưới đây là cách phổ biến mà người ta thường thử nghiệm điều này: Những người tham gia được yêu cầu đánh giá
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1082)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
24 Tháng Mười Một 20199:00 SA(Xem: 2705)
Nhân vào ngày Lễ Tạ Ơn. Chúng ta cảm tạ vô vàn thành tâm. Những lời cầu nguyện quanh năm, Tạ ơn gia quyến muôn phần yêu thương, Tạ ơn bạn quý muôn phương. Dù là cố cựu hay dường mới quen, Tạ ơn tia sáng êm đềm. Vầng dương sưởi ấm áp thêm tháng ngày,
24 Tháng Chín 201911:37 CH(Xem: 984)
Lời nói đôi khi có những tác dụng không thể lường trước. Có những lời nói có thể đem lại an vui hạnh phúc đến cho mọi người. Có những lời nói có thể đem lại những sự ly tán, tan nát hạnh phúc của các người khác, đôi khi đổ vỡ hạnh phúc gia đình của chính người nói. Có những lời nói, làm cho người nghe, mỉm cười tươi tắn, vui vẻ khỏe khoắn.
22 Tháng Bảy 201910:19 CH(Xem: 1160)
8h sáng một buổi sáng mùa hè nắng gắt tháng 6 tại Hà Nội, một chuyến xe hàng nhét chật những thuốc men và thiết bị y tế đậu lại trước văn phòng của một tổ chức thiện nguyện ở Hà Nội. Rồi từ đây, các thiết bị y tế và thuốc men sẽ đi cùng bác sỹ Tadashi Hattori đến nhiều miền quê rất nghèo của Việt Nam.
18 Tháng Bảy 201911:07 CH(Xem: 1001)
Đài truyền hình CNN trong Tháng Sáu loan tin, năm 2017, tỉ lệ tự tử ở lứa tuổi giữa 15 và 19 là 11.8/100,000 trong năm. Với lứa tuổi từ 20 đến 24, tỉ lệ là 17/100,000. Trong khoảng bốn tháng từ Tháng Mười Hai, 2018, tới Tháng Ba, 2019, theo ghi nhận của cơ quan cảnh sát miền Nam California, có 17 trường hợp thanh thiếu niên đã chết
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1082)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2633)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4028)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
14 Tháng Năm 202010:20 CH(Xem: 386)
Trong mấy năm qua, một vài ông bà — cụ thể là Mary Talbot, Jane Yudelman, Bok Lim Kim và Larry Rosenberg—đã đề nghị tôi “Khi nào Sư sẽ viết hướng dẫn về hành thiền hơi thở?” Tôi đã luôn nói với họ rằng cuốn Giữ Hơi Thở Trong Tâm (Keeping the Breath in Mind) của Ajaan Lee là hướng dẫn thực hành tuyệt vời, nhưng họ
04 Tháng Năm 20206:47 CH(Xem: 458)
"Nếu tôi nói rằng Đức Phật hiện đang sống ở đâu đó trong vũ trụ, bằng xương bằng thịt thì điều ấy trái với lời dạy của Đức Phật. Ngược lại, nếu tôi bảo Đức Phật không còn sống ở bất kỳ nơi đâu trong vũ trụ này dưới bất kỳ hình tướng nào thời nhiều người sẽ rất buồn vì nỗi khát khao hiện hữu của họ không được thoả mãn.
02 Tháng Năm 20206:15 CH(Xem: 565)
Tám pháp thế gian: “Thế nào là tám? được lợi (lābho), mất lợi (alābho); được danh (yāso), mất danh (ayāsa); bị chê (nindā), được khen (pasamsā); hạnh phúc (sukha) và khổ đau (dukkha).” Như vậy tám pháp thế gian này gồm bốn cặp: được lợi — mất lợi, được danh — mất danh, được khen — bị chê, hạnh phúc — khổ đau.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 399)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 427)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 501)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 838)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 989)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 903)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.