Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

26 Tháng Chín 20173:54 CH(Xem: 4574)
Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

KnowingAndSeeing_1A

BietVaThay_1


Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

Pa-Auk Tawya Sayadaw

Dịch giả: Pháp Thông

Nhà xuất bản Tôn Giáo 2012

Nguồn: dhammatalks.net, vienkhong.org, thuvienhoasen.org

 

__________________

MỤC LỤC  CONTENTS

Lời Giới Thiệu: Giáo Pháp Của Đức Phật

 

Bài Pháp Thoại 1: Làm Thế Nào Để Tu Tập Niệm Hơi Thở Đạt Đến An Chỉ Định - Hỏi & Đáp 1

 

Bài Pháp Thoại 2: Hành Giả Tu Tập An Chỉ Định Trên Các Đề Mục Thiền Khác Như Thế Nào - Hỏi & Đáp 2

 

Bài Pháp Thoại 3: Tu Tập Bốn Phạm TrúBốn Thiền Bảo Hộ - Hỏi & Đáp 3

 

Bài Pháp Thoại 4 - Làm Thế Nào Để Phân Biệt Sắc - Hỏi & Đáp 4

 

Bài Pháp Thoại 5: Phân Biệt Danh - Hỏi & Đáp 5

 

Bài Pháp Thoại 6: Làm Thế Nào Để Thấy Những Mắc Xích Của Duyên Khởi - Hỏi & Đáp 6

 

Bài Pháp Thoại 7: Tu Tập Các Tuệ Minh Sát Như Thế Nào Để Thấy Niết-Bàn - Hỏi & Đáp 7

 

Bài Pháp Thoại 8: Những Ước Nguyện Của Đức Phật Cho Các Hàng Đệ TửGiáo Pháp Của Ngài

 

Bài Pháp Thoại 9: Loại Cúng Dường Cao Thượng Nhất

 

"Bhikkhus, I say that the destruction of the
taints is for one who knows and sees, not
for one who does not know and see."
(Này các Tỳ khưu, Ta nói có sự đoạn trừ
các lậu hoặc cho người biết và thấy, chứ
không cho người không biết, không thấy.)

 

Tables

Contents in Detail

Foreword (First Edition)

Introduction (Revised Edition)

 

1: How You Develop Mindfulness-of-Breathing to Absorption

Questions and Answers 1

 

2: How You Develop Absorption on Other Subjects

Questions and Answers 2

 

3: How You Develop the Sublime Abidings and Protective Meditations

Questions and Answers 3

 

4: How You Discern Materiality

Questions and Answers 4

 

5: How You Discern Mentality

Questions and Answers 5

 

6: How You See the Links of Dependent Origination

Questions and Answers 6

 

7: How You Develop the Vipassanā Knowledges to See Nibbāna

Questions and Answers 7

 

8: The Buddha’s Wishes for His Disciples and His Teachings

 

9: The Most Superior Type of Offering

 

The Forty Meditation-Subjects

Editorial Notes

Bibliographical Abbreviations

Appendix 1: Glossary of Untranslated Pali Terms

Appendix 2: Contact Addresses

Index of Questions from Yogis

Main Index

__________________

BÀI PHÁP THOẠI 8

 

Những Ước Nguyện Của Đức Phật Cho Các Hàng Đệ Tử Và Giáo Pháp Của Ngài

(Bài giảng nhân ngày lễ Vesākha)

 

ĐỨC PHẬT TỪ BỎ THỌ HÀNH `

 

(Thọ hành (āusankhārā) theo Chú Giải biểu thị cho chính tuổi thọ (āyu), một từ được xác nhậnđồng nghĩa với mạng căn (jīvitindriya), có chức năng duy trì sự sống. Xem N.444/MN.)

 

Mùa hạ (Vassa) cuối cùng, đức Phật trải qua trong ngôi làng Veḷuna. Thời gian ấy, một cơn đau kịch liệt khởi lên nơi Ngài. Vào ngày trăng tròn tháng Asāḷha(tháng 6), một cơn đau lưng buốt nhức cực độ bất ngờ tấn công Ngài, do nghiệp đời trước.

 

Một trong những tiến kiếp của Ngài, đức Phật đã từng là võ sĩ. Có lần Ngài đã đánh ngã một đối thủ và làm gãy lưng người này. Bất thiện nghiệp ấy khi chín muồi đã cho quả của nó, đó là mười tháng trước ngày nhập Vô Dư Niết-bàn của Ngài. Nghiệp quả ấy mạnh đến độ kéo dài cho đến lúc chết. Một thọ khổ như vậy được gọi là "thọ (khổ) chấm dứt vào lúc chết" (maranatikavedanā), tức là nó chỉ dừng lại khi cái chết xảy ra.

 

Đức Phật đã ngăn không cho thọ khổ đó khởi lên nhờ nhập A-la-hán Thánh quả định (Arahattaphala samāpatti) và thực hiện một quyết định (adhiṭṭhāna). Trước tiên, đức Phật nhập A-la-hán Thánh quả định dựa trên bảy cách quán sắc (rūpa sattaka vipassanā). Sau khi hành những pháp quán ấy xong và ngay trước khi nhập vào A-la-hán Thánh quả định, đức Phật quyết định: "Kể từ hôm nay cho đến ngày Niết-bàn, mong cho những thọ khổ này không khởi lên", sau đó Ngài mới nhập Thánh quả định. A-la-hán Thánh quả định là tâm quả A-la-hán với Niết-bàn làm đối tượng, khởi lên liên tục trong một thời gian dài. Do việc hành vipassanātrước đó kiên trì và mãnh liệt mà A-la-hán Thánh quả định cũng mãnh liệt và kiên trì như vậy. Chính nhờ nỗ lực của minh sátđịnh lực của Thánh quả mà thọ khổ đã không khởi lên trong mười tháng còn lại cho đến ngày Đại Niết-bàn của đức Phật. Nhưng trong thời gian đó, mỗi ngày đức Phật đều phải nhập Thánh quả đều đặn.

 

Sau mùa an cư (Vassa), đức Phật vân du từ nơi này đến nơi khác, và cuối cùng đến tại Tỳ - xá - ly (Vesālī). Ba tháng trước ngày trăng tròn tháng Vesāka(rằm tháng Tư), tức là vào ngày rằm tháng Giêng tại ngôi tháp Cāpāla(Cāpāla cetiya), đức Phật quyết định xả bỏ thọ hành (āyusankhāra ossajana), nghĩa là, vào ngày đó Ngài quyết định:

 

"Temāsamattameva pana samāpattiṃsamāpajjitvā tato paraṃna samāpajjissāmīti cittaṃsamāpajjitva cittaṃuppādasi"

(Từ hôm nay cho đến trăng tròn tháng Vesākhata sẽ thực hành Thánh quả định này. Rồi sau đó ta sẽ không hành pháp ấy nữa.)

 

ĐỨC PHẬT TUYÊN BỐ NHỮNG ƯỚC NGUYỆN CỦA NGÀI 

 

Vào ngày đó, trước chúng Tăng tỳ khưu tại đại giảng đường của chùa mahàvana, đức Phật thông báo Ngài xả bỏ thọ hành. Ngài nói với chúng tỳ khưu:

 

"Tasmātiha bhikkhave ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhukaṃuggahetva āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā.

(Này chư tỳ khưu, ta đã giải thích rõ những Chân lý (dhamma) mà ta đã tự mình thắng tri cho các người. Các người cần phải khéo học tập, trau dồi, tu tậpthực hành thường xuyên những pháp ấy).

 

Như vậy, đức Phật chỉ dạy pháp mà Ngài đã tự chứng. Ở đây đức Phật tuyên bố những ước nguyện của Ngài cho Giáo Pháp và chỉ dạy Tăng chúng:

 

1. Tăng chúng cần phải nắm vững những lời dạy của Ngài, nhưng nắm vững thôi thì chưa đủ. Đây là ước nguyện thứ nhất của đức Phật.

 

2. Ngài chỉ dạy Tăng chúng nên trau dồi pháp. Trong Pāḷithường gọi là sevitabbā, có nghĩa rằng chúng ta phải cố gắng hiểu pháp này bằng sự thực hành thường xuyên, nên chúng tôi dịch là trau dồi. Đây là ước nguyện thứ hai của đức Phật.

 

3. Cuối cùng Ngài chỉ dạy Tăng chúng phải tu tập (bhāvetabbā) các pháp. Khi chúng ta trau dồi, nhất thiết phải có sự tăng trưởngtiến bộ.

 

Điều đó có nghĩa là gì? Khi chúng ta hành pháp, chỉ có những thiện pháp (kusala dhamma) khởi lên trong tiến trình tâm của chúng ta. Các thiện pháp đó là, giới thiện pháp (sīla kusaladhamma), định thiện pháp (samādhi kusaladhamma) và tuệ thiện pháp (paññā kusaladhamma). Những thiện pháp này phải khởi lên không gián đoạn cho đến quả vị A-la-hán. Nếu một vị Thanh Văn đệ tử (Sāvaka) của đức Phật đắc A-la-hán Thánh quả thì việc thực hành (bhāvanā) của họ kể như hoàn tất. Vì thế, một đệ tử của đức Phật phải thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến khi đạt đến cứu cánh, tức là sự trau dồi phải được phát triển cho đến Thánh quả A-la-hán. Để đạt đến A-la-hán Thánh quả chúng ta phải thực hành thường xuyên. Vì lý do đó, đức Phật đã đưa ra lời chỉ dẫn "bahulīkātabba", có nghĩa là chúng ta phải thực hành một cách thường xuyên. Đây là ước nguyện thứ ba của đức Phật.

 

Những ước nguyện này vì sao lại khởi lên trong tiến trình tâm của đức Phật?

 

"Yathayidaṃbrahmacariyaṃaddhaniyaṃassa ciraṭṭhikikaṃ."

(Để cho lời dạy thuần tịnh này có thể được an lậpbền lâu).

 

Đó là, duy trì lời dạy thuần tịnh này sao cho nó có thể bền vững trong một thời gian lâu dài.

 

PHẬN SỰ CỦA CHÚNG TA VỚI TƯ CÁCH LÀ NHỮNG PHẬT TỬ

 

Duy trì lời dạy này không để cho thất tán là bổn phận hết sức quan trọng của mỗi người Phật tử. Do đó, chúng ta phải cố gắng:

 

- Nắm vững (hiểu rõ) tất cả những lời dạy của đức Phật.

- Thực hành những lời dạy của đức Phật như thế nào để hiểu được pháp ấy qua kinh nghiệm tự thân.

- Thực hành những lời dạy đó cho đến quả vị A-la-hán.

 

Đây là những bổn phận của mọi Phật tử. Là một Phât tử, chúng ta phải theo những chỉ dẫn này. Nếu không theo những điều này, chúng ta chỉ là Phật tử trên danh nghĩa chứ không phải người Phật tử chân chánh. Tóm lại, người nào hành theo ba phận sự này một cách triệt để, người ấy là một Phật tử chân chánh. Vì thế, hôm nay quý vị có thể quyết định:

 

- Ta sẽ cố gắng nắm vững tất cả những lời dạy của đức Phật.

- Ta sẽ cố gắng thực hành những lời dạy ấy để hiểu được chúng qua kinh nghiệm tự thân.

- Ta sẽ thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến quả vị A-la-hán.
...

TALK 8:


The Buddha’s Wishes For His Disciples And His Teachings

(Talk given on Vesākha Day)

 

THE BUDDHA RELINQUISHES THE WILL TO LIVE

 

The Buddha spent His last rains (vassa) in the village of Veḷuva. At that time there arose in Him a severe affliction. On the full-moon day of Asāḷha, a sharp and deadly back pain came upon Him, because of previous kamma.

 

In one of his past lives, the Bodhisatta, who was to become Sakyamuni Buddha, was a wrestler. Once he threw down an opponent and broke the opponent’s back. When mature, that unwholesome kamma (akusala•kamma) produced its result, which was ten months before Sakyamuni Buddha’s Parinibbāna. The effect of that kamma was so powerful that it would last until death. Such an affliction is called ‘feeling ending at death’ (mara •antika•vedāna). It ceases only when death occurs.

 

The Buddha prevented that affliction from arising through entering an Arahant Fruition and making a determination (adhi hāna). First The Buddha entered the Arahant-Fruition Attainment (Arahatta•Phala•Samāpatti) based on the Seven Ways for Materiality (rūpa•sattaka•vipassanā) and Seven Ways for Mentality (a•rūpa•sattaka•vipassanā). After those vipassanā practices and just before entering the Arahant Fruition-Attainment, The Buddha determined:

 

From today until the day of my Parinibbāna, may this affliction not occur.

 

And then He entered the Arahant Fruition-Attainment. Arahant Fruition-Attainment means that the Arahant Fruition-Consciousness, with Nibbāna as object, occurs continuously for a long time. Because the vipassanā practices were strong and powerful, the Arahant Fruition-Attainment too was strong and powerful. Because of the effort of the vi-passanā and the effort of the Fruition-Attainment the affliction did not occur in the ten months that were left until the day of The Buddha’s Parinibbāna. But He had to enter that Fruition-Attainment every day until then.

 

After the vassa, The Buddha wandered from place to place, and eventu-ally reached Vesālī. Three months before Vesākha full-moon day, on the full-moon day of February, at the Cāpāla Cetiya, The Buddha decided to relinquish the will to live (āyu•sa khāra ossajjana). What does that mean? On that day He decided:

 

Temāsamattameva pana samāpatti samāpajjitvā tato para na samāpaj-jissāmīti citta uppādesi.

 

From today until the full-moon day of Vesākha I shall practise this Fruition Attainment. Then I shall no longer practise it.

 

THE BUDDHA DECLARES HIS WISHES

 

So on that day, in front of the assembled Bhikkhu Saṅgha, in the assembly hall of the Mahāvana monastery, The Buddha announced that He had relinquished the will to live. He said to the Bhikkhu Saṅgha:

 

Tasmātiha bhikkhave ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhuka uggahetva āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā.

 

Bhikkhus, you, to whom I have made known  the Truths about which I have direct knowledge, having thoroughly learnt them, should cultivate them, develop them, and frequently practise them.

 

The Buddha taught only the Dhamma about which He had direct experience. Here The Buddha declared His wishes for His teachings, and instructed the Saṅgha as follows:

 

1) They should learn His Teachings (Dhamma) thoroughly by heart, but learning by heart alone is not enough. This was The Buddha’s first wish.

 

2) He instructed them to cultivate His Teachings (Dhamma). In Pali it is called āsevitabbā, and means that we must try to know this Dhamma in practice again and again. It is translated as cultivation. This was The Buddha’s second wish.

 

3) Finally, He instructed them to develop (bhāvetabbā) the Truths. When we cultivate, growth and progress are necessary.

 

What does that mean? When we practise the Dhamma, only wholesome dhammas (kusala•dhamma) must occur in our mental processes. That is, wholesome morality dhammas (sīla•kusala•dhamma), wholesome concentration dhammas (samādhi•kusala•dhamma) and wholesome wisdom dhammas (paññā•kusala•dhamma). These wholesome dhammas must occur without a break until Arahantship. If a disciple (sāvaka) of The Buddha attains Arahantship, his practice (bhāvanā) is over. So a disciple of The Buddha must practise The Buddha’s Teachings until he attains that goal: the cultivation must be developed until Arahantship. To reach Arahantship, we must practise again and again. For that reason The Buddha gave the instruction of bahulīkātabbā, which means we must practise frequently. This was The Buddha’s third wish.

 

These wishes occured in The Buddha’s mental processes. Why?

 

Yathayida brahmacariya addhaniya assa cira hitika.

 

So that the pure Teaching may be established and last long.

 

That is, to maintain the pure Teaching so that it can last for a long time.

 

OUR DUTY AS BUDDHISTS

 

It is very important that every Buddhist maintains the pure Teaching, so that it is not lost. We must try. What should we try to do? We repeat:

 

1) We should try to learn The Buddha’s Teachings (Dhamma) thoroughly by heart.

 

2) We should try to practise The Buddha’s Teachings so as to know them through personal experience.

 

3) We should try to practise The Buddha’s Teachings until Arahantship.

 

These are the duties of all Buddhists. If one is a Buddhist one must follow these three instructions. If one does not follow them then one is a Buddhist in name only: not a real Buddhist. If one follows these three instructions thoroughly, then one is a real Buddhist. So you can today determine:

 

1) We will try to learn The Buddha’s Teachings thoroughly by heart.

 

2) We will try to practise The Buddha’s Teachings so as to know them through personal experience.

 

3) We will try to practise The Buddha’s Teachings until Arahantship.

...


__________________


Biết Và Thấy 
1_PDFBietVaThay_B (Nguyên Tập)


__________________


Knowing And Seeing
1_PDF
KnowingAndSeeing (Whole Book)


__________________


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 787)
31 Tháng Năm 20209:51 CH(Xem: 30)
Dạo này ngoài kia đang xôn xao vì dịch bệnh. Nhiều người viết thư cho tôi về con virut corona ấy. Người thì sợ hãi, bất an, người thì than thở, lo lắng, người quan tâm thăm hỏi rừng thiền có đủ đồ ăn tích trữ hay không. Bỗng nhiên, cả thế giới nháo nhào vì con virut. Người thì stress vì tự nhiên nhàn rỗi, tù túng quá, người thì đau đầu vì
30 Tháng Năm 202010:54 CH(Xem: 117)
Con nghe các băng giảng của quý thầy, quý sư hay nói về Đạo, về Pháp, về Thiền mà không thật sự hiểu rõ về sự giống nhau, khác nhau giữa chúng. Cụ thể, ngay phần “vấn Đạo, vấn Thiền” này; vấn Đạo là hỏi Đạo, vấn Thiền là hỏi Thiền; vậy hỏi Đạo, hỏi Thiền giống nhau và khác nhau ra sao? Còn Pháp nữa. Pháp này cũng không dễ gì mà hiểu
29 Tháng Năm 202011:09 CH(Xem: 105)
Sở dĩ thầy để nguyên từ Dukkha mà không dùng chữ Khổ là vì từ Dukkha rất khó dịch cho lọn nghĩa. Ai cũng dịch là Khổ, Khổ là đúng rồi nhưng nội hàm Dukkha ngữ nghĩa rất lớn rộng, không thể gói gọn trong chữ Khổ được. Thầy nói một câu là con hiểu ngay: Dukkha là Khổ nhưng Lạc cũng Dukkha. Con đã thấy chưa?
28 Tháng Năm 202011:34 CH(Xem: 115)
Ngài dạy rằng, đối với kẻ phàm phu khi cơ thể sinh lývấn đề thì lập tức cái tâm họ có vấn đề. Như vậy, kẻ phàm phu khi bị khổ thân thì sẽ bị khổ tâm giống như một người cùng lúc bị hai cái mũi tên. Ở đây Ngài chỉ nói một phương diện, nhưng tôi thấy phàm phu khổ tâm đã đành mà khi khổ tâm thì cũng có khổ thân nữa. Có những người do ghen tuông,
27 Tháng Năm 20207:43 CH(Xem: 136)
Voltaire nói “Đẹp là con cóc đực trong mắt con cóc cái.” Mỹ có câu tương đương: “Khi ta yêu một người chột thì ta thấy mọi người đều dư một con mắt.” Tôi nói ra nghe kỳ, nhưng có người lỡ yêu người mặt nám, mặt tàn nhang, mặt mụn hoặc mặt rổ, hoặc mùi mồ hôi nặng, khi trót yêu rồi, mai mốt đi đâu mà gặp người không có mùi đó
26 Tháng Năm 202010:18 CH(Xem: 138)
Một vị giảng sư thành công là vị có kỹ năng và phương pháp. Với kỹ năng và phương pháp, vị giảng sư từng bước xây dựng cho mình sự tin tưởng nơi thính chúng, rèn luyện khả năng khơi gợi sự đồng cảm của thính chúng và khả năng trình bày mọi vấn đề hợp với luận lý. Vị giảng sư cần chuẩn bị cho mình một tư thế để luôn luôn thuyết phục
25 Tháng Năm 20206:03 CH(Xem: 197)
Hiển nhiên, Đức Phật là vị Thầy, vị Giảng sư tối thượng, toàn hảo. Chỉ có Ngài mới là nhà truyền pháp vi diệu nhất. Chư vị Bồ-tát được Ngài giao phó việc truyền pháp cùng với sức gia thần của Ngài nên chư vị cũng được xem là Pháp vương hay Pháp vương tử, giảng pháp cho hàng thính chúng rất hữu hiệu. Chư Thánh đệ tử A- la-hán
24 Tháng Năm 202010:55 CH(Xem: 180)
Để hiểu và rèn luyện chánh niệm đối với người mới bắt đầu là điều rất khó, vì đó là thứ mà mọi người chưa bao giờ có. Chính vì vậy, cách dẫn nhập để cho thiền sinh hiểu và trải nghiệm được chánh niệm trong cuộc sống thực là điều quan trọng hàng đầu. Một cách dẫn nhập không khéo léo sẽ làm cho thiền sinh hiểu nhầm và thực hành sai,
23 Tháng Năm 202010:58 CH(Xem: 191)
Bản chất của tình yêu thương là cao khiết, trừ phi nó bị cái Ta luyến ái, dính mắc và vị kỷ buộc ràng. Tất nhiên tình yêu thương cao khiết phải bao gồm bốn đức: Từ, Bi, Hỷ và Xả. Khi tình yêu thương có 4 đức đó thì mới thực sự là hạnh phúc - hạnh phúc của niềm tịnh lạc hay an lạc. Còn nếu trong tình yêu thươngluyến áiích kỷ
22 Tháng Năm 202011:05 CH(Xem: 186)
Dễ duôi là một chướng ngại lớn nhất trên đường tu tập, cũng như trong sự rèn luyện, vươn lên trong cuộc sống của một con người bình thường. Dễ duôi là hành động theo bản năng, theo bất cứ đòi hỏi nào của tham sân si, của các trạng thái tâm bất thiện, một cách vô điều kiện mà không có ý định kháng cự. Thành công trong cuộc sống
21 Tháng Năm 202011:01 CH(Xem: 178)
- Thấy cái áo đẹp, thích là chuyện bình thường, không phải tham, không có tội chi cả. Có 3 loại tham có gốc từ Pali như sau: Chanda có nghĩa là muốn, là ước muốn bình thường như đói muốn ăn, khát muốn uống, muốn xây nhà, muốn tập thể thao, muốn mặc chiếc áo đẹp, muốn ở nơi thoáng mát, tiện nghi... Chanda hay muốn,
20 Tháng Năm 202010:21 CH(Xem: 231)
Thầy khuyên không nên lệ thuộc vào ngồi thiền là vì những lý do sau đây: - Cho rằng chỉ có ngồi mới là thiền và ngồi thiền mới đắc đạo, do đó dễ xem thường những người không ngồi mà hành thiền trong các oai nghihoạt động tự nhiên khác. - Ngồi nhiều làm mất quan bình bốn oai nghi, dẫn đến trì trệ khí huyết và tinh thần căng thẳng
19 Tháng Năm 20209:57 CH(Xem: 241)
1. dục tầm: chạy theo cái mình thích; - 2. sân tầm: chạy trốn cái mà mình bất mãn, mình ghét sợ; - 3.hại tầm: ý tưởng chống đối, đánh phá, tấn công trước cái trần cảnh dầu đó là người hay là vật. Thí dụ như cái lòng mà muốn nhìn thấy người ta đau khổ, nhìn thấy người ta rơi lệ, đổ máu, muốn nhìn thấy một cái vật gì đó mà nó bị bể,
18 Tháng Năm 202010:33 CH(Xem: 248)
Con đang sống cùng con gái đã có chồng, con gái của con rất vô tâm. Con cũng muốn nhẫn nhịn hết để sống cùng vợ chồng nó. Nhưng con thấy nếu con nhẫn hết tất cả những điều không đúng của con gái con thì sẽ càng làm cho bản ngãtăng trưởng và sự bê bối của nó ngày càng nhiều hơn. Con góp ý thì nó gạt phăng đi và tình cảm
17 Tháng Năm 202010:14 CH(Xem: 247)
Sống ở đời này chúng ta có người để mình thương thì dứt khoát có người để mình ghét. Tất thảy chúng sanh trong đời này chia làm hai hạng, hạng để chúng sanh phàm phu thương và hạng để mình ghét. Có hạng thứ ba tôi không kể, đó là người dưng nước lã, hạng này nằm trong diện trừ bị. Họ là người dưng hôm nay nhưng ngày mai
16 Tháng Năm 202010:05 CH(Xem: 255)
Nhân kỷ niệm tròn 2 năm ngày trang web tiếng Việt vn.dalailama.com của Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma chính thức ra đời (ngày 16 tháng 05, 2018) - xin được chia sẻ khoảnh khắc Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma chứng minhgia trì cho sự ra đời của trang web. Xin chân thành cám ơn bạn đọc gần xa đã ghé thăm và đồng hành cùng
15 Tháng Năm 202011:01 CH(Xem: 265)
Theo quan điểm Phật giáo, nhẫn nhục là gì? Nhẫn nhục có ích gì? Nhẫn nhục được dùng trong trường hợp nào? Trường hợp một người bị dồn vào bước đường cùng thì nhẫn nhụctác dụng gì và có thể cứu giúp được người đó hay không?
14 Tháng Năm 202010:20 CH(Xem: 357)
Trong mấy năm qua, một vài ông bà — cụ thể là Mary Talbot, Jane Yudelman, Bok Lim Kim và Larry Rosenberg—đã đề nghị tôi “Khi nào Sư sẽ viết hướng dẫn về hành thiền hơi thở?” Tôi đã luôn nói với họ rằng cuốn Giữ Hơi Thở Trong Tâm (Keeping the Breath in Mind) của Ajaan Lee là hướng dẫn thực hành tuyệt vời, nhưng họ
13 Tháng Năm 202010:44 CH(Xem: 284)
“Biết Pháp” có nghĩa là biết sự thật. Pháp nằm ở đâu? Không xa chút nào. Sắc Pháp ở đâu? Có sắc pháp bên trong ta không? Có danh pháp (tâm pháp) bên trong ta không? Cả hai đều ở bên trong ta, nhưng ta không biết làm thế nào để hiểu chúng, để giải mã chúng, vì ta chưa học kinh điển. Hoặc ngay cả khi chúng ta đã cố gắng
12 Tháng Năm 20209:58 CH(Xem: 349)
Khoảng chừng 50 năm nữa thì tôi, Tenzin Gyatso, một tu sĩ Phật giáo, sẽ chỉ còn là ký ức. Thật vậy, chưa chắc rằng người đang đọc những dòng chữ này, sẽ còn có mặt một thế kỷ sau. Thời gian trôi qua bất chấp. Chúng ta không thể quay thời gian trở lại để chuộc lỗi lầm. Chúng ta chỉ có thể sử dụng giây phút hiện tại tốt hơn.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1060)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2618)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4012)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
14 Tháng Năm 202010:20 CH(Xem: 357)
Trong mấy năm qua, một vài ông bà — cụ thể là Mary Talbot, Jane Yudelman, Bok Lim Kim và Larry Rosenberg—đã đề nghị tôi “Khi nào Sư sẽ viết hướng dẫn về hành thiền hơi thở?” Tôi đã luôn nói với họ rằng cuốn Giữ Hơi Thở Trong Tâm (Keeping the Breath in Mind) của Ajaan Lee là hướng dẫn thực hành tuyệt vời, nhưng họ
04 Tháng Năm 20206:47 CH(Xem: 420)
"Nếu tôi nói rằng Đức Phật hiện đang sống ở đâu đó trong vũ trụ, bằng xương bằng thịt thì điều ấy trái với lời dạy của Đức Phật. Ngược lại, nếu tôi bảo Đức Phật không còn sống ở bất kỳ nơi đâu trong vũ trụ này dưới bất kỳ hình tướng nào thời nhiều người sẽ rất buồn vì nỗi khát khao hiện hữu của họ không được thoả mãn.
02 Tháng Năm 20206:15 CH(Xem: 532)
Tám pháp thế gian: “Thế nào là tám? được lợi (lābho), mất lợi (alābho); được danh (yāso), mất danh (ayāsa); bị chê (nindā), được khen (pasamsā); hạnh phúc (sukha) và khổ đau (dukkha).” Như vậy tám pháp thế gian này gồm bốn cặp: được lợi — mất lợi, được danh — mất danh, được khen — bị chê, hạnh phúc — khổ đau.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 368)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 402)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 474)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 815)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 964)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 882)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.