Cách Nhìn Bất Thường Của Nhật Bản Về Thế Giới - Japan's Unusual Way To View The World

18 Tháng Tư 20199:52 CH(Xem: 2164)
Cách Nhìn Bất Thường Của Nhật Bản Về Thế Giới - Japan's Unusual Way To View The World

JapansUnusual_B

(Hình/Picture: Dave Stamboulis/Alamy

Mặc dù không được lộng lẫy như ngôi đền chị Kinkakuji của nó, đền Ginkakuji ở Kyoto thể hiện một nguồn sâu sắc hơn về vẻ đẹp

Though not as ornate as its sister temple, Kinkakuji, the Ginkakuji temple in Kyoto exhibits a deeper source of beauty)

 

Cách Nhìn Bất Thường Của Nhật Bản Về Thế Giới
Japan
's Unusual Way To View The World
Lily Crossley-Baxter - Source-Nguồn: bbc.com
Bài Đăng Ngày 2/11/2018 - Posted Oct/22/2018


__________________

Cách Nhìn Bất Thường Của Nhật Bản Về Thế Giới

 

Wabi-sabi tạo nơi trú ẩn chống nỗi ám ảnh của thế giới hiện đại về sự hoàn hảo, và chấp nhận sự không hoàn hảo một cách có ý nghĩa hơn và đẹp hơn, theo cách riêng của họ.

 

Rút tay một cách miễn cưỡng ra khỏi chiếc bát đang quay chầm chậm, tôi nhìn thành bát không được đồng đều từ từ dừng lại, mong có thể điều chỉnh nó thẳng lên chút nữa. Tôi đang ở thị trấn cổ Hagi làm đồ gốm ở vùng nông thôn Yamaguchi, Nhật Bản, và mặc dù tôi tin tưởng người thợ gốm thuyết phục tôi cứ để nó như vậy, tôi không thể nói là tôi hiểu ý ông ấy.

 

Ông mỉm cười tuyên bố, "nó có wabi-sabi" - và lấy nhanh bát ra để đem nung. Tôi ngồi, ngắm nhìn sự thiếu đối xứng và tự hỏi không hiểu ông nói vậy là thế nào.

 

Hóa ra việc không hiểu cụm từ đó không phải là bất thường. Một phần quan trọng của thẩm mỹ học Nhật Bản - tức những quan điểm cổ xưa vẫn chi phối các tiêu chuẩn về sở thích và cái đẹp ở Nhật Bản - wabi-sabi không chỉ là không dịch được, mà còn được coi là không thể xác định được trong văn hóa Nhật Bản. Thường nó được lẩm bẩm trong khoảnh khắc đánh giá sâu sắc, và luôn tiếp theo bằng từ muri! (không thể!) nếu ai đó hỏi kỹ hơn, cụm từ này giúp ta nhìn thế giới một cách khác thường.

 

Có nguồn gốc từ Đạo Lão trong triều đại nhà Tống của Trung Quốc (960-1279) trước khi được chuyển sang Thiền tông, wabi-sabi ban đầu được xem là một hình thức đánh giá chân phương mộc mạc. Ngày nay nó chứa đựng một sự chấp nhận thoải mái hơn về sự thoảng qua, về tự nhiênnỗi buồn, ưa thích sự không hoàn hảo và không đầy đủ ở mọi thứ, từ kiến trúc đến đồ gốm, đến cắm hoa.

 

Wabi, đại khái có nghĩa là 'vẻ đẹp thanh lịch của sự đơn giản khiêm tốn' và sabi, có nghĩa là 'thời gian trôi qua và sự suy thoái kéo theo', được kết hợp để tạo thành một ý nghĩa độc đáo đối với nước Nhật và là chủ chốt đối với văn hóa Nhật. Nhưng cũng giống như các nhà sư Phật Giáo tin rằng lời nóikẻ thù của sự hiểu biết, sự mô tả trên chỉ có thể là sự xới nhẹ bề mặt của vấn đề.

 

Giáo sư Tanehisa Otabe, giáo sư tại Viện Thẩm Mỹ của Đại Học Tokyo, cho rằng nghệ thuật cổ xưa của wabi-cha, một phong cách về nghi thức uống trà được thiết lập bởi các bậc thầy trà Murata Juko và Sen no Rikyu từ cuối thế kỷ 15 đến thế kỷ 16 là sự giới thiệu rất tốt về wabi-sabi. Bằng cách lựa chọn đồ gốm thông thường của Nhật mà không dùng các đò nhập khẩu Trung Quốc được ưa thích (hoàn hảo về kỹ thuật), các ông này thách thức các quy tắc về cái đẹp. Khi không có màu sắc tươi sáng và thiết kế trang trí công phu là chỗ dựa về biểu tượng của vẻ đẹp được chấp nhận, thì khách được khuyến khích nghiên cứu màu sắc tinh tế và kết cấu bề mặt mà trước đó bị bỏ qua.

 

Về lý do tại sao người ta lại đi tìm những thành phẩm không hoàn hảo và mộc mạc, thì Giáo sư Otabe giải thích rằng "wabi-sabi để lại một thứ chưa hoàn tất hoặc chưa hoàn chỉnh để ta phát huy trí tưởng tượng." Cơ hội này để tham gia tích cực với một cái được coi là wabi-sabi sẽ đạt được ba điều: một là nhận thức về sức mạnh tự nhiên tham gia vào việc tạo ra thành phẩm này; sự chấp nhận sức mạnh của thiên nhiên; và sự từ bỏ chủ nghĩa nhị nguyên, tức từ bỏ niềm tin rằng chúng ta là tách biệt với môi trường xung quanh.

 

Kết hợp lại, những trải nghiệm này cho phép người xem thấy mình là một phần của thế giới tự nhiên, không còn bị tách biệt bởi cấu trúc xã hội và, thay vào đó, là sự phụ thuộc vào lịch biến động của thiên nhiên. Thay vì chỉ nhìn thấy các chỗ lồi lõm hoặc hình dạng không phẳng phiu là những khuyết tật, chúng được xem như một sự sáng tạo của tự nhiên - giống như rêu sẽ mọc trên một bức tường sần sùi hoặc một cây sẽ uốn cong trước gió.

 

"Tính thẩm mỹ của wabi-sabi mở mắt cho ta thấy cuộc sống hàng ngày và cho ta một phương pháp xử lý những gì thông thường theo một cách có thẩm mỹ và bất thường," Giáo sư Otabe nói khi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chấp nhận trong văn hóa Nhật Bản, một xã hội buộc phải chiến đấu với các thảm họa tàn phá của thiên nhiên đôi khi hay xảy ra. Thay vì chỉ coi thiên nhiên như một lực lượng nguy hiểm và phá hoại, nó giúp ta hiểu nó như là một nguồn vẻ đẹp, để được đánh giá cao ở mọi mức độ nhỏ nhất. Nó trở thành một nguồn cung cấp màu sắc, kiểu dáng và mẫu mã, một nguồn cảm hứng, và một sức mạnh để song hành làm việc, hơn là để chống lại.

 

Tuy nhiên, chính cái chết không thể tránh khỏi trong tự nhiên là chìa khóa cho sự hiểu biết thực sự về wabi-sabi. Như tác giả Andrew Juniper đã lưu ý trong cuốn sách của mình 'Wabi Sabi: Nghệ thuật Nhật Bản về sự nhất thời' rằng "Nó… sử dụng cái tính không nhân nhượng của cái chết để tập trung tâm trí vào vẻ đẹp thoáng qua tinh tế được tìm thấy trong mọi thứ tồn tại tạm thời". Khi đứng một mình, các mẫu hình thiên nhiên chỉ đẹp đơn thuần, nhưng nếu hiểu bối cảnh của chúng như những vật thể chỉ tồn tại thoáng qua thì điều đó làm nổi bật nhận thức của ta về sự tạm thời và cái chết, thì chúng trở nên rất sâu sắc.

 

Ý tưởng này làm tôi nhớ lại một câu chuyện một bạn nữ đồng nghiệp Nhật Bản kể khi chúng tôi bàn về wabi-sabi. Khi còn là thiếu niên đến Kyoto, cô đã vội vã đi qua khuôn viên của Ginkakuji, một ngôi đền bằng gỗ với những khu vườn yên tĩnh, háo hức để được chiêm ngưỡng đền Kinkakuji nổi tiếng hơn, một ngôi đền dát vàng toàn bộ nằm trên một cái ao phản chiếu. Sáng loáng, lộng lẫy và quyến rũ, nó đáp ứng đúng điều cô mong đợi, một vẻ đẹp ấn tượng hơn nhiều so với ngôi 'đền em' truyền thống gần đó.

 

Tuy nhiên, một vài thập kỷ sau, cô quay trở lại để tìm thấy màu vàng lòe loẹt và, tuy nó chắc chắn vẫn là bắt mắt, nhưng ngoài cái ánh vàng thì không có gì nhiều. Tuy nhiên đền Ginkakuji cho thấy sự quyến rũ mới: gỗ cổ với vô số sắc màu và hoa văn, trong khi các rêu Thiền và vườn cát khô tạo một khung cho nhiều hình dạng của thiên nhiên. Không biết đánh giá cao những điều này khi còn là đứa trẻ, cô đã lớn lên để thấy sự tàn phá của thời gian như một nguồn sâu sắc về vẻ đẹp to lớn hơn nhiều so với sự hào nhoáng hai chiều của vàng.

 

Thích thú với yếu tố cá nhân của sự đánh giá cao này, tôi đã liên lạc với nghệ nhân Kazunori Hamana, mà những tác phẩm độc đáo của ông thường được coi là có yếu tố wabi-sabi. Khi chúng tôi đi ngang qua khu đất trang trại xiêu vẹo của ông ở vùng nông thôn Izumi tỉnh Chiba, ông đồng ý về sự cần thiết của tác động thời gian.

 

"Bạn có những cảm xúc khác nhau khi bạn còn trẻ - mọi thứ mới đều tốt, nhưng bạn bắt đầu thấy lịch sử phát triển như một câu chuyện. Sau khi đã lớn lên, bạn thấy rất nhiều câu chuyện, từ gia đình bạn đến thiên nhiên: mọi thứ phát triển lên và chết dần đi, và bạn hiểu khái niệm này nhiều hơn khi bạn còn bé."

 

Sự đánh giá cao này cho các dấu vết thời gian là một tính năng quan trọng trong các tác phẩm của Hamana, mà ông chọn để trưng bày trong các trang trại Nhật bị bỏ hoang. Bằng việc giải thích rằng các khung cửa gỗ đã bị xạm đen bởi nhiều năm chịu khói từ lò sưởi trong nhà, và việc chỉ ra cách mà các bức tường bằng bùn đắp bắt đầu bị đổ nát, ông nói ông cảm thấy lịch sử của các nhà này tạo ra một phông nền phù hợp cho các tác phẩm của mình, tránh được tính nhị nguyên lạnh giá của các phòng triển lãm trắng không thuộc một ai.

 

Với việc tạo ra các tác phẩm điêu khắc bằng đất sét tự nhiên từ Shiga, một khu vực nổi tiếng đất sét có chất lượng cao và lịch sử lâu đời về chế tạo đồ gốm, Hamana quán triệt khái niệm quan trọng của wabi-sabi về sự cùng sáng tạo chung giữa con ngườithiên nhiên.

 

"Mới đầu tôi có thiết kế chút ít, nhưng đất sét là một thứ tự nhiên, vì vậy nó thay đổi đi. Tôi không muốn chiến đấu với thiên nhiên vì vậy tôi làm theo hình dạng của nó, tôi chấp nhận nó," ông nói.

 

Ông không chỉ cho phép thiên nhiên hỗ trợ trong việc định hình các tác phẩm của mình, mà cả trong vẻ ngoài sau này của nó nữa. Trong một khu rừng tre um tùm trong khu đất của trang trại, ông đã cho tôi xem những tác phẩm mà ông đã chọn để để nó ở ngoài vườn, được vùi trong các bụi cây nhiều năm. Tại đây chúng đã biến thành những mẫu hình độc đáo do nhiệt độ khắc nghiệt và bị cây bao xung quanh, cũng như thỉnh thoảng bị nứt và mẻ. Khi nghiên cứu chúng kỹ lưỡng, tôi thấy rằng việc này chỉ đơn giản là thêm vào vẻ đẹp cho từng tác phẩm, với các vết nứt cung cấp một cơ hội để bổ sung thêm cho câu chuyện.

 

Thường được kết hợp với wabi-sabi là nghệ thuật kintsugi - một phương pháp sửa chữa đồ gốm bị hỏng bằng vàng hoặc sơn mài. Quá trình này làm nổi bật lên, thay vì che giấu, các vết nứt, cho phép chúng cũng trở thành một phần của tác phẩm. Khi con gái ông vô tình làm vỡ một số tác phẩm của ông, Hamana nói và cười, ông quyết định để những tác phẩm này ra ngoài vườn trong vài năm để thiên nhiên tạo màu và tạo hình cho chúng. Khi nó được sửa chữa bởi một chuyên gia kintsugi ở địa phương, các màu sắc khác nhau tạo ra một sự tương phản rất tinh tế, rất không đồng đều, mà không bao giờ ta có thể cố ý tạo ra được. Nắm bắt những tác động của thiên nhiêncho phép lịch sử gia đình được thể hiện trong một tác phẩm sẽ tạo ra một giá trị duy nhất cho một cái mà, ở nhiều nền văn hóa, nó bị loại bỏ ngay vì là vô giá trị.

 

Trên thực tế, thuật ngữ 'hoàn hảo' (xuất phát từ từ tiếng Latin với nghĩa là đã hoàn thành) được đặt lên trên bệ ở nhiều nền văn hóa, đặc biệt là phương Tây. Khi ưu tiên hóa cho sự mỹ mãn và không sai sót gì, thì lý tưởng của sự hoàn hảo không chỉ tạo ra các tiêu chuẩn không thể thực hiện được mà còn là những tiêu chuẩn sai lầm. Theo Đạo Lão, nếu không thể tăng trưởng hay phát triển được nữa, thì sự hoàn hảo được coi là tương đương với cái chết. Trong khi chúng ta cố gắng tạo ra những cái hoàn hảo và sau đó đấu tranh để bảo tồn chúng, thì chúng ta phủ nhận chính mục đích của chúng và vì vậy ta mất đi niềm vui thay đổi và phát triển.

 

Mặc dù có vẻ trừu tượng, sự đánh giá cao vẻ đẹp thoáng qua này có thể được tìm thấytrung tâm của một số thú vui đơn giản nhất của Nhật Bản. Hanami, lễ kỷ niệm hoa anh đào hàng năm, kéo theo các bữa tiệc và dã ngoại, đi thuyền và lễ hội, tất cả những thứ đó bên dưới những cánh hoa thường là đang rụng, được coi là đẹp trong các mẫu hình vương vãi ngẫu nhiên trên mặt đất cũng như khi chúng còn đang trên cành. Sự chấp nhận thuần khiết của một vẻ đẹp thoáng qua mà nó chỉ tạo ra không quá một vài bức ảnh ở phương Tây là một thứ cho nguồn cảm hứng. Mặc dù sự đánh giá cao có thể phảng phất nét u sầu, nhưng bài học duy nhất của nó là để thưởng thức những khoảnh khắc như khi nó đến, mà không có sự mong đợi từ trước.

 

Các vết lõm và vết trầy xước mà chúng ta có đều là những ký ức về các trải nghiệm, và xóa chúng đi sẽ là bỏ qua những phức tạp của cuộc sống. Bằng cách giữ lại cái không hoàn hảo, sửa chữa cái hư hỏng và học cách tìm cái đẹp trong nhược điểm (thay vì tìm cái đẹp mặc dù có nhược điểm) thì khả năng của Nhật Bản để đối phó với những thảm họa thiên nhiên thường phải đối mặt sẽ được tăng cường. Khi chiếc bát tô của tôi do Hagi gửi tới theo đường bưu điện nhiều tháng sau đó, các cạnh không đồng đều của nó không còn là khiếm khuyết nữa, nhưng thay vào đó là lời nhắc nhở thích thú rằng cuộc sống là không hoàn hảo, và tôi cũng không nên cố gắng làm cho nó hoàn hảo

Japan's Unusual Way To View The World 

Wabi-sabi offers a refuge from the modern world's obsession with perfection, and accepts imperfections as all the more meaningful – and, in their own way, beautiful.

 

Withdrawing my hands reluctantly from the slowly spinning bowl, I watched its uneven sides slowly come to a stop, wishing I could straighten them out just a little more. I was in the ancient pottery town of Hagi in rural Yamaguchi, Japan, and while I trusted the potter who convinced me to let it be, I can’t say I understood his motives.

 

Smiling, he announced, “it has wabi-sabi” – and whisked the bowl away for firing. I sat, contemplating the lack of symmetry and wondering what on Earth he meant.

 

As it turns out, failing to understand this phrase is not unusual. A key part of the Japanese Aesthetic – the ancient ideals that still govern the norms on taste and beauty in Japan – wabi-sabi is not only untranslatable, but also considered undefinable in Japanese culture. Often muttered in moments of profound appreciation, and almost always followed by the word muri! (impossible!) when asked to expand, the phrase offers an unusual way to view the world.

 

Originating in Taoism during China’s Song dynasty (960-1279) before being passed onto Zen Buddhism, wabi-sabi was originally seen as an austere, restrained form of appreciation. Today it encapsulates a more relaxed acceptance of transience, nature and melancholy, favouring the imperfect and incomplete in everything, from architecture to pottery to flower arranging.

 

Wabi, which roughly means ‘the elegant beauty of humble simplicity’, and sabi, which means ‘the passing of time and subsequent deterioration’, were combined to form a sense unique to Japan and pivotal to Japanese culture. But just as Buddhist monks believed that words were the enemy of understanding, this description can only scratch the surface of the topic.

 

Prof Tanehisa Otabe, professor at Tokyo University’s Institute of Aesthetics, suggests that the ancient art of wabi-cha, a style of tea ceremony established by tea masters Murata Juko and Sen no Rikyu from the late 15th to 16th Centuries forms a good introduction to wabi-sabi. By choosing common Japanese pottery over the popular (and technically perfect) imported Chinese examples, the men challenged the rules of beauty. Without bright colours and ornate designs to rely on as signifiers of accepted beauty, guests were encouraged to study subtle colours and textures that would previously have been overlooked.

 

As to why they sought imperfect, rustic pieces, Prof Otabe explained that “wabi-sabi leaves something unfinished or incomplete for the play of imagination”. This opportunity to actively engage with something considered to be wabi-sabi achieves three things: an awareness of the natural forces involved in the creation of the piece; an acceptance of the power of nature; and an abandonment of dualism – the belief that we are separate from our surroundings.

 

Combined, these experiences allow the viewer to see themselves as part of the natural world, no longer separated by societal constructs and instead at the mercy of natural timelines. Rather than seeing dents or uneven shapes as mistakes, they are viewed as a creation of nature – much as moss would grow on an uneven wall or a tree would curve in the wind.

 

“The aesthetics of wabi-sabi opened our eyes to everyday life and gave us a method of handling what is common in an uncommon, aesthetic way,” Prof Otabe said, highlighting the importance of acceptance in Japanese culture, a society forced to contend with devastating natural disasters on a semi-regular basis. Rather than casting nature solely as a dangerous and destructive force, it helps frame it as a source of beauty, to be appreciated on the smallest of levels. It becomes a provider of colours, designs and patterns, a source of inspiration, and a force to work alongside, rather than against.

 

It is the inevitable mortality embound in nature, however, that is key to a true understanding of wabi-sabi. As author Andrew Juniper notes in his book Wabi Sabi: The Japanese Art of Impermanence, “It… uses the uncompromising touch of mortality to focus the mind on the exquisite transient beauty to be found in all things impermanent”. Alone, natural patterns are merely pretty, but in understanding their context as transient items that highlight our own awareness of impermanence and death, they become profound.

 

This idea brought to mind a story a Japanese colleague told me when we discussed wabi-sabi. Visiting Kyoto as a teenager, she had hurried through the grounds of Ginkakuji, a wooden Zen temple with quiet gardens, eager to see the more famous Kinkakuji, an ornate temple covered in gold leaf and perched above a reflective pond. Bright, stunning and glamorous, it lived up to her expectations, a far more impressive beauty than its traditional sister temple.

 

A few decades later, however, she returned to find the gold garish and, while it was certainly eye-catching, there was little beyond the immediate gratification of the gold leaf. Ginkakuji, however, offered a new fascination: the aged wood held countless hues and patterns, while the Zen moss and dry sand gardens offered a frame for nature’s many shapes. Unable to appreciate these things as a child, she had grown to see the ravages of time as a deeper source of beauty, far greater than a two-dimensional flash of gold.

 

Intrigued by the personal element of this appreciation, I contacted artist Kazunori Hamana, whose unique pieces are often considered to have an element of wabi-sabi. As we walked through the grounds of his tumbledown farmhouse in the rural idyll of Izumi in Chiba prefecture, he agreed with the need for age.

 

“You have different feelings when you’re young – everything new is good, but you start to see history develop like a story. After you’ve grown up, you see so many stories, from your family to nature: everything growing and dying and you understand the concept more than you did as a child.”

 

This appreciation for the marks of time is a key feature in Hamana’s works, which he chooses to display in derelict Japanese farmhouses. Explaining that the wooden doorframes have been blackened by years of smoke from the irori (an indoor hearth) and pointing out how the mud walls have started crumbling, he says he feels the history of the houses lend a fitting backdrop to his pieces, avoiding the cold duality of impersonal white gallery spaces.

 

Creating sculptures with natural clay from Shiga, an area with a reputation for high-quality clay and a long history of pottery making, Hamana embraces the important wabi-sabi concept of mutual creation between man and nature.

 

“I design a little at first, but clay is a natural thing, so it changes. I don’t want to fight with nature so I follow the shape, I accept it,” he said.

 

Not only does he allow nature to aid in the shaping of his pieces, but in their later appearance too. In an overgrown bamboo forest in the farmhouse grounds, he showed me the pieces he’d chosen to leave outside, buried in the undergrowth for years at a time. There they’ve developed unique patterns from extreme temperatures and surrounding plant life, as well as being occasionally broken. Studying them closely, I found that this simply added to the beauty of each piece, with the cracks offering another opportunity to add to the story.

 

Often associated with wabi-sabi is the art of kintsugi – a method of repairing broken pottery using gold or lacquer. The process highlights, rather than conceals, the cracks, allowing them to become a part of the piece, too. When his daughter accidentally broke some of his work, Hamana said, laughing, he decided to leave the pieces outside for a few years, allowing them to be coloured and shaped by nature. When it was repaired by a local kintsugi specialist, the different colours created a contrast so subtle, so uneven, that could never have been intentionally created. Embracing the effects of nature and allowing family history to be visible in a piece creates a unique value for something which would, in many cultures, simply be discarded as worthless.

 

In fact, the term ‘perfect’, which stems from the Latin perfectus, meaning complete, has been placed on an undeserved pedestal in many cultures, especially the West. Prioritising flawlessness and infallibility, the ideal of perfection creates not only unachievable standards, but misguided ones. In Taoism, since no further growth or development can take place, perfection is considered equivalent to death. While we strive to create perfect things and then struggle to preserve them, we deny their very purpose and subsequently lose the joys of change and growth.

 

Although seemingly abstract, this appreciation of transient beauty can be found at the heart of some of Japan’s most simple pleasures. Hanami, the annual celebration of cherry blossoms, involves parties and picnics, boat rides and festivals, all beneath the often already-falling petals, considered as beautiful in their haphazard patterns on the floor as they are on the branches. The pure acceptance of a fleeting beauty that would garner no more than a few photos in the West is something of an inspiration. While the appreciation may be tinged with melancholy, its only lesson is to enjoy the moments as they come, without expectations.

 

The dents and scratches we bear are all reminders of experience, and to erase them would be to ignore the complexities of life. By retaining the imperfect, repairing the broken and learning to find beauty in flaws – rather than in spite of them – Japan’s ability to cope with the natural disasters it so often faces is strengthened. When my bowl from Hagi arrived in the post months later, its uneven edges were no longer a defect, but instead a welcome reminder that life is not perfect, and nor should I try to make it so.



__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1257)
24 Tháng Chín 2019(Xem: 1747)
02 Tháng Sáu 2019(Xem: 2084)
11 Tháng Năm 2019(Xem: 2429)
26 Tháng Giêng 2019(Xem: 2412)
21 Tháng Giêng 2019(Xem: 2390)
25 Tháng Chín 2018(Xem: 3693)
07 Tháng Chín 2018(Xem: 3228)
30 Tháng Tám 2018(Xem: 2647)
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 55)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 90)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 140)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 154)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 180)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 188)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 203)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 203)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 273)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 224)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 255)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 265)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 255)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 252)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 546)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 287)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 346)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 374)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
05 Tháng Mười Một 20208:12 CH(Xem: 300)
Tất cả chúng ta đều nghĩ đến và chăm lo sức khỏe của mình, chỉ ít hay nhiều tùy theo mình còn trẻ hay già yếu và ốm đau. Thế nhưng sức khỏe không phải chỉ thuộc lãnh vực thân xác mà còn liên quan đến lãnh vực tâm thần. Như vậy thì tín ngưỡng nói chung và Phật giáo nói riêng có giữ một vị trí hay vai trò nào đối với mối quan tâm
04 Tháng Mười Một 20206:03 CH(Xem: 405)
Cách đây vài năm đã xảy ra mấy cuộc biểu tình trên đường phố sau khi một viên quản ngục nhà tù Guantanamo Bay bị buộc tội là đã vứt quyển kinh vào bồn cầu và giật nước cho nó trôi đi. Ngày hôm sau, một ký giả tờ báo địa phương gọi điện thoại cho tôi, nói rằng anh ta đang viết một bài về sự việc vừa xảy ra, muốn hỏi các nhà
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2179)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3869)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5486)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 273)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 346)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 374)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 180)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5296)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 436)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 442)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2951)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1961)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng