V259

Lời giới thiệu và Lời nói đầu

23 Tháng Năm 20199:58 SA(Xem: 229)
Lời giới thiệu và Lời nói đầu
 TienKiepCoHayKhong1_B
Tiền Kiếp - Có Hay Không?
Tác giả: Jim B. Tucker
Hoàng Mai Hoa dịch, Đỗ Hoàng Tùng hiệu đính
Nhà xuất bản Phương Đông
Bản quyền thuộc công ty cổ phần Sách Thái Hà
Nguồn: thuvienhoasen.org
 
____________________
 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Có rất nhiều tác giả đã viết về đầu thai và gần như lúc nào cũng khẳng định nó là có thật, một trong số họ thậm chí còn miêu tả hẳn quá trình của nó; một số khác lại cho rằng đầu thai là một điều ngớ ngẩn. Rất ít người trong số những tác giả này tỏ ra quan tâm đến việc đi tìm bằng chứng ủng hộ hoặc bác bỏ hiện tượng đầu thai.

 

Jim Tucker đã viết ra một cuốn sách khác hẳn. Với anh, bằng chứng luôn là điều quan trọng nhất. Anh đặt ra câu hỏi: Liệu những bằng chứng đó có cho thấy hiện tượng đầu thai là có thật hoặc khiến người ta phải tin vào nó hay không?

 

Bất cứ người nào cũng có thể dễ dàng đưa ra những lập luận bác bỏ sự đầu thai: Con số ít ỏi những người tuyên bố họ nhớ được kiếp trước của mình, trí nhớ không chắc chắn, sự bùng nổ dân số, vấn đề tâm thức – cơ thể, sự lừa gạt và nhiều điểm khác nữa. Jim Tucker đã bàn đến từng lập luận này rất kỹ càng. Cuốn sách này của anh không hề giống với bất cứ cuốn nào khác, bởi trước đó chưa hề có một cuốn sách nào như vậy.

 

Tôi đặc biệt ấn tượng bởi cách Jim Tucker dẫn dắt độc giả. Anh đặt câu hỏi và gần như là yêu cầu họ cùng lập luận với mình trong lúc anh miêu tả và thảo luận từng quan điểm phản đối hiện tượng đầu thai. Anh viết hay đến nỗi có thể khiến một độc giả bình thường quên mất rằng mình còn có việc khác phải làm. Các bạn hãy đọc để tìm thấy các bằng chứng có thể trả lời được câu hỏi quan trọng mà chúng ta vẫn tự hỏi bản thân mình: “Điều gì sẽ xảy ra sau khi chúng ta chết đi?”

 

– Tiến sĩ Ian Stevenson (1918-2007), Nguyên Trưởng khoa Tâm thần học, Đại học Virginia, Mỹ

 

____________________

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Một số trẻ nhỏ nói rất nhiều chi tiết về kiếp trước của mình và thường miêu tả cách mình đã chết như thế nào. Đúng là trẻ nhỏ thì rất hay nó và chúng ta có thể nghĩ đơn giản là các em đang tưởng tượng. Nhưng, giả sử có người lắng nghe các em nói và sau đó thử tìm hiểu xem những sự kiện các em miêu tả có từng xảy ra thật hay không thì sao? Và giả sử khi đến những địa điểm bọn trẻ đã kể ra, những người đó phát hiện thấy những điều các em nói về các sự kiện trong quá khứ là có thật thì sao?

 

Trường hợp của Kemal Atasoy

 

Tiến sĩ Jurgen Keil – một nhà tâm lý học người Úc, đã lắng nghe Kemal Atasoy – một cậu bé sáu tuổi ở Thổ Nhĩ Kỳ – tả lại một cách tự tin những chi tiết về cuộc sống kiếp trước của mình mà cậu nhớ được. Hai người đang ngồi với nhau trong nhà của cậu bé, một ngôi nhà ấm cúng trong khu thượng lưu, ngồi cùng với họ là người phiên dịch của Tiến sĩ Keil và bố mẹ Kemal – một cặp vợ chồng trí thức thỉnh thoảng lại tỏ ra rất thích thú trước vẻ hào hứng của cậu con trai trong khi kể lại những trải nghiệm của mình. Cậu bé nói cậu đã sống ở Istanbul, cách đó 800 km. Cậu nói họ của gia đình mình là Karakas và cậu là một tín đồ đạo Cơ đốc giàu có người Ác-mê-ni sống trong một ngôi nhà ba tầng lớn. Theo lời cậu thì hàng xóm của cậu là một người phụ nữ có tên Aysegul, một người nổi tiếng ở Thổ Nhĩ Kỳ đã phải rời khỏi đất nước vì gặp phải một số vấn đề pháp lý. Kemal cho biết ngôi nhà của mình nằm trên bờ song – nơi các con thuyền neo đậu và đằng sau nó có một nhà thờ. Cậu bé nói vợ và con mình đều có tên Hy Lạp. Cậu cũng kể rằng mình thường mang theo một túi da lớn và chỉ sống trong nhà vào một khoảng thời gian nhất định trong năm.

 

Khi Kemal gặp Tiến sĩ Keil vào năm 1997, không ai biết câu chuyện của cậu bé là thật hay không. Bố mẹ của cậu không biết người nào ở Istanbul. Thực sự là Kemal và mẹ cậu chưa từng đến đó, còn bố cậu chỉ mới đi công tác đến thành phố đó hai lần. Thêm vào đó, gia đình họ cũng không quen ai là người Ác-mê-ni. Bố mẹ cậu là các tín đồ theo đạo Hồi giáo Alevi, một nhóm tôn giáo tin vào sự đầu thai, nhưng dường như họ không cho rằng những câu nói của Kemal – những câu mà cậu bé đã nói từ khi còn là một đứa bé hai tuổi mới chập chững biết đi – có gì quan trọng.

 

Tiến sĩ Keil bắt đầu quá trình xác minh xem những lời Kemal đã nói có đúng không. Khi tiến sĩ Keil và phiên dịch của mình đến Istanbul, họ đã tìm thấy ngôi nhà của Aysegul – người phụ nữ mà Kemal đã nói. Nằm kế bên ngôi nhà là một khu dinh thự ba tầng bỏ hoang đúng như những gì Kemal đã miêu tả – nó nằm ở bờ song, nơi có các con thuyền neo đậu và đằng sau nó là một nhà thờ. Nhưng sau đó Tiến sĩ Keil lại gặp khó khăn khi đi tìm bằng chứng xem một người như Kemal miêu tả có từng sống ở đó hay không. Vào lúc ấy, ở khu vực đó của Istanbul không có người Ác-mê-ni sống trong vùng. Khi quay lại Istanbul trong cùng năm đó, ông đã nói chuyện được với các ủy viên tài phán giáo hội nhà thờ Ác-mê-ni nhưng họ cũng không biết rằng đã từng có một người Ác-mê-ni sống trong căn nhà đó. Không hồ sơ nào trong nhà thờ cho thấy đã từng có một người như thế nhưng có nhiều hồ sơ đã bị tiêu hủy trong một vụ hỏa hoạn. Sau đó, Tiến sĩ Keil nói chuyện với một cụ già trong vùng và cụ khẳng định chắc chắn đã từng có một người Ác-mê-ni sống ở đó nhiều năm trước và các ủy viên nhà thờ quá trẻ nên không biết được những chuyện đó.

 

Năm tiếp theo đó, Tiến sĩ Keil thực hiện chuyến đi lần thứ ba đến vùng và phỏng vấn một nhà sử học có uy tín. Trong suốt cuộc phỏng vấn, Tiến sĩ Keil tuyệt nhiên không đưa ra bất cứ lời gợi ý nào. Nhà sử học đã kể lại một câu chuyện rất giống với chuyện Kemal đã kể. Nhà sử học nói đúng là đã có một tín đồ đạo Cơ-đốc giàu có người Ác-mê-ni sống trong căn nhà đó. Ông ta là người Ác-mê-ni duy nhất trong vùng và họ của ông là Karakas. Vợ ông là một người theo đạo Chính thống giáo Hy Lạp và gia đình bà đã không đồng ý cho hai người kết hôn với nhau. Hai vợ chồng họ đã có ba đứa con nhưng nhà sử học không biết tên của chúng. Ông nói dòng họ Karakas sống ở một khu vực khác của Istanbul, họ chuyên buôn bán đồ da và người đàn ông đã chết được nói đến thường đeo một chiếc túi da lớn trên người. Ông cũng cho biết người đã chết chỉ sống trong căn nhà trong những tháng mùa hè. Ông ta đã chết vào khoảng năm 1940 hoặc 1941.

 

Mặc dù Tiến sĩ Keil không thể kiểm tra được tính xác thực trong lời kể của Kemal rằng người vợ và ba đứa con có tên Hy Lạp, nhưng người vợ đúng là xuất thân từ một gia đình Hy Lạp. Còn cái tên Kemal đưa ra cho người đàn ông lại chính là một từ Ác-mê-ni có nghĩa “một người tốt”. Tiến sĩ Keil không thể khẳng định được mọi người có thật sự gọi ông Karakas như thế hay không nhưng ông đặc biết chú ý đến một sự thật là tuy chẳng có ai xung quanh cậu bé biết từ đó, Kemal vẫn đưa ra cái tên rất có khả năng đã được dùng để miêu tả ông Karakas.

 

Làm thế nào mà cậu bé này, sống trong một thị trấn cách đó 800 km, lại biết được nhiều điều như thế về một người đàn ông đã chết ở Istanbul 50 năm trước khi cậu chào đời? Cậu không thể được nghe kể về người đàn ông mà Tiến sĩ Keil đã phải rất vất vả mới truy tìm được một chút tông tích. Liệu có cách giải thích nào khả dĩ hay không? Câu trả lời của Kemal rất đơn giản: Cậu bé nói trong kiếp trước của mình, cậu chính là người đàn ông đó.

 

Kemal không phải là người duy nhất nói ra những điều như vậy. Đã có nhiều đứa trẻ trên khắp thế giới kể ra những hồi ức về kiếp trước của mình. Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu những câu chuyện của các em trong hơn 40 năm qua. Có hơn 2500 trường hợp đã được ghi vào hồ sơ ở Division of Personality Studies(Khoa nghiên cứu nhân cách) thuộc Trường Đại Học Virginia. Liệu có đúng là Kemal và 2500 đứa trẻ đó đang nhớ lại những gì các em nghĩ là mình đang nhớ – các sự việc trong kiếp trước của mình – hay không? Câu hỏi đó đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nhiều năm và cuốn sách này sẽ thử đi tìm câu trả lời cho nó. Từ trước đến giờ, chúng tôi vẫn chỉ hướng đến những độc giả là các nhà khoa học, nhưng giờ đây, khi chúng tôi đã có dữ liệu của suốt 40 năm qua, những người dân bình thường cũng xứng đáng có một cơ hội để kiểm nghiệm bằng chứng. Tôi sẽ cố trình bày chúng một cách khách quan nhất để các bạn có thể tự đưa ra kết luận cho riêng mình. Tự bản thân hiện tượng các trẻ nhỏ thuật lại những kí ức về kiếp trước đã đầy tính lôi cuốn và trong quá trình tìm hiểu, bạn sẽ dần dần hình thành được quan điểm của mình về nó. Cuối cùng, bạn sẽ quyết định được có nên tin rằng những đứa trẻ như Kemal đã đầu thai trở lại sau khi sống ở kiếp trước – và những người còn lại trong số chúng ta cũng có thể đầu thai – hay không?

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Chín 201910:59 SA(Xem: 521)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
18 Tháng Chín 201910:30 SA(Xem: 39)
333. Good is virtue until life's end, good is faith that is steadfast, good is the acquisition of wisdom, and good is the avoidance of evil. 333. Già vẫn giữ giới là vui, thành tựu chánh tín là vui, đầy đủ trí tuệ là vui, không làm điều ác là vui.
17 Tháng Chín 20199:47 SA(Xem: 42)
319. Those who discern the wrong as wrong and the right as right — upholding right views, they go to realms of bliss. 319. Có lỗi biết có lỗi, không lỗi biết không lỗi ; giữ tâm chánh kiến ấy, đường lành thấy chẳng xa.
16 Tháng Chín 201910:29 CH(Xem: 47)
293. The cankers cease for those mindful and clearly comprehending ones who always earnestly practice mindfulness of the body, who do not resort to what should not be done, and steadfastly pursue what should be done. 293. Thường quan sát tự thân, không làm việc không đáng, việc đáng gắng chuyên làm, thì lậu tập dần tiêu tan.
14 Tháng Chín 201910:30 SA(Xem: 252)
Đây không phải là bộ Tự Điển Anh-Việt Việt-Anh bình thường, đây cũng không phải là Toàn Tập Thuật Ngữ Thiền. Đây chỉ là một bộ sách nhỏ gồm những từ ngữ Thiền và Phật giáo căn bản, hay những từ thường hay gặp trong những bài thuyết giảng về Thiền, với hy vọng giúp những Phật tử và hành giả tu Thiền nào mong muốn tìm hiểu thêm
14 Tháng Chín 201910:22 SA(Xem: 63)
276. (161) Các ngươi hãy nỗ lực lên! Như Lai chỉ dạy cho con đường giác ngộ(162). Sự trói buộc của ma vương sẽ tùy sức Thiền định của các ngươi mà được giải thoát. (161) Các Tăng già Tích Lan mỗi khi khai một hội nghị để luận bàn việc trọng đại, thường lấy bài này làm khẩu hiệu kêu gọi. (162) Như Lai chỉ bày chánh đạo, còn hành đạo là do người.
14 Tháng Chín 20198:25 SA(Xem: 59)
268 - 269. Kẻ ngu muội vô trí, dù làm thinh cũng không thể gọi được là người tịch tịnh. Kẻ trí tuệ sáng suốt như bàn cân, biết cân nhắc điều thiện lẽ ác mà chọn lành bỏ dữ, mới gọi là người tịch tịnh. Biết được cả nội giới và ngoại giới, nên gọi là người tịch tịnh.
13 Tháng Chín 20198:21 SA(Xem: 75)
246-247. One who destroys life, utters lies, takes what is not given, goes to another man's wife, and is addicted to intoxicating drinks — such a man digs up his own root even in this world. 246 - 247. Trong thế gian này, ai hay sát sinh, hay nói dối, hay lấy cắp, hay phạm dâm, hay say đắm rượu chè; ai có các hành vi đó tức là đã tự đào bỏ thiện căn của mình
12 Tháng Chín 20199:17 CH(Xem: 70)
222. Người nào ngăn được cơn giận dữ nổi lên như dừng được chiếc xe đang chạy mạnh, mới là kẻ chế ngự giỏi, ngoài ra chỉ là kẻ cầm cương hờ(136). (136) Nếu tự chủ, ngăn trừ nóng giận kịp thời, mới là người thiện ngự, ngoài ra toàn như kẻ cầm cương hờ, chứ không khống chế được con ngựa.
11 Tháng Chín 20194:54 CH(Xem: 71)
219 - 220. Người khách ly hương lâu ngày, từ phương xa trở về an ổn, được bà con thân hữu đón mừng như thế nào, thì người tạo phước nghiệp cũng vậy, khi từ cõi đời này sang cõi đời khác, phước nghiệp của họ là kẻ thân hữu đón mừng họ.
10 Tháng Chín 20198:51 CH(Xem: 74)
201. Victory begets enmity; the defeated dwell in pain. Happily the peaceful live, discarding both victory and defeat. 201. Thắng lợi bị thù oán, thất bại bị đau khổ ; chẳng màng tới thắng bại, sẽ sống hòa hiếu an vui.
09 Tháng Chín 20194:49 CH(Xem: 76)
182. Hard is it to be born a man; hard is the life of mortals. Hard is it to gain the opportunity of hearing the Sublime Truth, and hard to encounter is the arising of the Buddhas. 182. Được sinh làm người là khó, được sống trọn đời còn khó hơn, được nghe Chánh pháp là khó, được gặp Phật ra đời là khó.
08 Tháng Chín 20197:31 SA(Xem: 73)
173. He, who by good deeds covers the evil he has done, illuminates this world like the moon freed from clouds. 173. Người nào lấy việc lành tiêu trừ việc ác, người đó là ánh sáng chiếu cõi thế gian như vầng trăng ra khỏi mây mù.
07 Tháng Chín 20197:25 SA(Xem: 92)
159. One should do what one teaches others to do; if one would train others, one should be well controlled oneself. Difficult, indeed, is self-control. 159. Nếu muốn khuyên người khác nên làm như mình, trước hãy sửa mình rồi sau sửa người. Tự sửa mình vốn là điều khó nhất.
06 Tháng Chín 201912:30 CH(Xem: 95)
146. When this world is ever ablaze, why this laughter, why this jubilation? Shrouded in darkness, will you not see the light? 146. Làm sao vui cười, có gì thích thú, khi ở trong cõi đời luôn luôn bị thiêu đốt (94). Ở trong chỗ tối tăm bưng bít(95) sao không tìm tới ánh quang minh(96)?
05 Tháng Chín 20199:12 CH(Xem: 88)
143. Only rarely is there a man in this world who, restrained by modesty, avoids reproach, as a thoroughbred horse avoids the whip. 143. Biết lấy điều hổ thẹn để tự cấm ngăn mình, thế gian ít người làm được. Nhưng người đã làm được, họ khéo tránh điều khổ nhục như ngựa hay khéo tránh roi da.
04 Tháng Chín 20199:06 SA(Xem: 76)
123. Just as a trader with a small escort and great wealth would avoid a perilous route, or just as one desiring to live avoids poison, even so should one shun evil. 123. Như người đi buôn mang nhiều của báu mà thiếu bạn đồng hành, tránh xa con đường nguy hiểm làm sao, như kẻ tham sống tránh xa thuốc độc như thế nào,
03 Tháng Chín 20198:56 CH(Xem: 95)
113. Better it is to live one day seeing the rise and fall of things than to live a hundred years without ever seeing the rise and fall of things. 113. Sống trăm tuổi mà không thấy pháp vô thường sanh diệt(86), chẳng bằng sống chỉ một ngày mà được thấy pháp sinh diệt vô thường. (86) Năm uẩn sanh diệt tức là các phép do nhân duyên hòa hợp không thường trú.
02 Tháng Chín 20198:56 CH(Xem: 96)
92. Those who do not accumulate and are wise regarding food, whose object is the Void, the Unconditioned Freedom — their track cannot be traced, like that of birds in the air. 92. Những vị A la hán không chất chứa tài sản(68) biết rõ mục đích sự ăn uống(69), tự tại đi trong cảnh giới : "không, vô tướng, giải thoát"(70), như chim bay giữa hư không, khó tìm thấy dấu vết.
01 Tháng Chín 20197:44 CH(Xem: 110)
79. He who drinks deep the Dhamma lives happily with a tranquil mind. The wise man ever delights in the Dhamma made known by the Noble One (the Buddha). 79. Được uống nước Chánh pháp thì tâm thanh tịnh an lạc, nên người trí thường vui mừng nghe thánh nhơn(56) thuyết pháp. (56) Chư Phật và A la hán.
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1222)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 2499)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 1382)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
18 Tháng Chín 201910:59 SA(Xem: 521)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
22 Tháng Tám 20194:36 CH(Xem: 221)
Thiền tông truyền sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI, do Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma). Đến thế kỷ thứ VII, Thiền tông truyền sang Việt Nam, do Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci). Thế là, Thiền tông có mặt ở Việt Nam sau Trung Hoa một thế kỷ. Đến thế kỷ thứ XII,
22 Tháng Tám 20197:00 SA(Xem: 1094)
Tủ Sách Và Các Bài Viết Của HT. Thích Thanh Từ
18 Tháng Chín 201910:59 SA(Xem: 521)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 263)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 229)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 1079)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 894)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 2981)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái