The Dhammapada: The Buddha's Path Of Wisdom (AB) - Kinh Pháp Cú, Minh Họa (TM-NTG)

08 Tháng Tám 20151:31 CH(Xem: 11174)
The Dhammapada: The Buddha's Path Of Wisdom (AB) - Kinh Pháp Cú, Minh Họa (TM-NTG)

TheDhammapada_AB_1The Dhammapada: The Buddha's Path Of Wisdom (AB)
Kinh Pháp Cú, Minh Họa (TM-NTG)
Translated By: Acharya Buddharakkhita
Chuyển Dịch Thơ: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka




  [01] Chapter 01 -> Chapter 10, Verse 001 -> Verse 145

The Dhammapada, Chapter 01, Yamakavagga: Pairs - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 01, Phẩm Song Song

 (Verses 01-20 - Kệ 01-20)

The Dhammapada, Chapter 02, Appamadavagga: Heedfulness - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 02, Phẩm Không Buông Lung

 (Verses 21-32 - Kệ 21-32)

The Dhammapada, Chapter 03, Cittavagga: The Mind - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 03, Phẩm Tâm 

 (Verses 33-43 - Kệ 33-43)

The Dhammapada, Chapter 04, Pupphavagga: Flowers - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 04, Phẩm Hoa

 (Verses 44-59 - Kệ 44-59)

The Dhammapada, Chapter 05, Balavagga: The Fool - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 05, Phẩm Người Ngu

 (Verses 60-75 - Kệ 60-75)


The Dhammapada, Chapter 06, Panditavagga: The Wise - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 06, Phẩm Người Trí

 (Verses 76-89 - Kệ 76-89)

The Dhammapada, Chapter 07, Arahantavagga: The Arahant or Perfected One - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 07, Phẩm A La Hán

 (Verses 90-99 - Kệ 90-99)

The Dhammapada, Chapter 08, Sahassavagga: The Thousands - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 08, Phẩm Ngàn

 (Verses 100-115 - Kệ 100-115)

The Dhammapada, Chapter 09, Papavagga: Evil - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 09, Phẩm Ác

 (Verses 116-128 - Kệ 116-128)

The Dhammapada, Chapter 10, Dandavagga: Violence - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 10, Phẩm Dao Gậy

 (Verses 129-145 - Kệ 129-145)

  [02] Chapter 11 -> Chapter 20, Verse 146 -> Verse 289

The Dhammapada, Chapter 11, Jaravagga: Old Age - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 11, Phẩm Già

 (Verses 146-156 - Kệ 146-156)

The Dhammapada, Chapter 12, Attavagga: The Self - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 12, Phẩm Chính Mình

 (Verses 157-166 - Kệ 157-166)

The Dhammapada, Chapter 13, Lokavagga: The World - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 13, Phẩm Thế Gian

 (Verses 167-178 - Kệ 167-178)

The Dhammapada, Chapter 14, Buddhavagga: The Buddha - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 14, Phẩm Đức Phật

 (Verses 179-196 - Kệ 179-196)

The Dhammapada, Chapter 15, Sukhavagga: Happiness - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 15, Phẩm An Lạc

 (Verses 197-208 - Kệ 197-208)


The Dhammapada, Chapter 16, Piyavagga: Affection - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 16, Phẩm Yêu Thích

 (Verses 209-220 - Kệ 209-220)

The Dhammapada, Chapter 17, Kodhavagga: Anger - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 17, Phẩm Phẫn Nộ

 (Verses 221-234 - Kệ 221-234)

The Dhammapada, Chapter 18, Malavagga: Impurity - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 18, Phẩm Dơ Bẩn

 (Verses 235-255 - Kệ 235-255)

The Dhammapada, Chapter 19, Dhammatthavagga: The Just - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 19, Phẩm Trọng Pháp

 (Verses 256-272 - Kệ 256-272)

The Dhammapada, Chapter 20, Maggavagga: The Path - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 20, Phẩm Con Đường

 (Verses 273-289 - Kệ 273-289)

  [03] Chapter 21 -> Chapter 26, Verse 290 -> Verse 423

The Dhammapada, Chapter 21, Pakinnakavagga: Miscellaneous - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 21, Phẩm Tạp Lục

 (Verses 290-305 - Kệ 290-305)

The Dhammapada, Chapter 22, Nirayavagga: Hell - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 22, Phẩm Địa Ngục

 (Verses 306-319 - Kệ 306-319)

The Dhammapada, Chapter 23, Nagavagga: The Elephant - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 23, Phẩm Voi

 (Verses 320-333 - Kệ 320-333)

The Dhammapada, Chapter 24, Tanhavagga: Craving - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 24, Phẩm Ái Dục

 (Verses 334-359 - Kệ 334-359)

The Dhammapada, Chapter 25, Bhikkhuvagga: The Monk - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 25, Phẩm Tỳ Kheo

 (Verses 360-382 - Kệ 360-382)

The Dhammapada, Chapter 26, Brahmanavagga: The Holy Man - Kinh Pháp Cú (TM-NTG), Phẩm 26, Phẩm Bà La Môn

 (Verses 383-423 - Kệ 383-423)



The Dhammapada: The Buddha's Path Of Wisdom


Kinh Pháp Cú, Minh Họa 


Kinh Pháp Cú (TM-NTG)


See more articles - Xem thêm:

Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)



The Dhammapada is the best known and most widely esteemed text in the Pali Tipitaka, the sacred scriptures of Theravada Buddhism. The work is included in the Khuddaka Nikaya ("Minor Collection") of the Sutta Pitaka, but its popularity has raised it far above the single niche it occupies in the scriptures to the ranks of a world religious classic. Composed in the ancient Pali language, this slim anthology of verses constitutes a perfect compendium of the Buddha's teaching, comprising between its covers all the essential principles elaborated at length in the forty-odd volumes of the Pali canon.


According to the Theravada Buddhist tradition, each verse in the Dhammapada was originally spoken by the Buddha in response to a particular episode. Accounts of these, along with exegesis of the verses, are preserved in the classic commentary to the work, compiled by the great scholiast Bhadantacariya Buddhaghosa in the fifth century C.E. on the basis or material going back to very ancient times. The contents of the verses, however, transcend the limited and particular circumstances of their origin, reaching out through the ages to various types of people in all the diverse situations of life. For the simple and unsophisticated the Dhammapada is a sympathetic counselor; for the intellectually overburdened its clear and direct teachings inspire humility and reflection; for the earnest seeker it is a perennial source of inspiration and practical instruction. Insights that flashed into the heart of the Buddha have crystallized into these luminous verses of pure wisdom. As profound expressions of practical spirituality, each verse is a guideline to right living. The Buddha unambiguously pointed out that whoever earnestly practices the teachings found in the Dhammapada will taste the bliss of emancipation.


Due to its immense importance, the Dhammapada has been translated into numerous languages. In English alone several translations are available, including editions by such noted scholars as Max Muller and Dr. S. Radhakrishnan. However, when presented from a non-Buddhist frame of reference, the teachings of the Buddha inevitably suffer some distortion. This, in fact, has already happened with our anthology: an unfortunate selection of renderings has sometimes suggested erroneous interpretations, while footnotes have tended to be judgmental.


The present translation was originally written in the late 1950's. Some years earlier, while consulting a number of English-language editions of the Dhammapada, it was observed that the renderings were either too free and inaccurate or too pedantic, and it was therefore felt that a new translation avoiding these two extremes would serve a valuable purpose. The finished result of that project, presented here, is a humble attempt by a practicing follower of the Buddha to transmit the spirit and content, as well as the language and style, of the original teachings.


In preparing this volume I have had access to numerous editions and translations of the Dhammapada into various languages, including Sanskrit, Hindi, Bengali, Sinhala, Burmese and Nepali. I particularly benefited from the excellent translations of the work by the late Venerable Narada Mahathera of Vajirarama, Colombo, Sri Lanka, and Professor Bhagwat of Poona, India; To them I acknowledge my debt. A few verses contain riddles, references or analogies that may not be evident to the reader. The meanings of these are provided either in parentheses or notes, and for their interpretation I have relied on the explanations given in Bhadantacariya Buddhaghosa's commentary. Verses discussed in the notes are indicated in the text by an asterisk at the end of the verse.


A first edition of this translation was published in 1959 and a second in 1966, both by the Maha Bodhi Society in Bangalore, India. For this third edition, the translation has undergone considerable revision. The newly added subtitle, "The Buddha's Path of Wisdom," is not literal, but is fully applicable on the ground that the verses of the Dhammapada all originate from the Buddha's wisdom and lead the one who follows them to a life guided by that same wisdom.


I am grateful to the editors of the Buddhist Publication Society for their helpful suggestions, and to the Society itself for so generously undertaking the publication of this work.


I make this offering of Dhamma in grateful memory of my teachers, parents and relatives, departed and living. May they find access in the Buddha's Dispensation and attain Nibbana!


May all beings be happy!


Acharya Buddharakkhita


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5932)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 2126)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 2335)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1990)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1649)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 408)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 413)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 366)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 438)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 455)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 445)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 494)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 453)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 535)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 879)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 549)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 1085)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 573)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 553)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 506)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 540)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 564)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 555)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 496)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 486)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2469)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 4180)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5890)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 767)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 829)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 823)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 672)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5932)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 810)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 846)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 3444)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2451)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng