V036

027. Phụ bản Tham Đồ Hiển Quyết

22 Tháng Tám 20194:40 CH(Xem: 104)
027. Phụ bản Tham Đồ Hiển Quyết

 TSVN_A

Thiền Sư Việt Nam
HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________

 

 

027. Phụ bản Tham Đồ Hiển Quyết

 

Nhất nhật, đường tiền tọa thứ, hốt hữu Tăng vấn:

 

- Phật chi dữ Thánh, kỳ nghĩa vân hà?

 

Sư vân:

 

Ly hạ trùng dương cúc,

Chi đầu thục khí oanh.

 

Tiến vân:

 

Tạ! Học nhân bất hội, thỉnh tái chỉ thị.

 

Sư vân:

 

Trú tắc kim ô chiếu,

Dạ lai ngọc thố minh.

 

Tăng hựu vấn:

 

Dĩ hoạch sư chân chỉ

Huyền cơ thị như hà?

 

Sư vân:

 

Bất thận thủy bàn kình mãn khứ.

Nhất tao tha điệt hối hà chi!

 

Tiến vân:

 

Tạ!

 

Sư chỉ vân:

 

Mạc trạc giang ba nịch,

Thân lai khước tự trầm.

 

Tăng hựu vấn:

 

Thiếu thất, Ma-kiệt tối huyền, tự cổ vu kim thùy kế tương vi chủ?

 

Sư vân:

 

U minh càn tượng nhân ô thố,

Khuất khúc khôn duy vị Nhạc, Hoài.

 

Hựu vấn:

 

Như hà thị đại đạo,

Căn nguyên nhất lộ hành?

 

Sư vân:

 

Cao ngạn tật phong tri kính thảo,

Bang gia bản đãng thức trung lương.

 

Hựu vấn:

 

Nhất thiết chúng sanh tòng hà nhi lai,

Bách niên chi hậu tòng hà nhi khứ?

 

Sư vân:

 

Manh qui xuyên thạch bích,

Bả miết thướng cao sơn.

 

Hựu vấn:

 

“Thanh thanh thúy trúc tận chân như.”

 

Như hà thị chân như dụng?

 

Sư vân:

 

Tặng quân thiên lý viễn,

Tiếu bả nhất âu trà.

 

Tiến vân:

 

Nhậm ma tức “không lai hà ích”?

 

Sư vân:

 

Thùy thức Đông A khứ,

Đồ trung tái bạch đầu.

 

Hựu vấn:

 

Dã hiên nhất thâm hộ,

Thùy thức đẳng nhàn xao?

 

Sư vân:

 

Kim cốc tiêu sơ hoa thảo loạn,

Nhi kim hôn hiểu nhậm ngưu dương.

 

Tiến vân:

 

Vi thập ma như thử?

 

Sư vân:

 

Phú quí kiêm kiêu thái,

Phiên linh bại thị lâu.

 

Hựu vấn:

 

Long nữ hiến châu thành Phật quả,

Đàn-na xả thí phúc như hà?

 

Sư vân:

 

Vạn cổ nguyệt trung quế,

Phù sơ tại nhất luân.

 

Tiến vân:

 

Nhậm ma tức lao nhi vô công?

 

Sư vân:

 

Thiên thượng như huyền kính,

Nhân gian xứ xứ thông.

 

Hựu vấn:

 

“Độ hà tu dụng phiệt,

Đáo ngạn bất tu thuyền.”

 

Bất độ thời như hà?

 

Sư vân:

 

Hạc trì ngư tại lục,

Hoạch hoạt vạn niên xuân.

 

Tiến vân:

 

Nhậm ma tức “tùy lưu thủy hoạch diệu lý”?

 

Sư vân:

 

Kiến thuyết Kinh Kha lữ,

Nhất hành cánh bất hồi.

 

Hựu vấn:

 

Kim khoáng hỗn giao nguyên nhất khí,

Thỉnh Sư phương tiện luyện tinh hình.

 

Sư vân:

 

Bất thị Tề quân khách,

Na tri hải đại ngư?

 

Tiến vân:

 

Quách quân nhược bất nạp

Gián ngữ diệc hề vi?

 

Sư vân:

 

Nhược dục tiên đề ẩm,

Hưu vi xảo họa xà.

 

Hựu vấn:

 

Xà tử ư lộ thỉnh Sư cứu hoạt.

 

Sư vân:

 

Nhữ thị hà phương nhân?

 

Tăng viết:

 

Bản lai sơn nhân.

 

Sư vân:

 

Tốc hồi cựu nham ẩn,

Mạc kiến Hứa Chân Quân.

 

Hựu vấn:

 

Hải tạng thao thao ưng bất vấn,

Tào Khê trích trích thị như hà?

 

Sư vân:

 

Phong tiền tùng hạ thê lương vận,

Vũ hậu đồ trung thiển trọc nê.

 

Tiến vân:

 

Nhậm ma tức bất dị kim thời dã?

 

Sư vân:

 

Ly hạ trùng dương cúc,

Chi đầu noãn nhật oanh.

 

Hựu vấn:

 

Chiêu chiêu tâm mục chi gian,

Lãng lãng sắc thân chi nội.

 

Nhi lý bất khả phân, tướng bất khả đổ, vi thập ma bất đổ?

 

Sư vân:

 

Uyển trung hoa lạn mạn,

Ngạn thượng thảo ly phi.

 

Tiến vân:

 

Tuế hàn quần miêu lạc,

Hà dĩ khả tuyên dương.

 

Sư vân:

 

Hỉ quân lai tự đạt,

Bất diệc thả hoan ngu.

 

Tiến vân:

 

Hạnh văn kim nhật quyết

Tòng thử miễn hốt vô.

 

Sư vân:

 

Thiển nịch tài đề xuất,

Hồi đầu vạn trượng đàm.

 

Hựu vấn:

 

“Niết-bàn thành nội thượng do nguy.”

 

Như hà thị bất nguy chi xứ?

 

Sư vân:

 

Doanh sào liêm mạc thượng,

Mấn phát vi thiều hành.

 

Tiến vân:

 

Nhược tao thời bách cận,

Lưỡng xứ thị hà vi?

 

Sư vân:

 

Trượng phu tùy phóng đãng,

Phong nguyệt thả tiêu dao.

 

Hựu vấn:

 

“Nhất thiết chúng sanh

Giai ngôn thị Phật.”

 

Thử lý vị minh,

Thỉnh Sư thùy thị.

 

Sư vân:

 

Khuyến quân thả vụ nông tang khứ,

Mạc học tha nhân đãi thố lao.

 

Tiến vân:

 

Hạnh mông Sư hiển quyết,

Chung bất hướng tha cầu.

 

Sư vân:

 

Khả lân tao nhất yết,

Cơ tọa khước vong san.

 

Hựu vấn:

 

Kỷ niên đa tích nang trung bảo,

Kim nhật đương trường địch diện tiền.

 

Sư vân:

 

Chỉ đãi trung thu nguyệt,

Khước tao vân vũ xâm.

 

Tiến vân:

 

Tuy văn Sư ngữ thuyết,

Thử lý vị phân minh.

 

Sư vân:

 

Tiếu tha đồ bảo trụ,

Nịch tử hướng trung lưu.

 

Hựu vấn:

 

Như hà thị nhất pháp?

 

Sư vân:

 

Bất kiến xuân sanh kiêm hạ trưởng,

Hựu phùng thu thục cập đông tàng.

 

Tiến vân:

 

Nhậm ma tức thành Phật đa dã?

 

Sư vân:

 

Tổ Long khu tự chỉ,

Từ Phúc viễn đồ lao.

 

Hựu vấn:

 

“Kiến tánh thành Phật”, kỳ nghĩa như hà?

 

Sư vân:

 

Khô mộc phùng xuân hoa cạnh phát,

Phong xuy thiên lý phức thần hương.

 

Tiến vân:

 

Học nhân bất hội, nguyện Sư tái chỉ.

 

Sư vân:

 

Vạn niên gia tử thụ,

Thương thúy tủng vân đoan.

 

Hựu vấn:

 

Ma-ni dữ chúng sắc,

Bất hợp bất phân ly.

 

Sư vân:

 

Xuân hoa dữ hồ điệp,

Cơ luyến cơ tương vi.

 

Tiến vân:

 

Nhậm ma tức thùy tha hỗn tạp?

 

Sư vân:

 

Bất thị Hồ tăng nhãn,

Đồ lao sính biện châu.

 

Hựu vấn:

 

Như hà thị xúc mục bồ-đề?

 

Sư vân:

 

Kỷ kinh khúc mộc điểu,

Tần xuy lãnh tê nhân.

 

Tiến vân:

 

Học nhân bất hội, cánh thỉnh biệt dụ.

 

Sư vân:

 

Tủng nhân thính cầm hưởng,

Manh giả vọng thiềm thừ.

 

Hựu vấn:

 

Bản tự hữu hình kiêm hữu ảnh,

Hữu thời ảnh dã ly hình phủ?

 

Sư vân:

 

Chúng thủy triều Đông hề vạn phái tranh  lưu,

Quần tinh củng Bắc hề thiên cổ qui tâm.

 

Hựu vấn:

 

Như hà thị “nhất cú liễu nhiên siêu bách ức”?

 

Sư vân:

 

Viễn hiệp Thái sơn siêu Bắc hải,

Ngưỡng phao trụ trượng nhập thiềm cung.

 

Hựu vấn:

 

“Duy thử nhất sự thật,

Dư nhị tắc phi chân.”          

 

Như hà thị chân?

 

Sư vân:

 

Trượng đầu phong dị động,

Lộ thượng vũ thành nê.

 

Hựu vấn:

 

“Bất hướng Như Lai thi diệu tạng,

Bất cầu Tổ diệm tục đăng chi.”            

 

Ý chỉ như hà?

 

Sư vân:

 

Thu thiên đoàn thử lệ,

Tuyết cảnh mẫu đơn khai.

 

Hựu vấn:

 

Như hà thị tối diệu chi cú?

 

Sư vân:

 

Nhất nhân hướng ngung lập,

Mãn tọa ẩm vô hoan?

 

Hựu vấn:

 

Cổ kim đại sự ưng vô vấn,

Đặc địa Tây lai ý nhược hà?

 

Sư vân:

 

Xảo ngôn lệnh sắc giả,

Toản qui đả ngõa nhân.

 

Hựu vấn:

 

“Tâm pháp song vong tính tức chân.”

 

Như hà thị “chân”?

 

Sư vân:

 

Vũ trích nham hoa thần nữ lệ,

Phong xao đình trúc Bá Nha cầm.

 

Hựu vấn:

 

Như hà thị tối diệu chi cú?

 

Sư vân:

 

Hầu lý do tồn ngạnh,

Thường cư bất khoái nhiên.

 

Hựu vấn:

 

Hữu tu hữu chứng khai tứ bệnh,

Xuất đầu hà khả thoát trần lung.

 

Sư vân:

 

Sơn cao cánh đại dung trần trữ,

Hải khoát năng thâm nạp tế lưu.

 

Hựu vấn:

 

“Duy Phật dữ Phật nãi tri tư sự.”

 

Như hà thị “tư sự”?

 

Sư vân:

 

Giáp kính sâm sâm trúc,

Phong xuy khúc tự thành.

 

Hựu vấn:

 

Bất dụng bình thường, bất dụng thiên nhiên, bất dụng tác dụng nhi kim tác thập ma?

 

Sư vân:

 

Bồng thảo thê đê yến,

Thương minh ẩn cự lân.

 

Hựu vấn:

 

Tứ đại đới lai do khoáng kiếp,

Thỉnh Sư phương tiện xuất luân hồi.

 

Sư vân:

 

Cử thế súc đồ tê thị bảo,

Thực ư kinh cức ngọa ư nê.

 

Hựu vấn:

 

“Chủng chủng thủ xả, giai thị luân hồi.”                    

 

Bất thủ bất xả thời như hà?

 

Sư vân:

 

Tòng lai hồng hiện thù thường sắc,

Hữu diệp sâm si bất hữu hoa.

 

Hựu vấn:

 

“Ngôn ngữ đạo đoạn” kỳ ý như hà?

 

Sư vân:

 

Giốc hưởng tùy phong xuyên trúc đáo,

Sơn nham đới nguyệt quá tường lai.

 

Hựu vấn:

 

“Chư Phật thuyết pháp giai thị hóa vật.

Nhược ngộ bản ý, thị danh xuất thế.”

 

Như hà thị “bản ý”.

 

Sư vân:

 

Xuân chức hoa như cẩm,

Thu lai diệp tợ hoàng.

 

Hựu vấn:

 

Như hà thị “trực tiệt nhất lộ”?

 

Sư vân:

 

Đông tây xa mã tẩu,

Trần thổ hiểu hôn phi.

 

Hựu vấn:

 

Hữu pháp hữu tâm khai vọng thức,

Như hà tâm pháp đãng câu tiêu?

 

Sư vân:

 

Khả đoạt tùng sao trường uất uất,

Khởi ưu sương tuyết lạc phân phân.

 

Hựu vấn:

 

Tổ ý dữ giáo ý như hà?

 

Sư vân:

 

Hứng lai huề trượng du vân kính,

Khốn tức thùy liêm ngọa trúc sàng.

 

Hựu vấn:

 

Tổ tổ tương truyền, hợp truyền hà sự?

 

Sư vân:

 

Cơ lai tu tầm thực,

Hàn tức hướng cầu y.

 

Hựu vấn:

 

Thế nhân giai nhẫm ốc,

Lậu nhân hà sở tại?

 

Sư vân:

 

Kim ô kiêm ngọc thố,

Doanh trắc mạn lao phân.

 

Hựu vấn:

 

Như hà thị Tào Khê nhất lộ?

 

Sư vân:

 

Khả lân khắc chu khách,

Đáo xứ ý thông thông.

 

Dịch nghĩa:

 

BÀY RÕ BÍ QUYẾT CHO NGƯỜI THAM VẤN

 

Một hôm ngồi trước Tăng đường, có vị Tăng hỏi:

 

- Phật và Thánh khác nhau thế nào?

 

Sư đáp:

 

Trùng dương cúc nở dưới rào,

Trên cành oanh hót thanh tao dịu dàng.

 

Tăng thưa:

 

Cảm tạ Thầy chỉ dạy, học nhân chẳng hội, xin lại nêu bày ra.

 

Sư đáp:

 

Ngày thì vầng nhật chiếu,

Đêm đến ánh trăng soi.

 

Tăng lại hỏi:

 

Đã được chân chỉ của Thầy, còn huyền cơ thì dạy thế nào?

 

Sư đáp:

 

Bưng thau nước đầy không chú ý

Một lúc sẩy chân hối ích gì?

 

Tăng thưa:

 

Đa tạ!

 

Sư bảo:

 

Chớ rửa sông to sóng,

Chính mình đến chết chìm.

 

Tăng hỏi:

 

Thiếu Thất, Ma-kiệt rất huyền diệu, từ xưa đến nay ai kế thừa làm chủ?

 

Sư đáp:

 

Trời tối, sáng soi nhờ nhật nguyệt,

Đất hiểm, phân ranh có núi sông.

 

Tăng hỏi:

 

Thế nào là đại đạo,

Cội nguồn một lối đi?

 

Sư đáp:

 

Gió mạnh bờ cao biết cỏ cứng,

Nước nhà lận đận thấy tôi trung.

 

Hỏi:

 

Tất cả chúng sanh từ đâu tới,

Sau khi trăm tuổi sẽ về đâu?

 

Đáp:

 

Rùa mù dùi vách đá,

Trạnh què trèo núi cao.

 

Hỏi:

 

“Trúc biếc xanh xanh trọn là chân như”, thế nào là “dụng” của chân như?

 

Đáp:

 

Tặng anh đi ngàn dặm,

Cười trao một ấm trà.

 

Lại thưa:

 

Thế là uổng công đến mà vô ích?

 

Đáp:

 

Ai biết được người chủ (Đông A),

Trên đường lại bạc đầu.

 

Hỏi:

 

Dã Hiên một nhà kín,

Ai biết gõ dễ dàng.

 

Đáp:

 

Kim Cốc tiêu điều hoa cỏ loạn,

Mà nay sớm tối mặc ngựa dê.

 

Hỏi:

 

Tại sao như thế?

 

Đáp:

 

Giàu sang vẫn kiêu sa,

Khiến thành lầu chợ hoại.

 

Hỏi:

 

Long nữ dâng châu thành Phật quả,

Đàn-na bố thí phước thế nào?

 

Đáp:

 

Quế trong trăng muôn thuở,

Héo tươi tại một vầng.

 

Lại thưa:

 

Thế là nhọc mà không công?

 

Đáp:

 

Trên trời như treo gương,

Nhân gian nơi nơi tỏ.

 

Hỏi:

 

Qua sông cần dùng bè,

Đến bờ thuyền bỏ lại.

 

Khi không qua thì thế nào?

 

Đáp:

 

Hồ khô cá mắc cạn,

Sống được muôn năm xuân.

 

Lại thưa:

 

Thế là theo dòng mới được diệu lý?

 

Đáp:

 

Thấy nói bạn Kinh Kha,

Một đi không trở lại.

 

Hỏi:

 

Quặng, vàng lẫn lộn nguyên một loại,

Thỉnh Thầy phương tiện luyện cho tinh.

 

Đáp:

 

Chẳng phải khách nước Tề,

Đâu biết cá to biển.

 

Lại thưa:

 

Ông Quách chẳng chịu nhận,

Can gián cũng làm gì?

 

Đáp:

 

Nếu muốn trước uống rượu,

Khéo vẽ rắn làm gì?

 

Hỏi:

 

Rắn chết trên đường xin Thầy cứu sống?

 

Sư bảo:

 

Ông là người phương nào?

 

Tăng thưa:

 

Vốn là người ở núi.

 

Sư bảo:

 

Núi xưa về ẩn gấp,

Chớ thấy Hứa Chân Quân.

 

Hỏi:

 

Biển cả mênh mông trọn chẳng hỏi,

Tào Khê giọt giọt là thế nào?

 

Đáp:

 

Trước gió thông reo tiếng buồn bã,

Mưa tạnh trên đường ít bùn lầy.

 

Lại thưa:

 

Thế là chẳng khác thời nay?

 

Đáp:

 

Dưới giậu trùng dương cúc,

Đầu cành xuân ấm oanh.

 

Hỏi:

 

Rõ ràng trong khoảng tâm mắt,

Sáng chói ở trong sắc thân.

 

Mà lý không thể phân, tướng không thể thấy, tại sao không thấy?

 

Đáp:

 

Trong vườn hoa khoe sắc,

Trên bờ cỏ xanh rì.

 

Hỏi:

 

Năm lạnh các mầm thối,

Lấy gì để khoe xinh.

 

Đáp:

 

Mừng ông đã thấu suốt,

Cũng chẳng vui hay sao.

 

Tăng nói:

 

Hân hạnh nghe Thầy giải,

Từ đây khỏi chợt không.

 

Sư đáp:

 

Chìm cạn vừa ra khỏi,

Quay đầu muôn trượng đầm.

 

Hỏi:

 

“Trong thành Niết-bàn vẫn còn nguy”, thế nào là chỗ chẳng nguy?

 

Đáp:

 

Xây tổ trên rèm cháy,

Râu tóc cọng hoa lau.

 

Hỏi:

 

Nếu gặp khi bức bách,

Hai chỗ là làm gì?

 

Đáp:

 

Trượng phu tùy thong thả,

Gió trăng mặc tiêu dao.

 

Hỏi:

 

 “Tất cả chúng sanh đều nói là Phật”, lý này chưa rõ xin Thầy chỉ dạy?

 

Đáp:

 

Khuyên ông hãy gắng việc nông tang,

Chớ học theo người đợi thỏ nhọc.

 

Tăng nói:

 

Được nhờ Thầy chỉ rõ,

Trọn chẳng đến ai cầu.

 

Sư nói:

 

Đáng thương người mắc nghẹn,

Ngồi đói lại quên ăn.

 

Tăng nói:

 

Nhiều năm cất giấu báu trong đãy,

Ngày nay trước mắt thấy rõ ràng.

 

Sư nói:

 

Chỉ đợi trăng thu sáng,

Đâu ngờ mây mưa che.

 

Tăng nói:

 

Tuy nghe Thầy thuyết giảng,

Lý nầy vẫn chưa rành.

 

Sư đáp:

 

Cười kẻ luống ôm cột,

Chết đuối nằm giữa dòng.

 

Hỏi:

 

Thế nào là một pháp?

 

Đáp:

 

Chẳng thấy xuân sanh cùng hạ trưởng,

Lại gặp thu chín và đông thâu.

 

Lại thưa:

 

Thế là nhiều người thành Phật?

 

Đáp:

 

Tổ Long chợt tự dừng,

Từ Phúc xa luống nhọc.

 

Hỏi:

 

“Kiến tánh thành Phật”, nghĩa này thế nào?

 

Đáp:

 

Cây khô gặp xuân hoa đua nở,

Gió thổi hương thần thơm rất xa.

 

Tăng nói:

 

Đệ tử chưa hiểu, xin Thầy chỉ lại.

 

Sư đáp:

 

Muôn năm cây cà ấy,

Xanh tươi thấu từng mây.

 

Hỏi:

 

Ma-ni cùng các sắc,

Chẳng hợp cũng chẳng lìa?

 

Đáp:

 

Hoa xuân cùng bươm bướm,

Lúc mến lúc chia lìa.

 

Hỏi:

 

Thế là theo kia hỗn tạp?

 

Đáp:

 

Chẳng phải mắt tăng Ấn,

Luống nhọc trình biện châu.

 

Hỏi:

 

Thế nào là chạm mắt bồ-đề?

 

Đáp:

 

Chim từng sợ cây cong,

Người thổi mãi rau nguội.

 

Hỏi:

 

Đệ tử chẳng hiểu, xin Thầy cho dụ khác.

 

Đáp:

 

Kẻ điếc nghe đàn sáo,

Người mù ngắm trăng lên.

 

Hỏi:

 

Vốn tự có hình cùng có bóng,

Có khi bóng cũng lìa hình chăng?

 

Đáp:

 

Các sông về Đông chừ muôn dòng tranh chảy.

Chúng sao chầu Bắc chừ ngàn xưa về tâm.

 

Hỏi:

 

Thế nào là một câu sáng tỏ siêu trăm ức?

 

Đáp:

 

Xa ném Thái Sơn qua biển Bắc,

Ngước tung cây gậy đến cung trăng.

 

Hỏi:

 

“Chỉ một việc này là thật, còn hai ắt chẳng chân”, thế nào là chân?

 

Đáp:

 

Đầu gậy gió dễ động,

Trên đường mưa thành lầy.

 

Hỏi:

 

“Chẳng hướng Như Lai cầu diệu tạng,

Không mong đuốc Tổ nối ngọn đèn.”

 

Ý chỉ câu này thế nào?

 

Đáp:

 

Trời thu hoàng oanh hót,

Trong tuyết mẫu đơn xinh.

 

Hỏi:

 

Thế nào là câu tuyệt diệu?

 

Đáp:

 

Một người xây vách đứng,

Cả nhà uống chẳng vui.

 

Hỏi:

 

Cổ kim việc lớn thôi không hỏi,

Chỉ chuyện Tây lai ý thế nào?

 

Đáp:

 

Người nói khéo mặt lành,

Kẻ dùi rùa đập ngói.

 

Hỏi:

 

“Tâm pháp đều quên, tánh tức chân”, thế nào là chân?

 

Đáp:

 

Hoa núi mưa sa, Thần nữ khóc,

Tre sân gió thổi, Bá Nha đàn.

 

Hỏi:

 

Thế nào là câu tuyệt diệu?

 

Đáp:

 

Trong cổ vẫn còn nghẹn,

Thường ở chỗ bất an.

 

Hỏi:

 

Còn tu còn chứng sanh bốn bệnh,

Xuất đầu sao được thoát lồng trần?

 

Đáp:

 

Núi cao lại lớn dung chứa bụi,

Bể cả càng sâu nhận các dòng.

 

Hỏi:

 

“Chỉ Phật với Phật mới biết việc này”, thế nào là việc này?

 

Đáp:

 

Đường hẹp trúc um tùm,

Gió thổi thành khúc nhạc.

 

Hỏi:

 

Chẳng dùng bình thường, chẳng dùng thiên nhiên, chẳng dùng tác dụng, thì nay phải làm sao?

 

Đáp:

 

Cỏ bồng chim én đậu,

Biển cả náu cá kình.

 

Hỏi:

 

Tứ đại đeo mang đã nhiều kiếp,

Thỉnh Thầy phương tiện thoát luân hồi?

 

Đáp:

 

Tất cả súc sanh tê giác quí,

Ăn toàn gai góc, ngủ trong bùn.

 

Hỏi:

 

“Các thứ thủ xả đều là luân hồi”, khi không thủ không xả thì sao?

 

Đáp:

 

Xưa nay sam tía sắc thường khác,

So le cành lá chẳng có hoa.

 

Hỏi:

 

“Đường ngôn ngữ dứt” là ý thế nào?

 

Đáp:

 

Gió thổi tiếng còi xuyên trúc đến,

Đầu non mang nguyệt vượt tường sang.

 

Hỏi:

 

“Chư Phật thuyết pháp đều nhằm giáo hóa mọi người, nếu ngộ bản ý gọi là xuất thế”, sao gọi là bản ý?

 

Đáp:

 

Xuân dệt hoa như gấm,

Thu sang lá tợ vàng.

 

Hỏi:

 

Thế nào là một đường thẳng đứt?

 

Đáp:

 

Đông Tây xe ngựa chạy,

Sớm tối bụi mù bay.

 

Hỏi:

 

Có pháp, có tâm mở vọng thức,

Làm sao tâm pháp thảy tiêu vong?

 

Đáp:

 

Vượt được tùng cao che rợp rợp,

Đâu lo sương tuyết rớt bời bời.

 

Hỏi:

 

Ý Tổ cùng ý kinh thế nào?

 

Đáp:

 

Hứng lên xách gậy chơi đường núi,

Nhọc tức xổ rèm nằm chõng tre.

 

Hỏi:

 

Tổ Tổ truyền nhau là truyền việc gì?

 

Đáp:

 

Đói đến cần tìm ăn,

Lạnh về phải mặc áo.

 

Hỏi:

 

Người đời đều thuê nhà,

Nhà dột ở chỗ nào?

 

Đáp:

 

Quạ vàng cùng thỏ bạc,

Đầy vơi chớ bận lòng.

 

Hỏi:

 

Thế nào là một con đường Tào Khê?

 

Đáp:

 

Đáng thương kẻ khắc thuyền.

Đến chốn ý lăng xăng.

 


____________________

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Mười Một 20192:13 CH(Xem: 46)
Cuốn tiểu sử này được viết ra để hé mở về cuộc đời và cách tu tập của vị Đại sư đã quá cố Phra Acharn Mun Bhūridatta. Đây là kết quả của việc góp nhặt những thông tin do một số các đệ tử cùng thời với Ngài, những người đã được Ngài chỉ dạy vào những thời điểm khác nhau, hảo tâm cung cấp. Do vậy, mức độ chính xác của những thông tin này
15 Tháng Mười Một 20195:51 CH(Xem: 43)
Đã lâu lắm rồi, tôi bỏ thói quen viết nhật ký. Không phải vì không có gì để ghi lại nhưng vì tôi đã chuyển đổi cách sống của mình. Tôi tập sống theo những gì mình đã học được nơi các quyển sách Phật giáo mà tôi đã đọc. Tôi không muốn ghi lại quá nhiều chuyện để mỗi lần đọc, tôi lại phải quay về với quá khứ -đầy nước mắt khổ đau-
13 Tháng Mười Một 20192:54 CH(Xem: 100)
Hình như chúng ta đang ở một thời điểm trong lịch sử của nhân loại, khi càng ngày càng có nhiều người đi tìm ý nghĩa cuộc đời. Trong quá khứ, cuộc sống gia đình, tôn giáo, chính trị, hoặc nghề nghiệp đặc biệt nào đó đã được coi như là đủ để thỏa mãn ước muốn thành đạt của nhân loại. Mặc dầu ước muốn này gần như không được biết đến
12 Tháng Mười Một 20198:43 CH(Xem: 99)
Cuộc đời đức Phật là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều sử gia, triết gia, học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cổ, nhạc sĩ, họa sĩ, những nhà điêu khắc, nhà viết kịch, phim ảnh, sân khấu... Và hàng ngàn năm nay đã có vô số tác phẩm về cuộc đời đức Phật, hoặc mang tính lịch sử, khoa học hoặc phát xuất từ cảm hứng nghệ thuật,
08 Tháng Mười Một 20198:43 CH(Xem: 160)
Nguyên câu tiên tri như sau: “Chừng nào chim sắt bay, ngựa chạy trên bánh xe, người Tây Tạng phải lang thang khắp cùng trái đất, lúc đó Phật pháp sẽ được truyền đến đất nước của người da đỏ.” (‘Đất của người da đỏ’, được xem là Tây phương, vì đối với người Á châu, da người Tây phương đỏ hồng). Mã lực của các xe hơi, “con chim sắt” máy bay
06 Tháng Mười Một 20195:22 CH(Xem: 114)
Đây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc sống qua con đường tâm linh. Con đường Đạo của Đức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và thiện ý đều có thể đi trên con đường nầy để đạt được tự do, giải thoát cho thân tâm. Cuộc hành trình nầy đòi hỏi người tham dự
02 Tháng Mười Một 201911:37 SA(Xem: 164)
Quyển Khóa Hư Lục Giảng Giải này ra đời do lòng nhiệt tình, tâm tha thiết mong muốn có một “Pho Sách Phật Giáo Việt Nam” thật sự Việt Nam của chúng tôi. Bao nhiêu năm rồi, chúng tôi ao ước những tư liệu Phật giáo Việt Nam còn sót lại được dịch ra chữ quốc ngữ
31 Tháng Mười 20199:43 SA(Xem: 260)
Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Đức Phật, Trọn Bộ (1->10)
30 Tháng Mười 20193:43 CH(Xem: 214)
Ngày xửa, ngày xưa, có một cô công chúa Út con gái yêu của hoàng đế La Mã - một ông hoàng giàu sang độc tài và rất hung bạo. Lúc lớn lên, nàng công chúa lại đem lòng thầm yêu trộm nhớ một chàng trai trẻ tuổi trong đội Ngự lâm quân của cha mình.
29 Tháng Mười 20195:40 CH(Xem: 176)
Ngày xưa ở nước Ba Tư, có một vị vua (theo đạo Hồi Giáo) đã cho tập họp tất cả những vị quan thông thái nhất của mình, rồi hỏi họ rằng liệu có một câu thần chú nào mà nhà vua có thể làm theo, để giúp nhà vua vượt qua được mọi tình huống, bất kể lúc nào và ở đâu, trong lúc vui hoặc lúc buồn, trong lúc chiến thắng hoặc khi thất bại.
28 Tháng Mười 20199:29 CH(Xem: 130)
Nếu nhẫn nại bao dung được thử thách bằng giông tố cuộc đời, thì tôi là kẻ đang lọt vào trung tâm bão lũ lần thứ nhì, khi Khang bị đột quỵ và trút hơi tàn trên xe cấp cứu. Đám tang Khang diễn ra trong ngậm ngùi, vì con cháu của tôi không có ai tham dự để đưa Khang về nơi an nghỉ sau cùng. Tôi trở lại mái nhà xưa, nơi núm ruột duy nhất của mình
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 182)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
23 Tháng Mười 20197:31 CH(Xem: 299)
"Bài Học Ngàn Vàng" là câu chuyện đã có từ xưa, một câu chuyện vô cùng thâm thúy và bổ ích cho thế đạo nhân tâm. Từ khi được biết bài học này, tôi đem áp dụng vào các công việc hàng ngày, thấy được lợi ích chẳng nhỏ. Từ lâu, tôi muốn đem bài học này viết ra thành sách, để cống hiến quý Phật tử bốn phương
21 Tháng Mười 20191:37 CH(Xem: 191)
Nước Việt Nam đời Trần có Tuệ Trung Thượng Sĩ là cư sĩ tại gia do ngộ đạo, được cả cư sĩ cùng tăng sĩ tìm đến tham học. Người học đạo chỉ quí trọng vấn đề giác ngộ, chớ không quan tâm bởi những vấn đề khác. Đây là chứng minh cụ thể Phật giáo Bắc tông cũng như Thiền tông đặt giác ngộ lên trên tất cả.
19 Tháng Mười 20196:29 CH(Xem: 181)
Sau trên mười chín thế kỷ, ở Việt Nam đời Trần, vua Trần Nhân Tông cũng thấm thiết nỗi đau khổ của con người, Ngài từ bỏ ngai vàng vào núi Yên Tử tu hành được ngộ đạo thành Tổ, và ngót hai mươi năm đi truyền bá khắp nơi, lập thành hệ phái Trúc Lâm Yên Tử. Tiếp theo sau, một vị Trạng nguyên cũng cùng một tâm tư ấy, từ quan đi tu đuợc ngộ đạo
19 Tháng Mười 201910:42 SA(Xem: 313)
Soi sáng thực tại thực ra là tên chúng tôi đặt cho những bài ghi chép tóm tắt các buổi đàm đạo hay tham vấn thiền với Hòa thượng Viên Minh trong giờ uống trà buổi sáng tại khách đường Chùa Bửu Long. Những buổi đàm đạo này đã có từ lâu nhưng chỉ giới hạn trong nội bộ chùa. Về sau một Phật tử đến tham dự buổi trà đàm thấy hay
17 Tháng Mười 20192:39 CH(Xem: 185)
Quyển Hai quãng đời của Sơ tổ Trúc Lâm do chúng tôi giảng giải, để nói lên một con người siêu việt của dân tộc Việt Nam. Khi còn gánh vác việc nước, Ngài sẵn sàng hi sinh thân mạng để giữ gìn đất nước được vẹn toàn. Lúc đất nước thái bình, Ngài dành nửa thời gian lo cho đời, nửa thời gian nghiên cứu Phật pháp. Đến lúc có người thay thế việc nước,
12 Tháng Mười 201910:53 CH(Xem: 265)
Ngài U Thittila không những uyên thâm pháp học, pháp hành ở Myanmar - xứ sở có truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy lâu đời và thuần tuý nhất, mà Ngài còn là một trong những vị Như Lai sứ giả thành công trong việc truyền bá chánh pháp sang các nước phương Tây sớm nhất. Chính nhờ những kinh nghiệm sâu rộng đó
10 Tháng Mười 20199:53 CH(Xem: 264)
Đức Phật là người đã tự mình giác ngộ lý tứ diệu đế và đem những điều mình đã hiểu biết ra dạy dỗ kẻ khác. Rất dễ dàng để nói chữ Phật. Nhưng thực hành hạnh Bồ Tát để trở thành một vị Phật là điều rất khó khăn. Người nào thực hành hoàn mãn các pháp Bala mật
07 Tháng Mười 20199:48 CH(Xem: 245)
Thuở xưa, đức Phật với nắm lá trong tay, hỏi chư tỳ-khưu rằng: “Số lá trong bàn tay của Như Lai, so với lá trong rừng, ở đâu nhiều hơn?” Khi chư tỳ-khưu đáp “Lá trong rừng nhiều hơn”, đức Phật bèn nói tiếp: “Cũng vậy, những thấy biết của Như Lai nhiều như lá cây trong rừng, nhưng những điều Như Lai đem ra giảng nói chỉ như nắm lá ít ỏi
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1491)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 2777)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 1669)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
16 Tháng Mười Một 20192:13 CH(Xem: 46)
Cuốn tiểu sử này được viết ra để hé mở về cuộc đời và cách tu tập của vị Đại sư đã quá cố Phra Acharn Mun Bhūridatta. Đây là kết quả của việc góp nhặt những thông tin do một số các đệ tử cùng thời với Ngài, những người đã được Ngài chỉ dạy vào những thời điểm khác nhau, hảo tâm cung cấp. Do vậy, mức độ chính xác của những thông tin này
13 Tháng Mười Một 20192:54 CH(Xem: 100)
Hình như chúng ta đang ở một thời điểm trong lịch sử của nhân loại, khi càng ngày càng có nhiều người đi tìm ý nghĩa cuộc đời. Trong quá khứ, cuộc sống gia đình, tôn giáo, chính trị, hoặc nghề nghiệp đặc biệt nào đó đã được coi như là đủ để thỏa mãn ước muốn thành đạt của nhân loại. Mặc dầu ước muốn này gần như không được biết đến
12 Tháng Mười Một 20198:43 CH(Xem: 99)
Cuộc đời đức Phật là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều sử gia, triết gia, học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cổ, nhạc sĩ, họa sĩ, những nhà điêu khắc, nhà viết kịch, phim ảnh, sân khấu... Và hàng ngàn năm nay đã có vô số tác phẩm về cuộc đời đức Phật, hoặc mang tính lịch sử, khoa học hoặc phát xuất từ cảm hứng nghệ thuật,
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 182)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
21 Tháng Chín 20198:40 SA(Xem: 968)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 522)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 427)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 1423)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 1222)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,