077. Sơ Tổ Phái Trúc Lâm TRẦN NHÂN TÔNG (1258 - 1308)

22 Tháng Tám 20194:40 CH(Xem: 1305)
077. Sơ Tổ Phái Trúc Lâm TRẦN NHÂN TÔNG (1258 - 1308)

 TSVN_A

Thiền Sư Việt Nam
HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________

 

 

077. Sơ Tổ Phái Trúc Lâm TRẦN NHÂN TÔNG (1258 - 1308)

 

Ngài tên húy là Khâm con trưởng vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh hoàng thái hậu. Ngài tuy ở vị sang cả mà tâm hâm mộ Thiền tông từ thuở nhỏ. Năm mười sáu tuổi được lập làm Hoàng thái tử, Ngài cố từ để nhường lại cho em, mà vua cha không chịu. Vua cưới trưởng nữ của Nguyên Từ quốc mẫu cho Ngài tức là Khâm Từ thái hậu sau này. Sống trong cảnh vui hòa hạnh phúc ấy mà tâm Ngài vẫn thích đi tu.

 

Một hôm vào lúc giữa đêm, Ngài trèo thành trốn đi, định vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người mệt nhọc quá, Ngài bèn vào nằm nghỉ trong tháp. Vị Sư trụ trì ở đây thấy Ngài tướng mạo khác thường, liền làm cơm thết đãi. Vua cha hay tin, sai các quan đi tìm thấy, Ngài bất đắc dĩ phải trở về.

 

Năm hai mươi mốt tuổi, Ngài lên ngôi Hoàng đế (1279). Tuy ở địa vị cửu trùng, mà Ngài vẫn giữ mình thanh tịnh để tu tập. Thường ngày, Ngài đến chùa Tư Phước trong Đại nội tu tập. Một hôm nghỉ trưa, Ngài thấy trong rốn mọc lên một hoa sen vàng lớn bằng bánh xe, trên hoa senđức Phật vàng. Có người đứng bên cạnh chỉ Ngài nói: “Biết ông Phật này chăng? Là đức Phật Biến Chiếu.” Tỉnh giấc, Ngài đem việc đó tâu lên vua cha. Vua Thánh Tông khen là việc kỳ đặc.

 

Ngài thường ăn chay lạt thân thể gầy ốm. Thánh Tông thấy thế lấy làm lạ, nên hỏi nguyên do. Ngài trình thật với cha. Thánh Tông khóc bảo: “Nay ta đã già, chỉ trông cậy một mình con, con lại làm như thế, làm sao gánh vác được sự nghiệp của Tổ tiên?” Ngài nghe dạy cũng rơi nước mắt.

 

Con người Ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, suốt thông nội điển (kinh) và ngoại điển (sách đời). Những khi nhàn rỗi, Ngài mời các Thiền khách bàn giải về Tâm tông (thiền) tham học thiền với Thượng Sĩ Tuệ Trung, thâm đắc đến chỗ Thiền tủy. Đối với Thượng Sĩ, Ngài kính lễ làm thầy.

 

Những khi giặc Nguyên sang quấy rối, Ngài phải xếp việc kinh kệ để lo giữ gìn xã tắc. Nhờ tình đoàn kết quân dân, Ngài đã hai lần đuổi được quân Nguyên giữ gìn trọn vẹn đất nước.

 

Năm Quí Tỵ (1293), Ngài nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái thượng hoàng. Ở ngôi Thái thượng hoàng để chỉ dạy cho con được sáu năm, Ngài sắp đặt việc xuất gia.

 

Đến tháng mười năm Kỷ Hợi (1299), Ngài xuất gia vào tu ở núi Yên Tử. Ở đây, Ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu-đà (khổ hạnh) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu-đà. Sau đó Ngài lập chùa, cất tinh xá, khai giảng để tiếp độ chúng Tăng. Học chúng đua nhau đến rất đông. Sau, Ngài đến chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường lập giảng đường, giảng dạy mấy năm. Ngài lại vân du đến trại Bố Chánh lập am Tri Kiến rồi ở đó.

 

Đến năm Giáp Thìn (1304), Ngài dạo đi khắp nơi khuyên dân dẹp bỏ những dâm từ (miếu thờ thần không chánh đáng), và dạy họ tu hành Thập thiện. Vào mùa đông năm ấy, vua Anh Tông dâng biểu thỉnh Ngài về Đại nội để truyền giới Bồ-tát tại gia.

 

Sau đó, Ngài chống gậy đến chùa Sùng Nghiêm ở núi Linh Sơn để truyền bá Thiền tông.

 

Mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân xong bước lên tòa. Vị Thượng thủ bạch chùy v.v... rồi Ngài nói:

 

- Thích-ca Văn Phật vì một đại sựxuất hiện giữa cõi đời này, suốt bốn mươi chín năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa này, biết nói chuyện gì đây?

 

Ngồi giây lâu, Ngài ngâm:

 

Thân như hơi thở ra vào mũi,

Đời giống mây trôi đỉnh núi xa.

Tiếng quyên từng chập vầng trăng sáng,

Đâu phải tầm thường qua một xuân.

 

(Thân như hô hấp tỷ trung khí,

Thế tợ phong hành lãnh ngoại vân.

Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,

Bất thị tầm thường không quá xuân.)

 

Ngài vỗ bàn một cái, nói:

 

- Không có gì sao? Ra đây! Ra đây!

 

*

*   *

 

Có vị Tăng hỏi:

 

- Thế nào là Phật?

 

Ngài đáp:

 

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

 

- Thế nào là Pháp?

 

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

 

- Thế nào là Tăng?

 

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

 

- Cứu kính thế nào?

 

- Chữ bát đã bày trao hết sạch

  Đâu còn có việc nói cùng ngươi.

 

  (Bát tự đả khai phân phó liễu

  Cánh vô dư sự khả trình quân.)

 

Lại hỏi:

 

- Thế nào là một việc hướng thượng?

 

Ngài đáp:

 

- Đầu gậy khêu nhật nguyệt.

 

- Dùng công án cũ làm gì?

 

- Một lần nhắc lại một lần mới.

 

- Thế nào là giáo ngoại biệt truyền?

 

- Ễnh ương nhảy không khỏi đấu.

 

- Sau khi ra khỏi đấu thì thế nào?

 

- Lại theo con ếch nhảy xuống bùn.

 

- Vẫn là nhảy chẳng khỏi.

 

Ngài bèn lớn tiếng nạt:

 

- Kẻ mù! Thấy cái gì?

 

- Đại tôn đức lừa người làm gì?

 

Ngài liền “hừ, hừ”.

 

Vị Tăng suy nghĩ.

 

Ngài liền đánh. Vị Tăng lại suy nghĩ để hỏi.

 

Ngài liền hét. Vị Tăng cũng hét.

 

Ngài hỏi:

 

- Lão tăng bị một cái hét, hai cái hét của ngươi, rốt cuộc thế nào? Nói mau! Nói mau!

 

Vị Tăng suy nghĩ.

 

Ngài lại hét một tiếng, nói:

 

- Con chồn hoang quỉ quái! Vừa rồi tinh lanh giờ ở chỗ nào?

 

Vị Tăng lễ bái lui ra.

 

Tăng hỏi:

 

- Đại tôn đức khổ nhọc tu hành, đã trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông?

 

Ngài đáp:

 

- Cũng được sáu thông.

 

- Năm thông kia gác qua, thế nào là Tha tâm thông?

 

- Đầy cả quốc độ, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy.

 

Vị Tăng liền đưa nắm tay lên nói:

 

- Đã biết hết thấy hết, vậy biết cái này có vật gì?

 

Ngài đáp:

 

- Như có như không, chẳng phải không chẳng phải sắc.

 

- Xưa Tăng hỏi Hòa thượng Lang Gia: “Thanh tịnh bản nhiên, vì sao chợt sanh sơn hà đại địa?” Ý chỉ thế nào?

 

- Thật giống thuyền chài ra biển.

 

- Ý này thế nào?

 

- Ai biết nơi chốn khói sóng xa khơi kia, riêng có chỗ nên suy nghĩ.

 

*

*   *

 

Hỏi:

 

- Thế nào là gia phong Phật quá khứ?

 

Đáp:

 

- Vườn rừng vắng vẻ ai chăm sóc

  Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên.

 

- Thế nào là gia phong Phật hiện tại?

 

- Gia phong sóng bạc mê yến sớm

  Tiên uyển đào hồng say gió xuân.

 

- Thế nào là gia phong Phật vị lai?

 

- Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt,

  Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.

 

- Gia phong Hòa thượng thế nào?

 

- Áo rách che mây, sáng ăn cháo

  Bình xưa tưới nguyệt, tối uống trà.

 

Lại hỏi:

 

- Ngài Linh Vân khi xem hoa đào ngộ thì thế nào?

 

Đáp:

 

- Tự nở tự tàn theo thời tiết

  Đông quân bị hỏi cũng khôn lời.

 

- Khi giết người không nhìn lại thì sao?

 

- Gan dạ cùng mình.

 

- Người đại tu hành lại rơi vào nhân quả hay không?

 

- Miệng dường chậu máu chê Phật Tổ

  Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.

  Một mai chết đọa A-tỳ ngục

  Cười ngất, Nam-mô Quán Thế Âm.

 

Hỏi:

 

- “Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết

   Trên cây oanh đậu một cành hoa”, thì thế nào?

 

Đáp:

 

- Lầm!

 

- Theo Đại tôn đức thì thế nào?

 

- Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết

  Trên cây oanh đậu một cành hoa.

 

- Đó là câu nói của tôi.

 

- Muốn biết thần tiên lò luyện thuốc

  Linh đơn vốn thiệt tử châu sa.

 

Hỏi:

 

- Thế nào là Thanh tịnh Pháp thân?

 

Đáp:

 

- Đục vàng rơi trong phân sư tử

  Người đen đúa vác bó hương thơm.

 

- Học nhân không hiểu.

 

- Chớ học thói hồ đồ trả giá

  Cười người chân thật dối lầm nhau.

 

- Thế nào là Viên mãn báo thân?

 

- Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió

  Ly châu lắng lạnh biển trong ngần.

 

Vị Tăng lễ bái.

 

Ngài bảo:

 

- Nguyên lai đầy đủ nhiều công dụng

  Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.

 

Hỏi:

 

- Thế nào là Thiên bách ức hóa thân?

 

Đáp:

 

- Mây dồn sương phủ trời mù mịt

  Tấc nước như xưa trước đỉnh đầu.

 

Tăng nói:

 

- Đúng thế.

 

Ngài bảo:

 

- Cười ngất kẻ gom mây dưới đảnh

  Bốn bề nuốt lấy hòn sắt tròn.

 

Vị Tăng lễ bái lui ra.

 

*

*   *

 

Pháp Loa hỏi:

 

- Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim, đều thuộc thứ nói đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ làm sao nói được?

 

Ngài đáp:

 

- Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở

  Lách cách vành xe một tiếng vang.

 

Pháp Loa toan mở miệng nói, Ngài liền bảo:

 

- Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng

  Non tây như trước phủ mây chiều.

 

- Khi muôn dặm mây tạnh thì thế nào?

 

- Mưa tầm tã.

 

- Khi muôn dặm mây che kín thì thế nào?

 

- Trăng vằng vặc.

 

- Cứu kính thế nào?

 

- Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.

 

- Thế nào là Bản lai diện mục?

 

Ngài im lặng giây lâu hỏi:

 

- Hiểu chăng?

 

- Chẳng hiểu.

 

Ngài liền đánh.

 

Pháp Loa hỏi:

 

- Thế nào là ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp?

 

Ngài đáp:

 

- Nếu dùng sắc thấy ta,

  Dùng âm thanh cầu ta,

  Người ấy hành đạo tà,

  Không thể thấy Như Lai.

 

- Thế nào là Phật?

 

- Tấm cám ở dưới cối.

 

- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang?

 

- Bánh vẽ.

 

- Thế nào là đại ý Phật pháp?

 

- Cùng hầm, đất không khác.

 

- Xưa có vị Tăng hỏi Triệu Châu “con chó có Phật tánh không”, Triệu Châu nói “không”. Ý chỉ thế nào?

 

- Chất muối ở trong nước,

  Keo xanh ở trong sắc.

 

- Hữu cú vô cú như bìm leo cây, khi ấy thế nào?

 

Ngài bèn nói kệ:

 

Hữu cú vô cú

Bìm khô cây ngã

Mấy kẻ nạp tăng

U đầu sứt trán.

 

Hữu cú vô cú

Thể lộ gió thu

Hằng hà sa số

Va dao chạm bén.

 

Hữu cú vô cú

Lập tông lập chỉ

Đập ngói dùi rùa

Trèo non lội nước.

 

Hữu cú vô cú

Chẳng có chẳng không

Khắc thuyền tìm kiếm

Tìm ngựa cứ hình (bản đồ).

 

Hữu cú vô cú

Hồi hỗ, hay không

Nón tuyết giày hoa

Ôm cây đợi thỏ.

 

Hữu cú vô cú

Tự xưa tự nay

Chấp tay quên trăng

Đất bằng chết chìm.

 

Hữu cú vô cú

Như thế như thế

Chữ bát mở ra

Sao không nắm mũi?

 

Hữu cú vô cú

Ngó tả ngó hữu

Lau chau mồm mép

Ồn ào náo động.

 

Hữu cú vô cú

Đau đáu lo sợ

Cắt đứt sắn bìm

Đó đây vui thích.

 

(Hữu cú vô cú

Đằng khô thọ đảo

Cơ cá nạp tăng

Chàng đầu khái não.

 

Hữu cú vô cú

Thể lộ kim phong

Hằng hà sa số

Phạm nhẫn thương phong.

 

Hữu cú vô cú

Lập tông lập chỉ

Đả ngỏa toản qui

Đăng sơn thiệp thủy.

 

Hữu cú vô cú

Phi hữu phi vô

Khắc chu cầu kiếm

Sách kị án đồ.

 

Hữu cú vô cú

Hỗ bất hồi hỗ

Lạp tuyết hài hoa

Thủ chu đãi thố.

 

Hữu cú vô cú

Tự cổ tự kim

Chấp chỉ vong nguyệt

Bình địa lục trầm.

 

Hữu cú vô cú

Như thị như thị

Bát tự đả khai

Toàn vô bả tỷ.

 

Hữu cú vô cú

Cố tả cố hữu

A thích thích địa

Náo quát quát địa.

 

Hữu cú vô cú

Đao đao phạ phạ

Tiệt đoạn cát đằng

Bỉ thử khoái hoạt.)

 

Ngài bèn bước xuống tòa.

 

*

*   *

 

Ngày mùng một tháng giêng năm Mậu Thân (1308), Ngài sai Pháp Loa đến huyện Siêu Loại tại Báo Ân thiền tự khai giảng trụ trì. Tháng tư năm ấy, Ngài đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lượng Giang kiết hạ và sai Pháp Loa khai giảng trụ trì. Chính Ngài giảng Truyền Đăng Lục, bảo Quốc sư Đạo Nhất vì chúng giảng kinh Pháp Hoa. Bãi hạ, Ngài vào núi Yên Tử, đuổi hết những người cư sĩ theo hầu hạ và những kẻ nô dịch trong chùa, không được chực hầu như trước. Chỉ để lại mười vị Thị giả thường theo Ngài. Ngài lên ở am Tử Tiêu, vì Pháp Loa giảng Truyền Đăng Lục. Thị giả xuống núi gần hết, duy có đệ tử thượng túcPháp Loa còn ở thôi.

 

Từ đây, Ngài leo khắp các núi, tìm kiếm các hang động, ở tại thạch thất. Pháp Loa thấy thế bạch:

 

- Tôn đức tuổi đã già yếu, mà xông pha trong sương tuyết, lỡ có bề gì thì mạng mạch Phật pháp trông cậy vào ai?

 

Ngài bảo:

 

- Ta thời tiết đã đến, muốn tạo cái kế lâu dài vậy.

 

Ngày mùng năm tháng mười năm ấy, người nhà của Công chúa Thiên Thụy lên núi bạch Ngài: “Công chúa Thiên Thụy bệnh nặng mong được thấy Tôn đức rồi chết.” Ngài bùi ngùi bảo: “Thời tiết đã đến vậy.” Ngài bèn chống gậy xuống núi, chỉ cho theo một người Thị giả. Ngày mùng mười Ngài về đến kinh, dặn dò xong, ngày rằm Ngài trở về núi. Ngài dừng nghỉ ở chùa Siêu Loại. Hôm sau vừa rạng đông, Ngài đi bộ đến chùa làng Cổ Châu, tự đề bài kệ rằng:

 

Số đời một hơi thở

Lòng người hai biển vàng

Cung ma dồn quá lắm

Cõi Phật vui nào hơn.

 

(Thế số nhất tức mặc

Thời tình lưỡng hải ngân

Ma cung hồn quản thậm

Phật quốc bất thắng xuân.)

 

Đến ngày 17, Ngài dừng nghỉ ở chùa Sùng Nghiêm tại Linh Sơn, Tuyên Từ hoàng thái hậu thỉnh Ngài vào am Bình Dương cúng trai. Ngài vui vẻ nói: “Đây là bữa cúng dường rốt sau.”

 

Ngày 18, Ngài lại đi bộ đến chùa Tú Lâm ở ngọn An Kỳ Sanh. Nghe nhức đầu, Ngài gọi hai vị Tỳ-kheo trong chùa bảo:

 

- Ta muốn lên ngọn Ngọa Vân mà chân không thể leo nổi, phải làm sao?

 

Hai vị Tỳ-kheo bạch:

 

- Hai đệ tử có thể giúp được.

 

Đến am Ngọa Vân, Ngài tạ hai vị Tỳ-kheo rằng:

 

- Xuống núi tu hành đi, chớ xem thường việc sanh tử.

 

Ngày 19, Ngài sai Thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu ở núi Yên Tử gọi Bảo Sát đến đây gấp.

 

Ngày 20, Bảo Sát quảy gói sang, đi đến Doanh Tuyền thấy một vầng mây đen từ ngọn Ngọa Vân bay qua Lỗi Sơn và hạ xuống Doanh Tuyền, nước đầy tràn lên cao mấy trượng, giây lát lại bình xuống. Lại thấy hai con rồng đầu bằng đầu ngựa ngóc cao hơn trượng, hai con mắt như sao, chốc lát lại lặn xuống. Đêm ấy Bảo Sát nghỉ trong quán trọ dưới núi, mộng thấy điềm chẳng lành.

 

Ngày 21, Bảo Sát đến am Ngọa Vân. Ngài trông thấy mỉm cười bảo:

 

- Ta sắp đi đây, nhà ngươi đến sao trễ vậy? Đối với Phật pháp, ngươi có chỗ nào chưa rõ hãy hỏi mau.

 

Bảo Sát hỏi:

 

- Như khi Mã Tổ bệnh, Viện chủ hỏi: “Những ngày gần đây Tôn đức thế nào?” Mã Tổ bảo: “Nhật diện Phật, Nguyệt diện Phật.” Nói thế ý chỉ làm sao?

 

Ngài lớn tiếng đáp:

 

- Ngũ đế Tam hoàng là vật gì?

 

Bảo Sát lại hỏi:

 

- Chỉ như “Hoa sum sê chừ gấm sum sê, tre đất nam chừ cây đất bắc”, lại là sao?

 

Ngài đáp:

 

- Làm mù mắt ngươi.

 

Bảo Sát bèn thôi.

 

Suốt mấy hôm trời đất u ám, chim vượn kêu hót rất bi thảm.

 

Đến ngày mùng 1 tháng 11, đêm nay trời trong sao sáng, Ngài hỏi Bảo Sát:

 

- Hiện giờ là giờ gì?

 

Bảo Sát bạch:

 

- Giờ Tý.

 

Ngài lấy tay vén màn cửa sổ nhìn xem, nói:

 

- Đến giờ ta đi.

 

Bảo Sát hỏi:

 

- Tôn đức đi đến chỗ nào?

 

Ngài nói kệ đáp:

 

Tất cả pháp chẳng sanh

Tất cả pháp chẳng diệt

Nếu hay hiểu như thế

Chư Phật thường hiện tiền.

 

(Nhất thiết pháp bất sanh

Nhất thiết pháp bất diệt

Nhược năng như thị giải

Chư Phật thường hiện tiền.)

 

Nào có đến đi ấy vậy.

 

Bảo Sát hỏi:

 

- Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt là thế nào?

 

Ngài liền nhằm miệng Bảo Sát tát cho một cái, nói:

 

- Chớ nói mớ.

 

Nói xong, Ngài bèn nằm như sư tử lặng lẽ mà tịch, vào niên hiệu Hưng Long thứ mười sáu (1308), thọ năm mươi mốt tuổi.

 

Pháp Loa theo lời di chúc của Ngài làm lễ hỏa táng, lượm ngọc cốt có năm màu để vào bình. Vua Anh Tông cùng đình thần đem long giá rước ngọc cốt về tôn thờ nơi Đức Lăng và xây tháp ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, để hiệu là Huệ Quang Kim Tháp và dâng tôn hiệuĐại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu-đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật.

 

Ngài còn lưu lại những tác phẩm:

 

1) Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục

 

2) Đại Hương Hải Ấn thi tập

 

3) Tăng-già Toái Sự

 

4) Thạch Thất Mị Ngữ do Pháp Loa soạn lại lời của Ngài.

 

*

 

Phụ trích vài bài thơ của Điều Ngự Giác Hoàng:

 

1. ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN

 

Địa tịch đài du cổ

Thời lai xuân vị thâm

Vân sơn tương viễn cận

Hoa kính bán tình âm.

Vạn sự thủy lưu thủy

Bách niên tâm ngữ tâm

Ỷ lan hoành ngọc địch

Minh nguyệt mãn hung khâm.

 

Dịch: 

 

LÊN NÚI BẢO ĐÀI

 

Đất vắng đài thêm cổ

Ngày qua xuân chửa nồng.

Gần xa mây núi ngất

Nắng rợp ngõ hoa thông.

Muôn việc nước trôi nước

Trăm năm lòng nhủ lòng.

Tựa lan, nâng ống sáo

Đầy ngực ánh trăng lồng.

 

(Ngô Tất Tố)

 

2. XUÂN VÃN

 

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.

Như kim khám phá Đông hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

 

Dịch:

 

CUỐI XUÂN

 

Thuở bé chưa từng rõ sắc không

Xuân về hoa nở rộn trong lòng

Chúa xuân nay bị ta khám phá

Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng.

 

SƠN PHÒNG MẠN HỨNG

I

 

Thùy phược cánh tương cầu giải thoát

Bất phàm hà tất mích thần tiên

Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão

Y cựu vân trang nhất tháp thiền.

 

II

 

Thị phi niệm trục triêu hoa lạc

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch

Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.

 

Dịch:

 

PHÒNG NÚI KHỞI HỨNG

 

I

 

Ai trói lại mong cầu giải thoát

Chẳng phàm nào phải kiếm thần tiên

Vượn nhàn, ngựa mỏi, người đã lão

Như cũ vân trang một chõng thiền.

 

II

 

Phải quấy niệm rơi hoa buổi sớm

Lợi danh tâm lạnh với mưa đêm

Mưa tạnh, hoa trơ, non vắng lặng

Chim kêu một tiếng lại xuân tàn.

 

ĐỀ PHỔ MINH TỰ THỦY TẠ

Huân tận thiên đầu mãn tọa hương

Thủy lưu sơ khởi bất đa lương

Lão dung ảnh lý tăng quan bế

Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường.

 

Dịch:

 

ĐỀ NHÀ THỦY TẠ CHÙA PHỔ MINH

 

Ngàn hương thắp hết ngát đầy tòa

Làn nước nhẹ nhàng gió lạnh qua

Dưới bóng đa già chùa cửa đóng

Ve ngâm dấy khởi tứ thu xa.

 

*

 

Chẳng những Trúc Lâm Đầu-đà làm thơ chữ Hán mà còn làm phú, ca chữ nôm nữa. Như Cư Trần Lạc Đạo Phú và Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca... Ở đây chúng ta trích vài hội trong bài Cư Trần Lạc Đạo để thấy rõ tinh thần của Ngài.

 

CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ

 

- Hội thứ nhất -

 

Mình ngồi thành thị.

Nết dùng sơn lâm

Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tánh,

Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.

Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quí,

Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.

Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý,

Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chú tri âm.

Nguyệt bạc, vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng,

Liễu mềm hoa tốt, ngất quần sanh tuệ nhật sâm lâm.

Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục,

Nhắm trường sanh, về thượng giới, thuốc thỏ còn đâm.

Sách dịch xem chơi, yêu tánh sáng hơn yêu châu báu,

Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nửa hoàng kim.

 

- Hội thứ hai -

 

Biết vậy!

Miễn được lòng rồi,

Chẳng còn phép khác.

Gìn tánh sáng, tánh mới hầu an,

Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác.

Dứt trừ nhân ngã thì ra tướng thực kim cương,

Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu viên giác.

Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương,

Di-đà là tánh sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc.

Xét thân tâm, rèn tính thức, há rằng mong quả báo phô khoe,

Cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có sá cầu danh bán chác.

Ăn rau ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay.

Vận giấy vận sồi, thân căn có ngại chi đen bạc.

Nhược chỉn vui bề đạo đức, nửa gian lều quí  nữa thiên cung,

Dầu hay mến thửa nhân nghì, ba phiến ngói yêu hơn lầu gác...

 

Đến sau hội thứ mười, kết thúc bằng bài kệ chữ Hán. Kệ rằng:

 

Ở trần vui đạo hãy tùy duyên,

Đói đến thì ăn nhọc ngủ liền,

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

 

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc san hề khốn tắc miên,

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

 


____________________

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 4866)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1397)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1430)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1302)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1023)
27 Tháng Mười 20209:49 CH(Xem: 82)
Những ngày qua con có nhiều thời gian hơn để thực hành, hiếm khi nào mà sự thu thúc, độc cư lại được hợp thức hóa như vậy, thật là thuận lợi. Con có dịp xem xét lại quá trình thực hành của mình từ đầu đến nay, ghi lại những điểm căn bản trong từng lá thư của Thầy, và tiếp tục thực hành những bài tập đó. Con thấy những điều đó
26 Tháng Mười 202010:55 CH(Xem: 114)
Cuộc đời con tới hôm nay là một thanh niên hơn hai mươi nhưng con đã gặp không biết bao bất hạnh từ nhỏ cho đến lớn, từ thể xác đến tinh thần có nhiều lúc tưởng như muốn tự kết liễu cuộc sống. Thực ra bấy lâu nay dù nghe pháp sư ông con vẫn quay về cảm nhận nhưng con vẫn bức xúc khổ đau vì những tổn thương bất hạnh
25 Tháng Mười 202010:40 SA(Xem: 181)
Kỳ thi ra trường của tôi ở Đại học Cambridge năm 1972 là về đề tài vật lý lý thuyết. Đó là quãng thời gian khó nhọc. Toàn bộ sự nghiệp ăn học ở đại học dồn lại thành một loạt những bài-thi khảo sát. Một là đậu hai là rớt. Kỳ thi của tôi bao gồm một bài thi viết luận ba tiếng đồng hồ liên tục vào buổi sáng và một bài thi sát hạch ba tiếng đồng hồ
24 Tháng Mười 20209:58 CH(Xem: 165)
Tối nay tôi sẽ nói về đề tài “quán hay suy ngẫm, chiêm nghiệm” (contemplation) trong Phật giáo. Làm thế nào để quán chiếu, để chiêm nghiệm, để suy ngẫm về Pháp và làm thế nào để áp dụng những điều này trong sự thực hành. Một trong những lý do tôi muốn nói về điều này là vì mọi người hay hỏi tôi làm sao quán và quán như thế nào
23 Tháng Mười 202010:04 CH(Xem: 199)
Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 8, năm 1965, sau khi học xong khóa hè, tôi chuẩn bị sẽ đi California từ New York bằng xe hơi. Ngày ấy tôi mới 20 tuổi và sang tháng 9 tôi sẽ vào học Đại học Brooklyn. Tôi muốn đến thăm một người bạn. Anh ấy đang ở San Francisco mùa hè ấy. Tôi đã thu xếp để cùng đi với mấy người bạn học. Chúng tôi
22 Tháng Mười 20208:57 CH(Xem: 227)
Bài Kinh ĐẠI NIỆM XỨ (Trường bộ kinh Nikaya) là bài kinh quan trọng cho mọi Phật tử như trong phần mở đầu của bài Kinh, Đức Phật đã dạy: “Này chư tỳ kheo, đây là con đường độc nhất để đem lại sự thanh bình cho chúng sanh, vượt thoát sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh tríchứng ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ”.
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4866)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 229)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 243)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
19 Tháng Mười 20209:45 CH(Xem: 233)
Cúng vong linh và cúng cô hồn là tập tục, tín niệm dân gian có từ lâu đời, phổ biến trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt. Cúng vong linh thường thực hiện vào những ngày kỵ giỗ, con cháu soạn mâm cỗ dâng cúng ông bà cha mẹ và những người thân đã mất. Cúng cô hồntrai chủ phát tâm sắm sửa cơm nước lễ vật
18 Tháng Mười 202012:11 CH(Xem: 275)
Các lời trích dẫn giáo lý của Đức Phật cùng các danh nhân khác thường thấy trên mạng, báo chí và tạp chí đủ loại tại các nước Tây phương. Dường như trong cuộc sống dồn dập tại các nơi này, một số người đôi khi cũng thích đọc một vài câu ngắn gọn nhưng sâu sắc, giúp mình suy nghĩ về xã hội, con người và sự sống nói chung.
17 Tháng Mười 20206:19 CH(Xem: 307)
Với người hành thiền mong muốn có được tri kiến đúng đắn về năm uẩn qua việc thực hành Pháp Duyên Sanh, cuốn sách này chắc chắn sẽ là một tác phẩm đáng chú ý nhất. Nó cũng là một sự bổ sung rất ý nghĩa cho việc hiểu Pháp Duyên Sanh. U Than Daing, tác giả của cuốn sách, đã hoàn thành một sự giải thích rất rõ ràng và thấu đáo
16 Tháng Mười 20207:35 CH(Xem: 267)
Đúng, khi người tu thấy ra sự sinh diệt, vị ngọt và sự nguy hại của các pháp hữu vi sẽ không còn ham muốn chấp trước bất kỳ điều gì ở đời. Như Bồ-tát Siddhattha xuất gia không bao lâu đã chứng đắc vị ngọt của tất cả thiền định hữu vi hữu ngã nhưng khi đã thấy ra định này chỉ tạo sự dính mắc trong sắc ái, vô sắc ái ngài liền từ bỏ.
15 Tháng Mười 20204:39 CH(Xem: 269)
Thầy đã nhận được thư con và đọc nhiều lần lá thư ấy. Thầy rất thương con! Con cũng giống như thầy ngày xưa khi mới bỡ ngỡ bước chân đi tìm đạo, thật cô đơn và bơ vơ, không biết phải đi về đâu nữa. Khổ nhất là cái cảnh nửa đời nửa đạo như thế. Đời thì vừa chán vừa sợ, mà sợ nhất là những đam mê của nó cùng với phiền não
14 Tháng Mười 20203:07 CH(Xem: 331)
Nhiều Phật tử đã suy tưởng quá nhiều về Phật pháp nhưng lại thực hành quá ít. Rõ ràng là, vì thiếu kinh nghiệm trong việc hành trì giữ giới, cũng như thiếu những kết quả của công phu thiền tập, họ đã làm sai lệch giáo pháp với những mộng tưởng của chính họ. Bất hạnh thay, trong số những Phật tử này là những vị giáo thọ.
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2598)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
14 Tháng Mười 20209:01 SA(Xem: 2066)
Nhiều Phật tử suy nghĩ về giáo pháp quá nhiều mà thực hành rất ít. Thiếu những trải nghiệm như thế nào là giữ giới, và thiếu dữ liệu từ những tầng thiền định sâu (Thiền Na- Jhana), vô tình họ đã bóp méo giáo pháp bằng những mơ tưởng viển vông của chính họ. Bài kinh Udana (Ud1.10), ghi lại lời Phật dạy cho Bāhiya, là một bài kinh ngắn
13 Tháng Mười 20209:53 CH(Xem: 316)
Khi tôi chết, tôi không muốn có những nghi lễ phô trương. Tôi đã viết di chúc dặn dò nếu tôi chết trong vòng năm mươi dặm của Trung tâm Thiền quán Bhavana (West Virginia, Hoa Kỳ), những người trong đạo tràng nên thu xếp hỏa táng thân xác tôi và sau đó, tùy ý xử lý tro cốt. Tôi không quan tâm. Nếu tôi chết ở nơi khác, họ có thể thu xếp
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2848)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
12 Tháng Mười 202010:53 CH(Xem: 346)
Bài học quý ở đây là: thực sự thực hành + nghe pháp để đối chiếu. Chúng ta chưa bao giờ hiểu đúng cả. Chúng ta chưa bao giờ thực hành đúng cả. Chúng ta chỉ đang tiệm cận dần đến cái đúng. Vì vậy đừng chủ quan. Đừng coi nhẹ những hướng dẫn cơ bản. Thỉnh thoảng cần nghe lại và tìm ra lối thoát cho vấn đề của mình trong đó.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1980)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3658)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5207)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4866)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2848)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
08 Tháng Mười 202011:06 SA(Xem: 4264)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4866)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 229)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 243)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2598)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1707)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1611)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.