CHƯƠNG 10: Chánh Mạng (Sammà-Àjìva)

05 Tháng Mười 20195:14 CH(Xem: 659)
CHƯƠNG 10: Chánh Mạng (Sammà-Àjìva)

ConDuongCoXua
Con Đường Cổ Xưa - The Buddha's Ancient Path

Piyadassi Thera - Dịch giả: Tỳ Khưu Pháp Thông
Nguồn: budsas.org

 

___________________

 

CHƯƠNG 10: CHÁNH MẠNG (SAMMÀ-ÀJÌVA)

 

Chi thứ ba và cũng là chi cuối cùng của nhóm giới là chánh mạng, chánh mạng đòi hỏi người ta không được quan hệ mua bán các loại vũ khí, các loại súc vật để giết thịt, mua bán người (làm nô lệ), các loại rượu và chất say, và mua bán độc dược. Mặc dù Đức Phật chỉ đề cập đến năm loại này, nhưng như chúng ta biết, còn có nhiều cách nuôi mạng không chơn chánh khác nữa. Chúng ta phải nhớ rằng những điều này được Đức Phật nói với xã hội Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên mà phần  lớn, ngay cả ngày nay cũng vậy, bao gồm giới nông dân, chăn nuôi và buôn bán. Điều ghi nhận khá lý thú ở đây là trong kinh điển Phật giáo, có những phần miêu tả rất sinh động về cuộc sống của người nông dân và những người chăn nuôi gia súc. Bài kinh thứ hai và thứ tư của Sutta- Nipata (Kinh Tập, thuộc Tiểu Bộ kinh) chứng thực khá phong phú sự kiện này. Ấn Độ là một nước nông nghiệp và chính phủ của họ không phải là chính phủ 'dân chủ'. Hầu hết các tiểu quốc đều theo chế độ phong kiến đặt dưới sự cai trị của một vị tiểu vương (Ràjà: Vua) như trường hợp bộ tộc Thích Ca của Đức Phật, nhưng cũng có những nước Cộng Hoà, chẳng hạn như cộng hoà Licchàvi, được cai trị bởi một viện nguyên lão gồm các vị trưởng tộc và các vị lãnh đạo. Trong các tiểu vương quốc, Vua là người cai trị mà mọi người đều phải phục tùng và chịu ơn mưa móc của Vua. Cuộc sống lúc đó dường như yên ả hơn so với cuộc sống của nhiều đất nước hiện nay. Vì cách sinh nhai thời ấy còn hạn chế nên Đức Phật chỉ cảnh giác đối với năm điều kể trên.

 

Chúng ta không nên nghĩ rằng Đức Phật chỉ nói về những hậu quả xấu của tà mạng và những lợi ích của chánh mạng cho hàng dân giả thôi. Trong Nikàyas (Kinh Bộ), đáng kể nhất là trong Trường Bộ (Dighà Nikàya) và Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikàya), chúng ta tìm thấy những bài pháp nói về đời sống mà một vị Vua hay người cầm quyền cần phải sống theo. Như đã được tuyên bố một cách minh bạch rằng Vua phải cai trị đúng Pháp (dhammena), không đựơc cai trị phi pháp (A-dhammena). Ngoài việc giữ ngũ giới như các thần dân của họ ra, một vị Vua hay người cầm quyền còn phải có tất cả những phẩm chất hiền thiện xứng đáng làm vị nguyên thủ của một quốc gia nữa. Kinh Phật thường đề cập đến Thập Vương Pháp (Dasa-Ràja Dhamma) hay mười phận sự của một vị Vua: bố thí, trì giới, bỏ của cải ra để làm lợi ích chung; công bình ngay thẳng; ôn hoà, mềm dịu; cố gắng dứt bỏ sự ác; không có sân hận, hung dữ vô ích, không có lòng thù oán, hãm hại kẻ khác; có sự nhẫn nãi; không làm quá phạm vi luật lệ của quốc gia đã có, vì lòng bất bình sân hận của mình[1]. Như Đức Phật đã chỉ ra, chính các bậc Vua chúa là người phải an lập mình vào chánh pháp (dhamma), hiếu đạo với cha mẹ và có lòng chánh trực, tránh những thói hư tật xấu và làm mẫu mực cho thần dân của mình. Ngài nói: "Nếu Vua là người được liệt vào hàng chánh trực nhất trong số những thần dân sống không chánh trực của mình. Thời có cần phải nói người khác không? Mọi người sẽ noi theo gương Vua. Nếu Vua sống không chánh trực thì cả nước sống trong thống khổ... nếu Vua sống ngay thẳng, mọi người sẽ tích cực noi gương Vua và cả nước sẽ sống trong hạnh phúc"[2].

 

Không bao giờ thoả mãn với những vinh dự đã đạt được, bậc Vua chúa hay bậc cai trị được trông đợi phải sống nhân ái và biết chăm lo đời sống cho người dân: "giống như người cha nhân từ đối với con cái vậy"[3]. Một ông Vua suốt ngày chìm đắm trong dục lạc, kiêu hãnh với vương quyền (Issariyamadamatta) đã không được mọi người ca tụng, mà còn bị khinh miệt. Để có được sự công bằng, thành thậtchánh trực đối với mọi người không thiên vị hay tư vị, bậc cai trị phải tránh bốn pháp cư xử sai lầm với mọi người hay còn gọi là bốn pháp tư vị. Đó là tư vị vì thương (chandàgati), tư vị vì ghét (dosàgati), tư vị vì si mê (mohàgati), và tư vị vì sợ (bhayàgati).

 

Về phương diện này, Asoka (A-Dục) bậc vĩ nhân của Ấn Độ, người, do đời sống gương mẫu của mình, sau đó đã trở nên nổi danh là Dhammàsoka, hay Pháp A-Dục, có thể được xem như một trong những nhà cai trị công minh, trí tuệnhân từ nhất của mọi thời đại. Điều này được chứng minh qua những chỉ dụ của người:

 

'Tất cả mọi người đều là con của ta'.

 

'Ta mong cho con ta hưởng mọi sự giàu sanghạnh phúc trong đời này và đời sau như thế nào thời ta mong cho mọi người đều được như vậy'.

 

'Ta sẽ đem lại sự an ủi đến cho thế gian này. Từ nơi ta thế gian này sẽ được hạnh phúc, không còn sầu lo'. (Chỉ Dụ I).

 

'Không có bổn phận nào cao quý hơn là thúc đẩy sự hạnh phúc của toàn thế gian'.

 

'Ta phải làm việc vì lợi ích của cả thế gian' (Chỉ Dụ II).

 

Chắc chắn có thể nói rằng Hoàng đế A-Dục, người đã theo lời khuyên của Đức Phật thực hiện việc cai trị quốc gia đúng theo vương pháp, là một nhà cai trị mẫu mực và như H.G. wells đã viết: 'Trong số hàng chục ngàn các bậc quân vương... chất đầy các cột lịch sử, tên tuổi của A-Dục chói sáng, và chói sáng hầu như đơn độc, đó là một ngôi sao'[4].

 

Đó là chuyện của 23 thế kỷ trước, từ đó đến nay mọi sự đã trở nên xấu đi và người ta ngày càng ít quan tâm đến hạnh phúc của đồng loại. Con người ngày nay không ngừng dùng bất cứ thủ đoạn nào để nắm lấy những gì họ đã khát khao mong mỏi ngay đến độ họ phải tước đi mạng sống của kẻ khác.

 

Trong thế giới văn minh này chánh mạng (nghề nghiệp chân chánh) có thể là một trong những điều luật khó vâng giữ nhất. Có rất nhiều loại việc làm tác hại đến xã hội và không xứng với người Phật tử chân chánh. Chẳng hạn, có những kỹ nghệ chế tạo vũ khí phục vụ chiến tranh; buôn bán rượu; những nghề liên quan đến giết thú mổ thịt hoặc mổ xẻ các động vật sống để làm thí nghiệm; nghề làm báo chuyên viết các tin giật gân; nghề quảng cáo và chào hàng không trung thực; và việc mua bán có tính cắt cổ hoặc cho vay nặng lãi. Đạo Phật không phải là một Tôn giáo hẹp hòi thiển cận. Đạo Phật nhìn những khuyết điểm của con người với sự hiểu biếtcảm thông. Tuy nhiên, người Phật tử chân chánh không thể thọ trì một giới luật và làm ăn sinh sống bằng một giới luật khác, làm mất giá trị của giới luật ấy đi'[5].

 

Giới liên quan đến nuôi mạng chân chánh được Đức Phật thiết lập là nhằm đem lại hạnh phúc thực sự cho từng cá nhânxã hội, đồng thời để thúc đẩy tình đoàn kết và những mối quan hệ chính đáng giữa con người. Một lối sống tà vạy, không chân chánh kéo theo nó rất nhiều bất hạnh, chia rẽ và rối ren cho toàn xã hội. Khi một người hay một cộng đồng không khắc phục được tội ác bóc lột người khác, điều này đã gây trở ngại cho sự an lànhhoà hợp của xã hội. Chính lòng ích kỷtham lam đã thúc giục người ta chọn lối sống tà vạyphi pháp. Những người như vậy hoàn toàn lãnh đảm hay dửng dưng trước những mất mát và đau khổ mà họ đã gây ra cho đồng bào của họ và cho xã hội. Do vậy, Đức Phật nói:

 

"Không vì mình, vì người

Làm điều gì sai trái

Đừng mong cầu con cái

Tài sản hay quốc độ,

Chẳng mong được thành công

Bằng phương tiện bất chánh

Người ấy thật đức hạnh

trí tuệ, chân chánh"[6].

 

Đức Phật không phải không biết đến những gánh nặng mà người tại gia sống với vợ và con cái phải cưu mang, chính vì vậy Ngài không trông đợi nơi họ những giới luật y như Ngài đã trông đợi ở một vị xuất gia. Nhưng Ngài nhấn mạnh rằng người tại gia cư sĩ phải cố gắng gìn giữ ít nhấtngũ giới, chuẩn mực đạo đức tối thiểu của một người bình thường, và rằng họ phải cố gắng sinh sống bằng những nghề nghiệp chân chánh, bằng chánh hạnh (Dhamma cariyà), và nuôi nấng vợ con cũng bằng cách ấy. Nuôi mạng bằng những phương tiện bất công và không chân chánh là thế nào - sát sanh, trộm cắp, lừa đảo và bằng những việc làm bất lương khác, không thể đựơc xem là sinh sống chân chánh. Về mặt luân lý đó là lối sống phi pháp (Adhamma cariyà), một lối sống không bình thường, một lối sống bất chánh (Visamma cariyà).

 

Đức Phật không xem thường hàng tại gia, mà Ngài cảm thông với những khiếm khuyết và hạn chế của họ. Suy cho cùng thì xã hội không phải chỉ gồm những bậc Sa-Môn và ẩn sĩ từ bỏ gia đình sống không gia đình, mà xã hội còn có cả hàng thế tục mà họ được coi là một lực lượng đông đảo của xã hội, về cơ bản mà nói thì đó là một sự tập hợp của các nhân tố xã hội, vì thế sự thịnh vượng hay suy thoái của xã hội tuỳ thuộc vào các cá nhân. Nếu các cá nhân là những người tốt và sống một cuộc sống đúng đắn, đương nhiên xã hội ấy không thể là xấu được.

 

Một số bài kinh như Sigàla Sutta[7] (kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt) có thể gọi một cách chính xácgiới luật của người tại gia (gihi vinaya), Vyagghapajja Sutta [8] ... là những bài kinh do Đức Phật thuyết đặc biệt cho hàng tại gia đã cho thấy rõ sự quan tâm của bậc Đạo Sư đối với cả hai phương diện hạnh phúc vật chất và phát triển tinh thần của hàng tục gia đệ tử của Ngài. Trong bài kinh giáo hoá thanh niên Sigàla, bằng ngôn ngữ giản dị, Đức Phật đã giải thích những phận sự cần phải chu toàn của một người tại gia cư sĩ đối với tất cả những người mà họ có quan hệ: Những phận sự hỗ tương giữa các bậc cha mẹ và con cái, giữa thầy và trò, giữa vợ và chồng, giữa bạn bè và thân quyến, giữa chủ và tớ, và phận sự đối với tôn giáo, nghĩa là đối với các Sa-Môn và Bà-La-Môn. Bằng cách này Đức Phật đã khuyến khích người tại gia cư sĩ sống một cuộc sống chân chánh, hoàn thành mọi phận sự của mình một cách tốt đẹp bằng hết khả năng của mình và điều quan trọng là không bỏ sót việc gì không làm.

 

Bà C.A.F. Rhys Davids, khi bình luận về kinh Sigala này có nói:

 

"Giáo lý của Đức Phật về tình thươngthiện chí ở đây được giới thiệu trên nền tảng luân lý gia đìnhxã hội với chi tiết dễ hiểu hơn ở các bài kinh khác... .và thực sự chúng ta có thể nói rằng ngay cả ngày nay những giới luật này vẫn chứa đựng những lợi ích cơ bản nhất của con người, trí tuệ vạch ra những điều này quả là sáng suốtsâu rộng, rằng việc trình bày ở không gian và thời gian này vẫn mới mẻ và thực tiễn như nó đã từng tại Ràjagaha lúc bấy giờ. Hạnh phúc thay những xóm làng và bộ tộc hai bên bờ sông Hằng (Ganges), nơi đây con người sống ngập tràn tinh thần nhân ái của sự thông hiểu lẫn nhau, ngập tràn tinh thần cao thượng của vị công bằng mà họ hít thở qua những lời dạy chất phác và giản dị này". Ắt hẳn sẽ hạnh phúc không kém đối với các ngôi làng hay dòng họ ở hai bên bờ sông Thames (một con sông của nước Anh, nơi bà Rhys Davids sinh sống) ngày nay, nếu như những lời dạy mộc mạc và bình dị này có thể được trình bày"[9].

 

Như chúng ta đã biết, sau khi thành tựu sự giác ngộ viên mãn Đức Phật không phải lúc nào cũng giam mình trong tịnh thất, mà Ngài dong duỗi hết thị trấn này đến thị trấn khác, hết làng mạc này đến làng mạc khác qua những con đường lớn nhở của Ấn Độ. Ngài lưu tâm đến tầng lớp bình dân hơn tầng lớp thượng lưu dân quý tộc. Các bậc Vua chúa và hoàng gia tìm đến Ngài để xin lời chỉ dạy và hướng dẫn, nhưng bậc Đạo Sư đích thân đi đến những người nghèo khổ, thấp hènđau khổ để giúp họ. Ngài hiểu mọi người, từ những tầng lớp thấp thỏi nhất của xã hội đến tầng lớp cao quí nhất và Ngài cũng ý thức rất rõ điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của Ấn Độ lúc bấy giờ. Nhờ hiểu biết mọi việc như vậy nên Ngài không giới hạn những bài giảng và thảo luận của Ngài, vào những vấn đề triết lý và tâm lý cao siêu. Là một bậc Thầy thực tiễn với lòng từtrí tuệ vô biên, Ngài lưu tâm đến những phúc lợi xã hộiđiều kiện kinh tế của số đông, và luôn luôn mong ước, bằng lời khuyên của Ngài sẽ làm vơi đi nỗi thống khổ của con người, cũng như thấy rằng họ sống không quá mức bất hạnh. Thực sự mà nói thì hạnh phúc phải phát xuất từ một cuộc sống thanh tịnhan lạc; nhưng điều hiển nhiênnếu không có một mức độ ổn định nào đó về mặt vật chất và kinh tế thì tiến bộ đạo đứctinh thần cũng khó có thể ổn định.

 

Đối với một người tu sĩ, bốn món vật dụng thiết yếu (Catupaccaya) giúp họ tiến bước trên con đường thanh tịnhgiải thoát. Đó là y áo, thực phẩm, thuốc men và sàng toạ. Đây chỉ là những nhu yếu mà không có nó thì không ai có thể sống được. Về cơ bản đó cũng là những nhu cầu cần thiết của người tại gia.

 

Chính thói quen của Đức Phật là hỏi các vị Tỳ khưu mỗi khi gặp họ: "Các con có được an lành không, các con sống có an vui không? Như Lai tin rằng các con sống được an vui, các con sống không đến nỗi thiếu thốn vật thực"[10]. Có một câu chuyện cảm động kể về một người mục đồng nọ đang đi tìm con bò thất lạc, lỡ bữa ăn trưa. Trên đường trở về, vừa đói vừa mệt, anh ta đi đến chỗ Đức Phật để nghe Ngài giảng pháp. Tuy nhiên, Đức Thế Tôn biết rằng người mục đồng này đã không ăn gì suốt cả ngày nay, Ngài bèn hỏi thăm mọi người xem trước hết có gì cho anh ta ăn không đã. Đức Phật biết là thuyết pháp cho bất luận người nào mà trước tiên không thoả mãn cơn đói của họ là việc làm vô ích. Nhân dịp đó Đức Phật nói lên bài kệ này:

 

"Đói bụng bịnh trầm kha,

Các uẩn khổ vô cùng

Biết đúng sự thật này

Niết bàn lạc tối thượng"[11].

 

Mặc dù Đức Phật không xem tiến bộ vật chất trong ý nghĩa văn minh hiện đại cũng như hạnh phúc thế gian là điều quan trọng, nhưng không phải là Ngài hoàn toàn bỏ qua việc ấy, bởi vì đó là căn bản cho tiến bộ tâm linh hay tinh thần của con người như đã nói rõ ở trên. Vì thế có thể nói Đức Phật rất là thẳng thắn khi đề cập đến những phương diệnliên quan tới điều kiện vật chấtan lạc xã hội.

 

Một thực tế mà cũng phải nhìn nhận rằng đói nghèo là nguyên nhân chính của tội ác. Nếu người ta bị tước đoạt mất bốn món vật dụng kể trên, hoặc nếu bốn món thiết yếu này, đặc biệtthực phẩm trở nên khan hiếm, tâm con người sẽ bất an. Họ không thể và chắc chắn là không còn nghĩ gì đến giới hạnh, hoặc là quan tâm đến nếp sống chân chánh. Tuỳ cơ ứng biến và thế là họ nghiêng về lối sống bất chánh để được sống còn. Do thiếu ổn định về kinh tế, và do thiếu thốn tiền bạc mà con người bị dẫn đến chỗ trộm cắp và phạm vào những tội ác khác. Kinh Kàtadanta[12] nói rõ cách làm thế nào để phát triển các điều kiện kinh tế và xã hội của một xứ sở, theo đó người nông gia và thương gia cần phải được chu cấp những phương tiện cần thiết để thực hiện việc canh tác và buôn bán của họ, và rằng mọi người phải được trả lương đầy đủ. Khi họ đã có đủ ăn đủ mặc và cuộc sống kinh tế ổn định như vậy, tội phạm sẽ giảm và an vui, hoà hợp sẽ tăng trưởng.

 

Trong một bài kinh khác Đức Phật giải thích cho Cấp Cô Độc (Anàthapindika), người sáng lập Kỳ Viên Tịnh Xá (Jetavana), bốn loại lạc mà người tại gia có thể thọ hưởng. Thứ nhất là lạc sở hữu hay sự ổn định kinh tế, nhờ đó người ấy có phương tiện đầy đủ (atthi sukha), thủ đắc đúng pháp do chính những nỗ lực của mình, không dùng đến năm nghề bất chánh kể trên; thứ hai là lạc về tài sản (bhoga sukha) hay hạnh phúc thành tựu do biết tiêu dùng sáng suốt những tài sản hợp pháp đó; thứ ba là lạc không bị mắc nợ (anana sukha), là sự hoan hỉ và thoả thích phát sanh với ý nghĩ: "Ta không mắc nợ ai điều gì cả", thứ tư là lạc không phạm tội (anavajja sukha), là sự thoả mãn phát sanh từ ý nghĩ: "ta thành tựu các hành vi không lỗi về thân, về lời và ý"[13].

 

Tất cả những gì được thảo luận ở đây cũng như trong các bài pháp trích dẫn đủ để cho thấy rằng người tại gia cư sĩ, như một thành phần của xã hội, phải có bổn phận siêng năng làm việc để sinh sống và củng cố địa vị kinh tế và xã hội của mình, nếu không họ sẽ trở thành gánh nặng cho chính bản thân họ và cho xã hội, nhưng đồng thời họ cũng phải tránh những cách sanh nhai bất chánh, tà vạy và nhất là không đi lệch ra ngoài con đường chánh trực,

 

Những lời chỉ dẫn và khuyên bảo của Đức Phật về chánh mạng nhằm vào cả hai giới tại giaxuất gia. Ngài rõ ràng đã giải thích cho hàng đệ tử của mình thấy rằng đời sống của người tu sĩ phải tuyệt đối trong sạch và không lầm lỗi. Bậc Đạo Sư thật sự rất chú trọng đến vấn đề này, vì Ngài nói:

 

"Này các Tỳ  khưu, những vị Tỳ khưu  nào lừa dối, cứng đầu, lắm mồm, lắm miệng, hoang dâm, hỗn hào, không có định tĩnh, những vị Tỳ khưu ấy không phải là đệ tử của Ta. Những Tỳ khưu ấy đã rơi khỏi Pháp-Luật này, họ không thể phát triển, tăng trưởng và tăng thịnh trong Pháp-Luật này"[14].

 

Bậc Đạo Sư nói thêm: "Này các Tỳ khưu, phạm hạnh (Brahmacariyam) được sống không phải để lừa dối mọi người, không phải để mưu đồ, không vì lợi lạc vật chất, cũng không phải vì mục đích danh vọng. Đời phạm hạnh này được sống không phải để lý luận, tạp thoại, không phải với ý định: "mong rằng mọi người sẽ biết ta như thế này, như thế nọ..." Mà này các Tỳ khưu, phạm hạnh này được sống vì mục đích tiết chế, vì mục đích từ bỏ, vì mục đích xả ly, vì mục đích đoạn diệt"[15].

 

Như bài kinh "Xuất gia"[16] đã chỉ rõ, chính Đức Phật đã nêu tấm gương cho hàng đệ tử khi Ngài nói:

 

"Bỏ nhà ta xuất gia

Từ bỏ mọi lời ác

Và những thân hành ác

Chánh mạng ta thanh tịnh".

 

Trong trường hợp một người xuất gia, vấn đề tránh năm loại nghề bất chánh không được nêu ra, vì người xuất gia chắc chắn không dính mắc vào những công việc, vị ấy cũng không có trách nhiệm chăm lo đời sống gia đình. Người xuất gia đã từ bỏ gia đìnhchấp nhận lối sống thiểu dục, tri túc (ít muốn, biết đủ) như Đức Phật nói; chính bổn phận của người tại gia cư sĩniềm tinhộ trì cho chư Tăng bốn món vật dụng: Y áo, thực phẩm, sàng toà và thuốc men[17].

 

Vị Tỳ khưu, như một người đã bước vào đời phạm hạnh, phải tránh tất cả những phưong tiện sinh sống tà vạy, vì nếu vị ấy không minh bạchtrong sạch trong lối sống thì khó có thể đi theo con đường thanh tịnh dù chỉ với chút tín tâm và lòng hoan hỉ. Chính vì vậy Đức Phật nói:

 

"Đường này đến thế gian,

Đường kia đến Niết bàn

Tỳ khưu đệ tử Phật,

Phải ý thức rõ ràng

Đừng đắm say thế lợi

Hãy tu hạnh ly tham"[18].

 

Với chương này chúng ta khép lại phần thảo luận về nhóm giới của Bát Chánh Đạo. Trong hai chương trước chúng ta đã đề cập đến Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và cùng với Chánh Mạng này tạo thành Giới hay luân lý của đạo Phật. Sự kiện này một lần nữa được làm sáng tỏ trong lời tuyên bố cô đọng của Đức Phậtbài kinh số 78 của Majjhimà Nikàya (Trung Bộ Kinh):

 

"Này gia chủ, thế nào là các thiện giới (Kusasìlam)? Thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, và chánh mạng hoàn toàn thanh tịnh Như Lai tuyên bố là gồm trong các thiện giới. Những điều này được gọi là thiện giới, vậy cái gì là sự sanh khởi của những thiện giới này?... thiện giới được sanh khởi trong tâm (ý: citta)... tâm nào? Vì có rất nhiều tâm khác nhau. Tâm nào không tham, không sân, và không si. Các thiện giới phát sanh từ tâm ấy..."

 

Lời nói và hành động đều do ý thể hiện. Trong Phật giáo cả hai động cơ và kết quả cần phải được cân nhắc. Cho dù động cơ có thể là tốt, nhưng nếu kết quả xảy ra sẽ không lành mạnh, chúng ta cũng nên tránh những lời nói và hành động sai lầm ấy.

 

___________________

 

 

[1] Thập vương pháp theo Pàli: Dàna, Sìla, Pariccàga, Ajjava, Maddava, Tapa, Akodha, Avihimsà, Khanti, Avirodhana.

 

[2] A.II. 74.

 

[3] D.II. 178.

 

[4] The Outline of History (Cassel and Co., London, 1934) trang 402.

 

[5] Mind Unshaken, Johnwalters (Rider and company, 1961).

 

[6] Dhp. 84.

 

[7] D.II. 31.

 

[8] A.II.

 

[9] T.W. Rhys Davids, Buddism (London, 1907). Trang 148.

 

[10] M. 31. A.I. 70.

 

[11] Dhp. 203.

 

[12] D.5.

 

[13] A.II. 69.

 

[14] A.II. 26.

 

[15] A.II. 26.

 

[16] Pabbajjà -sutta, sn. V. 407.

 

[17] A.II. 65.

 

[18] Dhp. 75.

 

___________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 787)
01 Tháng Sáu 20209:48 CH(Xem: 23)
Đích đến của sự tu hành trong Đạo Phật không phải là tìm kiếm hay trở thành một cái gì khác mà là trở về soi sáng lại chính mình và thấy ra tất cả giá trị chân lý cao nhất ở trong chính mình chứ không ở đâu khác. Đó là điều đặc biệt của Đạo Phật. Hầu hết các tôn giáoẤn Độ đều nương tựa vào bên ngoài, nương tựa vào thần linh,
31 Tháng Năm 20209:51 CH(Xem: 62)
Dạo này ngoài kia đang xôn xao vì dịch bệnh. Nhiều người viết thư cho tôi về con virut corona ấy. Người thì sợ hãi, bất an, người thì than thở, lo lắng, người quan tâm thăm hỏi rừng thiền có đủ đồ ăn tích trữ hay không. Bỗng nhiên, cả thế giới nháo nhào vì con virut. Người thì stress vì tự nhiên nhàn rỗi, tù túng quá, người thì đau đầu vì
30 Tháng Năm 202010:54 CH(Xem: 125)
Con nghe các băng giảng của quý thầy, quý sư hay nói về Đạo, về Pháp, về Thiền mà không thật sự hiểu rõ về sự giống nhau, khác nhau giữa chúng. Cụ thể, ngay phần “vấn Đạo, vấn Thiền” này; vấn Đạo là hỏi Đạo, vấn Thiền là hỏi Thiền; vậy hỏi Đạo, hỏi Thiền giống nhau và khác nhau ra sao? Còn Pháp nữa. Pháp này cũng không dễ gì mà hiểu
29 Tháng Năm 202011:09 CH(Xem: 124)
Sở dĩ thầy để nguyên từ Dukkha mà không dùng chữ Khổ là vì từ Dukkha rất khó dịch cho lọn nghĩa. Ai cũng dịch là Khổ, Khổ là đúng rồi nhưng nội hàm Dukkha ngữ nghĩa rất lớn rộng, không thể gói gọn trong chữ Khổ được. Thầy nói một câu là con hiểu ngay: Dukkha là Khổ nhưng Lạc cũng Dukkha. Con đã thấy chưa?
28 Tháng Năm 202011:34 CH(Xem: 131)
Ngài dạy rằng, đối với kẻ phàm phu khi cơ thể sinh lývấn đề thì lập tức cái tâm họ có vấn đề. Như vậy, kẻ phàm phu khi bị khổ thân thì sẽ bị khổ tâm giống như một người cùng lúc bị hai cái mũi tên. Ở đây Ngài chỉ nói một phương diện, nhưng tôi thấy phàm phu khổ tâm đã đành mà khi khổ tâm thì cũng có khổ thân nữa. Có những người do ghen tuông,
27 Tháng Năm 20207:43 CH(Xem: 155)
Voltaire nói “Đẹp là con cóc đực trong mắt con cóc cái.” Mỹ có câu tương đương: “Khi ta yêu một người chột thì ta thấy mọi người đều dư một con mắt.” Tôi nói ra nghe kỳ, nhưng có người lỡ yêu người mặt nám, mặt tàn nhang, mặt mụn hoặc mặt rổ, hoặc mùi mồ hôi nặng, khi trót yêu rồi, mai mốt đi đâu mà gặp người không có mùi đó
26 Tháng Năm 202010:18 CH(Xem: 146)
Một vị giảng sư thành công là vị có kỹ năng và phương pháp. Với kỹ năng và phương pháp, vị giảng sư từng bước xây dựng cho mình sự tin tưởng nơi thính chúng, rèn luyện khả năng khơi gợi sự đồng cảm của thính chúng và khả năng trình bày mọi vấn đề hợp với luận lý. Vị giảng sư cần chuẩn bị cho mình một tư thế để luôn luôn thuyết phục
25 Tháng Năm 20206:03 CH(Xem: 227)
Hiển nhiên, Đức Phật là vị Thầy, vị Giảng sư tối thượng, toàn hảo. Chỉ có Ngài mới là nhà truyền pháp vi diệu nhất. Chư vị Bồ-tát được Ngài giao phó việc truyền pháp cùng với sức gia thần của Ngài nên chư vị cũng được xem là Pháp vương hay Pháp vương tử, giảng pháp cho hàng thính chúng rất hữu hiệu. Chư Thánh đệ tử A- la-hán
24 Tháng Năm 202010:55 CH(Xem: 185)
Để hiểu và rèn luyện chánh niệm đối với người mới bắt đầu là điều rất khó, vì đó là thứ mà mọi người chưa bao giờ có. Chính vì vậy, cách dẫn nhập để cho thiền sinh hiểu và trải nghiệm được chánh niệm trong cuộc sống thực là điều quan trọng hàng đầu. Một cách dẫn nhập không khéo léo sẽ làm cho thiền sinh hiểu nhầm và thực hành sai,
23 Tháng Năm 202010:58 CH(Xem: 196)
Bản chất của tình yêu thương là cao khiết, trừ phi nó bị cái Ta luyến ái, dính mắc và vị kỷ buộc ràng. Tất nhiên tình yêu thương cao khiết phải bao gồm bốn đức: Từ, Bi, Hỷ và Xả. Khi tình yêu thương có 4 đức đó thì mới thực sự là hạnh phúc - hạnh phúc của niềm tịnh lạc hay an lạc. Còn nếu trong tình yêu thươngluyến áiích kỷ
22 Tháng Năm 202011:05 CH(Xem: 198)
Dễ duôi là một chướng ngại lớn nhất trên đường tu tập, cũng như trong sự rèn luyện, vươn lên trong cuộc sống của một con người bình thường. Dễ duôi là hành động theo bản năng, theo bất cứ đòi hỏi nào của tham sân si, của các trạng thái tâm bất thiện, một cách vô điều kiện mà không có ý định kháng cự. Thành công trong cuộc sống
21 Tháng Năm 202011:01 CH(Xem: 197)
- Thấy cái áo đẹp, thích là chuyện bình thường, không phải tham, không có tội chi cả. Có 3 loại tham có gốc từ Pali như sau: Chanda có nghĩa là muốn, là ước muốn bình thường như đói muốn ăn, khát muốn uống, muốn xây nhà, muốn tập thể thao, muốn mặc chiếc áo đẹp, muốn ở nơi thoáng mát, tiện nghi... Chanda hay muốn,
20 Tháng Năm 202010:21 CH(Xem: 235)
Thầy khuyên không nên lệ thuộc vào ngồi thiền là vì những lý do sau đây: - Cho rằng chỉ có ngồi mới là thiền và ngồi thiền mới đắc đạo, do đó dễ xem thường những người không ngồi mà hành thiền trong các oai nghihoạt động tự nhiên khác. - Ngồi nhiều làm mất quan bình bốn oai nghi, dẫn đến trì trệ khí huyết và tinh thần căng thẳng
19 Tháng Năm 20209:57 CH(Xem: 245)
1. dục tầm: chạy theo cái mình thích; - 2. sân tầm: chạy trốn cái mà mình bất mãn, mình ghét sợ; - 3.hại tầm: ý tưởng chống đối, đánh phá, tấn công trước cái trần cảnh dầu đó là người hay là vật. Thí dụ như cái lòng mà muốn nhìn thấy người ta đau khổ, nhìn thấy người ta rơi lệ, đổ máu, muốn nhìn thấy một cái vật gì đó mà nó bị bể,
18 Tháng Năm 202010:33 CH(Xem: 257)
Con đang sống cùng con gái đã có chồng, con gái của con rất vô tâm. Con cũng muốn nhẫn nhịn hết để sống cùng vợ chồng nó. Nhưng con thấy nếu con nhẫn hết tất cả những điều không đúng của con gái con thì sẽ càng làm cho bản ngãtăng trưởng và sự bê bối của nó ngày càng nhiều hơn. Con góp ý thì nó gạt phăng đi và tình cảm
17 Tháng Năm 202010:14 CH(Xem: 251)
Sống ở đời này chúng ta có người để mình thương thì dứt khoát có người để mình ghét. Tất thảy chúng sanh trong đời này chia làm hai hạng, hạng để chúng sanh phàm phu thương và hạng để mình ghét. Có hạng thứ ba tôi không kể, đó là người dưng nước lã, hạng này nằm trong diện trừ bị. Họ là người dưng hôm nay nhưng ngày mai
16 Tháng Năm 202010:05 CH(Xem: 261)
Nhân kỷ niệm tròn 2 năm ngày trang web tiếng Việt vn.dalailama.com của Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma chính thức ra đời (ngày 16 tháng 05, 2018) - xin được chia sẻ khoảnh khắc Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma chứng minhgia trì cho sự ra đời của trang web. Xin chân thành cám ơn bạn đọc gần xa đã ghé thăm và đồng hành cùng
15 Tháng Năm 202011:01 CH(Xem: 269)
Theo quan điểm Phật giáo, nhẫn nhục là gì? Nhẫn nhục có ích gì? Nhẫn nhục được dùng trong trường hợp nào? Trường hợp một người bị dồn vào bước đường cùng thì nhẫn nhụctác dụng gì và có thể cứu giúp được người đó hay không?
14 Tháng Năm 202010:20 CH(Xem: 365)
Trong mấy năm qua, một vài ông bà — cụ thể là Mary Talbot, Jane Yudelman, Bok Lim Kim và Larry Rosenberg—đã đề nghị tôi “Khi nào Sư sẽ viết hướng dẫn về hành thiền hơi thở?” Tôi đã luôn nói với họ rằng cuốn Giữ Hơi Thở Trong Tâm (Keeping the Breath in Mind) của Ajaan Lee là hướng dẫn thực hành tuyệt vời, nhưng họ
13 Tháng Năm 202010:44 CH(Xem: 290)
“Biết Pháp” có nghĩa là biết sự thật. Pháp nằm ở đâu? Không xa chút nào. Sắc Pháp ở đâu? Có sắc pháp bên trong ta không? Có danh pháp (tâm pháp) bên trong ta không? Cả hai đều ở bên trong ta, nhưng ta không biết làm thế nào để hiểu chúng, để giải mã chúng, vì ta chưa học kinh điển. Hoặc ngay cả khi chúng ta đã cố gắng
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1065)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2623)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4016)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
14 Tháng Năm 202010:20 CH(Xem: 365)
Trong mấy năm qua, một vài ông bà — cụ thể là Mary Talbot, Jane Yudelman, Bok Lim Kim và Larry Rosenberg—đã đề nghị tôi “Khi nào Sư sẽ viết hướng dẫn về hành thiền hơi thở?” Tôi đã luôn nói với họ rằng cuốn Giữ Hơi Thở Trong Tâm (Keeping the Breath in Mind) của Ajaan Lee là hướng dẫn thực hành tuyệt vời, nhưng họ
04 Tháng Năm 20206:47 CH(Xem: 424)
"Nếu tôi nói rằng Đức Phật hiện đang sống ở đâu đó trong vũ trụ, bằng xương bằng thịt thì điều ấy trái với lời dạy của Đức Phật. Ngược lại, nếu tôi bảo Đức Phật không còn sống ở bất kỳ nơi đâu trong vũ trụ này dưới bất kỳ hình tướng nào thời nhiều người sẽ rất buồn vì nỗi khát khao hiện hữu của họ không được thoả mãn.
02 Tháng Năm 20206:15 CH(Xem: 536)
Tám pháp thế gian: “Thế nào là tám? được lợi (lābho), mất lợi (alābho); được danh (yāso), mất danh (ayāsa); bị chê (nindā), được khen (pasamsā); hạnh phúc (sukha) và khổ đau (dukkha).” Như vậy tám pháp thế gian này gồm bốn cặp: được lợi — mất lợi, được danh — mất danh, được khen — bị chê, hạnh phúc — khổ đau.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 371)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 404)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 480)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 819)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 969)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 887)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.