01. Dẫn Nhập

17 Tháng Mười 20192:49 CH(Xem: 320)
01. Dẫn Nhập

HaiQuangDoi_A
Hai Quãng Đời Của Sơ Tổ Trúc Lâm

HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________



01. Dẫn Nhập

 

Hôm nay, tôi sẽ giảng bài phú Cư Trần Lạc Đạo của Sơ tổ Trúc Lâm, là vị Tổ đầu tiên của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một phái thiền thuần túy Việt Nam.

 

Bao nhiêu năm rồi tôi chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam - Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Khi thành lập Thiền viện Trúc Lâm tại Đà Lạt tôi cũng định để tên Trúc Lâm Yên Tử, nhưng lại ngại mình ở Lâm Đồng mà nói Yên Tử nghe không được. Cho nên tôi chỉ để Thiền viện Trúc Lâm.

 

Nghe tên Thiền viện Trúc Lâm có thể mỗi người nghĩ mỗi cách. Vì thời đức Phật còn tại thếtinh xá Trúc Lâm ở nước Ma-kiệt-đà, như vậy chữ Trúc Lâm không phải mới có ở Việt Nam, mà đã có từ Ấn Độ. Vì vậy tôi đặt Thiền viện Trúc Lâm, có thể nghĩ Trúc Lâm lấy theo tên Ấn Độ, mà cũng có thể lấy theo tên Trúc Lâm Yên TửViệt Nam.

 

Trúc Lâm ở đây không đi chung với Yên Tử mà đi chung với núi Phụng Hoàng. Cho nên vừa rồi có một sinh viên làm luận văn tốt nghiệp Cử nhân, lấy đề tài là “Thiền tông Việt Nam Trúc Lâm Phụng Hoàng”. Bản luận văn ấy có gởi cho tôi xem và được các Giáo sư chấm đạt yêu cầu.

 

Trúc Lâm Phụng Hoàng nhưng nhiều người đã biết rõ chúng tôi tu theo tinh thần hệ Trúc Lâm Yên Tử. Vì vậy Tăng Ni cũng như Phật tử tu thiền theo sự hướng dẫn của chúng tôi cần phải nắm vững tông chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

Nói đến Trúc Lâm Yên Tử, trước hết chúng ta phải biết những vị Tổ ở Yên Tử là ai? Tu thế nào? Chủ trương ra sao? Đó là điểm thứ nhất. Thứ hai, những tư liệu của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử từ thời Trần trở về sau, chúng ta phải thuộc. Có thế đối với Phật tử hâm mộ tu thiền hay những người trình luận án Cử nhân chọn đề tài Phật giáo đời Trần đến tham khảo, mình mới nói chuyện, giúp đỡ họ được. Nếu đường lối tu ta không nắm vững, tư liệu cũng không thuộc thì nói sao với người ta? Đó là một khuyết điểm lớn. Vì vậy để bổ túc cho khuyết điểm đó, tôi yêu cầu Tăng Ni các Thiền viện học những tư liệu, văn thơ, tác phẩm của Phật giáo đời Trần, gần nhất là Tam Tổ Trúc Lâm. Những tư liệu nào cần nhớ phải thuộc lòng, không thể lôi thôi được.

 

Hơn nữa ngày nay chúng ta đã đủ duyên đặt chân lên núi Yên Tử, xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, mà con cháu không biết gì hết về Yên Tử, đó là khuyết điểm không thể tha thứ được. Thế nên từ đây tôi sẽ giảng kỹ cho tất cả quí vị biết đường lối chúng ta đang ứng dụng tu thế nào? Trước chúng ta bao nhiêu vị đã tu và ngày nay chúng ta cũng đang tu như thế. Kết quả tu tậpích lợi gì cho đạo, cho đời, Tăng Ni trong các Thiền viện phải hiểu cho thật rõ.

 

Hệ thống tu từ trước đến nay chúng ta không biết gì hết thì làm sao tu được. Rồi gặp Phật tử hỏi hoặc kẻ bàng quan muốn tìm hiểu về thiền, lại chỉ lên Thầy Tổ. Như vậy còn gì là Thiền sinh, là con cháu Trúc Lâm Yên Tử nữa! Do đó buộc lòng tôi phải giảng lại những tác phẩm của ngài Trúc Lâm Đại Đầu-đà từ khi chuẩn bị đi tu cho đến đi tu được ngộ đạo, cho tất cả Tăng NiPhật tử tu thiền thấy rõ.

 

Hôm nay tôi nói về Sơ tổ Trúc Lâm là vua Trần Nhân Tông. Đọc sử chúng ta thấy vua Trần Thánh Tông đã gởi Ngài học với Tuệ Trung Thượng Sĩ từ thuở bé lúc chưa làm Thái tử. Hôm từ giã thầy trở về đăng quang Thái tử, Ngài hỏi Thượng Sĩ: “Yếu chỉ Thiền tông là thế nào?” Tuệ Trung Thượng Sĩ trả lời nguyên văn chữ Hán là: Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc, nghĩa là “nhìn trở lại mình là phận sự gốc, không từ ngoài mà được”. Câu hỏi này là câu hỏi then chốt, về sau Ngài theo đây tự tu và hướng dẫn mọi người cùng tu. Kết quả Ngài được thành Tổ, manh mối cũng phát nguồn từ đó.

 

Trần Nhân Tông là con vua Trần Thánh Tông. Ngài sanh năm 1258, thế kỷ 13. Đến năm hai mươi mốt tuổi (1279), Ngài được Thánh Tông truyền ngôi vua. Thời gian Ngài làm vua, quân Nguyên sang đánh nước ta. Là một quân vương và là một cư sĩ hiểu đạo, thông suốt đạo, bây giờ giặc đến phải làm sao?

 

Ai không biết luật Phật dạy cư sĩ phải giữ năm giới cấm, trong đó giới đầu tiên là giới sát sanh. Bây giờ giặc kéo quân đến, phải cầm quân đánh giặc là phạm tội sát sanh. Giết một người còn phải đền mạng, huống là giết trăm người ngàn người, tội ấy đọa địa ngục không biết chừng nào ra. Đây là điều hết sức khó xử cho Ngài.

 

Bởi khó xử nên Ngài nghĩ ra một ý kiến rất kỳ đặc. Khi thấy thế giặc quá mạnh, Ngài liền họp tất cả tướng sĩ lại ở bến Bình Than, gọi là hội nghị Bình Than. Ngài hỏi: “Bây giờ thế giặc rất mạnh, vậy ta nên hòa hay nên chiến?” Toàn thể tướng sĩ đều hô to: “Chiến.” Như vậy tướng sĩ ra lệnh đánh, Ngài làm vua là người lãnh đạo thì phải nghe theo, chớ không phải ý riêng của mình.

 

Nhận lời của tướng sĩ rồi, nhưng e dè chỉ một nhóm tướng sĩ thôi, còn quần chúng thì thế nào? Cho nên Ngài mới qui tụ hết các bô lão về tại Diên Hồng, lập hội nghị Diên Hồng. Khi tất cả đông đủ, Ngài cũng hỏi: “Bây giờ thế giặc rất mạnh, chúng ta nên hòa hay nên chiến?” Tất cả bô lão cũng đều hô to: “Chiến.” Vậy là xong. Từ đó Ngài bắt đầu khởi động binh sĩ đánh giặc theo ý của toàn quân và dân.

 

Rõ ràng việc đánh giặc là chủ trương của tướng sĩ và quần chúng, chớ không phải của Ngài. Trong giới luật nhà Phật nói tội thuộc về định nghiệp không thể chuyển, khi hội đủ ba điều kiện: một là ý, hai là khẩu, ba là thân. Thân, khẩu, ý hợp tác đồng làm, đó là định nghiệp không thể chuyển. Trong trường hợp ý không chủ động tạo nghiệp, chỉ có thân, khẩu thì nghiệp này không phải là định nghiệp, có thể chuyển được. Ở đây, đánh giặc là ý của dân, của tướng sĩ chớ không phải ý của Ngài.

 

Ý là trọng tâm kết thành tội, bây giờ ý không có, chỉ thân với khẩu. Thân khẩu bị sai phải làm theo thì việc làm này cũng không phải do Ngài chủ động. Như vậy đánh giặc giết giặc có nhiều sanh mạng bị thương tổn, chết chóc nhưng nghiệp của Ngài là nghiệp bất định. Nếu hồi tâm hướng thiện sám hối nó sẽ hết.

 

Hiểu như vậy chúng ta mới thông cảm cho Ngài, với tâm hồn của người tu Phật biết giới luật rõ ràng, biết đường lối tu rành rẽ mà phải cầm binh đánh giặc, làm sao không tội. Nhưng có tội chỉ ở thân, ở miệng thôi, còn ý không có tội. Làm vua thời phong kiến là thời lệnh trên đưa xuống chớ không phải lệnh dưới đưa lên. Vua muốn làm gì ra lệnh cho tướng sĩ, cho quần chúng làm, ngược lại Ngài hỏi ý tướng sĩ, ý quần chúng, rồi tuân theo đó mà làm. Thế nên, trong lịch sử chế độ quân chủ phong kiến nước ta, chỉ có đời Trần là tôn trọng tự do, tôn trọng ý kiến của mọi người nhất thôi, không độc tài như các triều khác.

 

Tại sao có được sự tự do, sự tôn trọng ấy? Là nhờ Vua sợ tội. Nếu bản thân Ngài đặt định thì tội đó thuộc về Ngài, còn tướng sĩ hay quần chúng đặt định thì tội đó Ngài chỉ chịu phần thân và khẩu thôi, chớ ý không có. Do đó khi đi tu rồi, tất cả những tội lỗi trước Ngài sám hối đều qua hết nên tu thành đạo, chứng quả vị Tổ. Vấn đề này rất cay, nếu không nắm vững, chúng ta sẽ không biết trả lời ra sao khi có người hỏi về việc phạm giới sát của vua. Đó là chỗ tôi muốn giải thích cho quí vị hiểu tường tận.

 

Trong thời gian làm vua từ 1279 đến 1293, nước ta có hai trận giặc Ngài phải đứng ra lãnh đạo toàn dân chống quân Nguyên. Khi thắng trận rồi, đến 1293 đất nước thanh bình, Ngài nhường ngôi cho con là vua Anh Tông. Song ngại con còn nhỏ lãnh đạo quần chúng không chu đáo, nên Ngài phải dự vào vị trí Thái thượng hoàng, tức ông vua cha ngồi coi chừng vua con. Sáu năm ở ngôi Thái thượng hoàng từ 1293 đến 1298, thấy vua Anh Tông đã đủ sức trị nước, Ngài liền đi xuất gia vào năm 1298.

 

Xuất gia rồi Ngài chuyên tu, không hề xuống núi. Cho tới năm 1304 Ngài mới bắt đầu đi giảng đạo ở các nơi. Qua năm năm ròng rã tu hành, ngộ đạo rồi Ngài làm bài “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca” và sau đó xuống núi giáo hóa. Đến 1308 Ngài viên tịch, thọ năm mươi mốt tuổi.

 

Lược sơ lịch sử để khi nghe giảng, chúng ta biết bài này Ngài đang ở vị trí, thời điểm nào. Như thế mới hiểu sâu và thấy được được giá trị của mỗi bài văn. Nếu không nắm vững lịch sử thì việc học, hiểu của chúng ta không rành rẽ, không có đầu đuôi gốc ngọn đàng hoàng. Nhất là bây giờ Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử dưới chân núi Yên Tử đang bắt đầu khởi hưng, Tăng Ni càng phải nắm vững hơn nữa về tinh thần của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Trúc Lâm Đà Lạt sau này sẽ là Trúc Lâm Yên Tử 2, Trúc Lâm Yên Tử 1 là tại dưới chân núi Yên Tử.

 

Vừa rồi ra Quảng Ninh họp, tôi được quí vị ngoài đó cho biết năm 1992 lượng người đi hành hương núi Yên Tử là hai vạn, nhưng đến năm 2001 lên đến hai chục vạn. Thử hỏi vì sao người ta đi hành hương Yên Tử đông như thế? Đền Hùng là nơi thờ Tổ tiên mình, mỗi năm quần chúng hành hương về đó để tỏ lòng nhớ ơn Tổ tiên thì rất hợp lý. Tại sao Yên Tử chỉ là một ngọn núi thôi, mà quần chúng lại đi đông như vậy, phải có lý do chứ!

 

Bởi vì trên núi Yên Tử người đầu tiên tu ngộ đạoThiền sư Hiện Quang, dưới ngài Hiện QuangThiền sư Đạo Viên hay Viên Chứng, có chỗ gọi là Phù Vân. Khi vua Trần Thái Tông lên xin tu, Ngài nói tôi ở núi lòng nhẹ như mây nổi, vì thế người đời gọi Ngài là Phù Vân. Vua Trần Thái Tông xem Ngài như Quốc sư. Tới đời thứ ba là Thiền sư Đại Đăng đắc đạo, kế thừa Thiền sư Đạo Viên. Ngài Đại Đăng cũng là Quốc sư, vì là thầy của vua Trần Thánh Tông. Rồi tới Tam tổ Trúc Lâm: Sơ tổ Trúc Lâm, Nhị tổ Pháp Loa, Tam tổ Huyền Quang.

 

Như vậy suốt sáu đời, các Thiền sư tu trên núi Yên Tử đều đạt đạo chứng quả. Từ đó, mọi người quí kính muốn tu theo Phật giáo đều rủ nhau lên núi Yên Tử lễ bái cầu tu. Tôi còn nhớ câu ca dao này:

 

Dù ai quyết chí tu hành,

 

Có lên Yên Tử mới đành lòng tu.

 

Sở dĩ người ta lên Yên Tử là vì sự tu, chớ không chỉ vì sự linh thiêng hay vì quê hương của Tổ thôi. Ngày nay nếu chúng ta xây dựng một ngôi chùa thường ở đây mà không thành lập Thiền viện, chẳng khác nào chỉ có xác mà không hồn. Bởi Thiền viện là nơi tích trữ kinh sách của đời Trần, có chư Tăng tu theo đường lối của Tổ, đây mới là phần hồn. Nếu có xác mà không hồn thì khác gì xác chết.

 

Hồi xưa đọc cuốn sách của cụ Ngô Thời Nhậm, ông ở cuối đời Lê sang đời Nguyễn. Trong đó có một đoạn tôi không bằng lòng, vì ông nói: Ngài Điều Ngự Giác Hoàng lên tu trên núi Yên Tử là kế để dòm chừng giặc Bắc. Nói thế xem như Ngài đi thám thính để lấy tin tức, chớ không phải đi tu. Sau này cũng có vài học giả y cứ theo lời nói ấy mà có cái nhìn sai lệch về Tổ. Tôi không thích câu đó, nhưng lâu nay chưa có bằng chứng giải bày. Đến khi đủ duyên, cuối năm 2001 tôi lên tới Ngọa Vân am, mới thấy rõ ràng cái nhìn của Ngô Thời Nhậm rất là lệch lạc, làm mất giá trị của Tổ.

 

Khi Tổ mới tu, Ngài lên núi Yên Tử. Vua quan cứ lên thăm viếng thành ra ồn, nên Ngài qua Ngọa Vân am. Ở đó ngựa xe hoàn toàn lên không được, nhờ thế Ngài yên tu năm năm và ngộ đạo, mới làm bài “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca”, nghĩa là bài ca thành đạo. Sau đó Ngài xuống núi giáo hóa, việc này quá rõ ràng.

 

Những lời của cụ Ngô Thời Nhậm vô tình làm mất uy tín của Tổ, vì cụ cho rằng Ngài tu không ra tu, lẫn lộn giữa đời với đạo. Trong khi đó, Tổ rất cương quyết sống đời ra đời, đạo ra đạo. Hồi nào ở tại triều đình trị dân trị nước, Ngài hết lòng vì dân vì nước. Khi đi tu hẳn là tu, chớ không lôi thôi. Vì thế Tổ không đi ngựa, chỉ đi bộ thôi. Đường lên Yên Tử rộng quá, xe ngựa kiệu cáng đưa lên gần tới trên, nên Ngài tránh qua Ngọa Vân am ẩn tu. Ở đây đường nhỏ xíu, chỉ một người đi, không có người thứ hai cùng đi, làm sao kiệu cáng khiêng cho được. Như vậy để thấy rằng ý nguyện của Ngài dứt khoát, khi tu là phải đạt đạo chớ không nói chuyện lôi thôi.

 

Qua những bài học về Ngài, chúng ta sẽ thấy rõ lời Ngài khẳng định việc làm của mình cụ thể, chớ không phải như người ta tưởng tượng. Thế gian ít ai chịu tới tận nơi quan sát, chỉ nghe người ta nói rồi hùa theo. Bởi vậy nhiều nỗi oan của người xưa không ai minh oan được. Tôi chịu cực dám đi tới nơi để thấy rõ mình không lầm lẫn về Tổ sư.

 

Hồi học Sơ đẳng rồi lên Trung đẳng, tôi cứ nghĩ Phật Thích-ca có thật không? Dù kinh sách kể, mình học sử đàng hoàng nhưng các sự việc ấy có thật hay không? Tôi cứ hoang mang trong lòng và thầm nghĩ muốn biết đúng hay sai, ít ra mình cũng phải tới tận nơi một lần. Đủ phước năm 1965 quí Hòa thượng đi Ấn Độ, tôi được tháp tùng theo. Được tới tinh xá Trúc Lâm, vô tận nơi thấy rõ ràng rừng trúc. Rồi lên núi Linh Thứu, đến hương thất của đức Phật, của ngài A-nan, bây giờ chỉ còn cái nền. Chúng tôiđảnh lễ hai nền thất này. Qua tới Bồ-đề đạo tràng, cây bồ-đề bây giờ là con cháu của cây bồ-đề khi Phật còn tại thế. Người ta xây thành quách chung quanh để bảo vệ cây, đồng thời có chỗ nơi cho du khách đến chiêm bái. Kế đó tới vườn Lộc Uyển, rồi sang chỗ Phật nhập Niết-bàn là rừng sa-la song thọ. Có thấy tận mắt tôi mới tin đức Phật lịch sử có thật. Ngài là một con người bình thường như chúng ta, tu hành thành đạo có bằng chứng, có di tích đàng hoàng.

 

Khi về Việt Nam tôi khao khát thêm một điều nữa, là đi Nhật Bản. Vì thấy những người hâm mộ tu thiền đua nhau qua Nhật Bản học thiền rất nhiều. Tôi nghĩ có lẽ các nước theo Phật giáo Bắc tông, thì Nhật là tốt nhất, nên nhiều người hướng về đó. Tôi muốn qua Nhật xem thử những gì người ta khao khát có đúng không. Rồi đủ duyên tôi cũng được qua đó. Tại Nhật, tôi có quen vài vị Sư lúc họ sang thăm nước ta, nay gặp lại quí thầy ấy mời đi ăn cơm tiệm. Bữa đó cùng đi với tôi có thầy Thiền Định và một sư Nhật. Tiệm cơm khá to, thức ăn tự chọn. Tôi nhìn thấy món nào cũng mặn cả, kiếm một dĩa vừa ý không ra. Cuối cùng tôi thấy dĩa cơm có sà lách, ở trên để mấy con tôm khô. Tôi nghĩ dĩa này là tiện hơn cả nên chọn nó. Ngồi vô bàn xong, tôi gắp mấy con tôm khô gởi trả lại, chỉ ăn cơm với sà lách.

 

Trong khi ăn, sư Nhật Bản hỏi thầy Thiền Định: “Như thầy Thanh Từ tu ở Việt Nam, được có gia đình không?” Thầy Thiền Định trả lời: “Không. Ở Việt Nam đi tu rồi không có quyền lập gia đình.” Sư Nhật cười giới thiệu: “Tôi ba tháng nữa cưới vợ.” Nghe tới đó tôi ứ hự, không ngờ người tu mặc pháp phục đàng hoàng, mà chuyện ấy xem là chuyện thường.

 

Thật ra điều này đối với Nhật Bản cũng không có gì quá ngạc nhiên. Thời Minh Trị Thiên Hoàng dân Nhật tu rất đông, nhất là người trẻ tuổi. Vì nhà vua muốn xã hội tiến bộ nên ra lệnh thanh niên tu từ nhỏ đến ba mươi tuổi, sau đó ra đời cưới vợ. Mọi người đều thế cả. Đó là lệnh của Vua nên bây giờ đa số như vậy, chỉ trừ một hai vị lên núi tu ẩn dật mới thoát ngoài thông lệ ấy. Do đó những vị Trụ trì các chùa Nhật đa số mặc đồ tây, đội nón nỉ, mình chào không biết nói làm sao. Nhiều vị thấy tôi ngẩn ngơ quá nên đưa danh thiếp, tôi đọc chữ Hán thấy đây là Đại đức Trụ trì gì gì đó. Như vậy tăng sĩ bên Nhật không ăn chay, được có gia đình, thế thì tinh thần tu giải thoát ở chỗ nào? Từ đó tôi ngán Nhật Bản, không dám qua nữa.

 

Đến Phật giáo Tích Lan còn mẫu mực phần nào, song lại quá phong kiến. Lần đó tôi cũng được theo đoàn của quí Hòa thượng sang thăm Phật giáo Tích Lan. Tại chùa Đại đức Narada, tới bữa cơm mình ngồi vào bàn rồi, Phật tử cúng dường quì ở dưới đội dĩa lên đầu, chư Tăng mới đưa tay nhận để lên bàn ăn. Phật tử khi vô chùa phải cởi hết giày dép, bò bằng hai đầu gối vô tới chánh điện, không dám đi đứng. Thấy chư Tăng đi ngoài đường là họ quì lạy, không ngại đường xá dơ bẩn gì cả. Phong kiến như thế, thời này người ta cũng khó chấp nhận.

 

Tôi nghĩ chắc Phật giáo Trung Hoa gần mình hơn, có thể chấp nhận được. Nhưng sang tới Trung Hoa thấy Phật tử đi dép lẹp xẹp vô tuốt trong chùa, lạy Phật. Tới bữa ăn quí thầy ngồi ăn chung với cư sĩ, bàn bên kia để thức ăn, ai ăn hết thì tùy tiện đến đó lấy thêm. Vừa ăn vừa nói chuyện lớn tiếng, không có oai nghi chút nào hết. Tôi cũng hết chịu nổi.

 

Cuối cùng về Việt Nam, thấy Phật giáo nước nhà lại tương đối tốt. Thầy trò giữ đúng phép tắc, có tôn ti trật tự đàng hoàng, nhưng không quá lễ mễ phong kiến, cũng không luông tuồng vô lối. Giờ ăn giờ nghỉ yên lặng, vào chùa lễ Phật không mang giày dép, giữ gìn thanh tịnh nơi chốn tôn nghiêm. Như vậy mới đúng oai nghi của một tu sĩ. Nhìn lại có thể nói tăng sĩ Phật giáo Việt Nam có một nếp sống trung hòa, không cực đoan. Cực đoan quá thành phong kiến, tự do quá thành phóng túng không còn phép tắc gì cả. Hai trường hợp trên đều nên tránh. Cho nên ở Việt Namtương đối dễ tu nhất.

 

Chúng ta cần phải kinh nghiệm, tu pháp gì, nói điều gì phải biết rõ mình có lầm không. Còn nghe người ta nói, bắt chước nói theo, sau bị kẹt không thể cứu vãn được. Vì vậy tôi làm điều gì thực tế điều ấy, có chứng cứ hẳn hoi, chớ không chịu nói làm một cách lôi thôi.

 

Đó là tôi nói qua lý do tại sao chúng ta cần phải học hiểu thật kỹ những tác phẩm Phật giáo đời Trần. Đến đây, tôi sẽ đi vào bài giảng “Cư Trần Lạc Đạo Phú” bằng chữ Nôm của vua Trần Nhân Tông.



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 391)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 554)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 489)
06 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 611)
05 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 792)
03 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 597)
02 Tháng Mười Một 2019(Xem: 698)
30 Tháng Mười 2019(Xem: 816)
23 Tháng Mười 2019(Xem: 823)
21 Tháng Hai 20205:07 CH(Xem: 61)
Trong dòng lịch sử văn minh của nhân loại cách đây hơn 25 thế kỷ, những lời dạy về một nghệ thuật sống hoàn hảo, an bìnhhạnh phúc ngay trong hiện tại, một pháp môn tu tập có khả năng đưa đến giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau được Đức Phật, bậc Thầy
20 Tháng Hai 202010:38 CH(Xem: 112)
Ngài Anan hỏi Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, chúng con tu tập theo sự hướng dẫn của Thế Tôn thì khi nào chúng con sẽ đến được Niết Bàn?”. Đức Phật mới chỉ khúc cây trôi giữa dòng sông và nói: “Nếu khúc cây kia không bị kẹt vào bờ bên này, không bị kẹt vào bờ bên kia, không tự bị mục nát từ bên trong, không bị chìm xuống đáy,
18 Tháng Hai 202011:44 SA(Xem: 191)
Quyển sách này, The Experience of Insight, không phải là một quyển sách đặt nặng vào phần lý thuyết, mà là một quyển sách chú trọng về sự thực hành. Joseph Goldstein là một thiền sư Hoa Kỳ. Ông đã sống nhiều năm ở Thái Lan và Ấn Độ để học thiền Vipassana,
16 Tháng Hai 20202:25 CH(Xem: 216)
Từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 8 tháng 4 năm 1983 chúng tôi đã rất may mắn được một vị thầy đầy kinh nghiệm về thiền Vipassana tổ chức một khoá chuyên tu tại Penang, trung tâm thiền Phật giáo Malaysia, hướng dẫn, dạy bảo, sữa chữa và nhắc nhở chúng tôi về thiền minh sát. Chúng tôi đã được lợi lạc to lớn từ những lời hướng dẫn
15 Tháng Hai 20208:01 CH(Xem: 162)
Để giúp cho đọc giả có thể nắm được sự khác biệt giữa thiền định (chỉ quán) và thiền Vipassana (tuệ quán), PTVN đã gặp sư Phước Nhân, một hành giả giỏi pháp hành của thiền viện Phước Sơn để xin sư nói rõ về thiền định, thiền Vipassana, sự khác biệt giữa hai phương pháp tập cũng như khái quát phương thức tu tập và kết quả
14 Tháng Hai 202010:11 CH(Xem: 164)
Rất khó khuyến khích và truyền cảm hứng cho người khác mà không làm họ thất vọng ít nhiều. Muốn mô tả những kết-quả của việc tu tập—mô tả những trải nghiệm thâm sâu như tâm ảnh nimitta, tầng thiền định jhāna, và thánh quả Nhập Lưu—để truyền cảm hứng tu hành cho mọi người. (Cũng giống như việc mô tả về ngày lãnh lương
13 Tháng Hai 20203:54 CH(Xem: 194)
Hỏi: Tôi cố gắng rất nhiều trong khi luyện tập, thế nhưng tôi vẫn có cảm giác là dường như mình không hề đạt được một chút kết quả nào cả. Đáp: Điều này thật hết sức quan trọng. Không nên tìm cách đạt được bất cứ một thứ gì. Ngay cả sự ham muốn đạt được sự giải thoát hay giác ngộ cũng sẽ ngăn chận không cho mình thực hiện
12 Tháng Hai 20207:50 CH(Xem: 157)
Dưới đây là một bài thuyết giảng của nhà sư Ajahn Chah trước một cử tọa gồm các tỳ kheo Tây Phương, các sa di và cả người thế tục, và đặc biệt là dành cho cha mẹ của một tỳ kheo người Pháp sang thăm con xuất gia ở Thái Lan vừa được thụ phong tỳ kheo. Buổi giảng được tổ chức tại ngôi chùa Wat Pah Pong của nhà sư Ajahn Chah
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 225)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
10 Tháng Hai 20207:00 SA(Xem: 2810)
Tủ Sách Và Các Bài Viết Của HT. Thích Thanh Từ
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 252)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
08 Tháng Hai 20208:38 SA(Xem: 224)
Lần đầu tiên, khi con trai tôi nói muốn đi tu, tôi rất ngạc nhiên. Đó là một buổi sáng chủ nhật, đầu xuân, khi chúng tôi như lệ thường đang trên đường đến thiền viện. Năm học mới sắp khai giảng, và nó sửa soạn vào lớp Ba. Khi đang đi với nhau, nó bỗng ngước lên nhìn tôi
07 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 273)
Duyên khởi là pháp rất quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Bồ tát của chúng ta đã thiền quán rất sâu đậm về pháp duyên khởi này khi Ngài suy xét về bản chất của kiếp sống và đã chứng ngộ giải thoát. Cũng như các vị Bồ tát khác, đầu tiên Bồ tát của chúng ta
06 Tháng Hai 20201:01 CH(Xem: 110644)
Nguyên tắc căn bản của nhân duyên đơn giản là chính nó. Đức Phật mô tả nguyên tắc nầy, bằng câu nói như sau: Vì cái nầy có, nên cái kia có. Vì cái nầy sinh, nên cái kia sinh. Vì cái nầy không, nên cái kia không. Vì cái nầy diệt, nên cái kia diệt.
05 Tháng Hai 20209:21 CH(Xem: 251)
Trở lại vấn đề của chúng ta. Làm thế nào phát triển tuệ minh sát? Câu trả lời là: Phải phát triển tuệ minh sát bằng cách quán niệm ngũ uẩn thủ (pancupàdànakkhandha, năm nhóm bám níu. Năm nhóm gọi là ngũ uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức, làm đối tượng
04 Tháng Hai 20207:00 SA(Xem: 260)
Nhân vật chính trong chương trìnhca sĩPhật tử Sỹ Luân, một nhạc sĩ, ca sĩ, MC trong những chương trình ca nhạc và cũng là một nam diễn viên. Được biết, ca sĩ Sỹ Luân đến với nghiệp ca hát khi còn là một cậu học sinh, nổi tiếng với những ca khúc do anh sáng tác và nhận được sự đón nhận nồng nhiệt từ phía công chúng.
03 Tháng Hai 20207:00 SA(Xem: 241)
Thi tính phản ảnh thật rõ nét qua kinh sách cũng như phong cách của những người tu hành đã ảnh hưởng sâu đậm đến các sinh hoạt văn hóa của hầu hết các quốc gia Phật Giáo Á Châu. Thi phú nói chung có khả năng khơi động những xúc cảm sâu kín và thanh cao nơi con người giúp họ vượt lên trên các bản năng thô thiểntrói buộc của sự sống.
02 Tháng Hai 202012:11 CH(Xem: 341)
Các câu "suy tư" trong quyển sách này chính thật là những "lời khuyên", giúp chúng ta biến cải chính mình hầu đối phó hay thích nghi với mọi cảnh huống trong cuộc sống, từ trong gia đình đến ngoài xã hội, từ trên thân xác đến bên trong nội tâm mình. Những lời khuyên rất thiết thực nhưng cũng thật thâm sâu này của Đức Đạt-lai Lạt-ma
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 372)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 420)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 488)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2098)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3481)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
21 Tháng Hai 20205:07 CH(Xem: 61)
Trong dòng lịch sử văn minh của nhân loại cách đây hơn 25 thế kỷ, những lời dạy về một nghệ thuật sống hoàn hảo, an bìnhhạnh phúc ngay trong hiện tại, một pháp môn tu tập có khả năng đưa đến giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau được Đức Phật, bậc Thầy
18 Tháng Hai 202011:44 SA(Xem: 191)
Quyển sách này, The Experience of Insight, không phải là một quyển sách đặt nặng vào phần lý thuyết, mà là một quyển sách chú trọng về sự thực hành. Joseph Goldstein là một thiền sư Hoa Kỳ. Ông đã sống nhiều năm ở Thái Lan và Ấn Độ để học thiền Vipassana,
16 Tháng Hai 20202:25 CH(Xem: 216)
Từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 8 tháng 4 năm 1983 chúng tôi đã rất may mắn được một vị thầy đầy kinh nghiệm về thiền Vipassana tổ chức một khoá chuyên tu tại Penang, trung tâm thiền Phật giáo Malaysia, hướng dẫn, dạy bảo, sữa chữa và nhắc nhở chúng tôi về thiền minh sát. Chúng tôi đã được lợi lạc to lớn từ những lời hướng dẫn
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 225)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 252)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 372)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 420)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 5642)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 719)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.