14. Tụng Cổ 1

21 Tháng Mười 20191:52 CH(Xem: 426)
14. Tụng Cổ 1

TueTrungThuongSi
Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục Giảng Giải (1996)

HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________

 

 

14. Tụng Cổ 1

 

Giảng:

 

Những lời Phật dạy trong kinh, hay những lời khai thị khó hiểu khó hội của các vị Cổ đức trong nhà Thiền được đem ra tụng giải bình luận, gọi là Tụng cổ. Tụng cổ không nhất thiếtlời Phật dạy trong kinh, cũng không nhất thiết là lời của các Thiền sư, có khi dẫn lời Phật dạy trong kinh, có lúc dẫn lời khai thị của Thiền sư, cũng có khi dẫn lời của các bậc Thánh nhân. Chúng ta học Tụng cổ phải cẩn thận, đừng để hiểu lầm. Lời đầu tiên để tụng, Thượng Sĩ dẫn từ kinh Niết-bàn.

 

Dịch:

 

Cử:

 

Kinh Niết-bàn nói:

 

Các hạnh vô thường

Là pháp sanh diệt.

 

Thầy nói:

 

- Cái gì sanh diệt?

 

Tụng:

 

Các hạnh vô thường

Là pháp sanh diệt.

Ba cõi mưa mịt mù

Mười phương gió vi vút.

Phàm Thánh chẳng ở chung

Rắn rồng không lẫn lộn.

Các hạnh vô thường tất cả không

Tâm sanh diệt kia ai hỏi đáp?

Nếu gặp lão Cồ-đàm thân cóng lạnh

Chưa khỏi ngang hông cho một đạp.

Chao!

Không thấy màu xuân ấm

Hay xem đào lý hoa.

 

Giảng:

 

Trong kinh Đại Bát Niết-bàn có bốn câu kệ:

 

Các hạnh vô thường

Là pháp sanh diệt

Sanh diệt diệt rồi

Tịch diệt là vui.

 

Bốn câu kệ này là gốc của bài Tụng cổ và rất quan trọng trong kinh Niết-bàn, nhưng gây cho người sau nhiều nghi ngờ, nên ở đây Thượng Sĩ dẫn ra tụng giải để cho chúng ta hiểu. Trước khi giải lời tụng tôi dẫn một đoạn trong kinh Pháp Bảo Đàn để quí vị hiểu phần căn bản:

 

Tăng Chí Đạo, người quê ở Nam Hải Quảng Châu đến tham vấn, hỏi Lục Tổ:

 

- Học nhân từ khi xuất gia, xem kinh Niết-bàn hơn mười năm, chưa rõ được đại ý, cúi mong Hòa thượng thương xót chỉ dạy.

 

Tổ bảo:

 

- Chỗ nào ông chưa rõ?

 

- Các hạnh vô thường là pháp sanh diệt, sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui. Chỗ này con nghi ngờ.

 

- Ông nghi như thế nào?

 

- Tất cả chúng sanh đều có hai thân gọi là Sắc thânPháp thân. Sắc thân vô thường có sanh có diệt. Pháp thân thường, không tri không giác. Kinh nói: “Sanh diệt diệt rồi tịch diệt là vui.” Chẳng biết thân nào tịch diệt, thân nào thọ vui? Nếu là Sắc thân, khi Sắc thân tịch diệt, bốn đại phân tán, toàn là khổ, khổ không thể nói vui; nếu Pháp thân tịch diệt tức đồng cỏ cây gạch đá, ai sẽ thọ vui?

 

Đây là cái nghi của ngài Chí Đạo, Ngài nêu lên hai vấn đề. Con người có hai thân, Sắc thânPháp thân. Sắc thân là tướng sanh diệt vô thường. Nếu Sắc thân tịch diệt bốn đại rã tan thì lúc đó khổ. Vậy sự tịch diệt của Sắc thân không vui. Còn Pháp thân thì vô tri giác, đồng như cỏ cây, khi tịch diệt cái gì biết vui? Tóm lại Sắc thân tịch diệt là khổ, Pháp thân tịch diệt vô tri, như vậy vui chỗ nào? Ngài Chí Đạo nghi như thế nên bị Lục Tổ quở:

 

- Ông là Thích tử sao tập theo ngoại đạo về đoạn kiếnthường kiếnluận nghị về pháp Tối thượng thừa. Cứ theo lời ông nói, tức là ngoài Sắc thân riêng có Pháp thân, lìa sanh diệt để cầu tịch diệt, lại suy luận Niết-bàn thường lạc nói có thân thọ dụng, đây là chấp lẫn về sanh tử, đắm mê cái vui thế gian. Nay ông nên biết Phật vì tất cả người mê nhận thân năm uẩn hòa hợp làm Thể tướng của mình, phân biệt tất cả pháp cho là tướng ngoại trần, ưa sanh ghét tử, niệm niệm đổi đời, không biết là mộng huyễn hư giả, luống chịu luân hồi, lấy thường lạc Niết-bàn đổi thành tướng khổ, trọn ngày tìm cầu. Phật vì thương những người này, mới chỉ dạy Niết-bàn chân lạc, trong sát-na không có tướng sanh, trong sát-na không có tướng diệt, lại không có sanh diệtthể diệt, ấy là tịch diệt hiện tiền. Chính ngay khi hiện tiền cũng không có cái lượng hiện tiền, mới gọi là thường lạc. Vui này không có người thọ, cũng không có người chẳng thọ, há có tên một thể năm dụng, huống là lại nói Niết-bàn ngăn cấm các pháp khiến hằng chẳng sanh. Đây là ông chê Phật hủy pháp.

 

Theo Lục Tổ thì Sắc thânPháp thân không rời nhau, tịch diệtsanh diệt không rời nhau. Ngay nơi mỗi người có cái tịch diệt là Niết-bàn thường lạc, mà chúng ta không nhận được cái tịch diệt thường lạc đó, chỉ bám vào cái thân sanh diệt, cho nên mới đem cái thường lạc của Niết-bàn đổi thành tướng khổ sanh diệt, để rồi cứ tìm cầu suốt đời. Đó là lầm lẫn, là bệnh lớn của chúng ta. Ngay nơi mỗi chúng ta có cái không sanh không diệt, nhận ra cái không sanh không diệt là thể nhập Niết-bàn thường lạc, gọi là tịch diệt hiện tiền. Ngay phút giây hiện tiền cũng không khởi niệm hiện tiền, đó mới là chân thật Niết-bàn. Cái vui Niết-bàn chân thật không có người thọ cũng không có người chẳng thọ. Vì còn có người thọ là còn năng còn sở đối đãi, không phải là Niết-bàn chân thật. Cái vui Niết-bàn chân thật, không phải là cái vui của cảm giác nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc chạm với trần cảnh; được thỏa mãn thì vui, không thỏa mãn thì khổ; cái vui cái khổ đó là tướng vô thường sanh diệt. Cái vui tịch diệt Niết-bàn là khi tâm không còn một mảy may vọng niệm sanh diệt, chỉ là cái thể không vọng động không sanh diệt nơi nội tâm. Cái vui này không phải từ thân mà cũng không phải từ đâu đến, do hết niệm sanh diệt, ngay nơi Tâm thể không sanh diệt được vui. Hiểu đoạn này chúng ta mới hiểu được phần Tụng cổThượng Sĩ nêu lên.

 

Kinh Niết-bàn nói:

 

Các hạnh vô thường

Là pháp sanh diệt.

 

Hạnh là hành động, là sanh hoạt của người hay của muôn vật ở thế gian này. Song người và vật đều có tướng, hễ có tướng là có sanh diệt nên vô thường. Hai câu đầu chỉ cho người và muôn sự muôn vật ở thế gian đang ở trong tướng sanh diệt thảy đều là vô thường.

 

Thượng Sĩ hỏi:

 

- Cái gì sanh diệt?

 

Ngài hỏi câu này muốn gợi cho chúng ta thấy tất cả pháp có hình tướng trong cõi đời này đều sanh diệt. Nhưng muốn tìm cái không sanh diệt phải tìm ngay trong tướng sanh diệt, vì ngoài tướng sanh diệt, không thể tìm tướng không sanh không diệt được. Chúng ta không thể nói mọi sự mọi vật do có hình tướng sanh diệtvô thường, mà toàn thể đều là sanh diệt. Vì trong cái sanh diệt đã có cái không sanh không diệt nên Ngài mới đặt câu hỏi này.

 

Các hạnh vô thường

Là pháp sanh diệt.

Ba cõi mưa mịt mù

Mười phương gió vi vút.

Phàm Thánh chẳng ở chung

Rắn rồng không lẫn lộn.

 

Nếu thấy các pháp là vô thường sanh diệt thì trong tam giới này mưa mịt mù, mười phương gió vi vút, tức là mọi sự mọi vật ở trong thế gian, cho đến ba cõi mười phương đều ở trong cái sanh diệt. Nếu chúng ta thấy tất cả pháp đều sanh diệt thì thấy phàm khác Thánh khác không ở chung, thấy rồng khác rắn khác không lẫn lộn. Nhưng sự thật, trong thế gian này những chỗ hàng long tượng (rồng to) vẫn có những con rắn ẩn núp trong đó. Những nơi chúng sanh phàm tình ở, vẫn có các bậc Thánh lẫn trong đó để giáo hóa. Để thấy rằng nếu chúng ta giản trạch tất cả tướng, tất cả hạnh là sanh diệt vô thường, tức là chúng ta không thừa nhận trong cái sanh diệt có cái không sanh diệt, cho nên Thượng Sĩ mới nói phàm Thánh chẳng ở chung, rắn rồng không lẫn lộn.

 

Các hạnh vô thường tất cả không,

Tâm sanh diệt kia, ai hỏi đáp?

 

Tất cả pháp là vô thường hoại diệt thì thành không, đã thành không rồi thì ngay tâm sanh diệt cái gì hỏi cái gì đáp? Thượng Sĩ nêu lên câu hỏi này, nhằm nhắc cho chúng ta ý thức rằng ngay nơi tâm sanh diệt có cái không sanh diệt biết hỏi biết đáp.

 

Nếu gặp lão Cồ-đàm thân cóng lạnh

Chưa khỏi ngang hông cho một đạp.

Chao!

 

Sao Thượng Sĩ nói ngang ngược như thế?

 

Nếu căn cứ trên hai câu này thì tất cả pháp sanh diệt giống như ba cõi mưa mù mịt, mười phương gió vi vút, thân Phật cóng lạnh thì không còn giá trị, cho nên ngang hông cho một đạp té nhào, vì thân sanh diệtvô nghĩa.

 

Không thấy màu xuân ấm

Hay xem đào lý hoa.

 

Hoa đào hoa lý trổ vào mùa Xuân, tuy chúng ta chưa thấy màu xuân ấm mà thấy hoa đào hoa lý trổ thì biết là tiết Xuân. Ý Thượng Sĩ nói tuy chưa sống trong cảnh giới “sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui”, nhưng ngay trong sanh diệt nhận ra cái không sanh diệt đó là người đặc biệt. Nếu đợi sanh diệt diệt rồi mới thấy thì muộn lắm. Vì vậy nên Thượng Sĩ nói: “Không thấy màu xuân ấm, hay xem đào lý hoa.” Đó là cái đặc biệt. Tôi thường ví dụ nước biển nguyên là lặng, nhưng gió thổi sóng dấy lên, nhìn xuống mặt biển chúng ta thấy từng đợt sóng từng đợt sóng dồi dập. Người trí tuy thấy sóng biển đang dồi dập mà vẫn biết nước biển vốn phẳng lặng. Vì họ đã thấy cái thể lặng lẽ của nó. Cũng vậy, trong tất cả tướng sanh diệt của các pháp, ngay đó biết có cái không sanh diệt mới là người trí. Chớ đợi khi tướng sanh diệt diệt rồi mới nhận ra cái tịch diệt thì quá muộn.

 

Tóm lại, hai câu đầu bài tụng này nhắc lại ý của bài tụng trong kinh Niết-bàn. Hai câu kế diễn tả tướng sanh diệt thì mù mịt lạnh lẽo rất đau khổ. Hai câu kế tiếp nói rằng nếu chúng ta tách rời tướng sanh diệtthể không sanh diệt thì cái nhìn của chúng ta không tường tận, giống như thấy phàm khác Thánh khác, rồng khác rắn khác. Đó là cái thấy phân biệt đối đãi. Hai câu kế tiếp nữa gợi lên ý cho người hiểu rằng: pháp vô thường thì bại hoại thành không, đã thành không thì ngay nơi tâm sanh diệt ai hỏi ai đáp? Tâm sanh diệt chợt có chợt không; nhưng nếu có hỏi là có đáp, vậy cái gì có sẵn hễ hỏi là đáp liền, hoặc gọi là dạ liền vậy? Cái sẵn đó có bị sanh diệt không? Nếu nó bị sanh diệt thì khi nó diệt rồi thì ai đáp? Thượng Sĩ chỉ cho chúng ta thấy ngay nơi cái sanh diệt có cái không sanh diệt hằng hiện hữu. Hai câu kế nữa nói rằng nếu tất cả các pháp là vô thường, thì thân tứ đại của Phật (Báo thân) lạnh cóng cũng bị sanh diệt, vì vậy mà không có giá trị, không phải là cứu kính. Cho nên Thượng Sĩ nói “nếu gặp lão Cồ-đàm thân cóng lạnh, chưa khỏi ngang hông cho một đạp”. Vậy đối với Báo thân sanh diệt của Phật chỉ là cái thân bỏ đi không có giá trị, Pháp thân không sanh không diệt mới là cứu kính, có giá trị. Hai câu sau cùng kết thúc: phải ngay nơi cái sanh diệt nhận được cái không sanh diệt mới là người khéo, cũng như thấy hoa đào hoa lý nở biết là tiết Xuân vậy.

 

Dịch:

 

Cử:

 

Sanh diệt diệt rồi

Tịch diệt là vui.

 

Thầy nói:

 

- Uyên Minh chau mày làm gì?

 

Tụng:

 

Sanh diệt diệt rồi

Tịch diệt là vui.

Chim mỏi đậu khóm lau

Cá mệt dừng đáy nước.

Chẳng ngại thân nhuốm đau

Chỉ e tay chế thuốc.

Đừng đeo mang gánh nặng

Đi qua cầu một cây.

Đến nhà thôi thưa hỏi

Từ đâu lại sẩy chân.

Muôn một không được dừng

Như trước xem mưu lược.

Ối!

Nếu chẳng nhân mê bờ lau lách

Đi càn được đến suối Võ Lăng.

 

Giảng:

 

- Uyên Minh chau mày làm gì?

 

Bình thường thì hai chân mày hở ra, nhưng khi chúng ta không bằng lòng bất mãn điều gì thì hai chân mày nhíu lại gọi là chau mày. Uyên Minh là tên người, gọi đủ là Đào Uyên Minh tức Đào Tiềm, một danh sĩ đời Tấn. Khi nước Tấn mất về tay nhà Tống, ông từ quan lui về vườn trồng cúc uống rượu ngâm thơ. Ông là tác giả ca khúc Qui Khứ Lai Từ, được truyền tụng ở đời. Trong đoạn Lư Sơn Ký có ghi ngài Tuệ ViễnLư Sơn (Lô Sơn) lập hội Bạch Liên Xã mời Uyên Minh vào hội, khi vào hội ông chau mày, nghĩa là ông không bằng lòng. Thượng Sĩ nói: Uyên Minh chau mày làm gì? Vì “sanh diệt diệt rồi tịch diệt là vui”, tất cả là Niết-bàn chân lạc, còn có cái gì bất mãn mà chau mày?

 

Mở đầu bài tụng này bằng hai câu “sanh diệt diệt rồi tịch diệt là vui” là lặp lại hai câu kệ trong kinh Niết-bàn đã giảng ở trước.

 

Chim mỏi đậu khóm lau

Cá mệt dừng đáy nước.

 

Chim bay mỏi cánh không bay nữa, nên đậu vào khóm lau để nghỉ. Cá lội mệt không lội nữa, dừng lại tựa vào các hòn đá hoặc là các gốc cây dưới đáy nước. Hình ảnh này nói lên trạng thái sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui, vì lúc đó an lạc thoải mái.

 

Chẳng ngại thân nhuốm đau

Chỉ e tay chế thuốc.

 

Không sợ thân bệnh hoạn, mà chỉ ngại người chế thuốc. Thân bệnh là nhân, chế thuốc là quả; vì có thân bệnh là nhân mới có quả là chế thuốc để trị. Ý nói đa số chúng ta chỉ biết nhìn cái quả mà không chịu thấy cái nhân. Ý hai câu này phải khéo mới hiểu được, bằng không thì thấy như lạc đề.

 

Đừng đeo mang gánh nặng

Đi qua cầu một cây.

Đến nhà thôi thưa hỏi

Từ đâu lại sẩy chân.

 

Ngài dạy đừng có gánh gánh nặng mà đi qua cây cầu khỉ (cầu có một cái cây bắc qua sông, lạch, không có cây để vịn). Nếu gánh nặng mà đi qua cầu khỉ sẽ té. Muốn khỏi té thì đừng gánh nặng qua cầu. Ý nói chúng ta sống trong cõi đời này, nhất là người tu đừng bám víu đeo mang pháp hữu vi sanh diệt tạm bợ, nếu đeo mang bám víu pháp hữu vi sanh diệt tạm bợ thì không được an ổn thảnh thơi, bị phiền não bức ngặt. Vậy nên chúng ta buông tất cả cố chấp, từ bỏ không đeo mang bất cứ một pháp nào thì trên đường đạo mới được tự tại an bình. Giống như người về đến nhà cứ bước vào nhà không còn lo sẩy chân trái bước. Sở dĩ sợ té là vì còn đang đi trên đường, về tới nhà rồi thì không còn sợ té nữa.

 

Muôn một không được dừng

Như trước xem mưu lược.

 

Trong muôn phầnmột phần nhỏ của muôn phần cũng không được dừng, mà phải thấy được cái mưu lược như trước. Nghĩa là tất cả những gì mình đang quảy đang mang đi vào đường đạo, đó là cái khó khăn hiểm nguy, dù một phần nhỏ cũng phải bỏ, như vậy mới sử dụng được mưu lược để thành công. Nhược bằng không được như thế thì thất bại. Tôi lặp lại lần nữa, nếu người tu còn bám chặt còn cố thủ một cái gì thì không bao giờ đến được chỗ cứu kính. Vì vậy nên nói muôn một không được dừng tất cả đều phải buông, cho đến một phần trong muôn phần còn lại cũng phải buông luôn nữa. Chúng ta tu, những điều đáng buông đã buông được bao nhiêu rồi? Có điều nào tiếc để dành lại không? Chắc có những điều buông hơi tiếc, còn giữ lại nên chưa thành đạo. Vậy, tất cả phải buông sạch.

 

Ối!

Nếu chẳng nhân mê bờ lau lách,

Đi càn được đến suối Võ Lăng.

 

Hai câu thơ này lấy từ điển tích ở Trung Hoa. Vào đời Tấn có một người đi câu cá, vui bước đi theo bờ lau cuối cùng gặp cái suối tên Võ Lăng. Khi tới suối Võ Lăng thấy dân cư đông đúc, hỏi ra ông mới biết là con cháu của những người từ một ngàn năm về trước, tránh nạn bạo Tần vào ở đây, sống cách biệt hẳn với người ở bên ngoài. Cảnh sống riêng biệt an nhàn của những người này giống như cảnh tiên, họ không bận bịu buộc ràng với người thế gian bên ngoài. Người câu cá nhờ say mê đi, càng đi mãi trên bờ lau mới tới suối Võ Lăng. Nếu ông dè dặt không dám đi thì khó mà đến được, để thấy, người tu biết tịch diệt là vui, muốn hưởng được cái vui ấy thì phải càn rừng lướt bụi, trải qua bao nhiêu khó cực, mà vẫn mải mê không chán không mệt thì mới tới được chỗ tịch diệt là vui của kinh Niết-bàn nói. Bài tụng này cũng nhắc chúng ta tu để đến chỗ tịch diệt là vui.

 

Dịch:

 

Cử:

 

Kinh Duy-ma nói:

 

Quán thật tướng của thân

Quán Phật cũng như vậy.

 

Thầy: Nở nụ cười.

 

Tụng:

 

Quán thật tướng của thân

Quán Phật cũng như vậy.

Tìm kim rơi đất

Ngửa mặt xem trời.

Xưa kia không tấc dạ

Ngày nay lỗi bời bời.

Không trói lại cầu trói

Không ràng lại đến ràng.

Cọp ngồi thật cọp ngồi

Rồng ngủ là rồng ngủ.

Muốn biết thân cùng Phật

Trồng ngó nẩy sen hồng.

Gương ngọc tròn vành lên góc biển

Chỉ nhân ấn mắt có đổi dời.

 

Giảng:

 

Quán thật tướng của thân

Quán Phật cũng như vậy.

 

Đối với thân, mỗi người chúng ta phải quán cái gì là Thật tướng, cái gì là Giả tướng. Vậy thân tứ đại này là thật hay giả? Nếu nó giả, ai động tới có la không? Động tới liền la, nếu nói giả thì ai la? Chẳng lẽ cái giả biết la. Ở đây Ngài dạy chúng ta quán Thật tướng của thân, phân tích để thấy thân này cái gì là tướng giả, cái gì là tướng thật. Theo kinh Niết-bàn tướng giả là chỉ cho Sắc thân, tướng thật là chỉ cho Pháp thân, gọi đó là Thật tướng của thân. Vậy, Thật tướng của thân là Pháp thân của mỗi người. Và, quán thân Phật cũng giống như vậy.

 

Tìm kim rơi đất

Ngửa mặt xem trời.

Xưa kia không tấc dạ

Ngày nay lỗi bời bời.

 

Ý bốn câu này quá hay. Thượng Sĩ nói chúng ta phải quán sát thân này cho thấy cái nào là giả, để nhận ra cái thật. Chẳng khác nào cây kim rơi xuống đất, chúng ta muốn tìm kim mà ngửa mặt lên trời để tìm, làm sao thấy được? Tại sao? - Vì cội nguồn “xưa kia không tấc dạ” tức là không có một niệm dấy động mà bây giờ bảo quán thì lỗi bời bời, vô số lỗi. Quán chiếu thì phải khởi niệm phân tích để thấy tướng giả, càng thêm rối rắm, vì Thể chân thật vốn lặng lẽ không chút động niệm, mà bây giờ khởi động niệm để quán nên có lỗi. Chúng ta muốn nhận ra Thể chân thật mà phải tìm trong cái giả tạm, chẳng khác nào ngửa mặt lên trời để tìm cây kim rơi ở dưới đất. Đó là chuyện không đâu. Thượng Sĩ hơi trách pháp quán.

 

Không trói lại cầu trói

Không ràng lại đến ràng.

 

Theo Thượng Sĩ thì cái chân thật thản nhiên tự tại, không bị trói không bị buộc. Bây giờ bắt phải quán chiếu, chẳng khác nào không trói lại cầu trói, không bị ràng buộc lại chịu ràng buộc.

 

Cọp ngồi thật cọp ngồi

Rồng ngủ là rồng ngủ.

Muốn biết thân cùng Phật

Trồng ngó nẩy sen hồng.

 

Mọi người chúng ta đối với các pháp hiện tại như thế nào thì thấy như thế ấy. Chẳng hạn cọp ngồi thì thấy là cọp ngồi, rồng ngủ thì thấy là rồng ngủ, cần gì phải xét phải quán chi cho nhọc. Vậy muốn biết thân mình và thân Phật đồng nhau, phải thấy hoa sen trổ hồng gốc từ ngó sen mà ra, có hoa sen nào trổ mà không từ ngó sen ở dưới bùn chui lên đâu? Vậy thì thấy thân Phật là thân chân thật và, Báo thân Phật cũng như thân mình cũng có thân chân thật, không cần phải quán thân Phật rồi đối chiếu lại thân mình, hay quán thân mình rồi đối chiếu thân Phật, thêm dài dòng. Đó là ý Thượng Sĩ không chấp nhận lối quán chiếu.

 

Gương ngọc tròn vành lên góc biển

Chỉ nhân ấn mắt có đổi dời.

 

Mặt trời từ từ lên tỏa ánh sáng từ phía biển đông, chỉ có một mặt trời thôi, nhưng nếu chúng ta dụi mắt thì thấy vô số bóng mặt trời khác. Sở dĩ chúng ta thấy nhiều bóng mặt trời khác như thế là tại chúng ta dụi mắt. Kỳ thật chỉ có một mặt trời mọc lên ở phía biển đông mà thôi. Thượng Sĩ nói nơi mỗi người có sẵn Thể chân thật, chỉ cần buông hết mọi kiến chấp mọi phân biệt thì Thể chân thật hiện tiền, không cần phải quán chiếu so sánh mới thấy được. Giống như mặt trời lên từ phía biển đông, chúng ta nhìn thì thấy mặt trờimặt trời, nhược bằng dụi mắt thì thấy nhiều bóng mặt trời khác, đó là lỗi tại dụi mắt, chớ một mặt trời vẫn là một mặt trời. Thượng Sĩ dạy chúng ta tu phải thấy đúng như thật, sự việc như thế nào thấy như thế ấy, đừng quán chiếu so sánh làm rối thêm không có lợi.

 

 

____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 405)
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 681)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 797)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 676)
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 161)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 180)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 158)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
27 Tháng Ba 20203:30 CH(Xem: 123)
TRÌNH BÀY TÓM LƯỢC 4 CÕI - Trong 4 loại ấy, gọi là 4 cõi. Tức là cõi khổ, cõi vui, Dục-giới, Sắc-giới, cõi Vô-sắc-giới. NÓI VỀ 4 CÕI KHỔ - Trong nhóm 4 cõi ấy, cõi khổ cũng có 4 là: địa ngục, Bàng sanh, Ngạ quỉ và Atula. NÓI VỀ 7 CÕI VUI DỤC GIỚI -
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 178)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
24 Tháng Ba 20202:32 CH(Xem: 189)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Đức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận - Khināsava, bậc đã đoạn trừ mọi lậu hoặc. Chính vì thế, người đi tìm chân lý cần phải hiểu rõ những lậu hoặc này là gì, và làm cách nào để loại trừ được nó.
23 Tháng Ba 20203:56 CH(Xem: 219)
Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chímục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được
22 Tháng Ba 20209:08 CH(Xem: 177)
Everyone is aware of the benefits of physical training. However, we are not merely bodies, we also possess a mind which needs training. Mind training or meditation is the key to self-mastery and to that contentment which brings happiness. Of all forces the force of the mind is the most potent. It is a power by itself. To understand the real nature
21 Tháng Ba 20209:58 CH(Xem: 214)
Chúng ta lấy làm phấn khởi mà nhận thấy rằng hiện nay càng ngày người ta càng thích thú quan tâm đến pháp hành thiền, nhất là trong giới người Tây phương, và pháp môn nầy đang phát triễn mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học khuyên
20 Tháng Ba 20208:30 CH(Xem: 190)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc
17 Tháng Ba 20205:51 CH(Xem: 313)
Mindfulness with Breathing is a meditation technique anchored In our breathing, it is an exquisite tool for exploring life through subtle awareness and active investigation of the breathing and life. The breath is life, to stop breathing is to die. The breath is vital, natural, soothing, revealing. It is our constant companion. Wherever we go,
16 Tháng Ba 20204:16 CH(Xem: 304)
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thởđời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện.
15 Tháng Ba 202012:00 CH(Xem: 251)
Phật giáođạo Phật là những giáo lý và sự tu tập để dẫn tới mục tiêu rốt ráo của nó là giác ngộgiải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, (a) mọi người thế tục đều đang sống trong các cộng đồng dân cư, trong các tập thể, đoàn thể, và trong xã hội; và (b) những người xuất gia dù đã bỏ tục đi tu nhưng họ vẫn đang sống tu
13 Tháng Ba 20209:16 CH(Xem: 227)
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số người xem thiền như là một thứ có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem nó như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh,
12 Tháng Ba 20209:36 SA(Xem: 348)
Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipaṭṭhāna được xem là bài kinh quan trọng nhất trên phương diện thực hành thiền Phật giáo. Các thiền phái Minh Sát, dù khác nhau về đối tượng quán niệm, vẫn không xa khỏi bốn lĩnh vực: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp mà Đức Phật
10 Tháng Ba 20202:09 CH(Xem: 318)
Giới học thiền ở nước ta mấy thập niên gần đây đã bắt đầu làm quen với thiền Vipassanā. Số lượng sách báo về chuyên đề này được dịch và viết tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta đã thấy tính chất phong phú đa dạng của Thiền Minh Sát hay còn gọi là Thiền Tuệ hoặc Thiền Quán này. Thiền Vipassanā luôn có một nguyên tắc nhất quán
10 Tháng Ba 202010:20 SA(Xem: 304)
Trong tất cả các thiền sư cận đại, bà Achaan Naeb là một thiền sư đặc biệt hơn cả. Bà là một nữ cư sĩ đã từng dạy thiền, dạy đạo cho các bậc cao tăng, trong đó có cả ngài Hộ Tông, Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cũng đã từng theo học thiền với bà một thời gian. Năm 44 tuổi, Bà đã bắt đầu dạy thiền
08 Tháng Ba 202011:08 SA(Xem: 259)
A.B.: Đầu tiên, khi họ hỏi Sư: “Sư có muốn nhận giải thưởng này không?” và Sư đã đồng ý. Nhưng phản ứng đầu tiên ngay sau đó là: “Tại sao Sư lại muốn nhận giải thưởng này? Sư là một nhà Sư Phật Giáo, đây là việc một nhà Sư (cần phải) làm. Là một nhà Sư, chúng ta đi truyền giáo, đi phục vụ, và chúng ta không nhất thiết phải đòi hỏi
07 Tháng Ba 20205:16 CH(Xem: 332)
Biên tập từ các bài pháp thoại của ngài Thiền sư Ajahn Brahmavamso trong khóa thiền tích cực 9 ngày, vào tháng 12-1997, tại North Perth, Tây Úc. Nguyên tác Anh ngữ được ấn tống lần đầu tiên năm 1998, đến năm 2003 đã được tái bản 7 lần, tổng cộng 60 ngàn quyển. Ngoài ra, tập sách này cũng đã được dịch sang tiếng Sinhala
06 Tháng Ba 20209:21 SA(Xem: 333)
Trước khi nói về phương pháplợi ích của thiền Minh Sát Tuệ, chúng ta cần điểm qua một số vấn đề liên quan đến "pháp môn thiền định" Phật giáo. Gần đây, dường như pháp môn thiền của Phật giáo bị lãng quên và không còn đóng vai trò quan trọng
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 697)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2288)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3682)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 161)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 180)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 158)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 349)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 520)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 506)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 710)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 883)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 6012)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;