31. Lời Bạt

21 Tháng Mười 20191:52 CH(Xem: 480)
31. Lời Bạt

TueTrungThuongSi
Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục Giảng Giải (1996)

HT. Thích Thanh Từ
Nguồn: thientruclam.info

 

____________________

 

 

31. Lời Bạt

 

Dịch:

 

Thượng Sĩngọn đèn của Phật Hoàng, lấy tâm truyền tâm.

 

Đức Phật bỏ ngôi vị vương giả, đến ngồi dưới cội bồ-đề thành Chánh giác, diễn nói thừa Vô thượng, độ vô lượng chúng sanh, làm thầy trời người, người xưa thật được khai ngộ.

 

Thượng Sĩ làm Bồ-tát tại gia, chấn hưng gia phong của Phật, đề khởi câu nói, dẫn dắt người hậu học, được ánh sáng siêu việt, Phật Hoàng thật được thành tựu chỗ này. Noi theo Phật Thích-ca được Phật Nhiên Đăng thọ ký thành Đẳng chánh giác, Phật Hoàng lấy đây ghi thành quyển Lục. Bác Lăng Vương hỏi Thiền sư Dung đến chỗ cứu kính, Thượng Sĩ lấy đó làm chỗ tựa.

 

Bởi vì tâm Phật Hoàng khởi từ cảnh giới Phật Tổ; lời của Thượng Sĩ cùng tột nguồn tâm tánh. Song Thượng Sĩ không thể làm thành đại báo cho Phật Hoàng, Phật Hoàng cũng không thể lên được chỗ uẩn tích của Thượng Sĩ, mà hay khiến người tối được sáng, kẻ điếc được nghe. Đây là sự trợ lực lớn lao cho Phật giáo vậy.

 

Một hôm Phật Hoàng sai người mang quyển Lục này đến, bảo rằng: “Duy trì Phật phápnhiệm vụ của Quốc vương Đại thần, hãy viết riêng lời tựa và khắc bản in, để cho sự truyền bá được sáng tỏ.” Nay Thượng hoàng đế (Trần Anh Tông) sai thần Trần Khắc Chung làm lời bạt ở sau, tức là noi theo vầng ngân hán chói lọi ở trước. Thần Trần Khắc Chung bái nhận quyển Lục này, thắp hương kính đọc. Mới đầu như say, kế đó như tỉnh, rốt sau tâm mắt sáng rỡ, không tự biết vì sao mà được vậy.

 

Thần kính cẩn đặt bút viết lời bạt.

 

TRẦN KHẮC CHUNG

 

Giảng:

 

Thượng Sĩngọn đèn của Phật Hoàng lấy tâm truyền tâm.

 

Phật Hoàng là chỉ cho Trúc Lâm Đại Đầu-đà hay vua Trần Nhân Tông. Đây là niềm hãnh diện lớn lao của Phật tử Việt Nam khi học đến lịch sử Phật giáo đời Trần. Ở Ấn Độ đức Phật Thích-ca là vị Thái tử, không muốn làm Vua, bỏ ngai vàng đi tu, thành đạo, đi giáo hóa khắp nơi được mọi người từ vua quan cho đến thứ dân đều kính trọng. Còn ở Việt Nam vua Trần Nhân Tông đang ở ngôi vua mà học đạongộ đạo rồi nhường ngôi lại cho con để đi tu. Ngộ đạo là giác, nên gọi là Phật, Vua gọi là Hoàng, Phật Hoàng là Vua Phật. Ở Ấn Độ thì Thái tử tu thành Phật, ở Việt Nam thì ông Vua tu giác ngộ, nhưng không xưng danh Phật, chỉ xưng là Trúc Lâm Đại Đầu-đà. Song, người đương thời quá kính trọng, nên gọi Ngài là Phật Hoàng. Trần Khắc Chung nói Thượng Sĩngọn đèn của Phật Hoàng. Như vậy, Thượng Sĩ là người cầm đèn rọi đường cho vua Trần Nhân Tông học đạo, ngộ đạo và Ngài đã dùng tâm ấn tâm cho Phật Hoàng.

 

Đức Phật bỏ ngôi vị vương giả, đến ngồi dưới cội bồ-đề thành Chánh giác, diễn nói thừa Vô thượng, độ vô lượng chúng sanh, làm thầy trời người, người xưa thật được khai ngộ.

 

Trần Khắc Chung dẫn chứng đức Phật từ một ông Hoàng bỏ ngôi vị, để đến dưới cội bồ-đề tu được thành Phật. Sau khi thành Phật Ngài diễn nói những thừa Vô thượng để độ vô số chúng sanh, làm thầy trời người và chúng sanh được giáo hóa khai ngộ rất nhiều.

 

Thượng Sĩ làm Bồ-tát tại gia, chấn hưng gia phong của Phật, đề khởi câu nói, dẫn dắt người hậu học, được ánh sáng siêu việt, Phật Hoàng thật được thành tựu chỗ này.

 

Thượng Sĩ là một cư sĩ thọ Bồ-tát giới tu tại gia chớ không cạo tóc xuất gia. Ngài đã làm cho gia phong của Phật được phát triển mạnh mẽ và dùng những câu nói khéo làm phương tiện để hướng dẫn cho người ngộ được lý Thiền. Vua Trần Nhân Tông cũng nương nơi sự giáo hóa của Thượng Sĩngộ đạo. Đoạn này nêu lên công giáo hóa của Thượng Sĩ đối với Vua và với mọi người.

 

Noi theo Phật Thích-ca được Phật Nhiên Đăng thọ ký thành Đẳng chánh giác, Phật Hoàng lấy đây ghi thành quyển Lục. Bác Lăng Vương hỏi Thiền sư Dung đến chỗ cứu kính, Thượng Sĩ lấy đó làm chỗ tựa.

 

Vua Trần Nhân Tông noi theo Phật Thích-ca được Phật Nhiên Đăng thọ ký, ghi lời dạy của Thượng Sĩ làm quyển Lục. Như vậy quyển Lục này là do vua Trần Nhân Tông ghi lại lời của Thượng Sĩ dạy để cho đời sau đọc. Còn Thượng Sĩ thì lấy lời Bác Lăng Vương hỏi Thiền sư Pháp Dung làm chỗ tựa để dạy người sau. Thiền sư Pháp Dung ở núi Ngưu Đầu, Sư họ Vi, quê ở Duyên Lăng, Nhuận Châu. Năm mười chín tuổi, Sư đã học thông kinh sử, tìm xem bộ Đại Bát-nhã hiểu thấu lý Chân không.

 

Một hôm, Sư tự than:

 

- Đạo Nho sách đời, không phải pháp cứu kính. Bát-nhã chánh quán là thuyền bè xuất thế. Sư bèn vào ở ẩn núi Mao theo thầy xuất gia học đạo.

 

Sau, Sư đến núi Ngưu Đầu ở trong thất đá trên ngọn núi phía bắc chùa U Thố. Lúc đó, có các loài chim tha bông đến cúng dường. Các loài thú dữ quanh quẩn bên Sư không ngớt.

 

Khoảng niên hiệu Trinh Quán nhà Đường (627-650 TL) Tổ Đạo Tín nhân thấy khí tượng lạ tìm đến gặp Sư. Nhân đó, Sư được khai ngộ.

 

Từ khi đắc pháp về sau, nơi pháp tịch của Sư đại thạnh. Khoảng niên hiệu Vĩnh Huy đời Đường (650-656 TL) đồ chúng thiếu lương thực, Sư phải sang Đơn Dương hóa duyên. Đơn Dương cách núi Ngưu Đầu đến tám mươi dặm. Sư đích thân mang một thạch (tạ) tám đấu, sáng đi chiều về để cúng dường ba trăm Tăng. Như vậy, mà ngót ba năm, Sư cung cấp không thiếu.

 

Quan Huyện tên Tiêu Nguyên Thiện thỉnh Sư giảng kinh Bát-nhã tại chùa Kiến Sơ. Thính giả vân tập. Sư giảng đến phẩm Diệt Tĩnh, đất chấn động.

 

Bác Lăng Vương hỏi Sư:

 

Khi cảnh duyên sắc phát,

Không nói duyên sắc khởi;

Làm sao biết được duyên,

Muốn dứt cái khởi ấy?

 

Sư đáp:

 

Cảnh sắc khi mới khởi

Sắc cảnh tánh vẫn không.

Vốn không người biết duyên

Tâm lượng cùng tri đồng.

Soi gốc phát chẳng phát

Khi ấy khởi tự dứt.

Ôm tối sanh hiểu duyên

Khi duyên, tâm chẳng theo.

Chí như trước khi sanh

Sắc tâm không nuôi dưỡng.

Từ không vốn vô niệm

Tưởng thọ ngôn niệm sanh.

Khởi pháp chưa từng khởi

Đâu cầu Phật chỉ dạy.

 

Hỏi:

 

Nhắm mắt không thấy sắc

Cảnh lự lại thêm phiền.

Sắc đã chẳng quan tâm

Cảnh từ chỗ nào phát?

 

Sư đáp:

 

Nhắm mắt không thấy sắc

Trong tâm động lự nhiều.

Huyễn thức giả thành dụng

Há gọi trọn không lỗi.

Biết sắc chẳng quan tâm

Tâm cũng chẳng quan người.

Tùy đi có tướng chuyển

Chim bay trông không thật.

 

Hỏi:

 

Cảnh phát không chỗ nơi

Duyên đó hiểu biết sanh.

Cảnh mất hiểu lại chuyển

Hiểu bèn biến làm cảnh.

Nếu dùng tâm kéo tâm

Lại thành biết bị biết.

Theo đó cùng nhau đi

Chẳng lìa mé sanh diệt.

 

Sư đáp:

 

Tâm sắc trước sau giữa

Thật không cảnh duyên khởi.

Một niệm tự ngừng mất

Ai hay tính động tịnh.

Đây biết tự không biết

Biết, biết duyên chẳng hợp.

Nên tự kiểm bản hình

Đâu cầu tìm ngoại cảnh.

Cảnh trước không biến mất

Niệm sau chẳng hiện ra.

Tìm trăng chấp bóng huyền

Bàn dấu đuổi chim bay.

Muốn biết tâm bản tánh

Lại như xem trong mộng.

Ví đó băng tháng sáu

Nơi nơi đều giống nhau.

Trốn  không trọn chẳng khỏi

Tìm không lại chẳng thành.

Thử hỏi bóng trong gương

Tâm từ chỗ nào sanh?

 

Hỏi:

 

Chính ngay lúc dụng tâm,

Làm sao được an ổn?

 

Sư đáp:

 

Chính ngay lúc dụng tâm,

Chính là không tâm dụng.

Bàn quanh danh tướng nhọc,

Nói thẳng không mệt phiền.

Không tâm chính lúc dụng,

Thường dụng chính là không.

Nay nói chỗ không tâm,

Chẳng cùng có tâm khác.

 

Hỏi:

 

Người trí dẫn lời diệu

Cùng tâm phù hợp nhau.

Lời cùng tâm đường khác

Hiệp thì trái vô cùng?

 

Sư đáp:

 

Phương tiện nói lời diệu,

Phá bệnh đạo Đại thừa.

Bàn chẳng quan Bản tánh

Lại từ không hóa tạo.

Vô niệmchân thường

Trọn phải bặt đường tâm.

Lìa niệm tánh chẳng động,

Sanh diệt chẳng trái lầm.

Cốc hưởng đã có tiếng

Bóng gương hay ngó lại.

 

Niên hiệu Hiển Khánh năm đầu (656 TL) nhà Đường, quan huyện Tiêu Nguyên Thiện thỉnh Sư xuống núi trụ trì chùa Kiến Sơ. Sư hết lời từ chối mà không được. Bất đắc dĩ, Sư gọi đệ tử thượng thủTrí Nham truyền trao pháp ấn và dặn dò tiếp nối truyền dạy tại núi này.

 

Sư sắp xuống núi bảo chúng:

 

- Ta không còn bước chân lại núi này.

 

Lúc đó chim thú kêu buồn gần suốt tháng không dừng. Trước am có bốn cây ngô đồng, giữa tháng hè bỗng nhiên rụng lá.

 

Năm sau (657 TL) ngày 23 tháng giêng, Sư thị tịch tại chùa Kiến Sơ, thọ sáu mươi bốn tuổi, tuổi hạ được bốn mươi mốt. Ngày 27 đưa quan tài lên núi Kê Long an táng, số người tiễn đưa hơn vạn.

 

Phái thiền của Sư truyền, sau này gọi là Ngưu Đầu thiền, vì lấy tên núi mà đặt tên. Số môn đồ khá đông, lưu truyền thạnh hành đến sáu đời mới dứt.

 

Đọc qua đoạn sử của ngài Pháp Dung, chúng ta thấy tinh thần quên mình vì đạo của người xưa thật chúng ta không thể bì kịp. Vì nuôi Tăng chúng mà Ngài phải đích thân đi quyên tởi nhọc nhằn. Tuệ Trung Thượng Sĩ không phải chỉ học với Thiền sư Tiêu Dao, mà Ngài còn lấy lời dạy của Thiền sư Pháp Dung để làm chỗ tựa. Bác Lăng Vương hỏi Thiền sư Pháp Dung mười câu Ngài trả lời mỗi câu bằng một bài kệ, câu hỏi dài bài kệ cũng dài nên ở đây tôi chỉ tríchgiải thích một số câu thôi.

 

Bác Lăng Vương hỏi:

 

Khi cảnh duyên sắc phát,

Không nói duyên sắc khởi;

Làm sao biết được duyên,

Muốn dứt cái khởi ấy?

 

Ý hỏi rằng: Các hình sắc nương nơi cảnh mà phát ra, bây giờ không nói các hình sắc đó từ nơi cảnh khởi, mà chỉ làm sao biết được duyên của nó và dứt cái khởi của nó. Các sự vật ở thế gian này đều từ duyên mà khởi, từ duyên mà thành. Như cái nhà từ các duyên như gạch, ngói, gỗ v.v... (cảnh) tạo thành cái nhà (sắc). Như vậy duyên nơi cảnh mà tạo thành hình sắc đẹp xấu v.v... Nhưng nếu không nói cái duyên sắc khởi, nói sự vật này không phải tự nó duyên nơi cảnh, tức là những yếu tố tạo thành các hình sắc, làm sao biết được cái duyên của nó, làm sao dứt được cái khởi của nó? Nói tóm lại cho dễ hiểu là tất cả sự vật là do duyên hợp mà thành hình sắc, làm sao biết được cái duyên của nó để dứt cái nguyên nhân tạo nên sự vật đó.

 

Thiền sư Pháp Dung trả lời:

 

Cảnh sắc khi mới khởi

Sắc cảnh tánh vẫn không.

Vốn không người biết duyên

Tâm lượng cùng tri đồng.

Soi gốc phát chẳng phát

Khi ấy khởi tự dứt.

Ôm tối sanh hiểu duyên,

Khi duyên, tâm chẳng theo.

Chí như trước khi sanh

Sắc tâm không nuôi dưỡng.

Từ không vốn vô niệm,

Tưởng thọ ngôn niệm sanh.

Khởi pháp chưa từng khởi,

Đâu cầu Phật chỉ dạy.

 

Cảnh sắc khi mới khởi

Sắc cảnh tánh vẫn không.

 

Cảnh là những nguyên nhân những yếu tố hợp thành sắc. Ví dụ như ngói gạch là cảnh, hợp thành cái nhà là sắc, cả hai đều là Tánh không. Tại sao vậy? Vì ngói gạch... cũng do duyên hợp nên nói Tánh không, cái nhà thì do các duyên ngói, gạch, xi măng v.v... hợp lại, nên nói là Tánh không.

 

Vốn không người biết duyên.

 

Nói cái nhà và ngói, gạch đều không thật, do duyên hợp, vậy người biết cái nhà có thật không? Con người cũng do duyên hợp, cho nên nói vốn không nguời biết duyên. Cả ba đều là không thật nên:

 

Tâm lượng cùng tri đồng.

 

Nghĩa là tâm lượng của mình cùng cái biết đồng.

 

Soi gốc phát chẳng phát

Khi ấy khởi tự dứt.

 

Nghĩa là nhìn lại tâm mình coi nó khởi hay không khởi, nhìn thẳng như vậy thì tâm niệm dừng lại không khởi nữa.

 

Ôm tối sanh hiểu duyên,

Khi duyên, tâm chẳng theo.

Chí như trước khi sanh,

Sắc tâm không nuôi dưỡng.

 

Ôm ấp cái tối tăm mờ mịt mà sanh cái hiểu biết thì khó mà hiểu biết cho chính xác. Khi nào gặp duyên mà tâm mình không dính mắc, và sống với cái tâm trước khi nó khởi niệm, tức là khi thấy sắc chỉ biết mìnhtánh thấy, không khởi niệm chạy theo sắc.

 

Từ không vốn vô niệm,

Tưởng thọ ngôn niệm sanh.

Khởi pháp chưa từng khởi,

Đâu cầu Phật chỉ dạy.

 

Nếu chúng ta biết các pháp vốn không tự tánh thì tâm không dấy động, sở dĩ dấy động là tại tưởng tượng thọ nhận, rồi phát ra lời nói, do đó mà niệm sanh, những niệm đó vốn trước chưa từng có, nếu biết rõ như vậy thì đâu cần cầu xin Phật chỉ dạy làm gì.

 

Hỏi:

 

Nhắm mắt không thấy sắc,

Cảnh lự lại thêm phiền.

Sắc đã chẳng quan tâm,

Cảnh từ chỗ nào phát?

 

Như chúng ta ngồi thiền mắt ngó xuống, không thấy hình sắc bên ngoài mà lúc đó tâm nghĩ tứ tung. Lẽ ra không thấy cảnh thì không nghĩ, sao lại nghĩ nhiều? Khi đi ngó trời, mây, đồi thông, hồ nước thì không nghĩ, còn khi ngồi nhắm mắt lại nghĩ nhiều. Lúc đó cảnh sắc bên ngoài mình không thấy, vậy cảnh ở đâu mà hiện ra trong đầu mình hoài vậy? Câu hỏi này rất thiết thực và rất gần với chúng ta.

 

Thiền sư Pháp Dung đáp:

 

Nhắm mắt không thấy sắc,

Trong tâm động lự nhiều.

Huyễn thức giả thành dụng,

Há gọi trọn không lỗi.

Biết sắc chẳng quan tâm,

Tâm cũng chẳng quan người.

Tùy đi có tướng chuyển,

Chim bay trông không thật.

 

Nhắm mắt không thấy sắc,

Trong tâm động lự nhiều.

Huyễn thức giả thành dụng,

Há gọi trọn không lỗi.

 

Trong lúc chúng ta ngồi thiền nhắm mắt không nhìn cảnh, mà tâm có nhiều vọng lự có nhiều hình ảnh hiện ra, đó là do huyễn thức giả thành những hình ảnh đó, như vậy là có lỗi rồi.

 

Biết sắc chẳng quan tâm,

Tâm cũng chẳng quan người.

Tùy đi có tướng chuyển,

Chim bay trông không thật.

 

Khi chúng ta ngồi thiền có những vọng niệm hình ảnh dấy lên đừng có quan tâm, nó khởi mặc nó, chúng ta không theo. Không theo nó thì nó không dính dáng gì tới mình. Cũng như chúng ta bước đi, tùy theo bước đi mà có tướng chuyển động, hai chân bước thì hai tay tự lay động để lấy trớn gọi là chuyển động, giống như chim bay trong hư không. Thiền sư Pháp Dung trả lời câu hỏi, tại sao khi ngồi yên ngó xuống lại có nhiều nghĩ ngợi lăng xăng. Ngài nói cái nghĩ lăng xăng là huyễn thức, nếu chúng ta theo nó thì có lỗi, nếu tâm không dính dáng thì không có lỗi lầm gì cả.

 

Hỏi:

 

Cảnh phát không chỗ nơi,

Duyên đó hiểu biết sanh.

Cảnh mất hiểu lại chuyển,

Hiểu bèn biến làm cảnh.

Nếu dùng tâm kéo tâm,

Lại thành biết bị biết.

Theo đó cùng nhau đi,

Chẳng lìa mé sanh diệt.

 

Bác Lăng Vương hỏi: Cảnh phát ra (cảnh này là cảnh trong tâm mình) không có nơi chốn, duyên nơi cảnh đó chúng ta có cái hiểu biết phân biệt. Nếu cảnh lặng thì cái hiểu biết lại dời đổi biến thành cảnh. Ví dụ như cảnh trong mộng, vậy cảnh trong mộng từ đâu ra? Cảnh trong mộng dấy lên không có chỗ nơi. Nhưng khi tỉnh mộng chúng ta vẫn còn nhớ hình ảnh trong mộng, nên ở đây nói:

 

Cảnh phát không chỗ nơi,

Duyên đó hiểu biết sanh.

Cảnh mất hiểu lại chuyển,

Hiểu bèn biến làm cảnh.

Nếu dùng tâm kéo tâm,

Lại thành biết bị biết.

 

Như chúng ta vừa dấy niệm liền khởi niệm diệt nó, gọi là tâm kéo tâm và thành ra cái hay biết và cái bị biết đối đãi.

 

Theo đó cùng nhau đi,

Chẳng lìa mé sanh diệt.

 

Tu như vậy là còn đi trong sanh diệt.

 

Thiền sư Pháp Dung nói:

 

Tâm sắc trước sau giữa,

Thật không cảnh duyên khởi.

Một niệm tự ngừng mất,

Ai hay tính động tịnh.

Đây biết tự không biết,

Biết, biết duyên chẳng hợp.

Nên tự kiểm bản hình,

Đâu cầu tìm ngoại cảnh.

Cảnh trước không biến mất,

Niệm sau chẳng hiện ra.

Tìm trăng chấp bóng huyền,

Bàn dấu đuổi chim bay.

Muốn biết tâm bản tánh,

Lại như xem trong mộng.

Ví đó băng tháng sáu,

Nơi nơi đều giống nhau.

Trốn không trọn chẳng khỏi,

Tìm không lại chẳng thành.

Thử hỏi bóng trong gương,

Tâm từ chỗ nào sanh?

 

Tâm sắc trước sau giữa,

Thật không cảnh duyên khởi.

 

Tâm và sắc trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều không thật.

 

Một niệm lại ngừng mất,

Ai hay tính động tịnh.

 

Niệm dấy lên rồi tự lặng đi thì cái động cái tịnh ai mà biết được.

 

Đây biết tự không biết,

Biết, biết duyên chẳng hợp.

 

Khi cái động tịnh lặng rồi, cái biết này biết, mà không phải là cái biết của dấy niệm chạy theo các duyên bên ngoài, nên nói “biết, biết duyên chẳng hợp”.

 

Nên tự kiểm bản hình,

Đâu cầu tìm ngoại cảnh.

 

Nên nhìn lại chính mình, không nên đuổi theo cảnh bên ngoài.

 

Cảnh trước không biến mất,

Niệm sau chẳng hiện ra.

 

Cảnh trước tự nó như vậy, niệm sau cũng không hiện, nghĩa là chúng ta không phải quán cho cảnh mất, mà cảnh là cảnh tâm không dấy động.

 

Tìm trăng chấp bóng huyền,

Bàn dấu đuổi chim bay.

 

Nếu chúng ta cứ đuổi theo cảnh bên ngoài, như người tìm trăng mà cứ nhìn cái bóng dưới nước, hay như chim bay không để lại dấu vết, mà cứ bàn dấu nó ở chỗ này chỗ kia. Đó là những việc làm rỗng vô ích.

 

Muốn biết tâm bản tánh,

Lại như xem trong mộng.

 

Muốn biết Bản tánh của mình mà xem cảnh trong mộng, làm sao mà biết?

 

Ví đó băng tháng sáu,

Nơi nơi đều giống nhau.

 

Ở các nước Tây phương mùa Đông mới có băng, tháng sáu là mùa Hạ làm sao có băng? Bản tánh chân thật mà khởi niệm muốn biết thì giống như xem cảnh trong mộng, hay muốn thấy băng tháng sáu, hai điều đó không thể có.

 

Trốn không trọn chẳng khỏi,

Tìm không lại chẳng thành.

 

Bây giờ chúng ta chạy trốn hư không có được chăng? Và tìm hư không có được chăng? Chúng ta đang ở trong hư không mà trốn và tìm hư khôngvô lý.

 

Thử hỏi bóng trong gương,

Tâm từ chỗ nào sanh?

 

Chúng ta đang sống với cái Thể chân thật tức là sống với Bản tánh của mình, tức là lúc nào nó cũng đang hiện hữu, nhưng mà tìm thì không thể thấy, giống như chúng ta đang sống trong hư không, mà muốn chạy trốn, hoặc muốn tìm hư không để rờ mó nó thì không được. Hai câu kết Ngài nói:

 

Thử hỏi bóng trong gương,

Tâm từ chỗ nào sanh?

 

Kêu cái bóng ở trong gương hỏi xem tâm từ chỗ nào sanh, bóng có trả lời được không? Bóng làm sao trả lời.

 

Tóm lại, lời hỏi của Bác Lăng Vương và những câu trả lời của Thiền sư Pháp Dung rất là thâm thúy, Thượng Sĩ lãnh hội được ý chỉ ấy, nên lấy đó làm chỗ tựa để tu và giảng dạy lại cho người sau, nên nói đây là sự trợ lực lớn lao cho người sau vậy.

 

Bởi vì tâm Phật Hoàng khởi từ cảnh giới Phật Tổ; lời của Thượng Sĩ cùng tột nguồn tâm tánh.

 

Tâm Phật Hoàng thấu suốt được ý chỉ của Phật Tổ, tức là Ngài đã ngộ đạo, còn Thượng Sĩ thì cũng tột nguồn tâm tức là Thượng Sĩ cũng ngộ đạo.

 

Song Thượng Sĩ không thể làm thành đại báo cho Phật Hoàng, Phật Hoàng cũng không thể lên được chỗ uẩn tích của Thượng Sĩ, mà hay khiến người tối được sáng, kẻ điếc được nghe. Đây là sự trợ lực lớn lao cho Phật giáo vậy.

 

Thượng Sĩ tuy có công làm cho Phật Hoàng thấy lối đi, nhưng Ngài không làm thành đại báo cho Phật Hoàng. Đại báo là quả báo lớn: một là do sự ngộ đạo rồi làm lợi ích cho chúng sanh, hai là thân này phát triển tốt đẹp. Nghĩa là Thượng Sĩ không làm thành được cái ngộ đạo và làm lợi ích chúng sanh cho Điều Ngự Giác Hoàng. Ngộ là tự Giác Hoàng ngộ, chớ Thượng Sĩ không làm thế được, cũng như làm lợi ích cho người khác thì tự Giác Hoàng phát tâm làm, chớ Thượng Sĩ không làm thế được. Lý uyên áoThượng Sĩ thấu suốt tích lũy, Điều Ngự Giác Hoàng không đến được. Vì của ai thì người đó tự biết, người này không thể thấy của người kia được. Nhưng nhờ Điều Ngự Giác Hoàng ghi lại lời dạy của Thượng Sĩ, mà người sau được sáng mắt được thông tai. Đó là điều lợi ích lớn cho Phật giáo vậy.

 

Một hôm Phật Hoàng sai người mang quyển Lục này đến bảo rằng: “Duy trì Phật phápnhiệm vụ của Quốc vương Đại thần, hãy viết riêng lời tựa và khắc bản in, để cho sự truyền bá được sáng tỏ.” Nay Thượng hoàng đế (Trần Anh Tông) sai thần Trần Khắc Chung làm lời bạt ở sau tức là noi theo vầng ngân hán chói lọi ở trước. Thần Trần Khắc Chung bái nhận quyển Lục này, thắp hương kính đọc. Mới đầu như say, kế đó như tỉnh, rốt sau tâm mắt sáng rỡ, không tự biết vì sao mà được vậy.

 

Thần kính cẩn đặt bút viết lời bạt.

 

Điều Ngự Giác Hoàng đưa quyển Ngữ lục này cho vua Trần Anh Tông, bảo đề tựa để khắc bản in. Vua Trần Anh Tông sai ông Trần Khắc Chung viết lời bạt ở sau. Trần Khắc Chung nói, ông nương theo lời của Thượng Sĩ ở trước mà viết, chớ không phải tự ý viết được. Khi nhận quyển Ngữ lục này, Trần Khắc Chung kính cẩn đọc, ban đầu ông thấy mù mịt nhưng sau ông có tỉnh.

 

Đó là lời bạt của ông Trần Khắc Chung.

 

 

____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Bảy 2019(Xem: 1156)
01 Tháng Bảy 2019(Xem: 984)
30 Tháng Sáu 2019(Xem: 906)
29 Tháng Sáu 2019(Xem: 897)
28 Tháng Sáu 2019(Xem: 974)
27 Tháng Sáu 2019(Xem: 924)
26 Tháng Sáu 2019(Xem: 1046)
25 Tháng Sáu 2019(Xem: 1031)
24 Tháng Sáu 2019(Xem: 1119)
31 Tháng Năm 2019(Xem: 1234)
29 Tháng Năm 2019(Xem: 1381)
26 Tháng Năm 2019(Xem: 3155)
25 Tháng Năm 2019(Xem: 3136)
24 Tháng Năm 2019(Xem: 3631)
18 Tháng Tư 2019(Xem: 3460)
18 Tháng Tư 2019(Xem: 3505)
24 Tháng Chín 2018(Xem: 5423)
01 Tháng Mười Một 2017(Xem: 2556)
31 Tháng Mười 2017(Xem: 2232)
28 Tháng Mười 2017(Xem: 2691)
25 Tháng Chín 2017(Xem: 3260)
08 Tháng Tư 202012:15 CH(Xem: 27)
Tôi viết những dòng này để đáp lại sự thỉnh cầu nhiều lần của nhiều người trên thế giới. Ngày nay, chúng ta đang trải qua giai đoạn cực kỳ khó khăn do sự bùng phát của đại dịch vi rút corona. Bên cạnh đó, các vấn đề tiếp theonhân loại đang phải đối mặt - như sự biến đổi quá mức của khí hậu. Tôi muốn nhân cơ hội này bày tỏ sự ngưỡng mộ
03 Tháng Tư 202011:37 CH(Xem: 180)
Có thể nói, sự hiểu biết quan trọng nhất trong cuộc sống là sự hiểu biết về bản chất thực của hiện hữu, một sự hiểu biết có thể trả lời được những câu hỏi sau một cách hợp lý: - Tại sao chúng ta sanh ra? - Chúng ta đi vào hiện hữu hiện nay như thế nào? - Điều quan trọng nhất phải làm trong cuộc đời này là gì? - Thế nào là chết?
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 261)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 262)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 215)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
27 Tháng Ba 20203:30 CH(Xem: 207)
TRÌNH BÀY TÓM LƯỢC 4 CÕI - Trong 4 loại ấy, gọi là 4 cõi. Tức là cõi khổ, cõi vui, Dục-giới, Sắc-giới, cõi Vô-sắc-giới. NÓI VỀ 4 CÕI KHỔ - Trong nhóm 4 cõi ấy, cõi khổ cũng có 4 là: địa ngục, Bàng sanh, Ngạ quỉ và Atula. NÓI VỀ 7 CÕI VUI DỤC GIỚI -
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 252)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
24 Tháng Ba 20202:32 CH(Xem: 235)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Đức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận - Khināsava, bậc đã đoạn trừ mọi lậu hoặc. Chính vì thế, người đi tìm chân lý cần phải hiểu rõ những lậu hoặc này là gì, và làm cách nào để loại trừ được nó.
23 Tháng Ba 20203:56 CH(Xem: 262)
Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chímục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được
22 Tháng Ba 20209:08 CH(Xem: 241)
Everyone is aware of the benefits of physical training. However, we are not merely bodies, we also possess a mind which needs training. Mind training or meditation is the key to self-mastery and to that contentment which brings happiness. Of all forces the force of the mind is the most potent. It is a power by itself. To understand the real nature
21 Tháng Ba 20209:58 CH(Xem: 257)
Chúng ta lấy làm phấn khởi mà nhận thấy rằng hiện nay càng ngày người ta càng thích thú quan tâm đến pháp hành thiền, nhất là trong giới người Tây phương, và pháp môn nầy đang phát triễn mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học khuyên
20 Tháng Ba 20208:30 CH(Xem: 224)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc
17 Tháng Ba 20205:51 CH(Xem: 355)
Mindfulness with Breathing is a meditation technique anchored In our breathing, it is an exquisite tool for exploring life through subtle awareness and active investigation of the breathing and life. The breath is life, to stop breathing is to die. The breath is vital, natural, soothing, revealing. It is our constant companion. Wherever we go,
16 Tháng Ba 20204:16 CH(Xem: 337)
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thởđời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện.
15 Tháng Ba 202012:00 CH(Xem: 274)
Phật giáođạo Phật là những giáo lý và sự tu tập để dẫn tới mục tiêu rốt ráo của nó là giác ngộgiải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, (a) mọi người thế tục đều đang sống trong các cộng đồng dân cư, trong các tập thể, đoàn thể, và trong xã hội; và (b) những người xuất gia dù đã bỏ tục đi tu nhưng họ vẫn đang sống tu
13 Tháng Ba 20209:16 CH(Xem: 261)
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số người xem thiền như là một thứ có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem nó như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh,
12 Tháng Ba 20209:36 SA(Xem: 382)
Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipaṭṭhāna được xem là bài kinh quan trọng nhất trên phương diện thực hành thiền Phật giáo. Các thiền phái Minh Sát, dù khác nhau về đối tượng quán niệm, vẫn không xa khỏi bốn lĩnh vực: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp mà Đức Phật
10 Tháng Ba 20202:09 CH(Xem: 344)
Giới học thiền ở nước ta mấy thập niên gần đây đã bắt đầu làm quen với thiền Vipassanā. Số lượng sách báo về chuyên đề này được dịch và viết tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta đã thấy tính chất phong phú đa dạng của Thiền Minh Sát hay còn gọi là Thiền Tuệ hoặc Thiền Quán này. Thiền Vipassanā luôn có một nguyên tắc nhất quán
10 Tháng Ba 202010:20 SA(Xem: 337)
Trong tất cả các thiền sư cận đại, bà Achaan Naeb là một thiền sư đặc biệt hơn cả. Bà là một nữ cư sĩ đã từng dạy thiền, dạy đạo cho các bậc cao tăng, trong đó có cả ngài Hộ Tông, Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cũng đã từng theo học thiền với bà một thời gian. Năm 44 tuổi, Bà đã bắt đầu dạy thiền
08 Tháng Ba 202011:08 SA(Xem: 293)
A.B.: Đầu tiên, khi họ hỏi Sư: “Sư có muốn nhận giải thưởng này không?” và Sư đã đồng ý. Nhưng phản ứng đầu tiên ngay sau đó là: “Tại sao Sư lại muốn nhận giải thưởng này? Sư là một nhà Sư Phật Giáo, đây là việc một nhà Sư (cần phải) làm. Là một nhà Sư, chúng ta đi truyền giáo, đi phục vụ, và chúng ta không nhất thiết phải đòi hỏi
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 734)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2313)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3704)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
03 Tháng Tư 202011:37 CH(Xem: 180)
Có thể nói, sự hiểu biết quan trọng nhất trong cuộc sống là sự hiểu biết về bản chất thực của hiện hữu, một sự hiểu biết có thể trả lời được những câu hỏi sau một cách hợp lý: - Tại sao chúng ta sanh ra? - Chúng ta đi vào hiện hữu hiện nay như thế nào? - Điều quan trọng nhất phải làm trong cuộc đời này là gì? - Thế nào là chết?
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 261)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 262)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 387)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 564)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 539)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 744)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 927)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 6067)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;