*** Dẫn nhập - Lời bạt - Cảm niệm - Lời người dịch - Về tác giả - Lời Giới Thiệu ***

09 Tháng Mười Một 201912:53 CH(Xem: 349)
*** Dẫn nhập - Lời bạt - Cảm niệm - Lời người dịch - Về tác giả - Lời Giới Thiệu ***

KhiNaoChimSatBay_D
Khi Nào Chim Sắt Bay,
Hành Trình Phật Giáo Về Phương Tây

Know Where You’re Going
(When The Iron Eagle Flies)

Ni Sư Ayya Khema
Diệu Liên Lý Thu Linh dịch Việt

Version: 9/10/2019

Nhà xuất bản Phương Đông

Nguồn: thuvienhoasen.org

 

____________________


Dẫn Nhập

 

Tựa quyển sách nầy được lấy ra từ một lời tiên tri của Padmasambhava, một nhà thông thái Ấn Độ, ở thế kỷ thứ 8 sau Công nguyên, người đã du hành đến Tây Tạng để thiết lập nền tảng Phật giáo.

 

Nguyên câu tiên tri như sau: “Chừng nào chim sắt bay, ngựa chạy trên bánh xe, người Tây Tạng phải lang thang khắp cùng trái đất, lúc đó Phật pháp sẽ được truyền đến đất nước của người da đỏ.” (‘Đất của người da đỏ’, được xem là Tây phương, vì đối với người Á châu, da người Tây phương đỏ hồng).

 

Mã lực của các xe hơi, “con chim sắt” máy bay là một phần của đời sống chúng ta hôm nay, và người dân Tây Tạng đúng là đã tản mác khắp nơi trên thế giới. Các vị thầy Phật giáo và những lời dạy của Đức Phật (Pháp) đã truyền lan từ những ngọn núi hùng vĩ của Tây Tạng, từ những tu viện trong rừng ở Miến Điện, Thái Lan, Tích Lan, để hội nhập, hoà hợp, thăng hoa ở phương Tây. Từ đó, mang đến cho các tôn giáo Tây phương, một nguồn sinh lực, sức sống mới.

 

____________________

 

 

Lời Bạt

 

Sau khi đạt được đạo giải thoát giác ngộ, Đức Phật đã có nhiều năm truyền bá Phật pháp ở miền bắc Ấn độ. Đức Phật đã khuyên các hàng đệ tử không nên chỉ nghe, hành theo lời dạy của Ngài dựa vào lòng tin, mà phải suy tư về những lời dạy đó. Rồi khi thấy chúng hợp lý, đúng thì phải đem những lời dạy đó ra thực hành. Vì thế, những lời dạy của Đức Phật được truyền tụng vì chúng khiến người nghe thức tỉnh, đem lại lợi ích trong cuộc sống của họ, do đó, họ lại truyền tụng cho người khác. Qua thời gian Phật giáo được lan truyền khắp Á châu.

 

 Tuy nhiên những lời dạy quan trọng của Đức Phật không chỉ hạn chế ở một không gian địa lý nào, vì những lời dạy đó có thể áp dụng cho tất cả nhân loại. Những năm gần đây người Tây phương có nhiều cơ hội tiếp xúc với những truyền thống sống động của Phật giáo. Họ trở nên quan tâm về Phật giáo; có người còn trở thành Phật tử. Một trong những người đó là Ni Sư Ayya Khema. Ở đây Ni Sư trình bày lại những bài giảng trong một khóa tu thiền do Ni Sư hướng dẫn ở Canada, dựa vào những kinh nghiệm tu chứng của chính bản thân. Những nỗ lực nầy thật đáng tán thán, tôi mong rằng qua những lời giảng dạy nầy, tất cả chúng sanh sẽ được tâm bình an.

 

Tenzin Gyatso

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

 

____________________

 

 

Cảm Niệm

 

  Quyển sách nầy dành tặng cho cha mẹ tôi, cho tất cả các vị thầy, các đệ tử, các bạn bè của tôi, và tất cả những ai luôn bảo vệ, hướng về Phật pháp ở thời quá khứ, cũng như trong hiện tại.

 

 Lòng biết ơn sâu xa của tôi đặc biệt dành cho Ni sư Pema Chodron, người đã có lời mời tôi đến đây thuyết giảng, và Ane Trime Lhamo, người đã viết lại từ băng cassette các bài thuyết pháp tôi đã xửû dụng trong quyển sách nầy, cũng như xin cảm ơn Claudia Klump, người đã nhiệt tình giúp đỡû trong công tác đánh máy.

 

 Nguyện cho chúng sanh ở khắp nơi được an vui, lợi ích từ những bài giảng nầy.

 

Ayya Khema

Buddha-Haus,

Đức, tháng 9 – 1989

 

____________________

 

 

Lời Người Dịch

 

 Lần nữa, nhờ sự gia hộ của Ni Sư Ayya Khema, tôi lại có đủ duyên lành để hoàn tất việc chuyển ra Việt ngữ quyển When The Iron Eagle Flies của Ni Sư.

 

 Bắt đầu dịch những trang đầu tiên của quyển When The Iron Eagle Flies (Khi Nào Chim Sắt Bay) từ năm 2002, nhiều lúc tôi tưởng chừng phải bỏ cuộc, vì sự yếu kém của mình. Nhưng tôi đã cầu nguyện đến giác linh của Ni Sư. Tôi đã tự nguyện sẽ cố hết sức mình để hoàn tất, dầu quyển sách dịch nầy chắc chắn sẽ có nhiều sai sót. Chỉ mong rằng nó sẽ là viên gạch đầu cho những ai muốn sửa chữa, bổ sung để bản dịch được hoàn hảo hơn.

 

 Mong bạn đọc đón nhận bản dịch nầy với lòng từ bi, hỷ xả. Xin hiểu rằng mọi sai sót là do sự hiểu biết hạn hẹp của người dịch, hoàn toàn không liên quan đến trí tuệ uyên thâm của Ni Sư Ayya Khema. Cầu xin Ni Sư lượng thứ cho sự mạo muội nầy. Mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của các bậc tôn sư, các dịch giả uyên bác, cũng như bạn đọc khắp nơi để quyển sách được hoàn thiện hơn trong những lần in sau.

 

 Xin tri ân sâu xa Ni Sư Ayya Khema đã để lại cho đời nhiều quyển sách về Phật giáo rất hữu ích.

 

 Xin chân thành cảm ơn NXB Wisdom Publications, MA USA, đã chấp nhận cho chúng tôi được chuyển dịch và ấn tống quyển sách hữu ích nầy.

 

Nguyện đem công đức nầy,

Hướng về khắp tất cả, đệ tửchúng sanh

Nguyện trọn thành Phật đạo.

 

Tháng 6, 2005

Diệu Liên-Lý Thu Linh

 

____________________

 

 

Về Tác Giả

 

Ayya Khema sinh năm 1923, cha mẹ theo đạo Do Thái. Thời thơ ấu sống ở Bá Linh cho đến khi cuộc chiến bắt đầu, bà trốn chạy sang Scotland. Sau đến sống ở Thượng Hải, ở đó bà và gia đình bị quân đội Nhật giam giữ trong các trại dành cho tù nhân chiến tranh. Cha bà đã mất trong lúc bị giam cầm. Sau chiến tranh, bà chu du khắp nơi ở châu Á, nhất là các nước vùng Hy Mã Lập Sơn, và tu Thiền.

 

 Năm 1964 Bà di cư sang Mỹ cùng chồng và hai con. Sau một thời gian nghiên cứu, thực hành thiền Phật giáo, bà bắt đầu truyền dạy Thiền khắp thế giới. Năm 1978, Ni sư thành lập tu viện Theravada Wat Buddha Dhamma, nằm trong một khu rừng, gần Sydney, Úùc. Ni sư cũng thành lập Trung Tâm Nữ Phật tử Quốc Tế (International Buddhist Women’s Center) và Đảo Parappuduwa dành cho các Ni (Parappuduwa Nun’s Island), tại Tích Lan.

 

 Ni sư thọ đại giớiTích Lan vào năm 1979 và là một trong những người tiên phong trong việc tranh đấu cho ni giới.

.

 Vào năm 1987, Ni sư tham gia tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên dành cho Ni giời, mà kết quả là việc thành hình của Sakyadhita, một tổ chức của nữ Phật tử khắp nơi trên thế giới.

 

 Ni Sư đã viết hơn 20 đầu sách về Thiền và Phật giáo bằng tiếng Anh và tiếng Đức. Quyển nổi tiếng nhất là Being Nobody, Going Nowhere (Việt Dịch: Vô Ngã, Vô Ưu), được giải thưởng Christmas Humphreys Memorial Award. Các sách của Ni Sư được thể hiện bằng một sự hiểu biết sâu xa về các công phu tu hành, thành quả của việc hành thiền, là lời kêu gọi mọi người hãy đơn giản hoá cuộc sống và thanh lọc tâm trí bằng cách ứng dụng những lời Phật dạy.

 

Ni Sư Ayya Khema còn là giám đốc tinh thần của Buddha-Haus (Ngôi Nhà Phật) ở Đức, nơi Ni Sư mất năm 1997 do bịnh ung thư.

 

____________________

 

 

Lời Giới Thiệu

 

Trước khi bắt đầu, tôi muốn giải thích về nguồn gốc của các bài thuyết pháp của Đức Phật. Ba tháng sau khi Đức Phật nhập diệt (parinibbàna), kết tập đầu tiên của các vị A-la-hán (những vị đã đắc đạo) được thành hình. Lúc đó các bài thuyết pháp của Đức Phật được phân loại và xếp đặt lại một cách hệ thống. Khi còn tại thế, Đức Phật thường thuyết giảng các đề tài tùy duyên, thường là để trả lời các câu hỏi. Lúc đó, các bài thuyết giảng của các tôn giáo đều được truyền giảng bằng miệng.

 

 Ở lần kết tập nầy của các vị a-la-hán, tôn giả Ananda, người đã làm thị giả cho Đức Phật trong hai mươi lăm năm đã tụng các kinh và Ngài Upali đã truyền khẩu các giới luật cho tăng ni. Có khỏang 17,500 bài thuyết pháp của Đức Phật đã được lưu truyền bằng hình thức đó. Khoảng một trăm năm sau, các vị A-la-hán lại được kết tập lần nữa. Vì có nhiều ý kiến rất khác nhau, đặc biệt là về các giới luật, nên đại chúng (của các tăng và ni) đã có khuynh hướng chia rẽ. Vì thế việc cần hoàn chỉnh tất cả các kinh luật của Đức Phật để có cơ bản dựa vào, là điều thiết yếu.

 

 Hai trăm năm mươi năm sau ngày Đức Phật diệt độ, một kết tập thứ ba của các vị A-la-hán lại được thiết lập. Lúc đó các vị đại đệ tử của Đức Phật là các ngài Ananda, Mục-Kiền-Liên và Xá-lợi-phất, mỗi vị đều có một đệ tử còn sống. Dĩ nhiên, các vị nầy đều đã hơn trăm tuổi, nhưng sự có mặt của các vị là để chứng minh cho các kinh điển được truyền thừa. Ở thời điểm đó, các kinh điển, giới luật được viết bằng ký tự Sinhalese trong Pali ngữ. Ngày nay chúng ta có thể đọc được tiếng Pali bằng ký tự La mã.

 

 Lúc đó vua A Dục, vị đại vương Phật giáo của Aán độ, đã phái con, là thầy Mahindra, đến Tích Lan để truyền bá Phật giáo. Vua Tích Lan hoan hỉ đón nhận giáo lý mới mẻ nầy, nhiều hàng quý tộc cũng trở thành tỳ-kheo (bhikkhus). Các vị tỳ-kheo đã đảm nhiệm trách vụ chuyển tàng kinh Pali sang chữ viết. Tiếng Pali gọi các kinh điển nầy là Tipitaka (ti có nghĩa là ba, và pitaka là giỏ). Tại sao gọi như thế cũng có lý do của nó. Nguyên cảo của kinh được viết trên lá bối (lá cây cọ) bằng những mũi dao găm nhọn như ngòi viết. Mực được tạo ra bằng những quả dâu được chà lên khắp mặt lá, sau đó được lau nhẹ, chỉ để lại màu trên những chữ đã được khắc sâu. Lá bối không đóng lại được thành sách, mà phải mang trong những giỏ xách. Ba giỏ xách riêng biệt được xủ dụng: một cho Kinh (suttas), một cho giới Luật (Vinaya) và một cho Luận (Abhidhamma). Kể từ đó, các vị tỳ-kheo người Tích Lan đã sao chép lại các bản chính trên lá bối cũng bằng cách trên, vì dần dần các lá cây bị khô nát. Việc làm đó đã tạo thành truyền thống lâu đời cũng như là niềm tự hào của các tỳ-kheo sống trong các tu viện xây quanh tảng đá nơi thầy Mahindra lần đầu đến đây giảng pháp.

 

 Kinh điển luôn đi kèm với truyền khẩu; vì đọc sách không thể nào giống với nghe giảng Pháp từ các bậc thầy. Kinh điển, do đó, được truyền khẩu từ thời Đức Phật cho các vị Thầy rồi đến đệ tử, trải qua bao thăng trầm, bao biến động, và vẫn còn tiếp tục như thế đến ngày nay.

 

 Để được lợi ích từ một buổi thuyết pháp, ta phải lắng nghe với cả tâm trí. Trí tư duy; tâm tin tưởng dầu có thể chưa hoàn toàn hiểu hết lời giảng. Nhưng tâm trí kết hợp như thế sẽ giúp ta dễ nắm bắt được những ý nghĩa ở đằng sau lời giảng. Lời nói rất trừu tượng, có thể bị bóp méo. Tâm chúng ta giống như các nhà ảo thuật, có khả năng biến hoá việc nầy thành việc kia.

 

 Giáo lý của Đức Phật như một tấm bản đồ khổng lồ với bao nơi chốn và con đường dẫn ta đi từ nơi nầy đến nơi kia. Đây là món quà đặc biệt của Đức Phật, dành cho tất cả những ai cần đến nó. Tuy nhiên vì chưa đi hết con đường, không ai có thể chắc rằng con đường còn ở phía trước đã được vạch ra đúng hướng. Trong trường hợp đó chỉ có một cách giải quyết duy nhất là rộng mở tâm trí mình để xem sự thật có được phơi bày ra không. Tâm phải có đủ lòng tin để bước tới, nếu không các chấp kiến, những quyết định đầy lý luận sẽ là vật cản đường.

 

 Giáo lý nầy, đã được thực chứng qua các thế kỷ, là một trong những báu vật mà nhân loại sở hữu. Các lời dạy của bậc đạo sưhiệu lực mạnh mẽ trong việc chuyển đổi từ đau khổ (dukkha) đến hạnh phúc (sukkha). Qua cửa ngỏ tâm trí, Đức Phật khuyên chúng ta phải học lẫn hành. Với trí tuệ dẫn lối, sự thực hành thực sự đưa ta đến đích.

 

 Bài kinh các bạn sẽ nghe, gọi là kinh Upanita trích từ Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ Kinh - Connected Discourses), chỉ cho ta con đường đi từ những phiền não, khổ đau hiện tại đến giải thoát. Chúng ta có thể làm được điều đó trong khóa tu thiền bảy ngày nầy không? Đức Phật nói chúng ta có thể làm được. Trong kinh Satipatthana Sutta (Tứ Niệm Xứ), về nền tảng chánh niệm, Đức Phật đã nói rằng nếu hành giả thực hành chánh niệm trong bảy năm, chắc chắn sẽ đạt được quả vị A-la-hán hay bất lai (anagami). Đức Phật lại tiếp, “Mà nầy, không cần bảy năm, chỉ cần sáu, năm, bốn, ba, hai hay chỉ một năm. Chỉ cần mười một tháng, mười, chín, tám, bảy, sáu, năm, bốn, ba, hai hay chỉ một tháng. Nầy, chỉ cần bảy ngày”. Dĩ nhiên, đó là nếu chúng ta có được sự chánh niệm tuyệt đối. Có thể đạt được hoàn toàn giải thoát chỉ trong bảy ngày là điều khó có được, nhưng để giảng về phương pháp thực hành trong khoảng thời gian đó lại là điều hoàn toàn có thể thực hiện được.

 

 Có câu chuyện kể rằng Đức Phật trong một lần đi với các tăng chúng trong rừng. Cầm một nắm lá trong tay, Ngài đã nói với các vị đệ tử, “Lá trong rừng hay lá trong nắm tay ta nhiều hơn?” Các đệ tử Phật bèn thưa: “Bạch Đức Thế Tôn, lá trong rừng phải là nhiều hơn lá trong tay Thế tôn”. Đức Phật tiếp, “Đúng thế. Những điều ta giảng cho các ông, so với những gì ta biết, cũng giống như nắm lá trong tay ta, nhưng thế cũng quá đủ để đạt được giác ngộ giải thoát”.

 

 Chúng ta có thể cảm nhận được tính chính xác của Tam Tạng kinh khi tên, tước hiệu của các vị đệ tử có mặt lúc Đức Phật giảng Pháp đều được nhắc đến. Địa danh nơi giảng pháp cũng thường được mô tả, và tên của các vị đệ tử được lập đi lập lại nhiều lần đến nỗi ta cảm thấy rất thân thuộc với họ. Nhiều bài kinh bắt dầu bằng chữ “Evam me suttam,” có nghĩa là “Như tôi đã được nghe,” là lời mở đầu của ngài A Nan ở lần kết tập đầu tiên của các vị A-la-hán. Tiếp đến Ngài Ananda cho biết ông đã nghe bài giảng ở đâu, những ai cũng có mặt lúc đó. Ngài làm thế để chứng tỏ tính chính xác của bài kinh được truyền lại; nếu có gì vướng mắc, các vị đệ tử khác có thể được tham vấn để xác minh các lời của Ngài.

 

 Chúng ta đầy lòng biết ơnsung sướng biết bao được là những người có mặt trên mặt đất nầy, được có cơ hội nghe Phật pháp. Giữa hơn năm tỉ người có mặt trên trái đất nầy, đó đúng là kết quả của nghiệp lành chúng ta đã gieo trồng. Lòng biết ơnhạnh phúc sẽ khiến ta mở lòng đón nhận Phật pháp. Chỉ có tri thức không, chưa đủ. Sự hành Thiền sẽ đem đến cho ta những kinh nghiệm, mà lúc nào cũng đầy tình cảm, là ‘đặc tính của trái tim”.

 

 Đức Phật đã là một vị thái tử, đã sống trong nhung lụa. Nhưng Ngài nhận thấy rằng những xa hoa, những quyền lợi vật chất không đem đến hạnh phúc cho Ngài. Điều đó cũng đúng trong cuộc sống của chúng ta hôm nay. Chúng ta có thể cũng có bao quyền lợi, bao cao sang, nhưng hạnh phúc vẫn không ở trong tầm tay. Đức Phật đã nghĩ rằng chính những xa hoa, vật chất cản trở Ngài tìm đến sự thật. Ngài đã rời bỏ hoàng cung để sống đời khổ hạnh trong sáu năm, nhưng điều đó cũng không giúp Ngài tìm được chân lý. Sau khi đã tìm được con đường giác ngộ của riêng mình, Đức Phật đã nói sự hưởng thụ thái quá hay sự khổ hạnh tột cùng đều không mang lại kết quả, chỉ có trung đạo, tránh xa hai thái cực trên, là đem lại kết quả.

 

 Trung đạo luôn là con đường của sự đơn giản –đem lại những thứ ta cần, và chỉ thế không có gì hơn. Trong các bài thuyết pháp của Đức Phật, ta cũng nhận thấy sự giản đơn đó. Ít có các nghi lễ, không giáo điều, không ngụy trang. Bài kinh tôi đã chọn cho khóa tu thiền nầy cũng mang đầy đủ những yếu tố cần thiết cho con đường tâm linh. Cũng như trong những điều dạy của Đức Phật, đó là một con đường chuyển hóa dần dần. Bắt đầu bằng những kinh nghiệm đời thường của chúng ta, rồi dần hướng ta đến giải thoát, đến sự tự do tuyệt đối.



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 2020(Xem: 405)
16 Tháng Giêng 2020(Xem: 681)
05 Tháng Giêng 2020(Xem: 797)
23 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 676)
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 161)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 180)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 158)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
27 Tháng Ba 20203:30 CH(Xem: 123)
TRÌNH BÀY TÓM LƯỢC 4 CÕI - Trong 4 loại ấy, gọi là 4 cõi. Tức là cõi khổ, cõi vui, Dục-giới, Sắc-giới, cõi Vô-sắc-giới. NÓI VỀ 4 CÕI KHỔ - Trong nhóm 4 cõi ấy, cõi khổ cũng có 4 là: địa ngục, Bàng sanh, Ngạ quỉ và Atula. NÓI VỀ 7 CÕI VUI DỤC GIỚI -
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 178)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
24 Tháng Ba 20202:32 CH(Xem: 189)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Đức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận - Khināsava, bậc đã đoạn trừ mọi lậu hoặc. Chính vì thế, người đi tìm chân lý cần phải hiểu rõ những lậu hoặc này là gì, và làm cách nào để loại trừ được nó.
23 Tháng Ba 20203:56 CH(Xem: 219)
Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chímục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được
22 Tháng Ba 20209:08 CH(Xem: 177)
Everyone is aware of the benefits of physical training. However, we are not merely bodies, we also possess a mind which needs training. Mind training or meditation is the key to self-mastery and to that contentment which brings happiness. Of all forces the force of the mind is the most potent. It is a power by itself. To understand the real nature
21 Tháng Ba 20209:58 CH(Xem: 214)
Chúng ta lấy làm phấn khởi mà nhận thấy rằng hiện nay càng ngày người ta càng thích thú quan tâm đến pháp hành thiền, nhất là trong giới người Tây phương, và pháp môn nầy đang phát triễn mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học khuyên
20 Tháng Ba 20208:30 CH(Xem: 190)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc
17 Tháng Ba 20205:51 CH(Xem: 313)
Mindfulness with Breathing is a meditation technique anchored In our breathing, it is an exquisite tool for exploring life through subtle awareness and active investigation of the breathing and life. The breath is life, to stop breathing is to die. The breath is vital, natural, soothing, revealing. It is our constant companion. Wherever we go,
16 Tháng Ba 20204:16 CH(Xem: 304)
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thởđời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện.
15 Tháng Ba 202012:00 CH(Xem: 251)
Phật giáođạo Phật là những giáo lý và sự tu tập để dẫn tới mục tiêu rốt ráo của nó là giác ngộgiải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, (a) mọi người thế tục đều đang sống trong các cộng đồng dân cư, trong các tập thể, đoàn thể, và trong xã hội; và (b) những người xuất gia dù đã bỏ tục đi tu nhưng họ vẫn đang sống tu
13 Tháng Ba 20209:16 CH(Xem: 227)
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số người xem thiền như là một thứ có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem nó như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh,
12 Tháng Ba 20209:36 SA(Xem: 348)
Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipaṭṭhāna được xem là bài kinh quan trọng nhất trên phương diện thực hành thiền Phật giáo. Các thiền phái Minh Sát, dù khác nhau về đối tượng quán niệm, vẫn không xa khỏi bốn lĩnh vực: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp mà Đức Phật
10 Tháng Ba 20202:09 CH(Xem: 318)
Giới học thiền ở nước ta mấy thập niên gần đây đã bắt đầu làm quen với thiền Vipassanā. Số lượng sách báo về chuyên đề này được dịch và viết tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta đã thấy tính chất phong phú đa dạng của Thiền Minh Sát hay còn gọi là Thiền Tuệ hoặc Thiền Quán này. Thiền Vipassanā luôn có một nguyên tắc nhất quán
10 Tháng Ba 202010:20 SA(Xem: 304)
Trong tất cả các thiền sư cận đại, bà Achaan Naeb là một thiền sư đặc biệt hơn cả. Bà là một nữ cư sĩ đã từng dạy thiền, dạy đạo cho các bậc cao tăng, trong đó có cả ngài Hộ Tông, Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cũng đã từng theo học thiền với bà một thời gian. Năm 44 tuổi, Bà đã bắt đầu dạy thiền
08 Tháng Ba 202011:08 SA(Xem: 259)
A.B.: Đầu tiên, khi họ hỏi Sư: “Sư có muốn nhận giải thưởng này không?” và Sư đã đồng ý. Nhưng phản ứng đầu tiên ngay sau đó là: “Tại sao Sư lại muốn nhận giải thưởng này? Sư là một nhà Sư Phật Giáo, đây là việc một nhà Sư (cần phải) làm. Là một nhà Sư, chúng ta đi truyền giáo, đi phục vụ, và chúng ta không nhất thiết phải đòi hỏi
07 Tháng Ba 20205:16 CH(Xem: 332)
Biên tập từ các bài pháp thoại của ngài Thiền sư Ajahn Brahmavamso trong khóa thiền tích cực 9 ngày, vào tháng 12-1997, tại North Perth, Tây Úc. Nguyên tác Anh ngữ được ấn tống lần đầu tiên năm 1998, đến năm 2003 đã được tái bản 7 lần, tổng cộng 60 ngàn quyển. Ngoài ra, tập sách này cũng đã được dịch sang tiếng Sinhala
06 Tháng Ba 20209:21 SA(Xem: 333)
Trước khi nói về phương pháplợi ích của thiền Minh Sát Tuệ, chúng ta cần điểm qua một số vấn đề liên quan đến "pháp môn thiền định" Phật giáo. Gần đây, dường như pháp môn thiền của Phật giáo bị lãng quên và không còn đóng vai trò quan trọng
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 697)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2288)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3682)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 161)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 180)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 158)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 349)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 520)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 506)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 710)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 883)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 6012)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;