Pháp Duyên Khởi - A Discourse on Paticcasamuppada (or The Doctrine of Dependent Origination)

07 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 2577)
Pháp Duyên Khởi - A Discourse on Paticcasamuppada (or The Doctrine of Dependent Origination)

 

Pháp Duyên Khởi
A Discourse on Paticcasamuppada
(or The Doctrine of Dependent Origination)
Venerable Mahasi Sayadaw
Translated by U Aye Maung
Dịch: Tỳ kheo Minh Huệ (1999)
Nguồn: budsas.org

 

____________________

PhapDuyenKhoi_A


 MỤC LỤC - CONTENTS

[01]

 

Tầm quan trọng của giáo pháp

Phương pháp tỉnh giác của Bồ tát

Tùy thuận quán

Vượt ngoài lý luậnsuy đoán

Pháp dành cho những người có trí

Khó lãnh hội

Thế nào là vô minh?

Vô minh về nguồn gốc của khổ

Vô minh về diệt đếđạo đế

Chánh kiến

[01]

1. Importance Of The Doctrine
2. Reflection Of The Bodhisatta
3. Anuloma Reasoning
4. Beyond Reasoning And Speculation
5. Dhamma Is Only For The Wise
6. Difficulty Of Understanding
7. What Is Avijja (Ignorance)?
8. Ignorance Of The Origin Of Dukkha
9. Ignorance Of The Third And Fourth Noble Truths
10. Right View, Etc.


[02]

 

Vô minh duyên Hành

Bất thiện nghiệp

Sự chối bỏ thiện nghiệp đồng nghĩa ác nghiệp

Vô minhảo tưởng

Hành duyên Thức

Hành dẫn đến thức mới như thế nào

Thường kiếnđoạn kiến

Những cảnh tượng lúc lâm chung

Tích chuyện về thiện nam Mahàdhammika

[02]

11. Avijja Leads To Sankhara
12. Unwholesome Kammas
13. Rejection Of Good Kamma Means Bad Kamma
14. Ignorance And Illusion
15. Sankhara Causes Vinnana
16. How Sankhara Leads To New Vinnana
17. Sassata And Uccheda
18. Death-Bed Visions
19. The Story Of Mahadhammika Upasaka


[03]

 

Thức và Danh sắc

Hóa sanh

Thấp sanh

Các tâm lộ

Lộ tâm ý môn

Lộ tâm nối tiếp

Thức duyên danh sắc

Trưởng lão Cakkhupàla

Lời phán quyết của một vị trưởng lão

Tâm thanh tịnh và sự an lạc

[03]

20. Vinnana and Nama-Rupa
21. Upapata Rebirth
22. Sansedaja Beings
23. Vithi-Cittas
24. Manodvara Vithi
25.
Follow-Up Vithi
26. From Vinnana Arises Nama-Rupa
21. The Story Of Cakkhupala Thera
28. The Thera's Verdict
29. Pure Thought And Happiness


[04]

 

Danh sắc duyên Lục nhập

Sắc và xứ

Kết luận

[04]

30. Nama-Rupa And Salayatana
31. Rupa And Ayatana
32. Summary


[05]

 

Đức Phật đề cao pháp hành

Tính chất thâm sâu của giáo pháp

[05]

33. The Buddha's Emphasis On Practice
34. The Abstruseness Of The Doctrine


[06]

 

Mối liên hệ giữa ý môn và thức

Tóm tắt

Thọ dẫn đến ái

Sáu loại ái

Ái dụcluân hồi

Sự chấm dứt ái dục

Tích trưởng lão Mahàtissa

Chuyện chim két

Quán và đoạn trừ

Đoạn diệt ở gốc rễ

Phiền não và sự thất niệm

Tư tưởng và sự cảm xúc

Ba loại ái

[06]

35. Relation Between Manodvara And Vinnana, Etc.
36. Recapitulation
37. Vedana Leads To Tanha
38. Six Kinds Of Tanha
39. Tanha And Samsara
40. Extinction Of Craving
41. The Story Of Mahatissa Thera
42. Story Of A Parrot
43. Contemplation And Extinction
44. Cutting Off At The Foundation
45. Kilesa And Unmindfulness
46. Thoughts And Tactile Impressions
47. Three Kinds Of Craving (Tanha)


[07]

 

Ái dẫn đến thủ

Những cơ sở của dục lạc

Kiến thủ

Những quan điểm đúng

Nhìn thấy thế giới bên kia

Ba-la-mật và nghiệp

Giới cấm thủ

Chuyện Korakhattiya

Những lối thực hành khác thuộc giới cấm thủ

[07]

48. Tanha Causes Upadana
49. Bases Of Sensual Pleasure
50. Ditthupadana (Bigotry)
51. Right Views
52. Seeing The World Beyond
53. Parami And Kamma
54. Silabbatupadana (Clinging To False Practices)
55. The Story Of Korakhatiya
56. Other Silabbata Practices
57. Attavadupadana (Clinging To Belief In Soul)


[08]

 

Thủ dẫn đến hữu

Câu chuyện Mandaka

Thủ và nghiệp hữu

Bổn sanh Puppharatta

Thiện nghiệp và phi thiện nghiệp

Nghiệp và tái sinh

Bốn loại nghiệp

Chuyện vua A-xà-thế

Thường nghiệpcận tử nghiệp

Sự sanh và khổ

Sầu khổta thán

Chuyện Subrahmadeva

Dục thủ có nghĩa tất cả những loại ái dục mãnh liệt

Kiến thủnguyên nhân của sự tái sinh

Mê tín và ác sinh

Cuồng tín

Giới cấm thủ

Ngã ngữ thủ

Chuyện ông Ugga

[08]

58. Clinging Leads To Becoming
59. Kammabhava
60. Upapattibhava
61. Story Of Mendaka
62. Upadana And Kammabhava
63. Puppharatta Jataka
64. Right And Wrong Good Kamma
65. Kamma And Rebirth
66. Four Kinds Of Kamma
67. Story Of Ajatasattu
68. Habitual And Death-Bed Kammas
69. Birth And Suffering
70. Grief And Lamentation
71. Story Of Subrahma Deva
72. Kamupadana Means All Kinds Of Excessive Craving
73. Attachment To Belief As The Cause Of Rebirth
74. Superstition And Evil Rebirth
75. Fanaticism Or Religious Upadana
76. Silabbatupadana - Attachment To Wrong Practices
77. Attavadupadana - Attachment to Ego-Belief
78. Story of Ugga


[09]

 

Thiền Minh sát và thủ

Luân hồi và ba thời

Năm nhân quá khứ

Sự khác biệt giữa hành và nghiệp hữu

Quả hiện tại do nhân quá khứ

Kiến thứcpháp hành Minh sát

Đoạn trừ các nhân hiện tại

Cách nhìn của vị A-la-hán về đời sống

Không phải sự đoạn diệt mà là sự chấm dứt đau khổ

Chuyện Tỳ khưu Yamaka

Câu khẳng định của Tỳ-khưu-ni Vajirà về bản chất của năm uẩn

[09]

79. Vipassana Practice and Upadana
80. Life-Cycle and Three Time Dimensions
81. Five Causes in the Past
82. Distinction between Sankhara and Kammabhava
83. Present Effect Due to Past Cause
84. Knowledge for Vipassana Practice
85. Removing the Present Causes
86. Arahat's Outlook On Life
87. Not Annihilation But Extinction Of Suffering
88. Story Of Yamaka
89. Bhikkhuni Vajira On The Nature Of Khandhas


[10]

 

Bốn nhóm, ba móc nối và hai mươi yếu tố

Ba luân hồi

Bốn phương diện của giáo lý duyên khởi

Quan niệm sai lầm của Sàti

Đặc tính riêng của mỗi pháp

Không có sự cố gắng

Sự liên quan giữa nhân và quả

Đoạn diệt phiền não luân hồi

A-la-hán và những đức tính cao quí của đức Phật

Câu chuyện về Phạm thiên Paka

Chánh biến tri

Danh tiếng của đức Phật

Tứ diệu đế tóm lượt

Chánh biến triđạo quả Phật

Tổng kết

[10]

90. Four Layers, Three Links And Twenty Factors
91. Three Cycles
92. Four Aspects Of Paticcasamuppada
93. The False View Of Sati
94. Distinctive Character Of Each Phenomenon
95. Absence Of Effort (Avyapara)
96. Relevancy Of Cause To Effect
97. Conclusion
98. Cutting Off The Cycle Of Defilements
99. Arahan And The Attributes Of The Buddha
100. Story Of Baka Brahma
101. Sammasambuddha
102. The Fame Of The Buddha
103. The Four Noble Truths In Brief
104. Sammasambuddha And Buddhahood
105. Summary


____________________


A Discourse on Paticcasamuppada 
(or The Doctrine of Dependent Origination)
1_PDFA Discourse on Paticcasamuppada.pdf (Whole Book)


____________________


Lời giới thiệu

 

Đại đức Minh Huệ có gửi tặng tôi bản thảo quyển kinh "Pháp Duyên Khởi" do Đại đức phiên dịch từ bản tiếng Anh của Aye Maung, được biên soạndiễn giải từ ngài Mahàsi Sayadaw, một bậc Đại Trưởng lão Tăng già xứ Miến Điện, với lời đề nghị tôi hoan hỉ viết lời giới thiệu về quyển kinh qua sự phiên dịch của Đại đức, để chư tôn Đức Tăng Ni và chư quý Phật tử xa gần xem đọc và tham cứu.

 

Nhận lấy quyển kinh, tôi thật ngần ngại trước lời đề nghị của Đại đức và cũng khó từ chối vì thiển nghĩ: điều gì mình chưa làm được cho Đạo Pháppháp hữu làm được và cậy nhờ mình hỗ trợ, thì tại sao lại không sách tấn khích lệ pháp hữu nhiệt tâm phụng sự cho sự nghiệp hoằng dương Phật pháp... Nơi đây, điều mà tôi rất ngần ngại đấy là tựa đề và nội dung của quyển kinh "Pháp Duyên Khởi". Mặc dù, trước đây tôi từng được học, được xem và nghiên cứu qua kinh điển, qua bao dịch phẩm của các soạn giả, nhưng căn cơ đi đôi cùng với sự hiểu biết về pháp môn này vẫn còn hạn hữu, mà lời giới thiệu cần cẩn trọng trong sự hiểu biết.

 

"Pháp Duyên khởi" còn được gọi là "Lý duyên khởi" hay "Pháp tùy thuộc phát sinh" hoặc "Pháp nhân quả liên quan" và người ta thường gọi chung là "Thập nhị nhân duyên". Đây là Pháp do chính chư Phật Chánh đẳng chánh giác chứng ngộ chứng đạt và khai thị tuyên thuyết minh hiển... đến nhân thiên hữu duyên với đạo mầu giải thoát. Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử truyền bá đạo Phật, các bậc cao Tăng thạc đức thánh phàm đã y giáo phụng hành chánh pháp và tùy vào trình độ uyên thâm pháp môn cao quý này, các ngài đã và đang tiếp nối nhau làm nhiệm vụ "tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự" quảng bá giáo lý duyên khởi đến người hữu duyên tầm đạo và học đạo bằng những phương tiện có được như thuyết giảng, biên soạn, dịch thuật...và ngài Mahàsi Sayadaw là một trong những bậc cao Tăng thạc đức ấy. Bên cạnh đó, với nhịp độ tiến hóa của nhân loại mỗi lúc mỗi cao rộng trên bình diện tư tưởngnhận thức về nhân sinh quan và vũ trụ quan trong cuộc sống, tất cả đã minh chứng và khẳng định được giáo lý đạo Phậtthực thểthực dụng cho nếp sống con người trên cả hai mặt vật chất lẫn tinh thần, nhất là góp phần đem lại sự bình yên cho đời sống tâm linh con người đối trước quy luật biến thiên của giòng đời, mà pháp môn Duyên khởi là điển hình.

 

Trung thành với thánh điển Nguyên thủy đã được chư Phật giảng giải về pháp môn Duyên khởi, các bậc thuyết giảng, biên soạn và dịch thuật... đã tùy theo trình độ căn cơ của người học Phật hoặc tham cứu, mà trình bày có thấp có cao, có đơn giảnchi tiết hoặc dẫn chứng tình tiết cụ thể nhằm giúp người xem học liễu ngộ giáo lý thâm diệu này. Mong rằng mỗi chúng ta được nhân duyên xem đọc quyển kinh Pháp duyên khởi, sẽ lãnh hội được ít nhiều đạo mầu giải thoát của chư Phật và đấy cũng là điều mong ước hoan hỉ nơi dịch giả.

 

Trong niềm hoan hỉ, tôi xin trân trọng giới thiệu dịch phẩm này đến quý vị

 

Pháp quang Tự, ngày 5.12.1999
Tỳ kheo Minh Giác

 

____________________

 


Dẫn Nhập

 

Namo Buddhàya.
Namo Dhammàya.
Namo Sanghàya.

 

Xin thành kính tán dương Đức Phật toàn tri.
Xin thành kính tán dương Giáo Pháp vi diệu.
Xin thành kính tán dương Chúng Tăng trọn lành.

 

Thưa quí vị,

 

Một bản chú giải mà khiến người đọc càng lúng túng thì đó không phải là chú giải. Ở đây, tập sách giảng giải về pháp Duyên Khởi của Ngài Mahàsi Sayadaw quả thật dễõ hiểu, rõ ràng, với nhiều ví dụ cụ thể. Tôi hy vọng rằng độc giả có thể dễ dàng lãnh hội.

 

Đây là bài pháp rất cao siêu, có khả năng đánh tan mọi tà kiến, giúp người tu Phật đặt niềm tin vững chắc vào cứu cánh -- Niết bàn giải thoát.

 

Suốt hai chục năm xuất gia cầu đạo, tôi hiểu rất mơ hồ về pháp này. Nhưng nhờ lối giảng giải bình dândễ hiểu của Thiền sư uyên bác Mahàsi sayadaw, tôi đã lĩnh hội được rất nhiều. Vì vậy tôi đã mạo muội dịch quyển sách này. Do đó, tôi dám nói rằng quí vị nào đọc và hiểu bài pháp này thì xem như đã học pháp được hai chục năm, nếu đọc một ngàn lần thì trí tuệ cũng tăng lên ngàn lần.

 

Chúc quí vị mau chóng lãnh hội được pháp duyên khởi này. Có một đoạn kinh trong bộ Diệu Pháp Liên Hoa của Bắc Tạng nói rằng: Có một đứa con được cha mẹ để lại viên ngọc quí trong lai áo mà cứ mãi đi lang thang từ nhà này sang nhà nọ để xin ăn. Cuối cùng, một người có trí đã chỉ cho thấy viên ngọc ấy. Viên ngọc là pháp duyên khởi, bậc trí tuệTrưởng lão Mahàsi sayadaw, và dĩ nhiên, Đức Phật là chủ nhân đầu tiên của viên ngọc.

 

Xin thành kính tri ân Trưởng lão Mahàsi Sayadaw, một bậc thầy có tâm từ bi rộng lớn trong thế hệ của chúng ta. Xin tri ân Đại đức Tăng Định đã tạo điều kiện giúp đỡ cho dịch phẩm được hoàn thành một cách tốt đẹp.

 

Dịch giả xin chân thành ghi nhận công đức:

 

Gia đình ông Vương văn Phát (Canada)
Gia đình bà Diệu Đài
Gia đình cô Bằng
Gia đình ông Huỳnh văn Sang (Germany)
Gia đình cô Mỹ lệ
Gia đình cô Nga (Từ Quang)
Cùng chư Phật tử xa gần đã hùn phước cho dịch phẩm này được xuất bản.

 

Nguyện cầu phước báu phát sinh trong công tác phiên dịch này thấu đến tất cả chư thiênnhân loại. Cầu mong cho tất cả chúng sanh sớm chấm dứt sinh tử luân hồi.

 

Mong thay!
Tỳ khưu Minh Huệ



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5277)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1637)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1776)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1557)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1251)
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 62)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 116)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 152)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 167)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 178)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 192)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 264)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 219)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 251)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 262)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 254)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 250)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 526)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 283)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 345)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 371)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
05 Tháng Mười Một 20208:12 CH(Xem: 292)
Tất cả chúng ta đều nghĩ đến và chăm lo sức khỏe của mình, chỉ ít hay nhiều tùy theo mình còn trẻ hay già yếu và ốm đau. Thế nhưng sức khỏe không phải chỉ thuộc lãnh vực thân xác mà còn liên quan đến lãnh vực tâm thần. Như vậy thì tín ngưỡng nói chung và Phật giáo nói riêng có giữ một vị trí hay vai trò nào đối với mối quan tâm
04 Tháng Mười Một 20206:03 CH(Xem: 401)
Cách đây vài năm đã xảy ra mấy cuộc biểu tình trên đường phố sau khi một viên quản ngục nhà tù Guantanamo Bay bị buộc tội là đã vứt quyển kinh vào bồn cầu và giật nước cho nó trôi đi. Ngày hôm sau, một ký giả tờ báo địa phương gọi điện thoại cho tôi, nói rằng anh ta đang viết một bài về sự việc vừa xảy ra, muốn hỏi các nhà
03 Tháng Mười Một 202011:39 SA(Xem: 293)
Thuở nhỏ lúc còn cắp sách đến trường tôi hay mỉm cười và mỗi lần như thế thì lại bị mắng và quở phạt. Trong khi đang chép phạt thì lại bị thêm một lần phạt nữa. Lúc nào tôi cũng mỉm cười. Người ta mắng tôi: "Im đi, không được nhạo báng kẻ khác nhé!". Bắt đầu từ đấy tôi mới hiểu được là tại sao lại không được phép cười.
02 Tháng Mười Một 20205:01 CH(Xem: 303)
Con người là một chúng sanh huyền bí có nhiều tiềm năng phi thường. Có hai năng lực trái ngược luôn luôn tiềm tàng ngủ ngầm trong mỗi người. Một, hướng về trạng thái cao thượng trong sạch, đặc tánh của bậc Thánh Nhân và một, hướng về những điều tội lỗi nhơ bẩn của kẻ sát nhân tàn bạo. Cả hai tiềm lực nầy đều có thể phát sanh
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2174)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3858)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5468)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 264)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 345)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 371)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 152)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5277)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 426)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 434)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2931)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1957)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng