[07]

06 Tháng Hai 20204:59 CH(Xem: 1524)
[07]


Pháp Duyên Khởi

A Discourse on Paticcasamuppada 
(or The Doctrine of Dependent Origination)
Venerable Mahasi Sayadaw
Translated by U Aye Maung
Dịch: Tỳ kheo Minh Huệ (1999)
Nguồn: budsas.org

 

____________________

PhapDuyenKhoi_A

__________________

MỤC LỤC - CONTENTS 

[07]

 

Ái dẫn đến thủ

Những cơ sở của dục lạc

Kiến thủ

Những quan điểm đúng

Nhìn thấy thế giới bên kia

Ba-la-mật và nghiệp

Giới cấm thủ

Chuyện Korakhattiya

Những lối thực hành khác thuộc giới cấm thủ

 

[07]

48. Tanha Causes Upadana
49. Bases Of Sensual Pleasure
50. Ditthupadana (Bigotry)
51. Right Views
52. Seeing The World Beyond
53. Parami And Kamma
54. Silabbatupadana (Clinging To False Practices)
55. The Story Of Korakhatiya
56. Other Silabbata Practices
57. Attavadupadana (Clinging To Belief In Soul)


Ái Dẫn Đến Thủ

 

Do duyên ái, thủ khởi sanh. Tiếng Pàli: Upàdàna, là từ ghép của Upa: Mạnh mẽ, hết sức, và Adàna: Nắm giữ, cầm lấy. Vì vậy, nó có nghĩa là nắm giữ chắc hay sự khao khát mạnh mẽ, không rời. Thủ có bốn loại:

 

1- Dục thủ.
2- Kiến thủ.
3- Giới cấm thủ.
4- Ngã ngữ thủ.

 

1. Dục Thủ

 

Các cảnh dục kích thích lòng ham muốn của tất cả chúng sanh chưa thoát khỏi dục ái. Những cảnh này có năm: Sắc, thinh, hương, vị và xúc.

 

Hình sắc là cảnh có tánh chất khả ái và hấp dẫn đối với con mắt. Nó có vẻ đẹp tự nhiên hoặc xem ra đẹp đối với mắt người xem. Cảnh sắc khả ái, dầu có thật hay chỉ bên ngoài, đều được tìm thấy trong những người đàn ông, đàn bà và nơi hàng tiêu dùng. Đó là hình tướng của những nữ nhân làm hấp dẫn người nam và ngược lại. Những vật mà những người nam và người nữ ưa thích là quần áo, đồ trang sức, xe hơi v.v... Sự kích thích lòng ham muốn không chỉ ở nơi hình tướng hoặc màu sắc. Người đàn ông và đàn bà thu hút lẫn nhau không phải chỉ ở nơi nước da, mà cả toàn thân của phái khác, và hàng tiêu dùng cũng làm cho người ta khởi lên lòng ham muốn như thế. Hình sắc hoặc màu chỉ để giới thiệu vật ưa thích, cũng như tiếng kêu của con thú giúp người thợ săn định hướng và tìm ra nó.

 

Âm thanh, một cảnh dục khác, được biểu lộ qua giọng nói của người đàn ông hay đàn bà, lời ca hay tiếng nhạc. Một số âm thanh và giọng nói quả thực ngọt ngào. Lại nữa, không chỉ âm thanh làm hấp dẫn chúng ta, vì khi chúng ta nghe một âm thanh hay giọng nói nào đó, thì toàn thể vật phát ra âm thanh hay lời nói đều trở thành đối tượng tham ái của chúng ta.

 

Mùi cũng là một nguồn dục lạc, bao gồm tất cả các loại hương thơm, mùi của các loại gia vị, bột thơm, nước hoa. Đàn ông, đàn bà thường xức những chất thơm vào người và vui thích chúng, và không chỉ những mùi thơmtoàn thể vật hay người phát ra mùi thơm cũng làm hấp dẫn người ta.

 

Dục lạc, mà chúng ta có qua việc ăn uống, có nguồn gốc ở đồ ăn và thức uống.

 

Vị ngon có thể là thực hoặc chỉ bề ngoài. Đối với loài heo, chó và những con thú khác thì rác rưởi, vật dơ, có thể là nguồn dục lạc của chúng. Một số người rất thích đồ ăn cay hoặc kích thích. Số khác thì thích các chất say. Dục lạc của họ chỉ có vỏ bên ngoài hơn là có thực, vì người bình thường không hưởng cái hương vị có hậu. Khoái lạc của việc ăn không phải nơi vật thực; Nó cũng tùy thuộc vào việc sửa soạn món ăn và do người đàn ông hay đàn bà biến chế chúng. Điều này có thể thấy ở người đàn ông thích ăn vật thực do vợ nấu, dầu đối với người khác thì tài nấu nướng của nàng chẳng kể vào đâu.

 

Một nguồn dục lạc khác là thân hay sự xúc chạm. Giường nệm êm ái, y phục đúng mùa, thân của phái khác. Tất cả những thứ này đều là đối tượng của sự xúc chạm, không chỉ tạo ra sự ưa thích đối với sự xúc chạm mà ở toàn thân của người hay vật. Sự xúc chạm mở đường cho sự tham luyến toàn thân vật xúc chạm.

Tanha Causes Upadana

 

From craving there arises clinging (upadana). The Pali term upadana is a compound of //upa// - intense, extreme, and //adana// - grasp, take, and so it means to grasp firmly, or intense, obsessive craving. Clinging is of four kinds: (1) clinging to sensuous objects, (2) clinging to false views, (3) clinging to irrelevant, non-Ariyan practices as the way to salvation, and (4) clinging to atta or ego-belief.

 

(1) Clinging to sensual objects:

 

Sensual objects excite the desire of all living beings who are not free from the craving for sensual pleasure. These objects are five in number viz., visual form, sound, odour, taste and contact.

 

Visual form is the object that is pleasant and attractive to the eye. It may possess natural beauty or it may appear to be beautiful in the eyes of the viewer. Pleasant visual form, whether real or apparent, is to be found in men, women and consumer goods. It is the physical appearance of females that attracts the males and vice-versa. The things that both men and women desire are clothes, jewellery, cars, etc. It is not merely the form or colour that excites desire. Man and woman are drawn towards each other not only by the complexion but by the whole body of the opposite sex, and the same may be said of consumer goods that make people greedy. Form or colour only serves to introduce or identify the object of desire just as the cry of an animal helps the hunter to track and find it out.

 

Sound as the object of sensual pleasure is represented by the voices of men and women, songs or music. Some sounds and voices are really sweet while some only appear to be sweet in our ears. Again, it is not the mere sound that attracts us for when we delight in hearing a sound or a voice, the whole thing or the being that produces it forms the focus of our attachment.

 

Odour as the source of sensual pleasure comprises all kinds of scents: scent of flavours, powder, fragrant essence. Men and women apply these odoriferous substances to their bodies and delight in these scents, and it is not the scents alone but the whole physical body giving out the scent that attracts people.

 

The sensual pleasure that we have by eating or drinking is rooted in food and drinks. The good or pleasant taste may be real or apparent. For pigs, dogs and other animals, garbage, refuse and filth may be a source of sensual pleasure. Some people are very fond of bitter or spicy food. Some like intoxicants. Their pleasure is more apparent than real since normal ordinary people do not share their tastes. The pleasure of eating is not confined to food; it centres also on the preparation of food and the man or woman who prepares it. This is evident in the pleasure of a man who enjoys eating the food prepared by his wife although her culinary skill may not impress other people.

 

Another source of sensual pleasure is the body or tactile impression. Soft and smooth beds, comfortable clothing, something warm in cold season and something cold in hot season, the body of the opposite sex - all these form the objects of contact that create not only the craving for the tactile impression but also the craving for the whole body of the living or non-living object. The tactile impression only serves to pave the way for attachment to the whole body.


Những Cơ Sở Của Dục Lạc

 

Như vậy, có những đối tượng là chúng sanh hoặc không phải chúng sanh hình thành những nguồn dục lạc. Lại có những thứ như vàng, bạc, vật trang sức, gạo, gia súc, xe cộ, nhà cửa, đất đai, người hầu kẻ hạ. Người ta làm việc hằng ngày để kiếm về những nguồn dục lạc này. Họ tầm cầu những thứ này cốt để có đồ ăn ngon, y phục đẹp và nhà cửa tiện nghi, để xem biểu diễn v.v...

 

Dục ái thường dẫn đến dục thủ. Khi một người bắt đầu hút thuốc, anh ta thích thói quen này, nhưng vì thói quen ấy càng ăn sâu trong người nên anh ta trở thành con sâu nghiện. Như vậy, chúng ta sẽ vô cùng thích một số cảnh nào đó và chúng ta cảm thấy không yên, nao nao, nếu chúng ta không có được chúng. Bằng cách này, ái tiến đến thủ.

 

Thủ không thể sanh khởi nếu không có ái. Tiếng nhạc và bài ca của người nước ngoài không hấp dẫn lỗ tai người Miến Điện Điện và vì thế không gây sự say mê trong họ. Người Miến Điện Điện không ăn thịt chó. Thịt chó có tánh chất ghê tởm đối với họ và vì vậy thủ đối chó không hề có đối với họ.

Bases Of Sensual Pleasure

 

Then there are living and non-living objects that form the sources of sensual pleasure. There are gold, silver, jewellery, rice, cattle, poultry, vehicles, houses, land, attendants. Men work daily to secure these sources of pleasure. They seek these things to have good food, good clothes and good houses, to see movies and so forth.

 

Sensual desire (tanha) usually leads to intense craving for sensual objects (kamapadana). When a man starts smoking, he delights in his new habit but as the habit grows upon him he becomes addicted to it. Thus, we become excessively fond of certain objects and we feel restless and discomfited if we do not get them. In this way tanha develops into upadana (clinging, grasping or infatuation).

 

Upadana cannot come into being without tanha. The music and songs of foreigners do not appeal to Burmese ears and so there is no craze for them among the people. Burmese people do not eat dogs. Dog's flesh is abhorrent to them and so there can be no upadana in regard to it.


2. Kiến Thủ

 

Một loại thủ khác là kiến thủ. Đó là sự bám chấp theo tà kiến. Nó bao gồm tất cả tà kiến, không kể những tà kiến trong loại thủ thứ ba và thứ tư. Bởi vậy mọi tà kiến đều được xem là thủ. Ở đây, chúng ta sẽ mô tả chi tiết những tà kiến ăn sâu trong mọi người.

 

Tà kiến thứ nhất cho rằng sự bố thí không phải là thiện nghiệp mà chỉ là sự phung phí tiền bạc. Tà kiến này phủ nhận giá trị và quả của thiện nghiệp. Thực ra nó chẳng có cơ sở nào cả. Hành động bố thí khiến người cho hoan hỷ. Nó đem lại lợi ích về vật chất lẫn tinh thần đến người thọ nhận và nó có thể giúp người ta vượt qua cơn đói. Người cho được mọi người tôn trọng và biết đến. Sau khi chết người ấy được sanh về thiên giới. Thật khó thuyết phục những kẻ hoài nghi về quả báođời sau nhưng các quả nghiệp thuộc thế giới khác lại lọt vào tầm thấy của các vị A-la-hán và những vị thánh khác qua năng lực thần thông của Ngài. Một trong những loại thần thông này là thiên nhãn thông. Loại thần thông này có thể giúp người ta thấy được những người bố thí đang hưởng hạnh phúc ở cõi chư thiên, hoặc những người ác, không bố thí đang chịu khổ ở các đọa xứ. Các vị hành giả, dầu chưa có thần thông nhưng đã tiến bộ nhiều về định, cũng có thể nhìn thấy như vậy.

 

Loại tà kiến thứ hai cũng là sự phủ nhận những lợi ích của sự bố thíphạm vi rộng lớn.

 

Loại tà kiến thứ ba phủ nhận kết quả lành của việc tiếp khách, cho quà biếu vào ngày tết v.v... Quan điểm này chỉ về những hành động bố thí nhỏ, thịnh hànhẤn Độ cổ xưa và nhóm ngoại đạo xem những bố thí ấy là vô ích.

 

Quan điểm thứ tư phủ nhận kết quả của thiện nghiệp hoặc ác nghiệp.

 

Ngay trong kiếp sống này, người ta cũng có thể thấy kết quả của những việc làm của con người về mặt đạo đức. Còn nói về quả nghiệp ở thế giới bên kia thì những người có thiên nhãn mới chứng thực được điều ấy. Nhưng những người quá say mê dục lạc thì thích buông thả theo tham muốn của họ. Họ biểu lộ sự bất bình đối với những giá trịý tưởng về đạo đức, vì họ nghĩ rằng những điều ấy là chướng ngại cho sự tiến bộ vật chất của họ. Bởi vậy, họ đưa ra nhiều lập luận để phản đối nghiệp báo. Xét cho cùng thì tất cả điều này là do lòng ham muốn dục lạc quá mức của họ.

 

Tà kiến thứ năm và thứ sáu phủ nhận công ơn của cha mẹ đối với con cái. Tà kiến này chủ trương rằng việc có con của hai vợ chồng chẳng qua là do sự thỏa mãn tình dục một cách ngẫu nhiên của họ, rằng họ nuôi con cái như là bổn phận phải làm, và vì vậy chẳng có lý do gì để con cái phải nhớ ơn cha mẹ. Cho nên những người theo tà kiến này chủ trương rằng giúp đỡ cha mẹ chẳng phải là điều tốt, và bỏ bê cha mẹ cũng chẳng phải là điều xấu. Thật là một quan kiến tệ hại. Những người chấp theo tà kiến này sẽ không được con cái tôn trọng.

 

Tà kiến thứ bảy phủ nhận sự hiện hữu của thế giới khác ngoài cõi người và cõi súc sanh. Nó cũng phủ nhận niềm tin rằng con thú có thể tái sanh làm người.

 

Tà kiến thứ tám phủ nhận việc con người tái sanh vào cõi chư thiên, súc sanh hoặc địa ngục. Nó chủ trương sự đoạn diệt sau khi chết.

 

Tà kiến thứ chín phủ nhận sự hoá sanh. Nói cách khác, nó phủ nhận sự hiện hữu của chư thiên, ngạ quỉ, A tu la v.v..., là những kẻ xuất hiện với thân hình đầy đủ mà không qua trung gian của sự thọ thai. Quan điểm này không thể biện hộ được, bởi vì những vị phi nhân thiện hoặc ác cũng hiện ra cho người ta thấy. Có những người lên đồng và những thầy bùa có thể triệu về những vị phi nhân, và những vị chư thiên, phạm thiên đôi khi cũng hiện rõ trước mắt vị hành giả tu minh sát.

 

Quan điểm cuối cùng là không có sa môn hay Bà la môn nào nói về thế giới này và thế giới bên kia, và thực hành đúng với những gì họ nói ra. Quan điểm này ám chỉ rằng không có người nào có thể nói một cách độc lập về thế giới này và thế giới bên kia, dựa vào kinh nghiệm phi thường thực có của vị ấy, rằng tất cả giáo lý của họ chỉ là sự phỏng đoánsuy luận cho nên có tính chất huyền hoặc.

 

Ngày nay, quan điểm này được lan rộng bởi những người phỉ báng tôn giáo. Họ phủ nhận sự hiện hữu của chư Phật và chư vị A-la-hán, là những bậc biết thế gian như thật qua sự tinh tấn của các Ngài. Nhưng quan điểm này là thất sách, vì bằng lối suy luận ấy, người ta có thể phủ nhận quan điểm này, bởi vì những người chấp theo quan điểm này cũng không biết gì hơn về thế giới này hoặc thế giới bên kia.

 

Còn về giáo pháp của Đức Phật, nó dựa vào tuệ quán phi thường. Do đó, giáo pháp đi đến hiện thực và bằng chứng khoa học. Vào thời Đức Phật, có một người đàn ông tên là Ajita, chuyên rao giảng thuyết bất khả tri. Ông ta đả kích tất cả giáo lý mà không có sự thẩm định phẩm chất, và vì thế, Đức Phật và chư vị A-la-hán cũng là những mục tiêu đả kích của ông ta.

 

 

(2) Ditthupadana (Bigotry)

 

Another kind of upadana is ditthupadana which means clinging to false views. It covers all the false views, exclusive of those in the categories of the third and fourth upadana. So every false belief is to be regarded as upadana. Here we will describe at length ten false views that have a firm grip on the people.

 

The first view is that alms-giving is not a good kammic act, that it means only a waste of money. This view rejects the sense of values and the fruits of a good act. It has, however, no basis in fact. The act of dana makes the donor joyful. It benefits the recipient physically and mentally and it may even help to save the life of a starving man. The donor is popular and highly esteemed. After his death, he attains the deva-world. It is hard to convince the sceptic of this post-mortem reward, but these other-worldly results of kamma come within the purview of Arahats and other holy men with psychic powers. One of these powers is the ability to see with the divine eye (dibbacakkhu). This psychic power enables one to see donors prospering in deva-worlds or evil-doing non-donors suffering in the lower worlds. Such vision can be had even by some yogis who have not acquired psychic powers but developed much samadhi. Again some may dismiss these visions as figments of imagination but the agreement of these accounts about the other worlds lends weight to their credibility.

 

The second false view is also a negation of the kammic benefits for alms-giving on a grand scale.

 

The third false view rejects the kammic benefits of feeding guests, giving gifts on new year day and so forth. This view is essentially the same as the third view. It refers to small acts of dana that were in vogue in ancient India but were dismissed as futile by heretics.

 

The fourth view denies the kammic result of any morally good or evil act. There is a lot of evidence for the kammic effects of a man's acts in this life, and, as for the other-worldly result of an act, those with psychic power can testify to it. But people who are excessively fond of sensual pleasure like to give free rein to their desires. They frown on moral values and ideas which they regard as a hindrance to their material progress. So they put forward many arguments to justify their rejection of the kammic law. In the final analysis all this is due to their excessive love of sensual pleasure.

 

The fifth and sixth view deny any respect, honour or support that we owe to our parents for all their loving care in our childhood. It is said that a man and his wife get children through sexual intercourse by accident, that they bring up the children from a sense of responsibility, and so there is no reason why children should be grateful to their parents. So it is not a good deed on the part of a man to look after his parents nor is it an evil to wrong them. It is a terrible view; those who hold it will not be respected by their children.

 

The seventh view denies the existence of any world other than the human and the animal worlds. It also rejects the belief that an animal may be reborn as a human being.

 

The eighth view denies rebirth of a human being in deva or animal worlds or in hell. It preaches annihilation of life after death.

 

The ninth view denies rebirth by //opapatika// or spontaneous generation. In other words, it denies the existence of devas, brahmas, petas, asuras, etc., who appear with their full-fledged bodies without being conceived in the womb. This view is untenable since encounters with good or evil spirits are reported from all over the world; there are mediums and witch-doctors who can invoke spirits; and devas, Brahmas, etc., are sometimes visible to the yogis who practise vipassana.

 

The last view is that there is no ascetic or Brahman who speaks of this world and the other invisible world and who conforms to his teaching. The view implies that there is no person who can speak independently of this world and the other world on the basis of his actual extraordinary experience, that all their teaching is guesswork and speculation, and so false and evil.

 

Today this view is echoed by those who scoff at religion. They reject the existence of Buddhas and Arahats who know the world as it really is through their own effort. But the logic underlying this view is self-defeating for by the same kind of reasoning, one can reject the view since those who hold it also do not know anything about this or the other world really.

 

As for the Buddha-dhamma, it rests on extraordinary insight (Sayain abhinna desita). As such it leads itself to empirical investigation and there is much scientific evidence for it.

 

The man who preached the Indian brand of agnosticism in the time of the Buddha was Ajita. He attacked all religious teaching without qualification and so it is to be assumed that the arahats and the Buddha, too, were the targets of his denunciation.


Những Quan Điểm Đúng

 

Tất cả mười tà kiến này đều có chung một ý, là phủ nhận định luật nghiệp báo và phủ nhận nghiệp, tức là phủ nhận mọi lợi ích phát sanh từ những hành động bố thí, công nhận cha mẹ và những việc thiện khác cũng như khả năng chứng đắc quả Phật và quả A-la-hán.

 

Mười quan điểm được nêu ra dưới đây dựa vào niềm tin nghiệp báo hay sự báo ứng về mặt đạo đức.

 

(1): Quan điểm thứ nhất là bố thílợi ích. Người cho tối thiểu cũng là người được người nhận thương mếntôn trọng. Họ sẽ tôn kính, khen ngợi và giúp đỡ khi người kia gặp rắc rối. Người ấy chết với những cảnh tốt hiện ra lúc lâm chung, và sau khi chết, được sanh về thiên giới hay trở lại làm người. Người ấy sớm được chứng đắc đạo quả và Niết-bàn. Các vị Bồ tát cũng bắt đầu con đường tu tập bằng hành động bố thí mà tiến đến mục tiêuPhật quả, Duyên giác hoặc A-la-hán quả.

 

Quả của sự bố thí cũng có thể thấy trong sự thịnh vượng về vật chất của một số người. Có một số người cũng buôn bán, làm ruộng, nhưng kết quả gặt hái thì khác nhau. Một số người được phát đạt, trong khi số khác thì không. Một số người thành công mà không cần cố gắng nhiều, trong khi số khác, dầu cố gắng hết sức vẫn không phát lên được. Những điều may mắn và không may mắn như vậy rõ ràng là do sự bố thí và không bố thí trong kiếp trước.

 

(2) và (3): Người tin vào định luật nghiệp báo thì không nghi ngờ khả năng cho quả của nghiệp trong việc bố thí nhiều hoặc ít, như đãi khách, cho quà tặng v.v...

 

(4): Ba quan điểm chân chánh này đều mặc nhiên công nhận định luật nghiệp báo hay nhân quả báo ứng. Một số người sống làm những việc thiện hoặc những việc ác là sự thật của đời sống không thể chối cãi được. Người mà sống làm những việc lành, vâng lời cha mẹ và thầy cô thì có rất nhiều, người ấy được nhiều người giúp đỡ và sẽ gặt hái thành công, và khi lớn lên trở thành một người có giá trị, được phát đạt. Cũng thế, do thiện nghiệp trong kiếp sống trước, người ta có thể sanh vào gia đình tốt và được khoẻ mạnh, có của cải, sắc thân xinh đẹp và có bạn tốt.

 

Kết quả của ác nghiệp như bịnh hoạn, ốm yếu, nghèo khó, tướng mạo xấu v.v... cũng được nhiều người biết đến.

 

(5) và (6): Tin vào nghiệp cũng hàm ý sự công nhận việc tri ân sâu xa của chúng ta đối với cha mẹ. Cha mẹ cưu mang bảo dưỡng con cái từ lúc còn nằm trong bào thai. Người mẹ đặc biệt bảo trọng sức khoẻ, vật thực và sự đi đứng của bà để đứa con trong bụng khoẻ mạnh, không hề hấn gì. Nếu bà là một Phật tử thuần thành, bà còn thọ trì bát quan traithường niệm ân Đức Phật, Pháp, Tăng, với hy vọng sẽ có ảnh hưởng tốt đến tâm linh của đứa con. Sau khi sanh, cha mẹ phải nuôi dưỡng và dạy dỗ, và đến khi đứa con trưởng thành, cha mẹ còn chia gia tài để nó xây dựng đời sống tự lập. Vì những lý do này, nghĩa vụ theo tiếng gọi lương tâm của chúng ta là phải kính dưỡng cha mẹ, và đây là hành động tạo nghiệp lành sẽ đem lại nhiều lợi ích cho chúng ta. Điều rõ ràng là người nào tôn kính cha mẹ thì sẽ được con cái tôn kính lại mình; Còn người nào bất kính với cha mẹ, sau này con cái cũng ngỗ nghịch với người ấy.

Right Views

 

All these ten wrong views boil down to the denial of the law of kamma for the rejection of kamma means rejection of any benefit accruing from the acts of dana and reference to parents, and other good deeds, as well as the kammic potential for arahatship or Buddhahood. Likewise, the ten right views mentioned below are based on the belief in kamma, or moral retribution.

 

(1) The first view is that dana is beneficial. One who gives alms is admired at least by the recipients. They will respect him, praise him and help him when he is in trouble. He dies calmly with good death-bed visions and after his death he attains good rebirth in deva-worlds or in human society. His good rebirth may finally lead to the Ariyan path and Nibbana. It was usually with an act of dana that the bodhisatta, and others embarked on their long spiritual journey leading to the goal of Buddhahood, paccekabuddhahood or arahatship.

 

The kammic effect of alms-giving is also evident in the material prosperity of some people. Some people do the same job such as business, farming, etc., but differ in their accomplishments. Some become prosperous while others make no progress materially. Some meet with success without working hard while others fail to prosper despite their hard work. Other things being equal, this disparity in the fortunes of some persons is no doubt due to dana or lack of dana in a previous life.

 

(2) and (3) The man who believes in the law of kamma will have no doubt about the kammic potency of giving alms lavishly or the small acts of dana such as feeding the guests, giving presents and so forth.

 

(4) These three right views are implicit in the law of kamma or moral retribution. That a man fares according to his good or bad deeds is an undeniable fact of life. A man who leads a good life in accordance with the instruction of his parents and teachers is popular, gets help from others and achieves success, and when he grows up he becomes a prosperous gentleman. Similarly, because of good kamma in a previous life a man may be born of a good family and blessed with health, wealth, physical beauty and sincere friends. The bad effect of evil kamma such as ill-health, poverty, ugliness, etc., are equally well-known to everybody.

 

(5) and (6) The belief in kamma also implies a recognition of our deep gratitude to parents. Parents take care of their children from the time of their conception. The mother is especially careful about her health, her food, and movements for the sake of the child in her womb. If she is a good Buddhist, she keeps sabbath and contemplates the Buddha, Dhamma and Sangha in the hope of influencing her child spiritually. After the birth of the child, the parents have to attend to his physical needs and educate him, and when he comes of age they have to give him financial support for a start in life. For these reasons, it is our bounden duty to revere and care for our parents; and this is a kammic act that benefits us immensely. At the very least, a man who respects his parents will be respected by his children while a man who wrongs his parents is very likely to be disdained by his children.


Nhìn Thấy Thế Giới Bên Kia

 

(7), (8) và (9): Những quan niệm chân chánh về sự hiện hữu của thế giới này, thế giới vô hình và những chúng sanh như chư thiên, là những kẻ sanh ra bằng sự vật chất hoá một cách tự phát (hoá sanh). Những chánh kiến này cũng hàm chứa trong định luật nghiệp báo, vì chính định luật này làm cho một chúng sanh, từ cõi thú hay cõi chư thiên, tái sanh vào cõi người hay ngược lại, theo nghiệp của người ấy sau khi chết. Điều này có thể chứng minh ở một số chừng mức nào đó, nhưng người quan sát phải là người có thần thông, tuệ quán hoặc khả năng suy xét hợp lý.

 

Qua sự thực hành thiền chỉ, hành giảthể đạt được khả năng nhớ lại những kiếp quá khứ, người ấy có thiên nhãn, có thể nhìn thoáng qua mà thấy được hình tướng v.v... của một người đã chuyển sinh sang một kiếp sống mới. Loại thần thông này xảy đến được với hành giả tu thiền minh sát.

 

Người không tu thiền chỉ hoặc thiền quán thì phải dựa vào khả năng suy luận của họ. Có một số người có thể nhớ lại kiếp sống trước của mình. Theo văn học Phật giáo, họ là những người có Jàtissaranàna-trí nhớ lại kiếp trước. Họ mô tả những kiếp trước của họ ở cõi người, làm thú hoặc quỉ thần. Với óc suy nghĩ đúng đắn thì những sự mô tả này cho thấy sự chuyển sanh sau khi chết, từ thế giới này sang thế giới khác và ngược lại, cũng như sự hoá sanh của một số chúng sanh.

 

Ở đây, chúng tôi muốn đưa ra một lối suy nghĩ về vấn đề của kiếp sống tương lai mà những bậc trí tuệ đã suy nghĩ. Giả sử có một người chấp nhận niềm tin vào nghiệp và đời sống sau khi chết, trong khi một người khác thì phủ nhận niềm tin này. Người thứ hai sẽ không làm các thiện nghiệp như bố thí, trì giới, kết quả là người ấy không tránh khỏi việc làm điều ác, anh ta sẽ buông thả những ham muốn của mình. Do đó, anh ta không có đức độ để mọi người kính mến. Nếu điều anh ta không tin là có thật, như nghiệp báokiếp sau, thì anh ta chắc chắn phải đọa vào khổ cảnh ngay sau khi chết, và anh ta phải chịu khổ trải qua nhiều kiếp luân hồi.

 

Ngược lại, người tin vào nghiệp và kiếp sau sẽ không làm điều ác, thích làm điều thiện, cho dù không có nghiệp hoặc kiếp sống tương lai thì trong hiện tại anh ta cũng được tán dương và được nhiều người biết về đạo đức của anh ta. Anh ta sẽ hoan hỷ vui sướng khi nghĩ đến những việc làm của mình. Là một công nhân tốt, anh ta sẽ sống một cuộc sống thanh bình. Đây là những lợi ích chắc chắn sẽ phát sanh đến người tin vào nghiệp trong kiếp sống hiện tại. và nếu thực sự có kiếp sau, thì người ấy chắc chắn sẽ được hạnh phúc sau khi chết. Như vậy, thật hợp lý để tin có kiếp sau. Đây là cách suy nghĩ vững chắcĐức Phật đưa ra trong bài kinh Apannaka sutta (Thuần Chơn kinh) của trung bộ kinh.

Seeing The World Beyond

 

(7), (8) and (9) The right views about the existence of this world, the invisible world and the living beings such as the devas who come into existence by spontaneous materialization. These right views are also implicit in the belief in the law of kamma for the law of kamma makes it possible for a living being from the animal or deva world to pass on to human world or vice-versa according to his kamma after death. This can be demonstrated to a certain extent but the observer will have to possess psychic powers, vipassana insight or the ability to think rationally.

 

Through the practice of samathajhana, a yogi can acquire the power of recalling the past lives; he can have the divine-eye (dibbacakkhu) that affords him a glimpse into the physical appearance, etc., of a person who has passed on to a new existence. This psychic power is also accessible to those who practise vipassana.

 

Those who cannot practise samatha or vipassana will have to depend on their power of reasoning. There are certain persons here and there who can recall their previous lives, people who are credited with jatissaranana in Buddhist literature. They describe their past lives as human beings, animals, spirits or ghosts. To the rational mind, these accounts clearly point to the post-mortem transition from this world to the other world and vice-versa as well as to the instant materialization of certain beings.

 

Here we wish to mention the way of thinking on the issue of a future life suggested by wise men. Suppose a man accepts the belief in kamma and life after death while another man rejects the belief. The second man will not do good deeds such as dana, sila and he will not avoid doing evil. He will give free rein to his desires. Therefore, he has no virtue that is worthy of respect and admiration by other people. If contrary to his belief, the law of kamma and a future life are real, he is bound to land in the lower worlds immediately after his death and suffer for many lifetimes throughout his samsaric existence.

 

On the other hand, the man who believes in kamma and after-life will avoid evil, do good and so, even if there is no kamma or a future life, he will be extolled and well-known for his good character. He will rejoice at the contemplation of his good deeds. As a good citizen, he will lead a peaceful life. These are the benefits that will certainly accrue to him from his belief in kamma in the present life. And if life after death is indeed a fact, he is assured of happiness hereafter. So it is reasonable to accept the belief in after-life since it serves our interests now or in future in any event. This is the infallible way of thinking that the Buddha recommends in Apannaka sutta of Majjhima nikaya.


Ba-La-Mật Và Nghiệp

 

(10): Niềm tin vào Đức Phật, chư vị A-la-hán hay những bậc Thánh, là những bậc có thể quả quyết, bằng trí tuệ siêu phàm, về thế giới này và thế giới bên kia, những bậc có tánh thánh thiện, làm cho giáo lý của các Ngài đáng tin cậy hơn. Niềm tin như vậy mặc nhiên công nhận niềm tin vào nghiệp, tin sự chứng đắc tâm linh của các vị A-la-hán và Đức Phật, một phần dựa vào Ba-la-mật của các Ngài mà chính yếu thì không khác với nghiệp. Sự phát triển Ba-la-mật là một cách tu tập. Cũng như một đứa bé học nhiều môn để trở thành người có giáo dục tốt, cũng thế, vị Bồ tát phải tầm cầu trí tuệ và sự tự tu ngõ hầu chứng đạt mục tiêu của mình.

 

Một số cha mẹ hay những người lớn tuổi trong gia đình thường dẫn con cháu đi xem hát và chiếu bóng, trong khi số khác thì đem con cái đến chùa và tịnh xá. Bằng cách này, con cái sẽ có được thói quen tốt hoặc xấu, phát triển sự tham muốn dục lạc hoặc tiếp thu những điều cao siêu của đời sống. Những thói quen tốt và sự rèn luyện tốt có thể được xem là một loại Ba-la-mật. Một số con cái bẩm sinh đã có tánh ưa thích đời sống tín ngưỡng, một số người nam và người nữ có nhiều tịnh tíntinh tấn trong việc thực hành minh sát. Sở thích khác thường của đứa bé như vậy đối với tôn giáo hay sự ưa thích khác thường về đời sống tâm linh của một người đều xuất phát từ Ba-la-mật trong kiếp quá khứ.

 

Thái tử Sĩ Đạt Ta thành Phật do đã tu tập các pháp Ba-la-mật như bố thí, trì giới, xuất gia, v.v... trong vô số kiếp, không phải trong một kiếp mà có thể thành tựu được. Chính nhờ tiềm lực của nghiệp tích lũy này hay Ba-la-mật khiến ý chí của Ngài được mạnh mẽ, để rời bỏ gia đình và tất cả vinh hoa của đời sống đế vương, ngõ hầu tầm cầu sự giác ngộ. Ngày nay, có một số người nói về cuộc đờivô thường, khổ v.v... Nhưng từ bỏ tất cả của cảixuất gia làm một vị sa môn thì không phải dễ, còn làm công việc từ bỏ như Bồ tát thì không ai dám nghĩ đến.

 

Vị Bồ tát cũng tu tập những pháp Ba-la-mật khác để tầm cầu trí tuệ v.v... Kết quả là trong kiếp cuối của Ngài, Ngài đã quán xét và tự mình giác ngộ bản chất của đời sống, sự tùy thuộc duyên khởi của nó v.v... Chính nhờ những pháp Ba-la-mật ấy mà cuối cùng Ngài đã đạt đến sự giác ngộ tối thượng, và cũng những pháp Ba-la-mật ấy giúp thành tựu quả vị Độc giác, Thinh văn giác. Như vậy, niềm tin vào nghiệp giúp người có tâm đạo trở thành bậc A-la-hán, Phật Độc giác hoặc Toàn giác, và người công nhận niềm tin ấy thì không nghi ngờ trí tuệ phi thường của Đức Phật và chư vị thánh Tăng.

 

Tóm lại, kiến thủ thường đồng nghĩa với sự phủ nhận định luật nghiệp báo. Nó không được lan rộng trong thời Đức Phật hoặc cách đây một trăm năm, nhưng bây giờ nó đang bành trướng. Theo các bài kinh thì các tà kiến thường xuất phát từ ái dục và do sự khao khát tăng dần của con người đối với vật chất, chủ nghĩa hoài nghi về nghiệp rất có thể sẽ trội hơn, và những người thiện cần phải đề phòng nó.

 

Ngoài sự phủ nhận nghiệp, kiến thủ còn có nghĩa là sự bám chấp mạnh mẽ vào tất cả tà kiến, tức là ngã kiến, đoạn kiến v.v... Có hai tà kiến không được kể đến vì chúng thuộc về giới cấm thủngã ngữ thủ.

 

 

Parami And Kamma

 

(10) Faith in the Buddha, the Arahats or holy men who can claim transcendent knowledge about this and the other worlds and who possess a noble character that lends credence to their teachings - such faith also presupposes the belief in kamma, for the spiritual attainment of Arahats and the Buddha rests in part on their parami (perfection) which does not differ essentially from kamma. Development of parami is a kind of learning. Just as a child has to learn many things in order to become well-educated, so also a bodhisatta has to seek knowledge and train himself for the attainment of his goal.

 

Some parents and elders take their children to movies and theatres while others take theirs to pagodas and monasteries. In this way the children acquire good or bad habits and develop a craving for sensual pleasure or a taste for the higher things of life. Good habits and good training may be called a kind of parami. Some children are spontaneously inclined to religious life, some men and women have immense zeal and energy for the practice of vipassana. Such a child's unusual interest in religion or a man's unusual love of spiritual life is born of the parami in a previous life.

 

Prince Siddhattha became the Buddha through the gradual development and perfection of parami such as dana, sila, nekkhama (renunciation) and so forth over aeons spanning innumerable lifetimes. It was not a matter of easy accomplishment in a single existence. It was this cumulative kammic potential or parami that helped to strengthen his will when he left his family and the luxuries of his royal palace in search of enlightenment. Today, some people speak of their disillusionment with life but it is hard for a man to renounce all his wealth and become a monk, let alone to think of the kind of renunciation that distinguished the bodhisatta.

 

The bodhisatta cultivated other paramis, too, for the sake of wisdom, at energy fortitude and so forth in way of his previous lives. As a result in his last existence he reflected and realized independently the nature of life, its dependent origination, etc. It was his kammic potential (parami) that finally led to his supreme enlightenment and likewise it was the parami that contributed to the spiritual attainments of Paccekabuddhas and Arahats. Hence, the belief in kamma makes it possible for the spiritual aspirant to become the arahat, Paccekabuddha or the Buddha and one who accepts the belief has no doubt about the transcendent knowledge of the Buddha and other holy men.

 

In short, ditthupadana is generally synonymous with rejection of the law of kamma. It was not widespread in the time of the Buddha or even about a hundred years ago but now it is gaining ground, thanks to the books that have criticized the doctrine of kamma in the name of scientific knowledge. As the scriptures say, false beliefs are usually rooted in craving and with man's increasing hunger for material goods, scepticism about kamma is likely to become dominant and it is up to good people to guard themselves against it.

 

Apart from the rejection of kamma, ditthupadana also means strong attachment to all false beliefs e.g. ego-belief, annihilation-belief, etc. The exceptions are the two false beliefs covered by silabbatupadana and attavadupadana.


3. Giới Cấm Thủ (Sìlabbatupàdàna)

 

Giới cấm thủsự cố chấp theo những pháp hành sai lạc mà sẽ không dẫn đến chấm dứt đau khổ. Đó là quan điểm đồng hoá những thói quen của bò, chó và những con thú khác với con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ. Nó được tìm thấy trong một số đạo sĩ thời Đức Phật. Giống như những con thú, họ sống trần truồng, ăn, đại tiện, tiểu tiện và đi bằng hai chân và hai tay, ngủ trên đất. Họ tin rằng cách sống như vậy giúp họ tẩy sạch tất cả ác nghiệp và ngăn chặn nghiệp mới, nhờ đó, giúp họ chấm dứt đau khổ và được hạnh phúc trường cửu sau khi chết.

 

Đối với người Phật tử, loại tín ngưỡng này thật khó tin, nhưng đối với một số người thì sự ưa thích của họ thật ư là kỳ quặc, về quan kiến và khuynh hướng. Bởi vậy, có hai đạo sĩ đi đến Đức Phật. Một người tên là Punna, anh ta sống như con bò. Một người khác tên là Seniya, người này sống như con chó. Họ hỏi Đức Thế Tôn về những lợi ích có được trong sự thực hành của họ. Đức Thế Tôn do dự không muốn trả lời, nhưng họ khẩn khoản thỉnh cầu nhiều lần nên Ngài đáp lại rằng người sống hoàn toàn như bò hoặc chó thì sau khi chết sẽ tái sanh làm bò hoặc chó. Thật là lầm lạc khi tin rằng những pháp hành như vậy sẽ dẫn đến cõi chư thiên. Và người chấp theo tà kiến chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục hoặc súc sanh. Rồi Đức Phật tiếp tục mô tả:

 

1- Những sự thực hành ác cho quả khổ.
2- Những sự thực hành thiện cho quả lành.
3- Sự thực hành có ác có thiện lẫn lộn.
4- Sự thực hành theo thánh đạo dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn cả thiện nghiệp lẫn ác nghiệp.

 

Sau khi nghe qua thời pháp này, Punna trở thành đệ tử của Đức Phật. Seniya gia nhập vào tăng chúngchứng đắc đạo quả A-la-hán nhờ thực hành theo chánh pháp.

(3) Silabbatupadana (Clinging To False Practices)

 

Silabbatupadana is clinging to wrong practices that do not lead to cessation of suffering. It is the view which identifies the habits of cows, dogs and other animals with the way to the end of dukkha. It found expression among some ascetics in the time of the Buddha. Like animals, they lived naked, ate, defecated and went about on all fours, and slept on the ground. They believed that such a way of life served to purge them of all evil kamma and forestall new kammic action, thereby assuring them of an end to suffering and eternal bliss after death.

 

To a Buddhist, this kind of belief may sound incredible but some people's preferences are very odd and they differ in their views and inclinations. So there came to the Buddha two ascetics, one Punna who lived like an ox and another Seniya who lived like a dog. They asked the Lord about the benefits of their practice. The Lord was reluctant to answer but when pressed for his view, he replied that an ascetic who committed himself wholly to the habits of an ox or a dog would be reborn as an ox or a dog after death; that it was wrong to believe that such practices led to the deva-world; and that one who held a wrong belief was likely to land in hell or in the animal world. Then the Buddha went on to describe (1) the evil practices that bear evil fruits, (2) the good practices that bear good fruits, (3) the evil practices mixed with good practices and (4) the practice of the Ariyan path that leads to the total extinction of good and bad kammas.

 

On hearing this sermon Punna became the disciple of the Buddha. Seniya joined the order and attained Arahatship through the practice of the Dhamma.


Chuyện Korakhattiya

 

Trong thời Đức Phật, có một người đàn ông tên là Korakhattiya. Anh ta sống như loài chó. Một hôm, Đức Phật đi ngang qua anh ta, theo hầu Ngài là một vị Tỳ khưu Licchavì, tên là Sunakkhatta.

 

Sunakkhatta trông thấy vị đạo sĩ đang di chuyển bằng bốn chi và ăn vật thực ở trên đất mà không dùng đến hai tay. Lối sống của vị đạo sĩ đã cho vị Tỳ khưu một cái nhìn về một bậc thánh thiểu dục. Thực ra, lối sống của vị đạo sĩ là một loại giới cấm thủ mà sẽ đưa ông ta xuống bốn khổ cảnh. Đối với những người có nguyện vọng và lý tưởng cao siêu thì điều ấy quả thật đáng ghê tởm. Nó hấp dẫn Sunakkhatta chỉ vì vị ấy có sở thíchdục vọng thấp hèn. Về mặt này, vị Tỳ khưu Licchavì là một ngoại lệ. Chẳng như bây giờ, lúc ấy không có nhiều người thiên về tà kiến và những pháp hành sai lạc, không phù hợp với giáo lý của Đức Phật. Có lẽ đây là tàn tích của những chấp thủ sai lại trong kiếp quá khứ của họ.

 

Đức Phật biết được ý nghĩ của Sunakkhatta và nói rằng: "Như vậy, ngươi xem vị đạo sĩ kia là bậc A-la-hán! Tại sao ngươi không biết xấu hổ khi chính mình là một đệ tử của Đức Phật?". Rồi vị Tỳ khưu trách Đức Phậtganh tỵ với đạo quả A-la-hán của vị đạo sĩ. Dĩ nhiên đây là lối phản bác của kẻ ngu si khi có ai nói sự thật về vị thầy tà đạo của mình. Đức Phật giải thích rằng mục đích của Ngài là muốn đoạn trừ ảo kiến của vị Tỳ khưu mà chẳng có lợi ích gì cho vị ấy cả. Rồi Ngài tiếp tục tiên đoán rằng sau bảy ngày, vị đạo sĩ sẽ chết vì chứng bội thực và sẽ tái sanh xuống cõi A tu la thấp nhất, thân của vị đạo sĩ sẽ bị quăng ở một bãi tha ma nọ; Nếu vị Tỳ khưu đi đến đó và hỏi chỗ tái sanh của vị đạo sĩ thì xác chết sẽ đứng dậy và nói rõ.

 

Đức Phật tiên tri như vậy là để Sunakkhatta phục hồi lại niềm tin nơi Ngài. Nhờ thực hành thiền chỉ, Sunakkhatta đã đắc thiền và có thiên nhãn. Bằng thiên nhãn của mình, Sunakkhatta đã hỏi Đức Phật phương pháp để chứng đắc thiên nhĩ. Nhưng Đức Thế Tôn khước từ, không đáp ứng yêu cầu của vị ấy vì ác nghiệp của vị ấy đã cản đường, và vị ấy cho rằng Đức Thế Tôn không có thiên nhĩ. Tuy nhiên, Sunakkhatta đã mất niềm tin nơi Ngài, vì vị ấy nghĩ rằng chính do ganh tỵ khiến Đức Thế Tôn từ chối yêu cầu của vị ấy. Bởi vậy, Đức Phật tiên tri về số phận của vị đạo sĩ là để làm xúc độngphục hồi lại niềm tin cho Sunakkhatta.

 

Sunakkhatta báo tin cho vị đạo sĩ biết lời tiên tri của Đức Thế Tôn và bảo vị đạo sĩ đừng ăn quá nhiều. Vị đạo sĩ nhịn đói trong sáu ngày, nhưng vào ngày thứ bảy, không thể cưỡng lại cơn đói, vị đạo sĩ đã ăn hết vật thực do một tín đồ dâng cúng và đã chết vì bội thực trong đêm ấy.

 

Những vị đạo sĩ khác kéo xác của ông ta đi quăng ở bất cứ chỗ nào ngoài chỗ mà Đức Phật đã tiên tri. Họ đi đến một bãi tha ma nhưng thấy đó là nơi mà họ muốn tránh, vì chỗ ấy có loại cỏ mà Đức Phật đã tiên đoán. Họ ra sức kéo xác chết đi chỗ khác, nhưng sợi dây leo đã vướng chắc vào và tất cả cố gắng của họ đều thất bại. Bởi vậy, họ phải để lại xác chết ở đó.

 

Sunakkhatta nghe tin ấy, nhưng vẫn hy vọng sẽ chứng minh điều tiên tri của Đức Phật là sai. Vị ấy đi đến bãi tha ma và khi vỗ nhẹ vào xác chết, vị ấy hỏi về chỗ ở của kẻ kia. Xác chết đứng dậy và sau khi nói rằng vị ấy đang ở cõi Kalakamjita asura, thì ngã phịch xuống đất trở lại. Asura là một loại ngạ quỉthân hình dị hợm, miệng thì quá nhỏ đến nỗi không thể ăn hay uống bất cứ thứ gì.

 

Theo chú giải, chính nhờ thần thông của Đức Phật mà vị Asura kia mới nhập vào xác chết được. Việc làm cho xác chết ngồi dậy, ngay cả một số thầy bùa cũng có thể làm được. Do đó việc xác chết của vị đạo sĩ dậy được do năng lực thần thông của Đức Phật là chẳng có gì đáng nghi ngờ.

 

 

The Story Of Korakhattiya

 

In the time of the Buddha there was a man named Korakhattiya who lived like a dog. One day the Buddha passed by him, accompanied by a Licchavi bhikkhu, Sunakkhatta by name.

 

Sunakkhatta saw the ascetic moving on all fours and eating the food on the ground without the help of his hands. The ascetic's way of life gave the monk the impression of a holy man, nay, an Arahat who had few desires. In point of fact, the ascetic's mode of life was a kind of silabbatupadana that would lead him to one of the four lower worlds. It was abhorrent to those who had high ideals and aspirations. It had appeal for Sunakkhatta only because of his low tastes and desires. The Licchavi monk was exceptional in this respect. There were then not as now many people who preferred false views and false practices that did not accord with the Buddha's teaching. This was probably a hangover from wrong attachments in their previous lives.

 

The Buddha divined Sunakkhatta's thoughts and said, "So you regard that ascetic as an Arahat! I wonder why you do not feel ashamed of being called the disciple of the Buddha." The monk then accused the Lord of envying the ascetic's Arahatship. This is of course the kind of retort that is to be expected from an ignorant man when someone speaks the truth about his false teacher. The Buddha explained that his object was to remove the monk's illusions that would do him no good. Then he went on to predict that after seven days the ascetic would die of indigestion and land in the lowest Asura world; that his body would be dumped in a certain cemetery; that if the monk went there and asked about his present abode, the dead body would reveal it.

 

The Buddha made this prophecy in order to restore Sunakkhatta's faith in him. Through the practice of samatha Sunakkhatta had attained jhana and divine eye. With his divine eye he had seen the gods and goddesses and as he wished to hear their voices he asked the Buddha about the way to the attainment of divine ear. But the Lord declined to fulfil his desire because his bad kamma stood in the way and he would blame the Lord for the non-attainment of divine ear. Nevertheless, he lost his faith in the Lord because he thought that it was envy that motivated the Lord to refuse his request. So the Buddha predicted the ascetic's fate to impress Sunakkhatta and salvage his faith.

 

Sunakkhatta informed the ascetic of the Lord's prediction and warned him against overeating. The ascetic fasted for six days but on the seventh day he could not resist the temptation any longer. He wolfed down the food provided by a lay follower and died of indigestion that very night.

 

His fellow ascetics dragged his dead body to dump it in any place other than the cemetery specified in the Buddha's prediction. They got to a cemetery but found it to be the very place they wished to avoid for it had the kind of grass predicted by the Buddha. They tried to drag the body away but the creeper-rope snapped and all their efforts to remove it were in vain. So they had to abandon the corpse there.

 

Sunakkhatta heard the news but still he hoped to prove the falsity of the latter part of the Lord's prediction. He went to the cemetery and rapping the dead man asked about his abode. The corpse arose and after saying that he was in Kalakamjika asura abode fell back on the ground. Kalakamjika is the lowest asura abode. Asura is a kind of peta with a monstrous body and a mouth which is so small that it cannot drink and eat well.

 

According to the commentary, it was the Buddha's psychic power that made the dead body possessed by the asura peta. Given the ability of some sorcerers to raise the dead, there is no need to have any doubt about the resurrection of the dead ascetic through the psychic power (iddhi) of the Buddha.

 

Sunakkhatta came back crestfallen and had to admit that the Lord's prophecy had come wholly true. Even so, he did not have complete faith in the Buddha. Later on he left the holy order and disparaged the Lord.


Những Lối Thực Hành Khác Thuộc Giới Cấm Thủ

 

Ngoài lối sống bắt chước theo bò và chó, còn có những cách thực hành khác mà có thể được xem là giới cấm thủ. Một số người bắt chước theo lối sống của voi, ngựa, v.v... Nói cách khác họ thờ cúng loài vật. Chú giải nêu ra những người chuyên thờ cúng, ám chỉ những người Miến Điện thích thờ cúng nhiều loại Nat (bái vật). Sự thờ cúng Nat trong những người Miến Điện không phải do động cơ của ước muốn được thoát khỏi luân hồi. Nó xuất phát từ ước vọng cầu lợi ở đây và bây giờ, và theo đúng nghĩa của từ, nó không rơi vào phạm vi giới cấm thủ, chỉ là thủ đối với niềm tin mà sẽ khiến một số người giết thú để tế thần Nats.

 

Cũng có tập tục thờ lửa, thờ rồng, thờ thần mặt trăng, mặt trời, thờ thần linh v.v... Nếu mục đích của bất cứ loại thờ cúng nào nhắm đến hạnh phúcgiải thoát sau khi chết, thì đó là giới cấm thủ. Tóm lại, tất cả mọi đường lối thực hành mà ở ngoài Tứ-diệu-đế và Bát chánh đạo thì được mang nhãn hiệu là giới cấm thủ, sự chấp theo chúng như là con đường dẫn đến giải thoát cũng là giới cấm thủ.

 

Vị hành giả đã chứng đắc tối thiểu là tầng thánh Nhập lưu, qua pháp quán danh sắc, thì biết rõ con đường chân chánh dẫn đến Niết-bàn, và vì vậy vị ấy thoát khỏi giới cấm thủ. Vị ấy thực sự biết con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ chỉ nhờ pháp quán về danh sắccon đường Bát chánh đạo.

 

Ví dụ: Nếu qua kinh nghiệm mà bạn biết cách đi từ thiền đường này đến chùa Shwedagon, bạn sẽ không bị người khác dẫn sai đường, cũng thế vị hành giả đạt đến tầng thánh Nhập lưu, biết con đường chân chánh dẫn đến Niết-bàn và vì vậy vị ấy không còn mê mờ tin vào thượng đế, sự thờ cúng Nat hay khổ hạnh, cho đó là con đường giải thoát.

 

Những người không biết con đường chân chánh thì không thoát khỏi ảo tưởng như vậy. Họ có thể đã tiếp nhận ảo kiến từ cha mẹ ngu dốt, thầy tổ hay bạn bè, hoặc do kiến thức căn bản còn kém cỏi của họ, nên họ tin vào những cuốn sách đề cao những niềm tinpháp hành sai lạc. Kẻ phàm phu không biết con đường chân chánh dẫn đến Niết-bàn và vì vậy người ấy sẽ phải mò mẫm đi từ ông thầy này đến ông thầy khác, từ sự thực hành này đến sự thực hành khác, trong chuỗi luân hồi của họ. Nếu người ấy mê theo ông thầy tà kiến hoặc lối thực hành lầm lạc nào đó, người ấy sẽ chuốc lấy nhiều đau khổ. Như vậy, những sự thực hành khổ hạnh chỉ đem lại đau đớn, và sự giết thú để tế thần chắc chắn sẽ dẫn đến các khổ cảnh.

 

Do giới cấm thủ mà người ta tin rằng thiền hữu sắcthiền vô sắcsự giải thoát hoàn toàn. Tóm lại, ngay cả sự toàn hảo về giới hay sự chứng đắc thiền định hợp thế, dầu đáng khen ngợi, nhưng nếu tách rời khỏi con đường minh sát của bậc thánh và được xem là sự giải thoát rốt ráo thì cũng dẫn đến giới cấm thủ. Bài kinh Udakasutta của bộ samyutta nikàya nói về ẩn sĩ Udaka, là người sau khi đã chứng thiền vô sắc và được sanh về cõi vô sắc, đã công bố rằng ông ta đã đoạn tận nguyên nhân của khổ. Đây cũng là tà kiến của một vị ẩn sĩ khác, tên là Alàra. Ảo kiến hay loại thủ này dẫn đến thiện nghiệp và nhờ đó cho sự tái sanh ở cõi vô sắc.

 

Bởi vậy, trong bài pháp mà Đức Phật thuyết đến phạm thiên BakaNgài nói rằng: "Ta thấy những nguy hiểm trong sự sanh, già v.v... mà vốn có trong ba cõi: dục, sắc và vô sắc. Ta thấy những người tầm cầu Niết-bàn mà vẫn còn chấp hữu. Bởi vậy, ta không khen ngợi bất cứ mọi hữu nào, ta đã khước từ mọi hữu ái".

 

Giống như hai vị đạo sĩ kia, những người không biết giáo pháp của Đức Phật thì sẽ không bao giờ đạt đến mục tiêu của họ. Dầu họ tầm cầu hạnh phúc trường cửu, họ vẫn đi theo con đường sai lạc của giới cấm thủ và bị vướng trong cái khổ của kiếp sống luân hồi. Bởi vậy, sự nỗ lực thực hành theo chánh pháp quả thật tối quan trọng

 

 

Other Silabbata Practices

 

Besides the mode of life of cows and dogs there are other practices that can be described as silabbata. Some people emulate the elephants, horses, and so forth. In other words, they worship animals. The commentary refers to king-worshippers which may mean in Burma people who worship various nats. Nat-worship among Burmese people is not motivated by the desire for liberation from samsara (life cycle). It stems from the hope for material benefits here and now and as such it does not fall within the scope of silabbatupadana, but it is upadana over the belief that leads some people to make animal sacrifice in their worship of the nats.

 

There are also fire-worship, naga-worship, moon-worship, sun-worship, spirit-worship and so forth. If the object in any kind of worship is to have happiness or spiritual liberation after death, it is silabbatupadana. In short, all practices divorced from the Four Noble Truths and the Noble Eightfold Path are labelled silabbata and attachment to them as the way to salvation is silabbatupadana.

 

The yogi who has attained at least the sotapanna stage through the contemplation of nama-rupa is well aware of the right path to Nibbana and so he has freed himself from the belief in silabbata. He knows empirically that the way to the end of suffering is only through the introspection of nama-rupa and the practice of the Noble Eightfold Path.

 

For example, if you know from experience how to go from this meditation centre to Shwedagon pagoda, you will not be misled by anyone who points out the wrong way. Likewise, the yogi at the sotapanna stage knows the right way to Nibbana and so he has no illusion about the beliefs and practices such as belief in God, nat worship or asceticism that pass for the way to salvation.

 

Those who do not know the right path are not free from such illusion. They may have acquired it from their ignorant parents, teachers or friends; or because of their poor basic knowledge, they might have been misguided by books that advocate false beliefs and practices. The ordinary man (puthujjana) is ignorant of the right path to Nibbana and so he will have to reckon with many teachers and practices through his samsaric existence. If he falls for a false teacher or a false practice, he is in for a lot of suffering. Thus the practice of austerities will only cause hardships and pain and the performance of animal sacrifice will certainly lead to the lower worlds.

 

It is also upadana over silabbata to believe that rupajhana or arupajhana means complete salvation. In short, even the moral perfection or jhanic attainment in the mundane sphere, though commendable, may lead to silabbatupadana if it is divorced from the holy path of vipassana and regarded as the total liberation. Udaka sutta of Samyutta nikaya refers to the rishi Udaka, who having attained the arupa world through his arupajhana declared that he had uprooted the cause of dukkha and made an end of it. This was also the illusion of another rishi called Alara. This illusion or upadana led to their good kamma which in turn led to their rebirth in the arupa worlds.

 

So in his discourse to Baka brahma, the Buddha says: "I see the dangers of birth, old age, death, etc., inherent in the three worlds of sensuality, rupa and arupa. I see those who seek Nibbana still bound to existence. So I do not approve of any kind of existence. I have repudiated all attachment to existence."

 

Like the two rishis, those who do not know the Buddha's teaching never attain their goal. Although they seek permanent happiness, they follow the wrong path of silabbata and remain entangled in the samsaric existence of dukkha. So we can hardly over-emphasize the importance of right effort on the right path as pointed out by the Buddha.


Những Lối Thực Hành Khác Thuộc Giới Cấm Thủ

 

Ngoài lối sống bắt chước theo bò và chó, còn có những cách thực hành khác mà có thể được xem là giới cấm thủ. Một số người bắt chước theo lối sống của voi, ngựa, v.v... Nói cách khác họ thờ cúng loài vật. Chú giải nêu ra những người chuyên thờ cúng, ám chỉ những người Miến Điện thích thờ cúng nhiều loại Nat (bái vật). Sự thờ cúng Nat trong những người Miến Điện không phải do động cơ của ước muốn được thoát khỏi luân hồi. Nó xuất phát từ ước vọng cầu lợi ở đây và bây giờ, và theo đúng nghĩa của từ, nó không rơi vào phạm vi giới cấm thủ, chỉ là thủ đối với niềm tin mà sẽ khiến một số người giết thú để tế thần Nats.

 

Cũng có tập tục thờ lửa, thờ rồng, thờ thần mặt trăng, mặt trời, thờ thần linh v.v... Nếu mục đích của bất cứ loại thờ cúng nào nhắm đến hạnh phúcgiải thoát sau khi chết, thì đó là giới cấm thủ. Tóm lại, tất cả mọi đường lối thực hành mà ở ngoài Tứ-diệu-đế và Bát chánh đạo thì được mang nhãn hiệu là giới cấm thủ, sự chấp theo chúng như là con đường dẫn đến giải thoát cũng là giới cấm thủ.

 

Vị hành giả đã chứng đắc tối thiểu là tầng thánh Nhập lưu, qua pháp quán danh sắc, thì biết rõ con đường chân chánh dẫn đến Niết-bàn, và vì vậy vị ấy thoát khỏi giới cấm thủ. Vị ấy thực sự biết con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ chỉ nhờ pháp quán về danh sắccon đường Bát chánh đạo.

 

Ví dụ: Nếu qua kinh nghiệm mà bạn biết cách đi từ thiền đường này đến chùa Shwedagon, bạn sẽ không bị người khác dẫn sai đường, cũng thế vị hành giả đạt đến tầng thánh Nhập lưu, biết con đường chân chánh dẫn đến Niết-bàn và vì vậy vị ấy không còn mê mờ tin vào thượng đế, sự thờ cúng Nat hay khổ hạnh, cho đó là con đường giải thoát.

 

Những người không biết con đường chân chánh thì không thoát khỏi ảo tưởng như vậy. Họ có thể đã tiếp nhận ảo kiến từ cha mẹ ngu dốt, thầy tổ hay bạn bè, hoặc do kiến thức căn bản còn kém cỏi của họ, nên họ tin vào những cuốn sách đề cao những niềm tinpháp hành sai lạc. Kẻ phàm phu không biết con đường chân chánh dẫn đến Niết-bàn và vì vậy người ấy sẽ phải mò mẫm đi từ ông thầy này đến ông thầy khác, từ sự thực hành này đến sự thực hành khác, trong chuỗi luân hồi của họ. Nếu người ấy mê theo ông thầy tà kiến hoặc lối thực hành lầm lạc nào đó, người ấy sẽ chuốc lấy nhiều đau khổ. Như vậy, những sự thực hành khổ hạnh chỉ đem lại đau đớn, và sự giết thú để tế thần chắc chắn sẽ dẫn đến các khổ cảnh.

 

Do giới cấm thủ mà người ta tin rằng thiền hữu sắcthiền vô sắcsự giải thoát hoàn toàn. Tóm lại, ngay cả sự toàn hảo về giới hay sự chứng đắc thiền định hợp thế, dầu đáng khen ngợi, nhưng nếu tách rời khỏi con đường minh sát của bậc thánh và được xem là sự giải thoát rốt ráo thì cũng dẫn đến giới cấm thủ. Bài kinh Udakasutta của bộ samyutta nikàya nói về ẩn sĩ Udaka, là người sau khi đã chứng thiền vô sắc và được sanh về cõi vô sắc, đã công bố rằng ông ta đã đoạn tận nguyên nhân của khổ. Đây cũng là tà kiến của một vị ẩn sĩ khác, tên là Alàra. Ảo kiến hay loại thủ này dẫn đến thiện nghiệp và nhờ đó cho sự tái sanh ở cõi vô sắc.

 

Bởi vậy, trong bài pháp mà Đức Phật thuyết đến phạm thiên BakaNgài nói rằng: "Ta thấy những nguy hiểm trong sự sanh, già v.v... mà vốn có trong ba cõi: dục, sắc và vô sắc. Ta thấy những người tầm cầu Niết-bàn mà vẫn còn chấp hữu. Bởi vậy, ta không khen ngợi bất cứ mọi hữu nào, ta đã khước từ mọi hữu ái".

 

Giống như hai vị đạo sĩ kia, những người không biết giáo pháp của Đức Phật thì sẽ không bao giờ đạt đến mục tiêu của họ. Dầu họ tầm cầu hạnh phúc trường cửu, họ vẫn đi theo con đường sai lạc của giới cấm thủ và bị vướng trong cái khổ của kiếp sống luân hồi. Bởi vậy, sự nỗ lực thực hành theo chánh pháp quả thật tối quan trọng

 

 

(4) Attavadupadana (Clinging To Belief In Soul)

 

Attavadupadana is a compound of attavada and upadana. Attavada means belief in soul entity and attavadupadana is attachment to the view that every person is a living soul.

 

Attachment to the ego-belief is of two kinds, viz., ordinary attachment and deep-rooted attachment. Ordinary attachment that prevails among ignorant Buddhists is not harmful to progress on the holy path. The belief is not deeply entrenched because Buddhists accept the Buddha's teaching which denies the permanent soul and recognizes nama-rupa as the only reality behind a living being. Intelligent Buddhists are still less vulnerable to the belief. For they know that seeing, hearing, etc., involve only the sense-organs (eye, ear, etc.), the corresponding sense-objects (visual form, sound, etc.) and the corresponding states of consciousness.

 

But most people are not wholly free from the ego-belief. Even the yogi who practises vipassana may at times fall for it and it is likely to attract every man who has not attained the holy path.

 

In fact those who taught ego-belief described the ego as the owner of the five khandhas, as an independent entity, possessing free-will and self-determination. It was this view of atta (soul) that the Buddha questioned in his dialogue with the wandering ascetic Saccaka. Said the Buddha, "You say that this physical body is your atta. Then can you always keep it well, free from anything unpleasant?" Saccaka had to answer in the negative. Further questioning by the Lord elicited from him the reply that he had in fact no control over any of the five khandhas.

 

So the ancient Buddhist teachers translate "rupam anatta" as "the physical body is subject to no control", etc. In fact it is the denial of the "samiatta" or the false view of atta as a controlling entity. Every ordinary person holds this view and believes in free-will. He can overcome it completely only through vipassana contemplation.

 

The attavada teachers also say that atta exists permanently in the physical body. In other words, it means the personal identity that is said to persist through the whole existence.

 

Again, they say that atta is the subject of all actions, thus identifying it with sankharakkhandha. It is the illusion that creates the belief: "It is I that see, hear, etc."

 

They also say that atta is the living entity that feels; that it is atta that is happy or unhappy. In other words, they describe atta or soul in terms of vedana or feeling.

 

Thus, although the Atmanists (attavadi) insist that atta has nothing to do with the five khandhas, they credit it with ownership of the body, etc., permanent residence in the body, subjectivity and feeling: and, hence, in effect they identify it with the five khandhas. The ego-illusion is rooted in the khandhas and a man can free himself completely from it only when he becomes aware of the real nature of khandhas through contemplation.

 

Of the four upadana, the first upadana (clinging to sensuality) is the developed form of craving (tanha). The other three upadanas differ only as regards their objects; basically they all relate to beliefs, viz., belief in ego, belief in the efficacy of practices other than those of the Eightfold Path, and any false belief other than those in the category of the other two upadana. All false beliefs arise in connection with craving. Men cling to a belief because they like it. Thus there is no doubt that all the four upadanas stem from craving and hence the Buddha's teaching: "From tanha there arises upadana."

 

In point of fact, craving is the cause and clinging is the effect. Craving for sensual pleasure, ego-belief, or practices irrelevant to the holy path or other false beliefs is the cause, and this craving develops into clinging to sensuality, ego-belief, etc., and thus becomes effects.


__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5271)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1635)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1767)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1545)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1247)
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 19)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 106)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 142)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 153)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 176)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 191)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 261)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 217)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 247)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 258)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 252)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 246)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 520)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 280)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 342)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 369)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
05 Tháng Mười Một 20208:12 CH(Xem: 292)
Tất cả chúng ta đều nghĩ đến và chăm lo sức khỏe của mình, chỉ ít hay nhiều tùy theo mình còn trẻ hay già yếu và ốm đau. Thế nhưng sức khỏe không phải chỉ thuộc lãnh vực thân xác mà còn liên quan đến lãnh vực tâm thần. Như vậy thì tín ngưỡng nói chung và Phật giáo nói riêng có giữ một vị trí hay vai trò nào đối với mối quan tâm
04 Tháng Mười Một 20206:03 CH(Xem: 398)
Cách đây vài năm đã xảy ra mấy cuộc biểu tình trên đường phố sau khi một viên quản ngục nhà tù Guantanamo Bay bị buộc tội là đã vứt quyển kinh vào bồn cầu và giật nước cho nó trôi đi. Ngày hôm sau, một ký giả tờ báo địa phương gọi điện thoại cho tôi, nói rằng anh ta đang viết một bài về sự việc vừa xảy ra, muốn hỏi các nhà
03 Tháng Mười Một 202011:39 SA(Xem: 291)
Thuở nhỏ lúc còn cắp sách đến trường tôi hay mỉm cười và mỗi lần như thế thì lại bị mắng và quở phạt. Trong khi đang chép phạt thì lại bị thêm một lần phạt nữa. Lúc nào tôi cũng mỉm cười. Người ta mắng tôi: "Im đi, không được nhạo báng kẻ khác nhé!". Bắt đầu từ đấy tôi mới hiểu được là tại sao lại không được phép cười.
02 Tháng Mười Một 20205:01 CH(Xem: 303)
Con người là một chúng sanh huyền bí có nhiều tiềm năng phi thường. Có hai năng lực trái ngược luôn luôn tiềm tàng ngủ ngầm trong mỗi người. Một, hướng về trạng thái cao thượng trong sạch, đặc tánh của bậc Thánh Nhân và một, hướng về những điều tội lỗi nhơ bẩn của kẻ sát nhân tàn bạo. Cả hai tiềm lực nầy đều có thể phát sanh
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2170)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3855)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5462)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 261)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 342)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 369)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 142)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5271)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 426)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 430)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2923)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1956)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng